Tải bản đầy đủ (.docx) (44 trang)

THỰC TRẠNG cơ cấu tổ CHỨC HUYỆN tân yên VÀTHÀNH PHỐ bắc GIANG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (201.36 KB, 44 trang )

MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT


DANH MỤC VIẾT TẮT
Hội đồng nhân dân

HĐND

Ủy ban nhân dân

UBND

Tổ chức chính quyền địa
phương

TCCQĐP


LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Những năm qua cùng với bước đi của thời gian, đất n ước ta ngày
càng phát triển về mọi mặt.Cuộc sống của người dân cũng theo đó mà đi
lên theo quá trình hội nhập phát triển cùng với thế gi ới .Trong s ự giao
lưu học hỏi kinh nghiệm chúng ta đã thật sự nhìn nhận lại chính bản
thân mình thấy được những yếu kém ,thấy được sự lạc hậu nhìn th ấy
được sự tụt lùi của đất nước so với đất nước và đặc biệt h ơn chúng tâ
nhìn nhận thấy bản thân của mình bị lạc hậu về cả t ư duy nh ận th ức
.Trong quá trình giao lưu ấy nước ta đã học hỏi đ ược khá nhiều nh ững
kinh nghiệm ,các quan điểm về nhận thức cũng đã nhìn dưới góc độ các
quan điiểm của thế giới .
Xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi con người càng ph ải c ần ph ải


có những thay đổi để thích ứng vào cái không gian chung ấy . Trong quá
trình hội nhập và phát triển yếu tố quản lý ngày càng được sự quan tâm
chú trong mà đặc biệt là công tác quản lý nhà n ước . Trong công tác qu ản
lý nhà nước thì các vấn đề về quản lý thì thường xuyên thay đ ổi đòi h ỏi
công tác cũng phải biến đổi .sự thay đổi này đòi h ỏi con ng ười c ần có
các chính sách thay đổi theo để đấp ứng nhu cầu quản lý ấy .M ột trong
những thay đổi quan điểm về công tác quản lý .Ngày 19/6/2015 Tại Kỳ
họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật tổ ch ức chính quy ền đ ịa
phương .Luật tổ chức chính quyền địa phương được ban hành đã làm
cho công tác quản lý của nhà nước thay đổi .Chất lượng công tác qu ản lý
lãnh đạo càng ngày càng được nâng cao do có những quy định ddooir m ới
thay thế những quy định không còn phù hợp với điều ki ện th ực tế trong
công tác quản lý so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dan năm 2013.
Một trong những thay đổi của Luật tổ chức chính quy ền đ ịa

3


phương năm 2015 là có sự thay đổi về phân chia gi ữa chính quy ền đ ịa
phương nông thôn và chính quyền địa phương đô th ị để gi ải quy ết bài
toán quản lý cho phù hợp với điều kiện cho từng vùng v ới nh ững đ ặc
điểm về công tác quản lý khác nhau .Để thực sự nhìn nhận s ự khác biệt
trong việc phân chia giũa chính quyền địa phương nông thôn và chính
quyền địa phương đô thị em xin thực hiện đề tài “ So sánh chính quy ền
địa phương nông thôn và chính quyền địa phương đô th ị trên đ ịa bàn
tỉnh Bắc Giang .
Bài tiểu luận này được chia làm 3 chương với nội dung nh ư sau :
Chương I: Những lý luận cơ bản và đặc điểm cơ bản giữa nông
thôn và đô thị và yêu cầu quản lý.

Chương II: Thực trạng cơ cấu tổ chức huyện Tân Yên và Thành
phố Bắc Giang
Chương III: Các quy định về chính quyền địa phương nông thôn,
chính quyền đô thị và giải pháp nâng cao hoạt động của chính quy ền đ ịa
phương.

4


5


CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN GIỮA NÔNG THÔN VÀ
ĐÔ THỊ VÀ YÊU CẦU QUẢN LÝ
1. Khái niệm , đặc điểm của đô thị và yêu cầu quản lý nhà
nước ở đô thị
1.1Khái niêm đô thị :
Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và ch ủ
yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính
trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đ ẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh th ổ, m ột
địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; n ội th ị,
ngoại thị của thị xã; thị trấn.
1.2Khái niệm chính quyền địa phương đô thị
Theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 chính quền
địa phương đô thị được hiểu như sau : Chính quyền địa phương ở đô thị
gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc trung ương, quận,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố tr ực thuộc
trung ương, phường, thị trấn.

1.3. Đặc điểm đô thị
- Là nơi cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội phát triển có tính
liên thông, đồng bộ;
- Là nơi tập trung dân cư với mật độ rất cao, tối thi ểu ph ải đ ạt
một mức nhất định tùy vào các quy ước mang tính chủ quan mà Nhà
nước đặt ra;
- Là nơi lực lượng sản xuất phát triển và tập trung rất cao;
- Là nơi có nếp sống, văn hóa của thị dân gắn liền v ới đặc đi ểm
sinh hoạt, giao tiếp rất đặc thù khác với nông thôn;

6


- Là nơi dễ tập trung, phát sinh các tệ nạn xã hội là th ử thách đ ối
với công tác quản lý;
- Có địa giới hành chính và điều kiện sinh sống của người dân khá
chật hẹp so với địa bàn nông thôn.
1.4.Yêu cầu quản lý nhà nước ở đô thị
- Tính thống nhất, đồng bộ và liên thông: vì đô thị có tính tập trung
rất cao với các điều kiện sinh sống đa dạng và phức tạp nên quản lý nhà
nước ở đô thị phải phù hợp với tính chất này cũng nh ư phù h ợp đ ặc thù
về cơ sở hạ tầng đô thị. Quản lý đô thị đòi hỏi tính thống nh ất, đồng bộ,
liên thông, tính quản trị đô thị, tính cân bằng, tính đa diện, nên đòi h ỏi
công tác quản lý nhà nước ở đô thị phải đa chiều, x ử lý trên nhiều khía
cạnh, góc độ khác nhau. Đô thị càng lớn, phạm vi khối l ượng công vi ệc
giải quyết càng nhiều, xu hướng ngày càng tăng, nh ịp đ ộ, m ức đ ộ ph ức
tạp của công việc càng cao, việc tuân thủ quy trình, quy chu ẩn, quy
hoạch, kế hoạch, pháp luật càng phải triệt để, chính xác, kịp th ời. Vì v ậy,
việc tổ chức bộ máy chính quyền đô thị phải bảo đảm việc quản lý nhà
nước tập trung, thống nhất, thông suốt, nhanh nhạy, có hiệu l ực, hi ệu

quả cao.
- Chính quyền đô thị phải cung cấp dịch vụ h ạ tầng kỹ thu ật và xã
hội, bảo vệ môi trường sinh thái, cung ứng các loại phúc l ợi công c ộng
gắn với đặc điểm đô thị và đặc điểm của không gian đô thị. Chính quy ền
đô thị phải quản lý hạ tầng kỹ thuật thống nhất về cấp thoát n ước, c ấp
điện, chiếu sáng công cộng, giáo dục, bảo vệ s ức khoẻ, v ệ sinh môi
trường, giao thông, thông tin liên lạc. Đồng th ời quản lý h ạ t ầng xã h ội
về nhà ở, dịch vụ, thương mại, giáo dục đào tạo, nghiên c ứu khoa h ọc,
chăm sóc sức khoẻ, văn hóa, thể dục thể thao, ăn uống, giải trí, nghỉ
dưỡng, an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội, tội phạm, tệ n ạn xã

7


hội,...

8


2.Khái niệm, đặc điểm của nông thôn và yêu cầu quản lý nhà
nước ở nông thôn
2.1 Khái niệm chính quyền địa phương nông thôn
Quy định của pháp luật hiện hành đưa ra định nghĩa nông thôn
theo cách tương phản với đô thị: nông thôn là ph ần lãnh th ổ không
thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn .
2.2 Khái niệm chính quyền địa phương nông thôn
Theo luật tổ chức chính quyền địa phương 2015: . Chính quyền
địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huy ện, xã.
2.3. Đặc điểm nông thôn
- Dân cư ở nông thôn cư trú tập trung trong nhiều hộ gia đình gắn

kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã h ội khác
trong phạm vi một khu vực nhất định được hình thành do điều kiện t ự
nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá, phong tục, t ập quán và các y ếu
tố khác.
- Kinh tế nông thôn chủ yếu là kinh tế nông nghiệp mang nhiều
yếu tố tự nhiên: nhà, vườn, ao, ruộng, thường gắn với nh ững đi ều kiện
địa lý có sẵn (thường chiếm từ 50% lao động trở lên), trồng trọt và chăn
nuôi là hai ngành chính, ngoài ra còn có các nghề thủ công, ch ế bi ến
lương thực, thực phẩm, buôn bán nhỏ theo hộ gia đình.
- Chính trị ở nông thôn: ngoài hệ thống chính quy ền xã, ấp, thôn do
Nhà nước điều hành trên cơ sở pháp luật còn có hệ th ống c ương v ị ch ức
sắc trong dòng tộc, già làng, thân thuộc, tôn giáo… điều ch ỉnh hành vi c ủa
các thành viên bằng tục lệ hay quy ước.
- Văn hoá nông thôn chủ yếu là văn hoá dân gian, thông qua l ễ,
hội… để truyền những giá trị thẩm mỹ, đạo đức, lối sống, kinh nghiệm
sống, kinh nghiệm sản xuất từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hoá

9


nông thôn đã bảo tồn được những giá trị quý báu mang tính truy ền
thống, nhưng nó cũng chứa đựng những yếu tố không có lợi cho s ự phát
triển.
2.4.Yêu cầu quản lý nhà nước ở nông thôn
Vì nông thôn có những đặc thù khác với đô th ị, quản lý nhà n ước ở
nông thôn trước hết phải phù hợp với những điều kiện của nông thôn.
Đối với những khu vực nông thôn gắn với đô thị, phát triển nông thôn
phải kiểm soát được các tác động của quá trình đô thị hóa, hài hòa và
đồng bộ với phát triển đô thị. Phát triển khu vực nông thôn ph ải mang
tính chiến lược với xuất phát điểm nhằm giải quy ết các vấn đ ề c ủa đô

thị. Yêu cầu quản lý nhà nước ở nông thôn phải đặt trong một bài toán
tổng thể chung về phát triển đô thị.
Một đặc điểm cơ bản của nông thôn là tính cộng đồng rất cao, do
đó, mô hình quản lý nhà nước ở nông thôn ph ải có nh ững khác bi ệt so
với đô thị. Những khác biệt này đặc biệt nhấn mạnh đến các khuôn kh ổ
tự quản và tổ chức các cấp chính quyền. Do trình độ dân trí th ấp h ơn so
với khu vực đô thị, phong cách quản lý và cách thức giao tiếp cộng đồng
cũng khác nên các vấn đề quản lý mọi mặt kinh tế - xã hội phải đ ược x ử
lý theo cách thức thể hiện tốt nhất ý chí của cộng đồng. Áp dụng c ơ ch ế
quản lý hành chính trực tiếp và bỏ qua vai trò của cơ quan đại diện, dù
trong điều kiện hệ thống pháp luật có hoàn thiện đến đâu, sẽ không phù
hợp với địa bàn nông thôn và những đặc thù vốn có của nó.
3.Yêu cầu quản lý giữa đô thị và nông thôn
Về vị trí, vai trò: đô thị là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế,
văn hóa, khoa học, công nghệ của một địa ph ương, vùng, miền, c ủa c ả
nước, làm động lực cho sự phát triển đối với địa ph ương, vùng, miền đó
hoặc cả nước. Còn ở nông thôn chưa phát triển về kinh tế, văn hóa, khoa

10


học, công nghệ, phụ thuộc vào những khu vực đô thị lân cận.
Về dân cư: đô thị là nơi tập trung dân cư, mật độ dân số cao, gồm
nhiều thành phần sống đan xen có lối sống khác nhau, tham gia các ho ạt
động kinh tế - xã hội đa dạng nên việc quản lý dân c ư đô th ị có nhi ều
phức tạp. Còn dân cư nông thôn gắn kết cộng đồng có quy mô nh ỏ theo
làng, xã, thôn, xóm, bản, ấp, dòng họ có nh ững h ương ước và phong t ục,
tập quán riêng mang nhiều tính tự quản. Đời sống cư dân nông thôn ph ụ
thuộc vào nhau, gắn bó và ràng buộc với cộng đ ồng, khác v ới c ư dân đô
thị vốn chỉ phụ thuộc vào việc làm và thu nhập của bản thân. Nông thôn,

vì vậy, phù hợp với cách quản lý theo kiểu tự quản, tự quyết định các
vấn đề quan trọng của địa phương.
Về kinh tế - xã hội: ở khu vực nội thành, nội thị[3] kinh tế chủ yếu
là phi nông nghiệp, đa ngành, đa lĩnh vực, có tốc đ ộ phát tri ển cao, là đ ịa
bàn hoạt động của các loại thị trường, là nơi hội tụ và trao đổi thông tin,
là nơi dễ nảy sinh các tệ nạn xã hội và các hiện tượng làm mất ổn đ ịnh
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Ở nông thôn ch ủ y ếu là nông
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, còn công nghiệp, th ương mại, dịch vụ và
thông tin chưa phát triển mạnh.
Về cơ sở hạ tầng: Ở khu vực nội thành, nội thị có tính th ống nh ất,
liên thông và phức tạp, tạo thành những mạng lưới, hệ th ống đồng bộ,
xuyên suốt địa bàn, không phụ thuộc vào địa giới hành chính, đòi hỏi
quản lý tập trung, thống nhất theo ngành là chủ y ếu. Ở nông thôn c ơ sở
hạ tầng còn đơn giản, chưa liên hoàn và chưa đồng bộ, đòi hỏi qu ản lý
theo lãnh thổ là chủ yếu, không có chức năng làm trung tâm và tính t ập
trung cao như ở đô thị
Về địa giới hành chính: cơ sở hạ tầng ở đô thị là một chỉnh thể
thống nhất nên việc phân chia địa giới hành chính trong khu v ực n ội

11


thành, nội thị chỉ có ý nghĩa là khu vực hành chính, mang tính ch ất qu ản
lý hành chính là chủ yếu. Ở nông thôn, việc phân chia đ ịa gi ới hành chính
gắn với các hoạt động kinh tế - xã hội diễn ra trong ph ạm vi đ ịa bàn lãnh
thổ đó.
Về quản lý: ở đô thị việc quản lý nhà nước về an ninh, tr ật t ự an
toàn xã hội, giao thông, điện, nước, nhà ở, xây d ựng, môi tr ường là v ấn
đề bức xúc hàng ngày và đa dạng, phức tạp hơn nhiều so v ới quản lý nhà
nước đối với các lĩnh vực này ở nông thôn. Khác v ới nông thôn, m ỗi đô

thị là một chỉnh thể kinh tế - xã hội thống nhất, ràng buộc ch ặt chẽ và
phụ thuộc trực tiếp vào nhau, không thể chia cắt, do đó bộ máy hành
chính nhà nước ở đô thị phải mang tính tập trung, thống nhất, v ận hành
thông suốt, nhanh nhạy và không thể bị cắt khúc như ở nông thôn. Vì
vậy, việc phân cấp, phân quyền giữa các cấp chính quy ền trong n ội b ộ
đô thị (thành phố trực thuộc trung ương - quận - phường) hoặc tỉnh - th ị
xã, thành phố (thuộc tỉnh) - phường không thể giống nh ư phân cấp,
phân quyền ở chính quyền nông thôn (tỉnh - huy ện - xã). Trong n ội b ộ
đô thị, cần áp dụng cơ chế uỷ quyền, tản quyền của chính quy ền thành
phố, thị xã cho các cơ quan quản lý hành chính cấp dưới (quận, ph ường)
thực thi một số nhiệm vụ quản lý hành chính cụ thể; tổ ch ức các c ơ
quan hành chính ở quận, phường như là “cánh tay nối dài” của c ơ quan
hành chính thị xã, thành phố.
Về chức năng: chức năng chính của chính quyền ở địa bàn đô thị là
tham gia phát triển các dịch vụ đô thị, quản lý trật tự đô th ị, bảo vệ môi
trường, xây dựng khu phố văn hóa và nếp sống thị dân,… Còn ch ức năng
chính của chính quyền ở địa bàn nông thôn là thực hiện các chính sách
và triển khai các biện pháp nhằm giải quyết tốt các vấn đề như nông
nghiệp, nông thôn, nông dân; xây dựng nông thôn m ới, phát huy truy ền

12


thống tình làng nghĩa xóm chăm lo đời sống nông dân và c ư dân ở nông
thôn trên địa bàn khá rộng, địa giới hành chính phân đ ịnh t ương đối rõ
ràng theo điều kiện tự nhiên. Vì vậy, việc áp dụng mô hình tổ ch ức quản
lý quận như huyện, phường như xã là không phù h ợp v ới đối t ượng
quản lý.
Chính sự khác nhau như trên đòi hỏi tổ chức bộ máy chính quy ền
đô thị phải có đặc thù riêng để đảm bảo cho vi ệc quản lý nhà n ước và

cung ứng dịch vụ công ở đô thị được thực hiện tập trung, thống nhất,
nhanh nhạy, giảm thiểu các tầng nấc trung gian và thực sự có hiệu l ực,
hiệu quả.
4. Quy định của pháp luật về tổ chức chính quyền đô thị và
nông thôn
Nghiên cứu các quy định hiện hành, tổ chức chính quyền đô thị và
nông thôn thể hiện những nội dung sau:
- Điều 110 Hiến pháp năm 2013 phân chia lãnh thổ thành các đ ơn
vị hành chính và tổ chức HĐND và UBND như sau:“Nước chia thành t ỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, th ị xã và thành
phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận,
huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; Huyện chia thành xã,
thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; qu ận
chia thành phường; Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Qu ốc h ội
thành lập”. Việc quy định đơn vị hành chính - kinh tế đ ặc bi ệt do Qu ốc
hội thành lập được xem như một bước “mở” đến khả năng thành lập các
đơn vị hành chính đặc biệt, không giống như cấu trúc chung đã ấn đ ịnh.
Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định như sau:


Đơn vị hành chính
Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

13


Nam gồm có:
- Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp
tỉnh);
- Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành

phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện);
-Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);
- Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.


Phân loại đơn vị hành chính
- Phân loại đơn vị hành chính là cơ sở để hoạch định chính sách
phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng tổ chức bộ máy, chế độ, chính sách
đối với cán bộ, công chức của chính quyền địa phương phù h ợp v ới t ừng
loại đơn vị hành chính.
- Phân loại đơn vị hành chính phải dựa trên các tiêu chí về quy mô
dân số, diện tích tự nhiên, số đơn vị hành chính tr ực thuộc, trình độ phát
triển kinh tế - xã hội và các yếu tố đặc thù của từng loại đơn vị hành
chính ở nông thôn, đô thị, hải đảo.



Đơn vị hành chính được phân loại như sau:
- Thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị hành chính
cấp tỉnh loại đặc biệt; các đơn vị hành chính cấp tỉnh còn lại đ ược phân
thành ba loại: loại I, loại II và loại III;
- Đơn vị hành chính cấp huyện được phân thành ba loại: loại I,
loại II và loại III;
- Đơn vị hành chính cấp xã được phân thành ba loại: loại I, loại II
và loại III.
Căn cứ vào quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, Chính ph ủ
trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể tiêu chuẩn của từng
tiêu chí, thẩm quyền, thủ tục phân loại đơn vị hành chính.

14





Tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính
- Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của n ước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 2 của Luật này.
- Chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quy ền địa
phương ở tỉnh, huyện, xã.
- Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa ph ương ở
thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh,
thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường, th ị trấn.
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG CƠ CẤU TỔ CHỨC HUYỆN TÂN YÊN VÀTHÀNH PHỐ BẮC
GIANG
2.1. Khái qoát về tỉnh Bắc Giang
2.1.1.Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1.Vị trí địa lý
Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. V ề quy
hoạch kinh tế trước đây Bắc Giang nằm trong vùng trung du và mi ền núi
phía Bắc, từ năm 2012 là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng Th ủ đô Hà N ội.
Vị trí địa lý tỉnh Bắc Giang nằm ở tọa độ từ 21 độ 07 phút đến 21
độ 37 phút vĩ độ bắc; từ 105 độ 53 phút đến 107 độ 02 phút kinh đ ộ
Đông; Bắc Giang là tỉnh miền núi, nằm cách Thủ đô Hà Nội 50 km v ề
phía Bắc, cách cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (Lạng Sơn) 110 km v ề phía
Nam, cách cảng Hải Phòng hơn 100 km về phía Đông. Phía B ắc và Đông
Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây và Tây Bắc giáp thành phố Hà Nội, Thái
Nguyên, phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Bắc Ninh, H ải D ương và Qu ảng
Ninh. Bắc Giang hiện có 09 huyện và 01 thành ph ố, trong đó có 06 huy ện


15


miền núi và 01 huyện vùng cao (Sơn Động); 230 xã, ph ường, th ị tr ấn
(204 xã, 10 phường và 16 thị trấn).
2.1.1.2. Khí hậu
Tỉnh Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa khu v ực
Đông Bắc Việt Nam, một năm có bốn mùa rõ rệt. Mùa Đông có khí h ậu
khô, lạnh; mùa Hè khí hậu nóng, ẩm; mùa Xuân và Độ ẩm trung bình
trong năm là 83%, một số tháng trong năm có độ ẩm trung bình trên
85%. Các tháng mùa khô có độ ẩm không khí dao động khoảng 74% 80%.
2.1.1.3. Tài nguyên đất
Bắc Giang có 382.200 ha đất tự nhiên, bao gồm 123.000 ha đ ất
nông nghiệp, 110.000 ha đất lâm nghiệp, 66.500 ha đất đô th ị, đ ất
chuyên dùng và đất ở, còn lại khoảng 82.700 ha là các lo ại đ ất khác,
trong đó nhóm đất đỏ vàng chiếm diện tích lớn h ơn c ả khoảng 63,13%
diện tích tự nhiên. Nguồn tài nguyên đất được chia làm 6 nhóm đ ất
chính.
2.1.1.4. Tài nguyên nước
Phần lãnh thổ tỉnh Bắc Giang có 3 con sông lớn ch ảy qua v ới t ổng
chiều dài 347 km, lưu lượng lớn và có nước quanh năm. Hệ th ống ao, h ồ,
đầm, mạch nước ngầm có trữ lượng khá lớn. Lượng n ước mặt, n ước
mưa, nước ngầm đủ khả năng cung cấp nước cho các ngành kinh tế và
sinh hoạt.
2.1.2.Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1.Dân tộc
- Theo số liệu thống kê năm 2014, dân số toàn tỉnh Bắc Giang có
trên 1,6 triệu người, bao gồm 21 thành phần dân tộc, trong đó có 20
thành phần dân tộc thiểu số với số dân là 200.538 người, chi ếm 12,4%


16


dân số toàn tỉnh. Đồng bào các dân tộc thiểu số cư trú tập trung ở 105
xã, thị trấn thuộc 6 huyện miền núi, vùng cao: Sơn Động, Lục Ngạn, L ục
Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Tân Yên.
2.1.2.2.Lịch sử
Trong lịch sử, thời các vua Hùng, Bắc Giang thuộc bộ Vũ Ninh của
nước Văn Lang, dưới triều Đinh (968-980), Tiền Lê (980-1009) thuộc
huyện Long Biên, thời Lý - Trần thuộc lộ Bắc Giang, th ời H ậu Lê thu ộc
thừa tuyên Kinh Bắc, sau đổi thành trấn Kinh Bắc, trấn Bắc Ninh. Dưới
đời vua Minh Mạng (năm thứ 2, 1821), Bắc Giang thuộc ph ủ Thiên Phúc,
năm 1831, đổi tên thành tỉnh Bắc Ninh. Ngày 10/10/1895 Toàn quy ền
Đông Dương ký Nghị định thành lập tỉnh Bắc Giang trên cơ sở hai ph ủ Đa
Phúc, Lạng Giang tách ra từ tỉnh Bắc Ninh. Ngày 27/10/1962, t ỉnh B ắc
Giang sáp nhập với tỉnh Bắc Ninh trở thành tỉnh Hà Bắc. Ngày
06/11/1996, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã phê chuẩn chia tách
tỉnh Hà Bắc, tái lập hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Bộ máy hành chính
tỉnh Bắc Giang chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1997 đ ến
nay.
2.1.2.3. Văn hóa
Bắc Giang có đặc điểm văn hóa phong phú và đa dạng, được quy tụ
và thể hiện thông qua đời sống, phong tục, tập quán truy ền thống của
cộng đồng mỗi dân tộc; biểu hiện qua các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian,
tín ngưỡng tôn giáo ở lễ hội truyền thống.
2.1.2.4.Dân cư
Đến hết năm 2014, dân số toàn tỉnh Bắc Giang ước là 1.624.456
người, mật độ dân số bình quân là 420,9 người/km2, là t ỉnh có m ật đ ộ
dân số bình quân cao hơn so với mật độ dân số bình quân cả n ước.

Dân số sống ở khu vực thành thị khoảng 183.918 người, chiếm

17


khoảng 10,13% dân số, dân số ở khu vực nông thôn là 1.440.538 người,
chiếm 90,38%. Tỷ lệ nam giới chiếm khoảng 49,92% dân số, n ữ gi ới
khoảng 50,08% dân số. Số người trong độ tuổi lao động chi ếm kho ảng
62,15% dân số, trong đó lao động được đào tạo nghề chi ếm 26%; s ố h ộ
nghèo chiếm 8,88%.
2.2. Khái qoát về Thành phố Bắc Giang và huyện Tân Yên
2.2.1 Giới thiệu về Thành phố Bắc Giang
Thành phố Bắc Giang là trung tâm kinh tế - văn hóa - chính tr ị c ủa
tỉnh Bắc Giang, nằm ở tọa độ 21009’ - 21015’ vĩ đ ộ bắc và 106007’ 106020’ kinh độ đông; phía Bắc giáp huyện Tân Yên; phía Đông giáp
huyện Lạng Giang; phía Nam giáp huyện Yên Dũng; phía Tây giáp huy ện
Việt Yên; diện tích tự nhiên 66,64 km2, gồm 16 đơn vị hành chính (10
phường, 6 xã); dân số đến năm 2015 gần 180.000 người và nhiều các cơ
quan Trung ương, quân đội, các cơ quan của tỉnh, doanh nghiệp đóng
trên địa bàn.
Dưới thời Pháp thuộc, ngày 11/7/1888, đơn vị hành chính “Ph ủ
Lạng Thương” ra đời. Ngày 10/10/1895, tỉnh Bắc Giang được thành l ập,
Phủ Lạng Thương trở thành tỉnh lỵ tỉnh Bắc Giang. Từ m ột căn c ứ quân
sự, Phủ Lạng Thương đã trở thành một đô thị với nhiều phố lớn, nhà ga,
bến cảng, khách sạn, bưu điện, câu lạc bộ, trường học, công viên, sân
vận động... Trong Cách mạng tháng 8/1945, Phủ Lạng Th ương là một
trong những địa phương sớm khởi nghĩa và giành chính quy ền (ngày
17/8/1945). Từ năm 1959, thị xã Phủ Lạng Thương đổi tên là th ị xã Bắc
Giang.
Từ năm 1963, tỉnh Hà Bắc được thành lập trên cơ sở hợp nhất 02
tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh, thị xã Bắc Giang tiếp tục là th ị xã tỉnh l ỵ c ủa

tỉnh.

18


Từ năm 1997, sau khi chia tách tỉnh Hà Bắc thành 2 t ỉnh (B ắc
Giang và Bắc Ninh), thị xã Bắc Giang vẫn là tỉnh lỵ c ủa t ỉnh B ắc Giang.
Cùng với những thành tựu chung của cả nước và tỉnh trong th ời kỳ đ ổi
mới, thị xã Bắc Giang đã có những bước phát triển nhanh v ề m ọi m ặt,
xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa h ọc, kỹ thu ật c ủa
tỉnh và là một trong những trung tâm chuyên ngành cấp vùng. Tháng 12
năm 2003, thị xã Bắc Giang đã được công nhận là đô th ị lo ại III và tháng
6 năm 2005 Chính phủ có Nghị định thành lập thành phố Bắc Giang
thuộc tỉnh Bắc Giang; năm 2010 được mở rộng địa giới hành chính, sáp
nhập 05 xã của 02 huyện Yên Dũng và Lạng Giang về thành ph ố, m ở ra
điều kiện mới cho phát triển và nâng cấp đô thị.
Với vị trí thuận lợi về giao thông, cách thủ đô Hà Nội 50 km về
phía Bắc, ở vị trí trung lộ trên tuyến giao thông huy ết mạch chiến l ược
(gồm đường bộ, đường sắt liên vận quốc tế) nối Thủ đô Hà N ội v ới
thành phố Lạng Sơn và cửa khẩu quốc tế Đồng Đăng. Được xác đ ịnh là v ị
trí đầu mối giao thông cấp liên vùng quan trọng: Nằm cận kề vùng kinh
tế trọng điểm Bắc Bộ, có hệ thống đường bộ gồm các quốc l ộ 1A cũ và
mới, 31, 37, tỉnh lộ 398, 293…; các tuyến đường sắt: Hà Nội - L ạng S ơn,
Hà Nội - Kép - Hạ Long, Hà Nội - Kép - Thái Nguyên ch ạy qua; có tuy ến
đường sông nối thành phố với các trung tâm công nghiệp, th ương m ại,
du lịch lớn như Phả Lại, Côn Sơn - Kiếp Bạc, Yên T ử, Hải Phòng; tiếp c ận
thuận lợi với cảng hàng không quốc tế Nội Bài, cảng nội địa Gia Lâm,
cảng nước sâu Cái Lân, cảng Hải Phòng và các cửa khẩu qu ốc t ế trên
biên giới Lạng Sơn.
2.2.2.Giới thiệu về huyện Tân Yên

Ngày 6/11/1957 Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay
là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) ra Ngh ị định số 523/TTg

19


chia huyện Yên Thế thành 2 huyện Tân Yên và Yên Thế.
Tân Yên là huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, có tổng diện tích
đất tự nhiên là 204 km2. Phía Bắc giáp huyện Yên Thế và huy ện Phú
Bình (tỉnh Thái Nguyên), phía Đông giáp huyện Lạng Giang, phía Tây giáp
huyện Hiệp Hoà, phía Nam giáp huyện Việt Yên và thành phố Bắc Giang.
Vị trí địa lý của huyện tương đối thuận lợi trong giao lưu phát tri ển KT –
XH với thành phố Bắc Giang cách 15 km theo tỉnh lộ 398 (đ ường 284 cũ),
huyện Sóc Sơn – Hà Nội (cách 30 km theo tỉnh lộ 295), thành ph ố Thái
Nguyên cách 40 km theo tỉnh lộ 294 (đường 287 cũ)…
Huyện Tân Yên mang đặc trưng địa hình bán sơn địa, được chia
thành 3 vùng là: Vùng đồi núi thấp nằm ở phía Đông và phía B ắc; Vùng
trung du nằm ở phía Tây; Vùng thấp ở phía Nam. Độ cao trung bình c ủa
huyện từ 10 – 15 m so với mực nước biển
2.3 Cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương nông thôn ở
huyện Tân Yên và chính quyền địa phương đô thị tại thành ph ố Bắc
Giang.
2.3.1Cơ cấu tổ chức của huyện Tân Yên
2.3.1.1 Cơ cấu tổ chức Hội đồng nhân dân huyện Tân Yên
Căn cứ quyết định 08/QĐ – UBBC ngày 30/5/2016 số lượng đại
biểu HĐND huyện Tân Yên là 40 đại biểu .
Thường trực HĐND huyện gồm có 1 Chủ tịch hội đ ồng nhân dân
huyện ,2 Phó Chủ tịch hội đồng nhân dân huyện và các ủy viên .Các đ ồng
chí có tên trong thường trực hội đồng nhân dân huy ện có các đ ồng chí
sau đây.

-

Thường trực HĐND huyện:
Chủ tịch: Lâm Thị Hương Thành
Phó Chủ tịch: Nguyễn Thế Toản

20


Phó Chủ tịch: Nguyễn Thế Huy
Các ban của HĐND huyện gồm có các ban như sau :
-

-

Ban pháp chế
Ông Nguyễn Văn Đô - Trưởng ban
Ông Tạ Quang Hải - Phó Trưởng ban
Ông Phạm Anh Tuấn - Thành viên
Bà Nguyễn Thị Hoan - Thành viên
Ông Cáp Văn Sơn - Thành viên
Ban kinh tế - xã hội
Bà Lâm Thi Hương - Trưởng ban
Bà Giáp Đình Giang - Phó Trưởng ban
Ông Phạm Văn Sang - Thành viên
Ông Dương Minh Hiểu - Thành viên
Bà Đỗ Thị Hải Yến - Thành viên
2.3.1.2.Cơ cấu tổ chức Ủy ban nhân dân huy ện
Ủy ban nhân dân huyện gồm có chủ tịch UBND ,Phó ch ủ tịch UBND
và các ủy viên .Sau khi bầu cử HĐND huyện Tân Yên cơ cấu ủy ban nhân

dân huyện gồm có các đồng chí sau .

-

Chủ tịch: Dương Ngô Mạnh
Phó Chủ tịch TT: Đinh Đức Cảnh
Phó Chủ tịch: Nguyễn Quang Lượng
Phó Chủ tịch: Nguyễn Thái Lai.
Các ủy viên gồm có các đồng chí sau:
- Ông Hoàng Văn Bắc - Chánh thanh tra huyện.
- Ông Đào Thu Phương - Trưởng phòng NN&PTNT huy ện
- Ông Nguyễn Văn Phượng - Trưởng Công an huyện
- Ông Nguyễn Tiến Thịnh - Chánh văn phòng HĐND&UBND huyện.
- Vương Đình Vũ - Chỉ huy trưởng BCH quân s ự huy ện.
2.3.2.Cơ cấu tổ chức thành phố Bắc Giang
2.3.2.1.Cơ cấu tổ chức Hội đồng nhân dân thành phố Bắc
Giang

21


Ngày 30/5/2016, Ủy ban bầu cử TP Bắc Giang ban hành Quy ết
định số 07/QĐ-UBBC Quyết định về việc công bố kết quả bầu c ử và
danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân thành ph ố
Bắc Giang khóa XXI, nhiệm kỳ 2016-2021 gồm có 35 đồng chí .
Thường trực HĐND thành phố gồm có chủ tịch HĐND thành phố ,2
phó chủ tịch HĐND và các ủy viên.Thường trực HĐND thành phố gồm
các đồng chí sau:
Chủ tịch: Lê Bá Chiến
Phó Chủ tịch: Lê Đức Thọ

Các ban của HĐND thành phố gồm có các ban sau :
Ban pháp chế
Ông Nguyễn Hữu Đính - Phó Trưởng Ban Tuyên giáo -Trưởng ban
Ban pháp chế HĐND thành phố
Ông Lương Đức Hiền - Chuyên viên Phòng Tư pháp thành ph ố
-Phó Trưởng ban Ban pháp chế HĐND thành phố.
Ông Dương Đình Sơn - Chủ tịch UBND phường Thọ Xương - ủy
viên ban pháp chế HĐND thành phố.
Ban kinh tế - xã hội
2.3.2.2.Cơ cấu tổ chức Ủy ban nhân dân thành ph ố B ắc Giang
Ủy ban nhân dân thành phố gồm có 1 chủ tịch thành phố và 3 phó
chủ tịch thành phố và các ủy viên.
-

Chủ tịch: Mai Sơn
Phó Chủ tịch: Nguyễn Tiến Dũng
Phó Chủ tịch:Đào Duy Trọng
Phó Chủ tịch: Nguyễn Văn Thạo

22


CHƯƠNG 3
CÁC QUY ĐỊNH VỀ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG NÔNG THÔN, CHÍNH
QUYỀN ĐÔ THỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG C ỦA CHÍNH
QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
3.1.Chính quyền địa phương ở huyện
Điều 23. Chính quyền địa phương ở huyện
Chính quyền địa phương ở huyện là cấp chính quyền địa ph ương
gồm có Hội đồng nhân dân huyện và Ủy ban nhân dân huy ện.

Điều 24. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa ph ương ở

23


huyện
1. Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp lu ật trên
địa bàn huyện.
2. Quyết định những vấn đề của huyện trong phạm vi được phân
quyền, phân cấp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp
luật có liên quan.
3. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà
nước cấp trên ủy quyền.
4. Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính quy ền địa
phương cấp xã.
5. Chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương cấp tỉnh về kết
quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa ph ương ở
huyện.
6. Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy
quyền làm chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã h ội đ ể xây
dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên
địa bàn huyện.
Điều 25. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân huy ện
1. Hội đồng nhân dân huyện gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân
do cử tri ở huyện bầu ra.
Việc xác định tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân huyện được
thực hiện theo nguyên tắc sau đây:
a) Huyện miền núi, vùng cao, hải đảo có từ bốn m ươi nghìn dân
trở xuống được bầu ba mươi đại biểu; có trên bốn mươi nghìn dân thì
cứ thêm năm nghìn dân được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số

không quá bốn mươi đại biểu;
b) Huyện không thuộc trường hợp quy định tại điểm a kho ản này

24


có từ tám mươi nghìn dân trở xuống được bầu ba mươi đại biểu; có trên
tám mươi nghìn dân thì cứ thêm mười nghìn dân được bầu thêm m ột đại
biểu, nhưng tổng số không quá bốn mươi đại biểu;
c) Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân ở huyện có t ừ ba m ươi
đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc trở lên do Ủy ban thường vụ Quốc
hội quyết định theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh, nhưng tổng số không quá bốn mươi lăm đại biểu.
2. Thường trực Hội đồng nhân dân huyện gồm Chủ tịch H ội đồng
nhân dân, hai Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và các Ủy viên là Tr ưởng
ban của Hội đồng nhân dân huyện. Chủ tịch Hội đồng nhân dân huy ện
có thể là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách; Phó Ch ủ
tịch Hội đồng nhân dân huyện là đại biểu Hội đồng nhân dân ho ạt đ ộng
chuyên trách.
3. Hội đồng nhân dân huyện thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế xã hội; nơi nào có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì thành l ập Ban dân
tộc. Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định tiêu chuẩn, điều kiện thành
lập Ban dân tộc quy định tại khoản này.
Ban của Hội đồng nhân dân huyện gồm có Trưởng ban, m ột Phó
Trưởng ban và các Ủy viên. Số lượng Ủy viên của các Ban c ủa H ội đ ồng
nhân dân huyện do Hội đồng nhân dân huyện quyết đ ịnh. Tr ưởng ban
của Hội đồng nhân dân huyện có thể là đại biểu Hội đ ồng nhân dân
hoạt động chuyên trách; Phó Trưởng ban của Hội đồng nhân dân huy ện
là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách.
4. Các đại biểu Hội đồng nhân dân huyện được bầu ở một hoặc
nhiều đơn vị bầu cử hợp thành Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân. Số

lượng Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, Tổ trưởng và Tổ phó c ủa T ổ đại
biểu Hội đồng nhân dân do Thường trực Hội đồng nhân dân huy ện

25


×