CÂU HỎI THẢO LUẬN LẦN 1
HỌC PHẦN: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC ĐẢNG Ở CƠ SỞ
Câu 1: Quan điểm của Mác – Lênin, Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản? Quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay? Liên hệ bản thân?
1. Quan điểm của Mác – Lênin về Đảng Cộng sản:
Trên cơ sở kế thừa kinh tế chính trị cổ điển Anh, lần đầu tiên trong lịch sử, C.Mác đã
nghiên cứu phát minh ra học thuyết giá trị thặng dư, chỉ ra cho GCCN thấy rõ được sự bóc lột của
GCTS, cũng như thấy rõ sứ mệnh lịch sử là người đào huyệt chôn GCTS - lật đổ giai cấp thống trị
của CNTB để XD một xã hội mới XHCN, làm cho CNXH từ không tưởng trở thành hiện thực.
Do điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, Mác-Ănghen mới nghiên cứu về “Đảng độc lập” và đến
Lênin mới nghiên cứu “Đảng kiểu mới” do Lênin sáng lập. Học thuyết Mác-Lênin về ĐCS được thể
hiện ở “Đảng độc lập” của Mác-Ănghen và bổ sung, phát triển ở “Đảng kiểu mới” của V.I.Lênin.
Theo Mác và Ăngghen: GCCN là g.cấp CM nhất, tiên tiến nhất trong XH, nhưng GCCN
chỉ có thể th.hiện được sứ mệnh LS của mình khi nó tự tổ chức ra được một ch.đảng độc lập của nó.
Đảng đó là đảng của giai cấp công nhân. Đảng luôn luôn đứng trên lập trường của giai cấp
công nhân. Giai cấp công nhân chỉ có thể giải phóng mình khi giải phóng toàn xã hội.
Mác - Ăngghen đòi hỏi Đảng - đội tiên phong cách mạng của giai cấp vô sản phải được vũ
trang bằng lý luận tiên tiến, có giác ngộ cao, và là người đi đầu trong đấu tranh cách mạng.
Đảng là một khối thống nhất về chính trị, tư tưởng và TC. Đảng phải đấu tranh không
khoan nhượng với các phần tử cơ hội. Với khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”, hai ông
đòi hỏi đảng của GCCN nêu cao CN quốc tế vô sản trong cuộc đấu tranh giải phóng mình. Song do
điều kiện LS, chính trị, XH lúc bấy giờ, hai ông chưa có đ.kiện ng.cứu lý luận về đảng cầm quyền.
Tính tất yếu ra đời của ĐCS: Đảng Cộng sản ra đời từ cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản
với giai cấp tư sản khi cuộc đấu tranh ấy phát triển đến một mức độ nhất định, phát triển dần từ tự
phát đến tự giác, có mục đích, có tổ chức. Sự ra đời của ĐCS là tất yếu, do đòi hỏi của việc lãnh đạo
cuộc đấu tranh của giai cấp VS với giai cấp TS.
Bản chất của ĐCS: ĐCS là đảng của giai cấp công nhân, đội ngũ tiên phong của giai cấp
công nhân, mang bản chất giai cấp công nhân. Bản chất ấy là sự kết hợp những tinh hoa của bản
chất giai cấp công nhân với CNXHKH.
- Quan điểm của Lênin: “ ĐCS là đội tiên phong chính trị có tổ chức và là đội ngũ có tổ chức chặt
chẽ nhất, cách mạng nhất và giác ngộ nhất của giai cấp công nhân.
Hệ tư tưởng: CNXHKH là nền tảng tư tưởng, chỉ rõ con đường, phương pháp đấu tranh
giành chính quyền, xây dựng xã hội mới
Mục đích của ĐCS: Mác – Angghen: ĐCS ra đời, tồn tại, phát triển là để lãnh đạo giai cấp
công nhân, nhân dân lao động thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân. Đó là
những người đào huyệt chôn CNTB, xây dwungj XH cộng sản, một XH không có người bóc lột
người, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội phát triển ở trình độ cao, giai đoạn đầu của XH đó là
CNXH.
Nguyên tắc tổ chức, hoạt động: 04
Nguyên tắc tập trung dân chủ: là nguyên tắc cơ bản xây dựng tổ chức, sinh hoạt và hoạt
động của Đảng. Để thực hiện lý tưởng của ình, một mặt Đảng phải thực hiện tốt dân chủ để phát
huy cao độ trí tuệ, tính sáng của mọi đảng viên trong hoạt đồng, đồng thời phải hoạt động một cách
tập trung thống nhất. Vì thế Đảng phải xây dựng tổ chứ, sinh hoạt và hoạt động theo nguyên tắc
TTDC để thống nhất ý chí và hành động. TTDC đối lập với tập trung quan liêu, gia trưởng, độc
đoán và dân chủ hình thức, dân chủ không lãnh đạo.
Nguyên tắc đoàn kết thống nhất: ĐK-TN trong đảng là cơ sở và điều kiện để đoàn kết giai
cấp công nhân. Trong điều kiện đảng cầm quyền sự đoàn kết thống nhất của đảng lại càng đặc biệt
quan trọng, nhất là ở những nước giai cấp công nhân chiếm tỉ lệ nhỏ bé trong dân cư. Từng cán bộ
đảng viên và các tổ chức đảng phải giữ gìn sự đoàn kết thống nhất của đảng.
Nguyên tắc phê bình, tự phê bình: PB và TPB là biện pháp căn bản để xây dựng, củng cố sự
đoàn kết thống nhất của Đảng, là quy luật phát triển của Đảng.
Nguyên tắc gắn bó mật thiết với nhân dân, đấu tranh kiên quyết ngăn chặn và loại trừ bệnh
quan liêu: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân do đảng lãnh đạo. Song để lãnh đạo cách mạng
giành thắng lợi đảng phải gắn bó với nhân dân, được nhân dân ủng hộ. Quan liêu xa dân đảng
không tránh khỏi tan rã, thậm chí mất chính quyền.
ĐCS cầm quyền:
- Mác – Angghen: do điều kiện lịch sử chưa bàn nhiều về ĐCS cầm quyền nhưng đã đưa ra một số
tư tưởng chủ yếu về ĐCS cầm quyền bao gồm: hình thức, bản chất của nhà nước XHCN; vấn đề
đảng lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo cải tạo XH cũ và quản lý XH mới; tiêu chuẩn quản lý, bãi miễn
cán bộ; chế độ đãi ngộ cán bộ của ĐCS cầm quyền; …
- Lênin: Giành được chính quyền, đảng là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chuyên chính vô sản và là
một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng lãnh đạo hệ thống ấy để thực hiện cải tạo XH cũ, xây dựng XH
mới.
Quan điểm quốc tế của Đảng: Đảng phải xây dựng và hoạt động theo các nguyên lỹ, học
thuyết Mác; đường lối của Đảng phải thể hiện chủ nghĩa quốc tế. Đảng phải giáo dục đảng viên và
nhân dân thể hiện chủ nghĩa quốc tế vô sản đồng thời đảng phải tích cực chống những biểu hiện
sôvanh nước lớn và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.
Xây dựng đội ngũ đảng viên: Đảng kết nạp những người ưu tú của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động vào Đảng, kịp thời đưa những người không đủ tiêu chuẩn đảng viên ra khỏi
đảng.
Thuộc tính tiên phong của Đcs:
- Đảng phải được vũ trang bằng lý luận cách mạng;
- Trình độ giác ngộ cao, bộ phận kiên quyết nhất biết lôi cuốn quần chúng cùng mình hành động
thực tiễn;
- Đại biểu cho quyền lợi của toàn thể giai cấp.
Đến Lênin, ông đã ph.triển s.tạo tư tưởng của Mác và đề ra 8 n.tắc XD Đảng CS kiểu mới:
1. Chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi h.động của Đảng;
2. Đảng là đội tiên phong chính trị có tổ chức và là đội ngũ có tổ chức chặt chẽ nhất, giác
ngộ nhất, cách mạng nhất của giai cấp công nhân;
3. Khi có chính quyền, Đảng là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội
và là một bộ phận của hệ thống đó;
4. Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong XD tổ chức, SH và hoạt động của Đảng;
5. Đảng là một khối thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tự phê bình và phê bình là
quy luật phát triển của Đảng;
2
6. Đảng gắn bó chặt chẽ với quần chúng, kiên quyết đấu tranh để ngăn ngừa và khắc phục
bệnh quan liêu xa rời quần chúng;
7. Đảng phải tích cực kết nạp những đại biểu ưu tú của GCCN và ND lao động vào Đảng,
phải thường xuyên đưa những người không đủ tiêu chuẩn và những phần tử cơ hội ra khỏi Đảng.
8. Chủ nghĩa quốc tế của Đảng Cộng sản.
2. Những quan điểm về Đảng và xây dựng ĐCSVN hiện nay theo:
Kế thừa thành quả đổi mới tư duy về bản chất của Đảng tiếp tục khẳng định:
1/ Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo
nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà
(nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xoá
bỏ chế độ thực dân, phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến
hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc.
2/ Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên
phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp
công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc.
- “… đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam …” đây
là sự sáng tạo của Việt Nam, xuất phát từ sự ra đời của ĐCSVN. VN là một nước thuộc địa nửa
phong kiến, kinh tế nông nghiệp lạc hậu, giai cấp CN còn nhỏ bé, PTCN đã phát triển, PT yêu nước
rất mạnh mẽ do đó để thành lập Đảng phải làm cho PTCN và PTYN chuyển biến về chất và phải
được CN Mác – Lênin soi sáng, các yếu tố đó phải được kết hợp với nhau.
- Nhiệm vụ của đảng cách mạng là chống đế quốc để giành độc lập cho dân tộc (đấu tranh
GPDT) đồng thời chông phong kiến để giành lại ruộng đất cho nhân dân (đấu tranh GPGC). Lực
lượng của Đảng chủ yếu là nhân dân lao động, được đặt dưới sự lãnh đạo của đảng.
3/ Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội
công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và
cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.
4/ Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim
chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân
loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh
chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.
5/ Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm
nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ
luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc : tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở
Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn
khổ Hiến pháp và pháp luật.
6/ Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; đoàn kết và lãnh
đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ
phận của hệ thống ấy. Đảng lãnh đạo, tôn trọng và phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội.
7/ Đảng kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai
cấp công nhân, góp phần tích cực vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
của nhân dân thế giới.
8/ Đảng Cộng sản Việt Nam được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức,
thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng
viên, sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo cách mạng của Đảng.
3
3. Những điểm sáng tạo của ĐCSVN vận dụng Chủ nghĩa M – L và Tư tưởng Hồ Chí
Minh được thể hiện:
Từ các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, vận dụng vào thực tiễn Việt Nam, Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Đảng ta đã bổ sung, phát triển sáng tạo những quan điểm mới về mối quan hệ giữa
ĐCS với GCCN, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam.
Một là: Sự ra đời và bản chất của Đảng
- Ngay khi sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã là một điểm sáng tạo độc đáo của
Chủ tịch Hồ Chí Minh khi vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Đó là thể hiện điều kiện
ra đời của Đảng phải phù hợp với quy luật phát triển, xuất phát từ hoàn cảnh khách quan của đất
nước ta là một nước có nông nghiệp là chủ yếu, giai cấp công nhân chưa thật sự lớn mạnh, số lượng
còn hạn chế. Vì vậy Đảng ta đã xác định không chỉ Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của
giai cấp công nhân, mà còn là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại
biểu trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc. Đây là
điểm sáng tạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đảng không có mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu xây
dựng một đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực
hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Đảng ta đã vận dụng thành
công Chủ nghĩa Mác-Lênin trong việc xây dựng Đảng.
- ĐCSVN mang bản chất đặc trưng của GCCN, có những đặc trưng riêng như: xuất thân từ
nông dân, đoàn kết, lấy dân làm gốc, đánh đổ thực dân phong kiến, giành lại độc lập, xây dựng
CNXH, không chỉ bảo vệ GCCN mà còn bảo vệ quyền lợi của dân tộc.
- Lấy CN M – L làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động CM
- Đại hội XI của Đảng có điểm sáng tạo là thêm mệnh đề “…đồng thời... là đội tiên phong
của nhân dân lao động và dân tộc VN”. Điều này khẳng định lịch sử CMVN và vai trò lãnh đạo của
Đảng, 1 mình GCCN không thể làm nên lịch sử, lực lượng nòng cốt và liên minh C – N – T; lực
lượng kết nạp vào Đảng của ĐCSVN là tất cả các giai cấp, các tầng lớp là công dân VN; thể hiện
mục tiêu, lý tưởng, tiên phong, gương mẫu về lý luận, nhận thức và hành động.
Hai là: Mục đích của Đảng
Giai đoạn 1930 – 1945: đoàn kết, đấu tranh để giành chính quyền
Giai đoạn 1945 – 1954: diệt giặt đói, dốt, ngoại xâm; kháng chiến – kiến quốc; hoàn thiện
và xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân
Giai đoạn 1954 – 1975: Xây dựng CNXH Miền Bắc và CM giải phóng dân tộc Miền Nam
Giai đoạn 1975 – 1986: Khôi phục phát triển kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh, thống
nhất nước nhà dựa trên cương lĩnh, đường lối
Giai đoạn 1986 đến nay: XD đất nc độc lập, g.mạnh, dân chủ, văn minh, tiến lên CNXH.
Điểm sáng tạo là đưa vấn đề dân chủ lên hàng đầu. Đảng đã nhận thấy trình độ nhận thức
của CB, ĐV và quần chúng ND được nâng lên, phân biệt được dân chủ TBCN và dân chủ XHCN
Nội dung cơ bản về phát huy dân chủ trong Đảng hiện nay là:
Thứ nhất, dân chủ trong xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng
Thứ hai, phát huy tinh thần trách nhiệm, trí tuệ của mọi tổ chức đảng và đảng viên trong
lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng
Thứ ba, dân chủ trong sinh hoạt đảng
Thứ tư, dân chủ trong công tác cán bộ
Từ bản chất của Đảng và vai trò của Đảng cầm quyền, trước yêu cầu, nhiệm vụ trong giai
đoạn phát triển mới, cần nhận thức rõ vấn đề phát huy DC trong Đảng vừa là mục tiêu, vừa là động
lực để nâng cao năng lực LĐ và sức chiến đấu của Đảng. Các tổ chức đảng, cấp ủy các cấp, mọi ĐV
4
phải tự giác thực hiện và kiên quyết đấu tranh với các tư tưởng, hành vi sai trái vi phạm DC trong
Đảng và cả XH. Chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ này mới giữ vững và củng cố vai trò LĐ của Đảng, lãnh
đạo toàn dân thực hiện thắng lợi mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
Ba là: Hệ tư tưởng
Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho hành động. Đảng còn vận dụng sức mạnh, truyền thống yêu nước quý báu của dân tộc,
tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn
của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện
vọng của nhân dân. “Phù hợp với nguyện vọng của nhân dân” cũng chính là mục tiêu của đảng ta
chính vì vậy mà tư tưởng của đảng về xây dựng đảng hợp lòng dân và được nhân dân tin tưởng.
Trong Di chúc, CT.HCM căn dặn với 4 chữ thật: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi
ĐV và CB phải thật sự thấm nhuần đạo đức CM , thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải
giữ gìn Đảng ta thật tr.sạch, phải xứng đáng là người LĐ , là người đầy tớ thật trung thành của ND”.
Bốn là: Nguyên tắc tổ chức
- Chủ tịch Hồ Chí Minh - đã vận dụng sáng tạo học thuyết của Chủ nghĩa Mác-Lênin về
xây dựng Đảng của giai cấp công nhân vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Người khẳng định Đảng
phải là khối thống nhất ý chí và hành động, trong tổ chức, Đảng phải thực hiện đầy đủ nguyên tắc
tập trung dân chủ - một nguyên tắc quyết định sức mạnh của Đảng. Người chỉ rõ rằng dân chủ phải
đi đôi với với tập trung, phải kiên quyết thực hành kỷ luật
Đại hội XI của Đảng còn mở rộng nội hàm của nguyên tắc TTDC trong sinh hoạt Đảng, đó
là: “Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững
kỷ luật, kỷ cương XH; phê phán và nghiêm trị những hành vi VP quyền làm chủ của nhân dân”.
Trong nguyên tắc TTDC xác định chế độ làm việc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, kỷ
luật nghiêm minh, tình đồng chí, thương yêu lẫn nhau
Năm là: Đảng cầm quyền
Trong Di chúc, HCM viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ
phải thật sự thấm nhuần đạo đức CM, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn
Đảng ta thật trong sạch. Phải xứng đáng là người l.đạo, là người đầy tớ thật tr.thành của nhân dân”.
Đây là một điểm sáng tạo của CT HCM khi vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam
Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, khi đề cập tới phương
hướng, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ tới, có đề cập “nâng cao năng lực
lãnh đạo, cầm quyền, hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách; tổ chức thực hiện sáng tạo, có
hiệu quả đường lối” (Đây là lần đầu tiên trong văn kiện Đại hội cũng như văn kiện các hội nghị
Trung ương, Đảng ta đề cập tới cụm từ “nâng cao năng lực cầm quyền “).
Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận- thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006) nhấn
mạnh việc “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng”
- Nhất nguyên về chính trị (Không có chính đảng đối lập): Chế độ chính trị ở Việt Nam là
thể chế chính trị một đảng duy nhất cầm quyền. Trong những giai đoạn lịch sử nhất định, ngoài
Đảng Cộng sản Việt Nam, còn có Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội. Tuy nhiên, hai đảng này được tổ
chức và hoạt động như những đồng minh chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam, thừa nhận vai
trò lãnh đạo và vị trí cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Nhất nguyên về tổ chức (các thành phần đều là “cánh tay nối dài” của Đảng): Hệ thống
chính trị ở Việt Nam gắn liền với vai trò tổ chức và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mỗi tổ
chức thành viên của hệ thống chính trị đều do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập vừa đóng vai trò là
hình thức tổ chức quyền lực của nhân dân (Nhà nước), tổ chức tập hợp, đoàn kết quần chúng, đại
diện cho ý chí và nguyện vọng của quần chúng (Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội),
mà qua đó Đảng Cộng sản thực hiện sự lãnh đạo chính trị đối với xã hội.
5
+ Nhất nguyên về tư tưởng: Tính nhất nguyên chính trị của hệ thống chính trị được thể
hiện ở tính nhất nguyên tư tưởng. Toàn bộ hệ thống chính trị đều được tổ chức và hoạt động trên
nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Sáu là: Chủ nghĩa quốc tế
Đảng kết hợp CN yêu nước chân chính với CN quốc tế trong sáng của GCCN
Bảy là: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng
Tăng cường XD đảng về chính trị: kiên định chủ nghĩa Mac Lênin, tư tưởng HCM, kiên
định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa Xã hội.
Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận.
Rèn luyện phẩm chất đạo đức Cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân.
Tiếp tục đổi mới kiện toàn tổ chức bộ máy của đảng và hệ thống chính trị.
Kiện toàn tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên.
Đổi mới công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ.
Đổi mới nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra giám sát.
Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng.
4. Đ.giá chung, c.tác XD Đảng sau 5 năm thực hiện NQ ĐH XI: (VK ĐH XII)
4.1. Thành tựu, kết quả q.trọng:
- Công tác xây dựng Đảng về chính trị trước tình hình mới tiếp tục được coi trọng.
- Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;
- Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
- Kiên định đường lối đổi mới; chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc chủ quan, nóng vội.
- Coi trọng giữ vững bản chất giai cấp công nhân và các nguyên tắc hoạt động của Đảng. - Năng lực hoạch định đường lối, CS có bước tiến bộ.
4.2. Tuy nhiên, công tác XD Đảng còn nhiều h.chế, KĐ:
- Dự báo, hoạch định, LĐ tổ chức thực hiện CS của Đảng, NN còn nhiều hạn chế.
- Việc thể chế hoá, xây dựng chương trình hành động và tổ chức thực hiện các nghị quyết,
chỉ thị, quy định, kết luận của Đảng chưa kịp thời, đồng bộ, cụ thể và hiệu quả chưa cao.
- Năng lực LĐ và sức ch.đấu của o ít TC đảng còn thấp, thậm chí có nơi mất sức ch.đấu;
- Công tác QL, giáo dục, rèn luyện ĐV ở một số nơi chưa được quan tâm thường xuyên;
- Chất lượng s.hoạt đảng chưa cao và tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình còn yếu.
- Công tác bảo vệ chính trị nội bộ có mặt còn hạn chế.
- Chưa nắm và giải quyết tốt vấn đề chính trị hiện nay, trong khi những biểu hiện"tự diễn
biến", "tự chuyển hoá"có xu hướng diễn biến phức tạp trong Đảng, trong HTCT và trong XH.
- Không ít CB,ĐV có những biểu hiện dao động, mất phương hướng, hoài nghi về vai trò
LĐ của Đảng, về mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
- Đã xuất hiện những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đ.lối, Điều
lệ Đảng ở một số CB,ĐV
4.3. Đảng ta rút ra 1 số kinh nghiệm trong c.tác XD Đảng:
6
- Trước những khó khăn, thách thức trên con đường đổi mới, phải hết sức chú trọng c.tác
XD Đảng TS,VM, nâng cao n.lực LĐ và sức chiến đấu của Đảng, XD hệ thống chính trị v.mạnh;
- Phải phát huy dân chủ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo sự nhất trí trong
Đảng và đồng thuận xã hội; tăng cường mối quan hệ mật thiết với ND;
- Có quyết tâm chính trị cao với những biện pháp thiết thực, mạnh mẽ, đồng bộ, kiên quyết
phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong CB,ĐV, công chức, viên chức;
- Chú trọng đổi mới công tác tổ chức - cán bộ, công tác KT, giám sát, đẩy mạnh phòng,
chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí;
- Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; đồng thời kiên quyết đấu
tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.
4.4. Nhiệm vụ t.quát về XD Đảng trong 5 năm tới:
- Xây dựng Đảng TS,VM, nâng cao năng lực lãnh đạo, tăng cường bản chất giai cấp công
nhân và tính tiên phong, sức chiến đấu, phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất của Đảng;
- Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những
biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.
- Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, coi trọng c.tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ;
- Tăng cường và nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, lý luận, công tác kiểm tra, giám
sát và công tác dân vận của Đảng;
- Tiếp tục đổi mới phương thức LĐ của Đảng.
Chú trọng xây dựng Đảng về chính trị
- Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển
phù hợp với thực tiễn Việt Nam;
- Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới.
- Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và của mỗi CB,
ĐV, trước hết là CB lãnh đạo, QL chủ chốt các cấp; không dao động trong bất cứ tình huống nào.
- Giữ vững bản chất GCCN của Đảng, vai trò tiên phong, gương mẫu của CB,ĐV
- Kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng.
- Nâng cao n.lực cầm quyền của Đảng và b.đảm sự l.đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả;
- Giữ vững bản lĩnh chính trị của Đảng, của các tổ chức đảng, của CB,ĐV
- Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với quy luật khách quan và
đặc điểm của Việt Nam, tạo bước đột phá để phát triển.
- Hoàn thiện cơ chế, quy chế và tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc tự phê
bình, phê bình, chất vấn trong các kỳ họp của BCH TW, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp.
- Xây dựng và TC thực hiện có hiệu quả cơ chế phát huy vai trò của ND th.gia XD Đảng.
5. Liên hệ bản thân:
- Để có đc đất nc như ngày hôm nay là nhờ đ.lối đúng đắn, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng
- Đây đó vẫn còn những ĐV VPKL, sa đọa, tự chuyển hóa, tự chuyển biến, tham ô, nhũng
nhiễu, o vì lợi ích chung của đất nc, của dân tộc...tuy nhiên, đó chỉ là những biểu hiện về suy thoái
của một số cá nhân, o phải là bản chất của Đảng
- Hiện nay, thế hệ trẻ có ăn, có học, thậm chí đc đi du học, đào tạo ở nc ngoài, sau khi
thành tài chỉ một số ít những em chấp nhận vào làm cơ quan nhà nc, mới có đ.kiện để tìm hiểu, rèn
7
2-8
luyện, phấn đấu đứng vào hàng ngũ của Đảng. Do đó, với phần lớn TN còn lại cần tăng cường GD
về chính trị tư tưởng, mở rộng việc kết nạp Đảng ở các DN, o phân biệt th.phần KT và công nhân
- Trong SH Đảng hiện nay, thường có hiện tượng “chân lý là của thủ trưởng” nên tại các
cuộc họp, thường thì bí thư phát biểu kiểm điểm công việc đã qua, đề ra phương hướng công tác sắp
tới...thế là mọi người đồng ý và biếu quyết tán thành.
- Ngoài ra, thực tế cho thấy rằng thông thường trong công tác hoặc trong sinh hoạt đảng
thường nảy sinh những ý kiến khác nhau, tranh cãi thì có người cho rằng đó là dấu hiệu mất đoàn
kết, không thống nhất nội bộ, vội quy chụp khuyết điểm về lập trường quan điểm. Có người chủ toạ
cuộc họp khi thấy những ý kiến khác nhau thì tìm cách tránh né, dung hoà ý kiến, kết luận không
dứt khoát để không mất lòng ai. Mặt khác, có người khi thấy ý kiến của mình không được cấp trên
chấp nhận, không được đa số đồng tình, mặc dù không thông đã vội xin rút lui, không tranh luận
đến cùng, không dám bảo lưu ý kiến, để khỏi va chạm với cấp trên, với đa số.
- Hoặc một số người trong hội nghị o dám nói thẳng, nói hết suy nghĩ của mình nhưng ra
ngoài hội nghị lại bàn tán vô TC, truyền bá ý kiến riêng của mình, gây mất ĐK nội bộ. Đó là những
thái độ o đúng với n.tắc TTDC trong SH đảng nhưng lại khá phổ biến ở đơn vị nơi tôi công tác.
- Do đó, vấn đề là phải thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong đảng, người đứng
đầu tổ chức đảng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong vấn đề này. Người lãnh đạo hiểu rõ ý nghĩa
của dân chủ, tầm quan trọng của việc thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ sẽ chủ động, tích
cực tìm ra và tổ chức thực hiện tốt nguyên tắc này, tạo lập trong cấp ủy và tổ chức đảng bầu không
khí dân chủ, lành mạnh, mọi người mạnh dạn nói thẳng, nói đúng, nói hết suy nghĩ của mình, chăm
lo giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí cả khi thuận lợi, thành công lẫn lúc gặp khó khăn, thất bại.
- Những năm gần đây, Đảng ta đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu đối với việc
giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong tổ chức Đảng và trong các cơ quan, đơn vị. Tuy nhiên, thực
tế là ở nhiều nơi, chính người đứng đầu chịu trách nhiệm trước cấp ủy cấp trên và cấp mình về sự
đoàn kết thống nhất nội bộ lại chưa thực sự gương mẫu, chưa thấm nhuần ý thức xây dựng khối
đoàn kết thống nhất trong nội bộ. Chính vì vậy, việc lựa chọn người đứng đầu có đủ phẩm chất,
năng lực, có vai trò tiền phong, gương mẫu là rất quan trọng. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền
phải thực sự công bằng, công tâm trong xử lý công việc, phải thực sự là trung tâm quy tụ, đoàn kết
của tổ chức Đảng, của tập thể cơ quan, đơn vị.
Câu 2: Tại sao Đảng Cộng sản lấy TTDC làm nguyên tắc tổ chức cơ bản? Biểu hiện
của tập trung và dân chủ trong Đảng? Những đòi hỏi nảy sinh từ thực tế về nhận thức và thực
hiện nguyên tắc này tại đơn vị? Đề xuất các giải pháp thực hiện tốt nguyên tắc TTDC
I. Tại sao Đảng Cộng sản lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản:
- Khái niệm Tập trung Dân chủ:
+ Tập trung trong Đảng là sự liên minh tự nguyện của những người cộng sản thành tổ chức, có
sự lãnh đạo thống nhất, ý chí, hành động và kỷ luật thống nhất
+ Tập trung trong Đảng là sự thống nhất ý chí và hành động trên cơ sở cương lĩnh, điều lệ, mục
tiêu, đường lối, trung tâm lãnh đạo, hệ thống tổ chức.
+ Dân chủ trong Đảng là lãnh đạo tập thể, quyền của Đảng viên, sự bình đẳng giữa các đảng
viên, tự phê bình và phê bình, các cơ quan lãnh đạo được bầu cử lập ra.
+ Theo HCM: Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của Đảng, là nguyên tắc cơ bản nhất để
xây dựng Đảng Cộng sản thành một tổ chức chiến đấu chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của mỗi cá
nhân, vừa phát huy sức mạnh của tập thể phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng đã đề ra.
1. Việc Đảng ta xác định: “Ng.tắc TTDC là ng.tắc TC và HĐ cơ bản của Đảng” vì:
Cơ sở lý luận:
8
- Quan điểm của Mác – Ănghen (SGK 15): Mác – Ănghen đã đưa ra các nguyên tắc cơ bản
về xây dựng tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản. Những nguyên tắc này được thể hiện tập
trung ở Điều lệ của Liên đoàn những người cộng sản và Hội Liên hiệp công nhân quốc tế (Quốc tế
thứ nhất), trong đó nêu rõ : Đảng xây dựng tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ
(mặc dù hai ông chưa dùng thuật ngữ “tập trung dân chủ” nhưng những nội dung chủ yếu của
nguyên tắc này đã được thể hiện trong Điều lệ của Liên đoàn những người cộng sản như bầu cử dân
chủ, bình đẳng; quyền thảo luận, thông qua cưỡng lĩnh, đường lối; cấp dưới phục tùng cấp trên,
thiểu số phục tùng đa số; …)
- Quan điểm của Lê nin:
Đảng phải xây dựng, tổ chức, sinh hoạt và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ để
thống nhất ý chí và hành động. Đó là vấn đề thuộc về bản chất của Đảng, phân biệt đảng kiểu mới
của giai cấp công nhân với đảng kiểu cũ – đảng cải lương. Lênin viết:
“Chúng tôi luôn bảo vệ dân chủ trong nội bộ đảng. Nhưng chúng tôi không bao giờ phản đối
chế độ tập trung của đảng. Chúng tôi chủ trương chế độ tập trung dân chủ”. “Các đảng gia nhập
Quốc tế Cộng sản phải xây dựng theo nguyên tắc tập trung dân chủ”
Năm 1905, KN TTDC đc Lênin sử dụng lần đầu tại Hội nghị Tammecpho
Tại ĐH IV-Năm 1906, n.tắc TTDC được ghi vào Đ.lệ của Đảng C.nhân DC-XH Nga. Đc
các Đảng trong QT III thừa nhận & kh.định: Các Đ gia nhập QTCS phải đc XD theo n.tắc TTDC
- Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh:
Hồ Chí Minh cho rằng dân chủ và tập trung là hai mặt có quan hệ gắn bó và thống nhất với
nhau trong một quá trình tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Dân chủ vừa là bản chất, vừa là động lực, mục tiêu của xã hội mới mà Đảng ta lãnh đạo
nhân dân xây dựng nên. Dân chủ trong Đảng là tất cả đảng viên đều được tự do bày tỏ chính kiến
của mình về các vấn đề trong sinh hoạt đảng để góp phần thống nhất về quan điểm, chủ trương
trong lãnh đạo, chỉ đạo; để xây dựng nghị quyết, đưa được nghị quyết vào cuộc sống. Vì vậy, dân
chủ phải đi đến tập trung, là cơ sở của tập trung. Phải tránh dân chủ theo kiểu tùy tiện, phân tán, vô
tổ chức, dân chủ hình thức. Những kiểu dân chủ như thế là rất nguy hại, làm suy giảm năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của mỗi tổ chức đảng.
Về tập trung, Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong Đảng phải thống nhất về tư tưởng, tổ chức và
hành động. Biểu hiện của tập trung là thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên… Tập
trung trên cơ sở phát huy dân chủ chứ không phải tập trung quan liêu, độc đoán, chuyên quyền.
Hiểu và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ sẽ làm cho Đảng ta ngày càng vững
mạnh, thống nhất trong tư tưởng và hành động “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì
chỉ như một người”(1).
Tập trung dân chủ phải được quán triệt và thực hiện trong từng đảng viên, trong các tổ chức
đảng để Đảng ta hoàn thành sứ mệnh lịch sử của một Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân ta xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, cùng với nguyên tắc tập trung dân chủ,
Người còn đề cập tới nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Đây là biểu hiện của nguyên
tắc tập trung dân chủ trên phương diện lãnh đạo, quản lý.
Hồ Chí Minh khẳng định: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập
thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung”(2). Theo Hồ Chí Minh thì một người dù tài
giỏi đến mấy cũng không thể nào thấy hết mọi mặt của một vấn đề, càng không thể thấy hết được
mọi việc, hiểu hết được mọi chuyện. Vì vậy, để lãnh đạo được sát, đúng cần phải có sự tham gia ý
kiến của nhiều người. Nhiều người thì nhiều kiến thức, người thấy mặt này, người thấy mặt kia, do
đó hiểu được toàn diện, mọi vấn đề. Khi tập thể đã bàn bạc kĩ lưỡng, kế hoạch đã được định rõ thì
giao cho một người phụ trách chính. Làm như vậy thì kế hoạch mới được thực hiện đầy đủ, tránh
9
dựa dẫm, chồng chéo nhau, công việc mới đạt kết quả cao. Khi đánh giá công việc mới có cơ sở để
biểu dương những người làm giỏi, phê bình những người làm kém, mới xác định rõ trách nhiệm của
từng cá nhân. “Lãnh đạo mà không tập thể thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả
là hỏng việc. Phụ trách không có cá nhân thì sẽ đi đến tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả
cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”(3).
Vận dụng các nguyên lý đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mác – Lê nin về Đảng Cộng sản vào
xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khái quát thành những nguyên lý chủ yếu như
tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách… Như vậy, theo quan điểm của chủ tịch
HCM, ĐCS VN phải được xây dựng theo các nguyên lý đảng kiểu mới của giai cấp công nhân mà
nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong những nguyên lý đó.
Đây là nguyên tắc cơ bản nhất chi phối tất cả các nguyên tắc khác trong Xây dựng đảng.
Đây là nguyên tắc hoạt động của các ĐCS trên TG.
Cơ sở thực tiễn:
TTDC vừa phát huy được trí tuệ, sáng kiến, kinh nghiệm của Đảng viên, vừa bảo đảm sự
thống nhất về ý chí và hành động
TTDC là nguyên tắc bảo đảm thực hiện thắng lợi, nhiệm vụ của ĐCS
TTDC là nguyên tắc chi phối việc thực hiện các nguyên tắc khác trong Đảng
Tính tất yếu của nguyên tắc được chứng minh qua thực tiễn hoạt động của ĐCS
Xuất phát từ bản chất của Đảng Cộng sản:
- Đảng là đội tiền phong chiến đấu của GCCN. Vì vậy, Đảng phải được tổ chức chặt chẽ, tập
trung, thống nhất ý chí và hành động.
- Đảng là liên minh tự nguyện của những công nhân ưu tú và những người lao động cùng
chung chí hướng cộng sản, phấn đấu xây dựng nền dân chủ XHCN. Do đó, Đảng phải được tổ chức
và hoạt động theo lối dân chủ mới phù hợp với bản chất GCCN và mục đích của Đảng.
- Thực hiện nguyên tắc TTDC trong xây dựng Đảng và hoạt động lãnh của đảng là điều kiện
bảo đảm sự thống nhất ý chí, thống nhất hành động của toàn đảng, đồng thời bảo đảm phát huy sáng
kiến và tính tích cực, sáng tạo của mọi tổ chức đảng và mọi đảng viên.
Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ lịch sử của ĐCS:
Nhiệm vụ lãnh đạo cuộc đấu tranh xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng CNXH và tiến
tới CNCS. Đây là nhiệm vụ rất gay go, phức tạp, lâu dài, đòi hỏi Đảng vừa phải tổ chức theo lối dân
chủ để phát huy mọi tiềm năng trí tuệ, lực lượng của đảng viên và các tổ chức trong toàn Đảng, lại
vừa phải tổ chức theo lối tập trung, có tổ chức chặt chẽ, thống nhất, kỷ luật nghiêm minh mới đủ
sức hoàn thành nhiệm vụ lịch sử đó.
Xuất phát từ kinh nghiệm lịch sử của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và hoạt động
thực tiễn của ĐCSVN:
Để lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân đấu tranh giành chính quyền, xây dựng CXH,
cuối cùng đi đến giải phóng con người nói chung, thực hiện XH cộng sản văn minh Đảng phải có sự
nhất trí cao, thống nhất tư tưởng và hành động. Do đó, đảng phải được tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc TTDC. Mọi thành công hay thất bại trong cuộc đấu tranh để xây dựng tổ chức đảng,
thực hiện mục đích của đảng đều tùy thuộc vào nhận thức và hành động đúng hay không đúng
nguyên tắc TTDC trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động lãnh đạo của đảng; đảng nào vi phạm hoặc
xa rời nguyên tắc TTDC đều dẫn đến giảm sút sức chiến đấu, phân liệt hoặc thậm chí tan rã.
Bài học từ sự sụp đổ của các Đảng cộng sản Liên xô và Đông âu cho thấy rằng việc vi phạm
nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong những nguyên nhân làm giảm sút sức chiến
đấu của Đảng, làm tan vỡ Đảng về mặt tổ chức.
10
Trước bài học đó, Ðảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định và có bước phát triển mới trong
việc phát huy dân chủ nội bộ, thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ cả trong Ðảng và trong tổ
chức, hoạt động của Nhà nước.
Hội nghị Trung ương 9, (khoá IX) của Đảng ta đã nhấn mạnh: phải thực hiện đúng đắn
nguyên tắc tập trung dân chủ trên cơ sở thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Đảm bảo nguyên
tắc tập trung chủ là vấn đề sống còn của Đảng trong giai đoạn hiện nay
Vai trò của nguyên tắc TTDC:
- TTDC là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng: Nguyên tắc TTDC chỉ đạo mọi hoạt động
xây dựng tổ chức, sinh hoạt và lãnh đạo của Đảng; đảm bảo sự thống nhất ý chí và h.động, tạo nên
sức mạnh vô địch của Đảng. Ngoài ra, nguyên tắc TTDC còn chi phối các ng.tắc khác của Đảng.
- TTDC là nguyên tắc phân biệt chính đảng CM chân chính của GCCN với các đảng phái
khác: Thừa nhận và tổ chức, h.động theo nguyên tắc TTDC là một dấu hiệu, một điều kiện cơ bản
đảm bảo cho một chính đảng đi theo và tr.thành với những ng.tắc của một đảng mácxít – lêninnít.
II. Biểu hiện của tập trung và dân chủ trong Đảng
1. Nội dung cơ bản của nguyên tắc TTDC: (Theo Điều 9, ĐL ĐCSVN)
1. Cơ quan LĐ các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể LĐ, cá nhân phụ trách.
2. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở
mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng
là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp uỷ).
3. Cấp uỷ các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng
cấp, trước cấp uỷ cấp trên và cấp dưới; định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ
chức đảng trực thuộc, thực hiện tự phê bình và phê bình.
4. Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa
số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng
Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương.
5. Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một
nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu
ý kiến của mình. Đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp uỷ
cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không
được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Đảng. Cấp uỷ có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý
kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số.
6. Tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không
được trái với nguyên tắc, đường lối, CS của Đảng, PL của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên.
2. Bản chất của nguyên tắc TTDC:
- TTDC là điều cần thiết, cơ bản cho sự tồn tại, hoạt động và phát triển của ĐCS.
- TTDC là một nguyên tắc thống nhất giữa TT & DC, tập trung phải trên cơ sở DC, dân
chủ phải đi đôi với TT. Coi nhẹ hoặc vi phạm một trong hai mặt TT & DC đều phá vỡ nguyên tắc
TTDC, chuyển sang tập trung quan liêu, độc đoán hay tình trạng phân tán, dân chủ vô chính phủ.
- Tùy tình hình, nhiệm vụ của Đảng trong từng thời kỳ mà cách thực hiện nội dung và
phạm vi áp dụng nguyên tắc này có sự khác nhau, nhưng điều đó không có nghĩa coi tập trung hay
dân chủ là chính còn mặt kia là phụ.
3. TTDC là chỉnh thể thống nhất của 1 nguyên tắc. DC là điều kiện là tiền đề của tập
trung và tập trung và cơ sở, là cái bảo đảm cho dân chủ được thực hiện.
- Nguyên tắc tập trung dân chủ đảm bảo quyền chủ động sáng tạo của mọi người, cũng như sự
thống nhất ý kiến và hành động vì sự nghiệp chung.
11
- Giữa “tập trung” và “dân chủ” có mối quan hệ khăng khích với nhau, là hai yếu tố của một
nguyên tắc. Tập trung trên nền tảng dân chủ, dân chủ dưới sự chỉ đạo của tập trung.
- Tập trung là thống nhất về mặt tư tưởng, tổ chức và hành động, thiểu số phục tùng đa số, cấp
dưới phục tùng cấp trên, đảng viên chấp hành nghị quyết của tổ chức Đảng “Đảng tuy nhiều người
nhưng khi tiến hành thì chỉ một người”.
- Dân chủ là “của quý báu của nhân dân”, là th.quả của CM. Tất cả mọi người được tự do bày
tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Phải phát huy DC nội bộ nếu o sẽ suy yếu từ bên trong.
- Dân chủ là cơ sở đảm bảo cho tập trung thống nhất, tập trung dựa trên cơ sở dân chủ làm
cho Đảng thống nhất ý chí và hành động trở thành tổ chức chính trị tiên phong.
3.1.Tập trung trong Đảng có nghĩa là:
- ĐCS phải có 1 cương lĩnh CM chung. Trong đó có mục tiêu, con đường cách mạng
chung, phải được mọi Đảng viên và tổ chức Đảng quán triệt.
- Trong Đảng phải có Điều lệ thống nhất, tất cả mọi ĐV và Tổ chức Đảng phải tuân theo.
- Đảng phải có một cơ quan LĐ cao nhất LĐ tổ chức đảng và c.tác ĐV trong toàn Đảng.
- Các nghị quyết của ĐH, BCH TW biểu hiện ý chí và ý thức trong toàn Đảng, bắt buộc
mọi tổ chức và Đảng viên phải thi hành.
- Tập trung phải đòi hỏi kỹ luật thống nhất, mọi đảng viên và tổ chức Đảng phải tuân theo
và có ý thức phục tùng.
3.2.Dân chủ trong Đảng có nghĩa là:
- Tất cả mọi ĐV đều bình đẳng, tự do thảo luận và quyết định các công việc của Đảng.
- Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra
- Cơ quan lãnh đạo phải báo cáo c.việc của mình và chịu trách nhiệm về h.động của mình.
- Thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo
- Thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình
- Mọi ĐV có quyền thảo luận, bảo lưu ý kiến của mình trong Đảng. Đảm bảo mọi ý kiến
của ĐV phải được Đảng ghi nhận và xem xét.
4. Thực trạng thực hiện nguyên tắc TTDC trong Đảng hiện nay:
4.1. Ưu điểm:
- Chế độ tập trung, kỷ cương, kỷ luật trong Đảng cơ bản được giữ vững.
- Sinh hoạt trong Đảng được tiến hành dân chủ, cởi mở hơn.
- Những quyết định lớn của Đảng được tổ chức thảo luận rộng rãi, công khai, dân chủ
trong Đảng (một số trường hợp được thảo luận trong nhân dân).
- Công tác cán bộ được thực hiện dân chủ hơn, công khai hơn.
- Dân chủ trong Đảng có tác động tích cực đến dân chủ trong HTCT và XH.
4.2. Hạn chế:
- Còn hiện tượng chưa thống nhất cao với đường lối, chủ trương, chính sách lớn của Đảng,
dao động hoài nghi về con đường đi lên CNXH.
- Một số tổ chức đảng còn vi phạm dân chủ, nội bộ mất đoàn kết
- Mất dân chủ trong sinh hoạt đảng, hoạt động lãnh đạo còn khá phổ biến; hiện tượng độc
đoán, mệnh lệnh vẫn còn
12
- Còn tình trạng tùy tiện, thiếu ý thức tổ chức, kỷ luật, không chấp hành chỉ thị, nghị quyết
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, báo cáo không trung thực (một vài địa phương, một
số TCCSĐ còn tùy tiện, vô kỷ luật, gây hậu quả nghiêm trọng, gây mất đoàn kết nội bộ, báo cáo
không trung thực, mang nặng thành tích, ...)
- Còn tình trạng phân công trách nhiệm không rõ, ỷ lại tập thể.
- Một số cấp ủy, tổ chức đảng thiếu tôn trọng và phát huy quyền của đảng viên, ít lắng
nghe ý kiến cấp dưới.- Một số cán bộ lãnh đạo độc đoán, mệnh lệnh, trù dập, ức hiếp quần chúng.
- Vừa có tình trạng mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức, vừa có tinh trạng dân chủ cực
đoan, tự do vô kỷ luật; vừa có hiện tượng tuyệt đối hóa tập thể, coi nhẹ ý kiến cá nhân, ý kiến thiểu
số, vừa có hiện tượng đề cao thiểu số, đòi cho ĐV không phải chấp hành Nghị quyết của Đảng...
III. Những đòi hỏi nảy sinh từ thực tế về nh.thức và thực hiện ng.tắc này tại đơn vị:
1. Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân
phụ trách:
- Đại hội chi bộ bầu cấp ủy (5 ĐV) gồm:
+ Bí thư chi bộ
+ Phó bí thư chi bộ
+ Chi ủy viên
- Thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách:
+ Cấp ủy lãnh đạo chi bộ.
+ Cá nhân phụ trách Bí thư chi bộ
+ Cá nhân phụ trách phó bí thư chi bộ
+ Cá nhân phụ trách Chi ủy viên
+ Đảng viên được phân công như: giúp đỡ quần chúng phát triển đảng...
2. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội Chi bộ, cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại
hội là cấp ủy. Họp chi bộ, nhận xét đảng viên
3. Học nghị quyết Trung ương đảng, Biểu quyết nghị quyết của chi bộ theo nguyên tắc thiểu
số phục tùng đa số, Chấp hành sự điều động của Chi bộ, Định kỳ tháng Chi bộ thực hiện báo cáo
tháng tình hình hoạt động của Chi bộ cho Đảng ủy.
4. Nghị quyết của Chi bộ chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên trong chi
bộ tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Đảng viên có ý
kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp uỷ cấp trên cho đến Đại hội đại biểu
toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị
quyết của Đảng. Cấp uỷ có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý kiến đó; không phân biệt đối xử với
đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số.
5. Chi bộ quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không được trái
với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên.
• Ưu điểm, khuyết điểm của chi bộ:
Thuận lợi:
- Được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng ủy bệnh viện, Đảng ủy SYT.
- Chi bộ quan tâm tạo điều kiện cho các Đảng viên tham gia các lớp bồi dưỡng trình độ lý
luận chính trị.
- Thực hiện tốt cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
13
Khuyết điểm:
- Công tác huy động đảng viên trong các buổi họp sinh hoạt chính trị định kỳ còn khó khăn
do vướn lịch công tác.
- Công tác đánh giá chất lượng Đảng viên còn chưa sâu sát với thực tế do Chi bộ không
đánh giá được chất lượng Đảng viên trong lĩnh vực chuyên môn.
- Công tác phê và tự phê còn chưa cao do các đảng viên cả nể nhau.
- Cần có thêm nhiều hơn nữa các buổi sinh hoạt thời sự chính trị để làm sinh động buổi sinh
hoạt chính trị của Chi bộ đồng thời giúp các đảng viên củng cố tư tưởng trước các hoạt động diễn
biến hòa bình của các thế lực thù địch.
IV. Đề xuất các giải pháp thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ:
1. Phương hướng, nhiệm vụ (VK ĐH XII):
Tiếp tục cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của Đảng đã được xác định trong Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) ở tất cả các cấp bằng
những quy chế, quy định, quy trình cụ thể:
- Quy định rõ hơn Đảng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm
trước nhân dân về những quyết định của mình;
- Về quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu và mối quan hệ giữa tập thể cấp ủy, tổ chức
đảng với người đứng đầu,
- Bảo đảm thực hiện n.tắc TTDC, tập thể LĐ, cá nhân phụ trách, đi đôi với phát huy vai trò,
tr.nhiệm, tính chủ động của người đứng đầu và cơ chế XL đối với người đứng đầu khi vi phạm.
- Quy định rõ hơn thẩm quyền và trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương, BCT, Ban Bí
thư, cấp ủy và ban thường vụ cấp ủy các cấp.
- Đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền; có cơ chế để các địa phương phát huy quyền chủ động,
sáng tạo, gắn với đề cao trách nhiệm, đồng thời bảo đảm sự lãnh đạo, quản lý th.nhất của TW
2. Các biện pháp thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ:
2.1. Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về nguyên tắc TTDC.
- Cần tổ chức cho cán bộ, đảng viên học tập nắm vững nội dung n.tắc TTDC; nghiên cứu làm
rõ nội dung, yêu cầu n.tắc TTDC trong tình hình mới; đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, phủ
nhận n.tắc TTDC.- Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, quy chế hóa n.tắc TTDC trong Đảng.
- Nguyên tắc TTDC có vai trò đ.biệt q.trọng nhưng n.dung trừu tượng, p.vi chi phối rộng. Do
đó, cần có những cơ chế cụ thể có h.lực, những quy định cụ thể từ TW xuống cơ sở để th.hiện n.dung
của n.tắc này.
2.2. Mở rộng dân chủ đi đôi với củng cố, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng.
- Xây dựng các thể chế, cơ chế cho phép phát huy dân chủ. Trước hết phải đảm bảo các quyền
của ĐV (thảo luận, chất vấn, phê bình, bảo lưu ý kiến, ...)
- Phải xử lý nghiêm khắc những người trấn áp, trù dập người phê bình, lợi dụng phê bình đã
kích, vu cáo người khác. Đồng thời mở rộng dân chủ phải tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng,
mọi TCCSĐ, ĐV phải chấp hành theo NQ của Đảng, xử lý nghiêm, kịp thời những tổ chức Đảng, ĐV
vi phạm nguyên tắc TTDC.
2.3. Thực hiện nghiêm túc chế độ tập thể lãnh đạo đi đôi với cá nhân phụ trách:
Đây là nội dung cơ bản của nguyên tắc TTDC, vì vậy cần phải xây dựng các cơ chế và thể chế
hóa thành các quy chế, quy định để triển khai thực hiện.
2.4. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện nguyên tắc TTDC:
14
Đây là giải pháp không thể thiếu để bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ được tuân thủ
nghiêm túc. Không kiểm tra coi như không lãnh đạo.
Vị trí, vai trò của công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng ngày càng tăng lên trước yêu
cầu xây dựng Đảng trong tình hình mới, đòi hỏi từng cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên phải
thấu suốt vấn đề này, tuyệt đối không được coi thường, xem nhẹ.
Trong đó, công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng cần được triển khai theo phương
châm: KT phải có trọng điểm, giám sát phải mở rộng. Cấp ủy các cấp phải xây dựng và thực hiện có
nền nếp kế hoạch KT, giám sát; phát huy vai trò của Ủy ban kiểm tra cấp ủy các cấp trong việc tham
mưu, đề xuất, hướng dẫn cơ quan, đơn vị thực hiện tốt mặt công tác quan trọng này.
Trong bối cảnh hiện nay, việc theo dõi, nắm cán bộ, đảng viên hết sức phức tạp. Ngoài thời
gian công tác, làm việc tại cơ quan, công sở, cán bộ, đảng viên hầu hết về sinh hoạt với gia đình.
Trước đây, công nghệ thông tin chưa phát triển, mọi người ít có điều kiện giao lưu, giao tiếp
rộng với bên ngoài. Nhưng ngày nay, với sự ra đời của các công cụ đa phương tiện, đặc biệt là in-tơnét, cán bộ, đảng viên cũng như mọi người dân đều có thể “lên mạng”, cập nhật thông tin (cả thông tin
tích cực và thông tin tiêu cực, thông tin có kiểm chứng, tin cậy và thông tin không được kiểm chứng,
thiếu tin cậy), trao đổi trực tuyến với nhiều đối tượng (cả người tốt và kẻ xấu, người ở trong nước và
nước ngoài). Chính in-tơ-nét đang trở thành “vũ khí lợi hại” để các thế lực thù địch sử dụng chống phá
Đảng, Nhà nước, chế độ ta; trong đó, cán bộ, đảng viên, thế hệ trẻ là mũi tiến công chính của chúng.
Do vậy, cùng với kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng, vấn đề tự kiểm tra, tự giám sát thường xuyên
của cán bộ, đảng viên mang yếu tố quyết định nhất.
- Nguyên tắc TTDC khó thực hiện, dễ bị tùy tiện, bóp méo, do đó cần phải kiểm tra, giám sát
để hướng dẫn các TCCSĐ thực hiện đúng nguyên tắc là vấn đề rất cần thiết.
- Quy định rõ chế độ báo cáo và phê bình trước cơ quan lãnh đạo, công khai hóa chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn, quy trình nghiệp vụ.
- Tăng cường tổ chức thực hiện kiểm tra, giám sát; thường xuyên kiểm tra, giám sát chuyên đề,
chú trọng nội dung thực hiện nguyên tắc TTDC.
2.5 Phải thường xuyên đấu tranh chống tập trung quan liêu
2.6 Cấp ủy, cán bộ lãnh đạo phải guong mẫu thực hiện nguyên tắc TTDC
2.7 Thường xuyên rèn luyện tính tích cực, tự giác của đảng viên trong tham gia ý kiến đối với
mọi hoạt động của tổ chức đảng.
(từ đây trở xuống nếu còn thời gian thì viết)
2,8. Phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, làm cho cán bộ, đảng viên nhận thức sâu
sắc bản chất khoa học, cách mạng của nguyên tắc tập trung dân chủ:
Tập trung và dân chủ là hai mặt của một nguyên tắc luôn thống nhất biện chứng không tách rời
nhau và không đối lập nhau. Trong Đảng ta, yếu tố tập trung được xây dựng trên cơ sở dân chủ và dân
chủ được đặt trong mối quan hệ với tập trung; dân chủ càng cao, càng thực chất bao nhiêu, thì tập
trung càng sâu sắc, đầy đủ bấy nhiêu và ngược lại.
Thực tiễn luôn khẳng định, tập trung mà không chú trọng đến dân chủ sẽ dẫn đến tập trung
quan liêu, chuyên quyền, độc đoán. Điều đó hoàn toàn trái với bản chất của Đảng ta là luôn luôn đề
cao dân chủ trong Đảng và trong xã hội. Ngược lại, dân chủ mà coi nhẹ tập trung, tất yếu sẽ dẫn đến
dân chủ quá trớn, dân chủ vô n.tắc, làm suy giảm, triệt tiêu tính tập trung, th.nhất của tổ chức đảng.
Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, mọi cán bộ, đảng viên vừa có quyền được thông báo
tình hình, tham gia thảo luận, góp ý vào chủ trương, biện pháp lãnh đạo, bảo lưu ý kiến, vừa phải có
trách nhiệm chấp hành sự phân công của tổ chức đảng theo chức trách, nhiệm vụ được giao; phải nói
và làm theo Cương lĩnh, đường lối, nghị quyết của Đảng, thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng
tổ chức, tổ chức đảng cấp dưới phục tùng tổ chức đảng cấp trên.
15
2.9. Phải kiên quyết chấn chỉnh nề nếp hoạt động của công tác tổ chức xây dựng Đảng:
Cấp ủy các cấp cần duy trì nghiêm túc nề nếp các chế độ hoạt động của tổ chức đảng, từ việc ra
nghị quyết lãnh đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết, cho đến công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật
Đảng.
Quá trình xây dựng nghị quyết lãnh đạo của tổ chức đảng cần tuân thủ quy trình, các khâu, các
bước theo quy định của Ban Tổ chức Trung ương; trong đó, cần chú ý bảo đảm phát huy dân chủ, sự
tham gia đóng góp ý kiến rộng rãi của cán bộ, đảng viên và quần chúng, không để xảy ra tình trạng áp
đặt ý kiến chủ quan của người chủ trì, lãnh đạo (không loại trừ “lợi ích nhóm”),… dẫn đến chất lượng
nghị quyết không cao.
Trong tổ chức thực hiện nghị quyết, cần thực hiện tốt nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ
trách; đề cao trách nhiệm cá nhân trên từng mặt công tác của cơ quan, đơn vị (nhưng không phải là
tuyệt đối hóa).
Cấp ủy các cấp cần xác định cơ chế quy định trách nhiệm trong tổ chức thực hiện nghị quyết,
nhất là thẩm quyền trách nhiệm của đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ chủ trì; qua đó, khắc phục tình trạng
“cha chung không ai khóc”, “đầu voi đuôi chuột”, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, “tranh công đổ
lỗi”,… còn khá phổ biến hiện nay.
Đồng thời, phải thường xuyên rà soát, xây dựng và ban hành quy chế làm việc, quy chế lãnh
đạo, nhất là trên các lĩnh vực công tác trọng yếu (công tác cán bộ, công tác tài chính, xây dựng cơ
bản…), làm căn cứ để điều chỉnh mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị và góp phần phòng, chống vi
phạm của cán bộ, đảng viên.
Ngoài ra, việc tuân thủ đầy đủ nề nếp các chế độ báo cáo, thống kê, thủ tục hành chính đảng,…
theo quy định, cũng là những vấn đề không được xem nhẹ, bởi từ đây rất dễ dẫn đến sơ hở, vi phạm
nguyên tắc.
2.10. Chú trọng thực hiện nghiêm quy chế, quy trình trong công tác cán bộ, góp phần xây dựng
đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực tương xứng với yêu cầu thực hiện hai nhiệm vụ chiến
lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.
Xuất phát từ vị trí của công tác cán bộ là then chốt của công tác xây dựng Đảng, mọi vấn đề
liên quan đến công tác này cần được cấp ủy các cấp đặc biệt coi trọng.
Công tác cán bộ là công tác con người, do vậy phải hết sức cẩn trọng, vừa giữ vững nguyên tắc,
vừa mềm dẻo, linh hoạt trong tổ chức thực hiện.
Công tác cán bộ là công tác của cấp ủy, vì vậy phải luôn đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của cấp
ủy các cấp; mọi vấn đề từ nhận xét, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, điều động, tuyển dụng, cử cán bộ
đi học, đi công tác, thực hiện chính sách cán bộ,… đều phải được cấp ủy hoặc thường vụ xem xét,
thông qua, biểu quyết theo đa số quá bán, không ai (kể cả bí thư cấp ủy, người chủ trì) được quyền tự
quyết định.
Với trách nhiệm chủ trì công tác Đảng trong cơ quan, đơn vị, bí thư cấp ủy phải luôn đề cao
tính đảng, tính nguyên tắc, thực sự công tâm, khách quan, dân chủ trong công tác cán bộ, nhất là trong
nhận xét, đánh giá, sử dụng cán bộ, sao cho chính xác, không lồng ý kiến, tình cảm cá nhân, tất cả vì
mục đích xây dựng con người, xây dựng tổ chức vững mạnh, đủ sức hoàn thành trọng trách được giao.
Đặc biệt, cán bộ lãnh đạo, chủ trì phải “liêm, chính”, tuyệt đối không lợi dụng chức vụ, quyền
hạn, ảnh hưởng của mình để tư lợi; không ỷ thế của người lãnh đạo, chủ trì để trù dập, ức hiếp cán bộ
dưới quyền, gây khó dễ cho những người thẳng thắn, trung thực.
2.11. Phải tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ.
Trong bối cảnh hiện nay, nhất là trước các tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường, quá trình
hội nhập quốc tế và đặc biệt là sự chống phá rất quyết liệt, công khai của các thế lực thù địch, việc bảo
vệ cán bộ, đảng viên càng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết.
16
Bên cạnh các giải pháp nghiệp vụ, việc giữ vững nguyên tắc của tổ chức đảng, các chế độ, quy
định của tổ chức chính quyền, đoàn thể cần được quan tâm thực hiện tốt.
Cấp ủy các cấp cần tăng cường công tác quản lý, rèn luyện cán bộ, đảng viên ở mọi lúc, mọi
nơi. Phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục để cán bộ, đảng viên nắm vững và hình thành thói quen
chấp hành nghiêm các quy chế, quy định của cơ quan, đơn vị, nhất là Quy định về những điều đảng
viên không được làm.
Cấp ủy các cơ quan Đảng, Nhà nước, Quân đội, doanh nghiệp,… phải có cơ chế để nắm và
quản lý cán bộ, đảng viên ở nơi cư trú, khi đi công tác, làm nhiệm vụ độc lập và quản lý chặt chẽ tài
liệu mật, không để lộ, lọt thông tin. Hiện nay, vấn đề này vẫn còn bị xem nhẹ, “hình thức chủ nghĩa”,
nên cần phải được quan tâm hơn nữa.
Cấp ủy các địa phương cần đề cao trách nhiệm trong việc quản lý đảng viên nghỉ hưu, nghỉ
chính sách; một mặt, phát huy những phẩm chất, kinh nghiệm của đội ngũ này tham gia xây dựng địa
phương vững mạnh; mặt khác, tránh để họ bị kẻ xấu lôi kéo, kích động trở thành lực lượng tiếp tay cho
các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.
Từng đảng viên dù ở cương vị nào, đương chức hay thôi công tác, đều phải không ngừng tu
dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, đề cao tính đảng, tính nguyên tắc; có trách nhiệm trước Đảng
trong lời nói, việc làm, nhất là chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn ở mọi lúc, mọi nơi.
Tóm lại: Tuân thủ nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ với nhận thức ngày càng sâu sắc
về bản chất khoa học, cách mạng của nguyên tắc này; đồng thời, thực hiện đầy đủ trách nhiệm của
các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, Đảng ta sẽ vượt qua những hạn chế, yếu kém nhất
thời, tiếp tục lãnh đạo đất nước thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, hội
nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN.
Câu 3: Những nhận thức cơ bản về tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ)? Căn cứ nội dung
đánh giá chất lượng TCCSĐ Anh (Chị) liên hệ thực tế tại chi bộ (đảng bộ)? Đề xuất biện
pháp để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng?
I. Tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ)
1. Khái niệm: TCCSĐ là tổ chức Đ đc lập ở CS nơi có 3 ĐV ch.thức trở lên, đặt dưới sự
LĐ trực tiếp của cấp ủy Q-H hoặc tương đương.
Xét trong hệ thống tổ chức của Đảng, thì TCCSĐ là “nền tảng”, là “gốc rễ” của Đảng. Chủ tịch
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chi bộ là gốc rễ của Đảng” và “Chi bộ là nền tảng của Đảng, của cách mạng…”.
Một cây không thể thiếu gốc rễ, một ngôi nhà không thể thiếu nền tảng, nền móng. Điều đó đủ nói lên
vị trí, vai trò cực kỳ quan trọng của chi bộ với tư cách là tổ chức cơ sở đảng. “Đảng mạnh là do các chi
bộ đều mạnh” và “Các chi bộ mạnh tức Đảng mạnh”.
2. Điều lệ ĐCSVN-Chương V-Điều 21 quy định:
1. Tổ chức CS Đảng (chi bộ CS, đ.bộ CS) là nền tảng của Đảng, là h.nhân ch. trị ở cơ sở.
2. Ở xã, phường, thị trấn có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức cơ sở đảng (trực
thuộc cấp uỷ cấp huyện). Ở cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội,
công an và các đơn vị khác có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức đảng (tổ chức cơ sở
đảng hoặc chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở); cấp uỷ cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định việc tổ
chức đảng đó trực thuộc cấp uỷ cấp trên nào cho phù hợp; nếu chưa đủ ba đảng viên chính thức thì
cấp uỷ cấp trên trực tiếp giới thiệu đảng viên sinh hoạt ở tổ chức cơ sở đảng thích hợp.
3. Tổ chức cơ sở đảng dưới ba mươi đảng viên, lập chi bộ cơ sở, có các tổ đảng trực thuộc
4. Tổ chức CSĐ có từ ba mươi ĐV trở lên, lập đ.bộ cơ sở, có các chi bộ tr.thuộc đảng uỷ.
5. Những trường hợp sau đây, cấp uỷ cấp dưới phải báo cáo và được cấp uỷ cấp trên trực
tiếp đồng ý mới được thực hiện:
17
Lập đảng bộ cơ sở trong đơn vị cơ sở chưa đủ ba mươi đảng viên; Lập chi bộ trực thuộc
đảng uỷ cơ sở có hơn ba mươi đảng viên; Lập đảng bộ bộ phận trực thuộc đảng uỷ cơ sở.
Luu ý: TCCSĐ & đ.bộ bộ phận, nh.kỳ 5 năm; CB & đ.ủy bộ phận 5 năm/2 lần; TCCSĐ
đặt dưới sự LĐ của các c.ủy Q-H-t.xã-TP thuộc tỉnh hoặc t.đương.
II. Vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng:
1. Điều 21 ĐL Đảng x.định: “TCCSĐ là nền tảng của đảng, là h.nhân ch.trị ở cơ sở”
a/ Với vị trí là nền tảng của Đảng:
- Tổ chức cơ sở Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự vững mạnh và năng lực lãnh
đạo của Đảng.Tổ chức cơ sở đảng là cấp tổ chức cuối cùng trong hệ thống tố chức bốn cấp của
Đảng, là tổ chức sâu rộng nhất, bám sát các đơn vị cơ sở trên toàn lãnh thổ và các ngành, các lĩnh
vực của đời sống xã hội, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng tới từng Đảng viên, từng đơn vị cơ sở và
từng người dân.
- TCCSĐ là nền móng để xây dựng nên hệ thống tổ chức của Đảng.
- TCCSĐ là nơi đóng góp ý kiến để xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng.
- Tổ chức cơ sở đảng là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, đồng thời cũng là nơi kiểm nghiệm và góp phần quan trọng vào việc hình thành phát triển
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thông qua những kinh nghiệm thực tiễn phong phú của
đội ngũ đảng viên và quần chúng nhân dân.
- Tổ chức cơ sở đảng cũng là nơi trực tiếp tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng
như: kết nạp, quản lý, phân công nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá đảng viên, nơi thường xuyên thực
hành các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng,; nơi xuất phát để đề cử ra cơ quan lãnh đạo các
cấp của Đảng.
- Tổ chức cơ sở Đảng còn là cầu nối của Đảng với quần chúng nhân dân, là nơi trực tiếp
gắn bó với quần chúng nhân dân, là một mắt khâu trọng yếu để duy trì mối liên hệ Đảng với dânnền tảng sức mạnh của Đảng, bởi đây là tổ chức đảng gần dân nhất, trực tiếp lãnh đạo nhân dân,
nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân để phản ánh với Đảng, Chủ Tịch Hồ Chí
Minh đã dạy rằng: “ Tác dụng của chi bộ là cực kỳ quan trọng, vì nó là sợ dây chuyền để liên hệ
Đảng với quần chúng “
b/ Vai trò là hạt nhân chính trị ở cơ sở:
Tổ chức cơ sở đảng là hạt nhân có vai trò lãnh đạo vì TCCSĐ là một bộ phận , một thành
viên trong hệ thống chính trị ở cơ sở, nhưng là tổ chức lãnh đạo tất cả các tổ chức khác trong hệ
thống chính trị đó, là tổ chức bảo đảm cho mọi hoạt động ở cơ sở theo đúng định hướng chính trị
của Đảng.
Tóm lại: TCCSĐ là cấp cuối cùng trong hệ thống tổ chức của Đảng, song TCCSĐ có vai
trò đặc biệt quan trọng. Chủ tịch HCM đã khẳng định: “ chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt
mọi việc sẽ tốt”. Đảng CSVN cũng khẳng định: “xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng TCCSĐ
là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong xây dựng Đảng”.
2. Chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ:
2.1. Chức năng: Có 2 c.năng cơ bản
- Là hạt nhân l.đạo c.trị ở CS đối với tất cả các mặt c.tác k.tế, VH, XH, AN, QP, các TC
trong HTCT ở CS.
- Tiến hành các h.động XD nội bộ Đảng, các c.tác như: ĐV, CB, tư tưởng…
2.2. Nhiệm vụ: (Điều lệ ĐCSVN-Chương V-Điều 23) quy định:
1. Chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đề ra chủ trương,
nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả.
18
2. Xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thực
hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình
và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên giáo dục,
rèn luyện và quản lý cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu,
trình độ kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên.
3. Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc
phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch, vững mạnh; chấp hành đúng pháp luật
và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
4. Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi ích
chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
5. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm các NQ, chỉ thị của Đảng và pháp luật của
NN được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và ĐV chấp hành Điều lệ Đảng.
Đảng uỷ CS nếu được cấp uỷ cấp trên tr.tiếp uỷ quyền thì đc q.định kết nạp và k.trừ ĐV
III. Căn cứ nội dung đ.giá c.lượng TCCSĐ, liên hệ thực tế tại chi bộ (đảng bộ):
Việc thực hiện nhiệm vụ của tổ chức cơ sở Đảng, Đảng bộ TTMS tập trung thực hiện các
nhiệm vụ trọng tâm sau:
1. Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị:
- Lãnh đạo cán bộ, công chức và người lao động đề cao tinh thần trách nhiệm, tham gia
xây dựng và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của cơ quan theo đúng đường lối, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
- Chủ động tham mưu, đề xuất Sở YT các giải pháp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc;
phối hợp chặt chẽ với các cơ quan y tế quận (huyện), tạo điều kiện thúc đẩy hoàn thành nh.vụ bình
ổn giá thuốc, thiết bị trên địa bàn TP, tạo điều kiện cho các DN o phân biệt thành phần KT cạnh
tranh bình đẳng. Hình thành hệ thống dữ liệu để q.lý đối với các TC, CN đang h.động KD chặt chẽ,
khoa học;
- Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong đ.vị; tổ chức các lớp bồi
dưỡng kiến thức pháp luật có liên quan đến h.động của TT;
- Lãnh đạo CB,CC phát huy tính chủ động, sáng tạo, làm tốt chức năng tham mưu, nghiên
cứu; không ngừng cải tiến lề lối, phương pháp làm việc, nâng cao hiệu quả công tác.
2. Lãnh đạo công tác ch.trị tư tưởng
- Quán triệt sâu rộng và kịp thời Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp và các nghị quyết, chỉ
thị, đường lối của Đảng, làm cho CB, ĐV hiểu rõ đường lối, chủ trương của Đảng, kiên định với
chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động.
- Xây dựng đội ngũ CB, ĐV có tinh thần trách nhiệm, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có
phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và thật sự gương mẫu.
- Chủ động phát hiện, đấu tranh, chống các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong
nội bộ; xây dựng và phát huy tinh thần đoàn kết nội bộ, nói và làm đúng quan điểm, đường lối, chủ
trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
3. Lãnh đạo xây dựng cơ quan và đoàn thể:
- Lãnh đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở cơ quan, phát huy quyền làm
chủ của CB,CC, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu và các biểu hiện tiêu
cực khác. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, cải thiện điều kiện làm việc của CB,CC.
19
- Quán triệt việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong các cấp ủy Đảng, cơ quan, đoàn
thể; cụ thể hóa các nội dung của Quy chế dân chủ cơ sở vào quy chế, quy định, chương trình, kế
hoạch công tác của cơ quan, đơn vị.
- Lãnh đạo các đoàn thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ theo Điều lệ của mỗi Đoàn thể.
Qua đó, không ngừng củng cố về tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động, làm cho Công đoàn,
Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh thật sự là các tổ chức tin cậy của CB,CC, là lực lượng nòng
cốt, xung kích của Đảng.
- Đảng ủy TTMS, cấp ủy Chi bộ duy trì chế độ làm việc định kỳ hàng quý với các đoàn thể
để nhận định, đánh giá tình hình hoạt động và định hướng các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đảm
bảo hoạt động của đoàn thể đúng hướng, hiệu quả, góp phần tích cực trong việc củng cố khối đoàn
kết trong toàn cơ quan.
- Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân, giữ vững an ninh chính trị và trật tự
an toàn xã hội trong cơ quan.
- LĐ th.hiện tốt nh.vụ LL DQTV của cơ quan, luôn sẵn sàng ch.đấu và p.hợp ch.đấu với
LL DQTV địa phương khi có yêu cầu
4. Công tác xây dựng đảng:
- Cấp ủy tham gia xây dựng và lãnh đạo thực hiện chủ trương về kiện toàn tổ chức, sắp xếp
bộ máy và quy chế hoạt động cơ quan.
- Lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, chủ động, sáng tạo và tinh
thần phối hợp tốt trong thực thi nhiệm vụ.
- TCCSĐ và mỗi đảng viên thực hiện tốt công tác dân vận, công tác tư tưởng, công tác
quần chúng, kịp thời nắm bắt và phân tích dư luận xã hội, để định hướng quần chúng kịp thời. Phát
huy sức mạnh của tập thể, đồng thời xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu
cấp ủy; phân công nhiệm vụ đảng viên và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả công tác kiểm tra.
- Đảm bảo sự đoàn kết thống nhất trong Đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt của Đảng bộ,
Chi bộ; đổi mới hình thức và nội dung sinh hoạt, đảm bảo chế độ sinh hoạt Đảng định kỳ và chuyên
đề theo quy định; thường xuyên tổng kết, đánh giá thực tiễn, rút kinh nghiệm; phát huy nguyên tắc
tập trung dân chủ trong Đảng; thực hiện nghiêm túc công tác tự phê bình và phê bình.
5. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật:
- Triển khai thực hiện nghiêm túc Luật và các văn bản dưới luật về công tác mua sắm thuốc
và vật tư trang thiết bị, đẩy mạnh công tác giám sát hoạt động của các khoa phòng theo thẩm quyền.
- Đảng ủy triển khai thực hiện nghiêm túc kế hoạch kiểm tra, giám sát của Đảng ủy SYT,
đồng thời nâng cao chất lượng công tác kiểm tra thường xuyên, đột xuất của Ủy ban kiểm tra Đảng
ủy.
- Bên cạnh việc kiểm tra toàn diện các mặt hoạt động của Chi bộ trực thuộc, công tác kiểm
tra tập trung vào các nội dung trọng tâm: chất lượng sinh hoạt chi bộ; tổ chức đảng cơ sở và đảng
viên chấp hành các quy định của Điều lệ Đảng; việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh; đảng viên có dấu hiệu vi phạm, có đơn thư khiếu nại, tố cáo; việc thực hiện các nghị quyết
lãnh đạo định kỳ và chuyên đề.
IV. P.hướng, g.pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCCĐ:
1. Thành tựu, hạn chế và p.hướng nh.vụ trong thời gian tới: (Văn kiện Đại hội XII)
1.1. Thành tựu:
- Công tác XD, củng cố, kiện toàn tổ chức cơ sở đảng, việc phát triển và nâng cao chất
lượng ĐV đã được các cấp uỷ, tổ chức đảng tập trung chỉ đạo thực hiện, nhất là đối với những tổ
chức cơ sở đảng yếu kém, có nhiều khó khăn, những địa bàn trọng yếu, v.sâu, v.xa, vùng biên giới.
20
- Thu hẹp đáng kể t.trạng chi bộ s.hoạt ghép hoặc chưa có chi bộ ở các thôn, ấp, bản, làng.
- Số ĐV mới kết nạp là đ.viên TN CS HCM, nữ, trí thức, h.sinh, s.viên, DT thiểu số, người
theo tôn giáo, người l.động trong các th.phần KT và chủ DN tư nhân tăng hơn so với khóa trước.
- Tuổi bình quân kết nạp đảng trong nh.kỳ này trẻ hơn so với trước.
1.2. Hạn chế:
- Tổ chức bộ máy của Đảng và toàn HTCT còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc;
- Chức năng, nhiệm vụ ở một số tổ chức còn chồng chéo;
- Hiệu lực, h.quả h.động của nhiều TC trong HTCT chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ;
- Thẩm quyền, tr.nhiệm của CB,CC, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu chưa rõ.
- Mô hình tổ chức đảng ở một số l.vực chưa thật hợp lý, nhất là ở các tập đoàn, tổng c.ty.
1.3. Ng.nhân của những h.chế kh.điểm:
- Là do xây dựng Đảng cầm quyền trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hội nhập quốc tế là vấn đề mới và khó,
phải vừa làm, vừa tìm tòi, tổng kết rút kinh nghiệm để đổi mới, hoàn thiện.
- Chậm đổi mới tư duy về công tác xây dựng Đảng trong điều kiện mới. Nhận thức chưa
đầy đủ và sâu sắc, có mặt chưa rõ, chưa th.nhất một số vấn đề q.trọng ở tầm quan điểm, chủ trương.
- Chưa thật sự phát huy dân chủ trong Đảng, phát huy vai trò giám sát, tham gia của nhân
dân vào công tác xây dựng Đảng. Việc tổ chức thực hiện nghị quyết, chủ trương về xây dựng Đảng
chưa nghiêm, còn thiếu các biện pháp cụ thể, khả thi.
- Nhiều cấp ủy đảng và bí thư cấp ủy chưa đầu tư đúng mức thời gian, công sức cho công
tác xây dựng Đảng.
- Lãnh đạo, chỉ đạo, kiện toàn tổ chức, đổi mới công tác cán bộ thiếu đồng bộ, kiên quyết,
hiệu quả thấp.
1.4. Phương hướng, nhiệm vụ:
- Tập trung n.cao n.lực LĐ và sức c.đấu, làm cho TCCSĐ th.sự TSVM;
- Làm tốt c.tác GD ch.trị TT, q.lý, g.sát ĐV về n.lực h.thành nh.vụ & p.chất đ.đức, l.sống;
- Đ.tranh chống mọi b.hiện t.cực trong Đ, th.hiện tốt c.năng là h.nhân LĐ ch.trị ở CS.
- Tập trung củng cố, nâng cao năng lực LĐ, sức chiến đấu của TCCSĐ, đổi mới nội dung,
hình thức, phương pháp, tạo chuyển biến về chất lượng hoạt động của các loại hình tổ chức cơ sở
đảng, nhất là tổ chức đảng trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp và DN thuộc các thành phần KT.
- Kiện toàn tổ chức, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở.
2. Giải pháp: thực hiện theo NQTW4 khóa XII và các giải pháp sau:
2.1. X.định đ.đắn nh.vụ ch.trị của TCCSĐ và LĐ th.hiện có h.quả:
Nh.vụ ch.trị là n.dung cơ bản, q.trọng trong h.động LĐ của TCCSĐ.Để x.định đúng cần:
- Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển
phù hợp với thực tiễn Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
- Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của toàn Đảng và của mỗi ĐV, trước hết
là của cấp ủy các cấp; không dao động trong bất cứ tình huống nào. Kiên định đường lối đổi mới,
chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc chủ quan, nóng vội, đổi mới vô nguyên tắc.
- Nắm vững đ.lối...kế hoạch c.tác của cấp trên
- Nắm chắc t.hình th.tế ở CS, ý kiến của q.chúng
21
- P.huy DC, bàn bạc th.luận để th.nhất ý kiến
Để TC th.hiện cần:
- Tiến hành c.tác t.truyền v.động
- Xây dựng kế hoạch, phân công th.hiện
- Kiểm tra, g.sát việc th.hiện
2.2. Nâng cao ch.lượng cấp ủy CS:
Cấp ủy CS là cơ quan LĐ của TCCSĐ, ch.lượng cấp ủy quyết định ch.lượng TCCSĐ
- Bầu cấp ủy đủ về số lượng, đ.bảo về ch.lượng có cơ cấu hợp lý
- Th.xuyên chăm lo đào tạo, bồi dưỡng nâng cao n.lực LĐ của cấp ủy theo hướng n.cao
n.lực đề ra nh.vụ ch.trị và TC các h.động th.tiễn,đủ sức đảm đương nhiệm vụ trong tình hình mới.
- Nâng cao chất lượng việc xây dựng, ban hành NQ, quyết định.
- Nâng cao ch.lượng việc tổ chức th.hiện NQ và KT, giám sát việc tổ chức thực hiện NQ.
- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với hoạt động của hệ thống
chính trị ở địa phương, cơ sở.
- Các cấp ủy cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát.
- Đổi mới và n.cao ch.lượng các cơ quan t.mưu của cấp ủy; sử dụng tốt đội ngũ chuyên gia.
- N.cao chất lượng s.hoạt, đổi mới ph.cách LĐ của cấp ủy. Coi trọng việc củng cố, kiện
toàn cấp ủy; cấp ủy đảng phải thật sự tiêu biểu cho trí tuệ, n.lực và phẩm chất của tổ chức đảng; bảo
đảm sự đoàn kết thống nhất ý chí và hành động trong cấp ủy đảng, trước hết là trong BTV cấp ủy.
- Kiên quyết thay thế những cán bộ yếu kém về phẩm chất, năng lực, không hoàn thành
nhiệm vụ, đồng thời đưa ra khỏi Ðảng những người không đủ tư cách đảng viên.
- Các cấp ủy, tổ chức đảng ở cơ sở thực hiện nghiêm túc, có nền nếp chế độ sinh hoạt đảng
định kỳ. Nội dung sinh hoạt chi bộ phải cụ thể, thiết thực, giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc
xảy ra ở địa phương, cơ quan, đơn vị.
- Cấp ủy cơ sở phải giám sát ĐV về các mặt, kể cả ĐV là cán bộ do cấp ủy cấp trên q.lý.
2.3. Hoàn thiện mô hình của các loại hình TCCSĐ:
- Nâng cao chất lượng, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của các loại
hình TCCSĐ theo hướng vừa mở rộng dân chủ, vừa tăng cường kỷ cương, kỷ luật;
- Tập trung củng cố, n.cao n.lực LĐ, sức chiến đấu của TCCSĐ, tạo chuyển biến rõ rệt về
chất lượng h.động của các loại hình CS đảng, nhất là TC đảng trong các đơn vị sự nghiệp và DN
thuộc các th.phần KT. Kiện toàn TC của HT chính trị, bảo đảm sự LĐ toàn diện của Đảng ở cơ sở.
- TCCSĐ xã, phường, TT nếu quá đông ĐV thì th.lập TCCSĐ 3 cấp
- Khu CN, khu CX có 30 ĐV trở lên thì th.lập Đảng bộ CS
- Các DN trong KCN, KCX có từ 3 ĐV trở lên thì th.lập CB tr.thuộc Đảng bộ KCN, KCX
- Ở Q -H...có các cụm CN hoặc nhiều DN TN...có đông ĐV thì th.lập Đảng bộ CS DN có
các CB tr.thuộc là các DN
- Bảo đảm các loại hình tổ chức cơ sở đảng đều có quy định về chức năng, nhiệm vụ và
quy chế làm việc phù hợp.
- Tập trung sức củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và
tổ chức. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thực
hiện tự phê bình và phê bình, giữ nghiêm kỷ luật, tăng cường đoàn kết trong Ðảng.
22
2.4. Th.xuyên n.cao ch.lượng ĐV:
ĐV là “tế bào” cấu thành TCCSĐ, từng ĐV tốt thì TCCSĐ sẽ TSVM. Nội dung:
- Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng,
thường xuyên, lâu dài của ĐV.
- Đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng và nhân
dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
- Các tổ chức đảng tạo điều kiện để ĐV công tác, lao động có năng suất, chất lượng, hiệu
quả, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Đẩy mạnh tự PB và PB trong SH đảng.
- Định kỳ lấy ý kiến nhận xét của nhân dân về tư cách, đạo đức của đảng viên. Xử lý
nghiêm mọi đảng viên vi phạm về trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, lối sống.
- Đổi mới, t.cường c.tác q.lý, phát triển đảng viên, bảo đảm chất lượng đảng viên theo
yêu cầu của Điều lệ Đảng.
- Phát huy tính tiền phong gương mẫu, chủ động, sáng tạo của đội ngũ đảng viên trong
thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Kịp thời phát hiện và nêu gương những đảng viên tiền phong gương mẫu, có thành tích
xuất sắc và giáo dục, giúp đỡ những đảng viên có sai phạm.
- Thi hành kỷ luật nghiêm minh đối với ĐV vi phạm ĐL Ðảng và đưa ra khỏi Ðảng những
người không đủ tư cách ĐV. Ðộng viên những ĐV không còn tác dụng tự nguyện xin ra Ðảng.
2.5. N.cao ch.lượng SH Đảng, nhất là SH CB:
SH CB là h.thức hoạt động LĐ chủ yếu của CB, có tác dụng to lớn đối với việc n.cao n.lực
LĐ của TCCSĐ. Biện pháp n.cao:
- Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và h.động “diễn biến hoà bình” của các
thế lực thù địch. Chủ động ph.ngừa, đấu tranh, phê phán những b.hiện “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” trong nội bộ; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng ch.trị, đ.đức, lối sống của ĐV
- Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Chống quan liêu, bè phái, cục bộ, địa
phương, lối làm việc vô nguyên tắc, vi phạm kỷ luật, vi phạm dân chủ.
- Khắc phục tính hình thức, đơn điệu trong sinh hoạt, bảo đảm tính LĐ, tính giáo dục, tính
chiến đấu của TCCSĐ
- Mỗi quý, các chi bộ phải sinh hoạt chuyên đề ít nhất một lần để bồi dưỡng, cập nhật kiến
thức mới cho đảng viên trong chi bộ.
- Việc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng cần tiến hành thường xuyên, nghiêm
túc, thiết thực, nhất là trong các đợt tự phê bình và phê bình trong quá trình thực hiện Cuộc vận
động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh";
- Các chi bộ phải thực hiện tốt việc phân công công tác cho đảng viên, bảo đảm mọi đảng
viên trong chi bộ đều được phân công công tác phù hợp.
2.6. Th.hiện tốt việc đ.giá ch.lượng TCCSĐ và ĐV: (NQ TW 6 Khóa X)
- Hằng năm, các tổ chức cơ sở đảng phải đăng ký phấn đấu thực hiện các nhiệm vụ với cấp
ủy cấp trên, trong đó có nội dung cam kết không có cán bộ, đảng viên tham nhũng, lãng phí, tiêu
cực và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
- Cuối năm, cấp ủy cấp trên căn cứ vào nội dung đăng ký để đánh giá chất lượng tổ chức
cơ sở đảng và đảng viên.
- Tiếp tục đổi mới nội dung và ph.pháp đánh giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên.
23
- Ðánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính
trị, sự vững mạnh của các tổ chức trong hệ thống chính trị và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên,
đồng thời thông báo để cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia ý kiến.
- Cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng phải kiểm tra, thẩm định chặt chẽ và
chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên.
- Biểu dương, khen thưởng những tổ chức cơ sở đảng, đảng viên có thành tích xuất sắc và
tuyên truyền, phổ biến kinh nghiệm để nhân rộng.
2.7. P.huy vai trò của c.quyền và các đ.thể XH th.gia XD TCCSĐ:
Đây là tr.nhiệm và q.lợi của các TC trong HTCT. B.pháp để p.huy:
- Nâng cao nh.thức cho CB và ND
- Duy trì thành nề nếp việc q/c góp ý cho TC Đảng và ĐV
- Cấp ủy đ.kỳ KĐ trước ND
- Giới thiệu q/c ưu tú cho Đảng
- Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong việc vận
động nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên ở địa bàn dân cư;
- Tổ chức tốt việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND cấp xã bầu ra.
2.8. T.cường sự chỉ đạo, h.dẫn, KT, GS của c.ủy cấp trên tr.tiếp:
- Các cấp ủy cấp trên phải nắm chắc tình hình cơ sở, phân công cấp ủy viên trực tiếp phụ
trách cơ sở, kịp thời tháo gỡ khó khăn, giải quyết những vấn đề xảy ra ở cơ sở.
- Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của cấp ủy cấp trên phải có nội dung ngắn gọn và dễ
hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, dễ quy trách nhiệm.
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý và các cấp ủy viên cấp trên của tổ chức cơ sở đảng phải bố trí
thời gian để gặp gỡ đảng viên và nhân dân tại cơ sở, giải quyết kịp thời những kiến nghị chính đáng
của đảng viên và quần chúng; bảo vệ những cán bộ tốt, những người trung thực, thẳng thắn đấu
tranh chống tiêu cực.
- Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu tổ chức đảng trong việc thực hiện
chức trách, nhiệm vụ được giao.
- Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa ủy ban kiểm tra đảng với các tổ chức đảng và các cơ
quan bảo vệ pháp luật trong việc xem xét khiếu nại, tố cáo và xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên.
- Kh.thưởng kịp thời, nêu gương những TCCSĐ TSVM điển hình để nhân rộng
- Tập trung cũng cố các TCCSĐ yếu kém
Tóm lại:
- TCCSĐ có một vị trí quan trọng. CT HCM đã chỉ rõ: “Để LĐ CM Đảng phải mạnh. Đảng
mạnh là do chi bộ tốt”. Người dạy rằng: “Tác dụng của CB là cực kỳ q.trọng, vì nó là sợi dây
chuyền để l.hệ Đảng với q/c. Người kh.định: “CB là nền móng của Đảng, CB tốt thì mọi việc sẽ tốt”
- Đảng ta th.xuyên q.tâm XD TCCSĐ. Hiện nay x.định đó là 1 trong những nh.vụ, g.pháp
lớn của XD chỉnh đốn Đảng
- Mỗi CB, ĐV ai cũng có tr.nhiệm với XD TCCSĐ TSVM
Câu 4: Tình hình đội ngũ ĐV của Đảng ta hiện nay có những ưu điểm, hạn chế gì?
Liên hệ tại chi bộ (đảng bộ) Anh, Chị? Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, số lượng ĐV?
24
I. Đảng viên:
1. Khái niệm - Theo điều lệ Đảng (khoản 1 điều 1 chương 1):
Đảng viên Đảng CSVN là chiến sĩ CM trong đội tiên phong của GCCN, NDLĐ và DT VN,
suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của TQ, của GCCN và NDLĐ lên
trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, ĐL Đảng, các NQ của Đảng và
PL của NN; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn
bó mật thiết với ND; phục tùng tổ chức, KL của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng.
2. Vai trò, vị trí của Đảng viên:
Đảng viên có vị trí quan trọng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng cũng như đối với công
cuộc xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Chủ tịch HCM đã kh.định: Để lãnh đạo CM, Đảng phải mạnh, Đảng mạnh là do chi bộ tốt,
chi bộ tốt là do các ĐV đều tốt. Người thường nhắc nhở: “ĐV đi trước, làng nước theo sau”.
Trong quá trình lãnh đạo CM, Đảng ta cũng đã khẳng định: đảng viên là một vấn đề chủ
yếu trong xây dựng Đảng. Vai trò, vị trí của ĐV đã được khẳng định cả về lý luận và thực tiễn trong
suốt gần 80 năm qua và đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới h.nay, được thể hiện trên 4 vấn đề sau:
Một là, đảng viên là người chiến sĩ CM trong đội tiên phong của GCCN Việt Nam.
Trước hết, cần phải khẳng định: ĐCSVN là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt
Nam. Đảng chính là đội quân ưu tú nhất, là bộ tham mưu chính trị của giai cấp công nhân và là đại
biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc.
Đảng ta hoạt động không vì mục đích tự thân của mình, mà chính là vì hạnh phúc của
nhân dân, tức là nhằm xây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công
bằng, văn minh, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.
Đảng CSVN trước hết là một tổ chức, Đảng là một cơ thể chính trị - XH sống, cho nên
toàn bộ sức mạnh của Đảng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng đều được tạo thành từ
mỗi một thành viên trong tổ chức, từ mỗi tế bào cấu tạo nên Đảng, tức là từ từng người đảng viên.
Nói cách khác, sức mạnh của Đảng phụ thuộc vào số lượng và chất lượng của đội ngũ
đảng viên. ĐV tồn tại gắn liền với tổ chức; chịu sự LĐ, giáo dục, quản lý, kiểm tra của tổ chức. Tổ
chức mạnh đảm bảo từng người mạnh, từng người mạnh khiến cả tổ chức mạnh. Chất lượng đội
ngũ ĐV ngày càng cao, nội bộ càng ổn định, thì uy tín của Đảng đối với quần chúng càng lớn.
Hai là, đội ngũ ĐV là những người vừa có trách nhiệm góp phần xây dựng đường lối,
chủ trương, CS của Đảng; đồng thời có tr.nhiệm tổ chức thực hiện mọi đ.lối, chủ trương, CS đó.
Nếu cho rằng số lượng và chất lượng đảng viên là nhân tố hàng đầu quyết định sức
mạnh của Đảng thì đ.lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng.
Người đảng viên phải có trách nhiệm tích cực đóng góp xây dựng đường lối chính trị,
đồng thời tổ chức cho quần chúng tham gia xây dựng đường lối chính trị của Đảng.
Sau khi có đường lối chính trị đúng đắn, người đảng viên phải nêu cao vai trò tiên
phong gương mẫu trong việc chấp hành và tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng, pháp
luật của Nhà nước, phải thể hiện quan điểm của Đảng: “nói đi đôi với làm”.
Với vai trò này, đòi hỏi người đảng viên phải có lập trường chính trị vững vàng, trung
thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của cách mạng; có năng lực trí tuệ, am hiểu thực tiễn; có
nhiệt tình cách mạng cao và năng lực hành động.
Ba là, người ĐV dù ở c.vị nào, cũng vừa là người LĐ, vừa là người phục vụ q.chúng.
Đảng viên là tiền đề, là cơ sở để xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước và các
đoàn thể nhân dân. Có đội ngũ đảng viên ưu tú, mới cung cấp cho Đảng, Nhà nước và nhân dân
những cán bộ tốt, đáp ứng với đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ lịch sử.
25