ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
PHAN THị NGọC
BIếN ĐổI SINH Kế CủA NÔNG DÂN ở MộT
LàNG VEN ĐÔ
(Trờng hợp làng Gia Trung, Mê Linh, Hà Nội)
LUậN VĂN THạC Sĩ LịCH Sử
1
Hà Nội - 2013
ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
PHAN THị NGọC
BIếN ĐổI SINH Kế CủA NÔNG DÂN ở MộT
LàNG VEN ĐÔ
(Trờng hợp làng Gia Trung, Mê Linh, Hà Nội)
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 60 22 70
Luận văn Thạc sĩ Lịch sử
Ngời hớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Văn
Sửu
2
Hµ Néi - 2013
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................6
1. Lý do chọn đề tài............................................................................................................6
2. Mục đích nghiên cứu......................................................................................................6
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..................................................................................7
4. Tiếp cận lý thuyết và phương pháp nghiên cứu..............................................................7
5. Đóng góp của luận văn...................................................................................................8
6. Bố cục của luận văn........................................................................................................8
Chương 1..........................................................................................................9
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ TIẾP CẬN LÝ THUYẾT.............................9
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề...........................................................................................9
1.2. Những thảo luận về khái niệm và tiếp cận lý thuyết.................................................13
1.3. Tiểu kết......................................................................................................................23
Chương 2........................................................................................................24
LÀNG GIA TRUNG VÀ QUÁ TRÌNH THU HỒI....................................24
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP................................................25
2.1. Làng Gia Trung..........................................................................................................25
2.2. Thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Gia Trung...............................................30
2.3. Tiểu kết......................................................................................................................49
Chương 3........................................................................................................50
BIẾN ĐỔI SINH KẾ Ở GIA TRUNG.........................................................50
3.1. Biến đổi của nghề nông.............................................................................................51
3.2. Sự xuất hiện của tầng lớp công nhân.........................................................................55
3.3. Sự phát triển của kinh doanh nhà trọ.........................................................................58
3.4. Sự phát triển của các hoạt động buôn bán và dịch vụ...............................................60
3.5. Một số hoạt động sinh kế khác..................................................................................62
3.6. Tác động của thị trường.............................................................................................64
3.7. Tiểu kết......................................................................................................................67
Chương 4........................................................................................................67
MỘT SỐ BIẾN ĐỔI VỀ VĂN HÓA VÀ XÃ HỘI Ở GIA TRUNG..........67
4.1. Những biến đổi trong không gian cư trú...................................................................67
4.2. Biến đổi về mức sống................................................................................................69
4.3. Biến đổi trong quan hệ xã hội....................................................................................71
4.4. Biến đổi giá trị văn hóa làng xã truyền thống............................................................72
3
4.5. Phân hóa xã hội..........................................................................................................76
4.6. Tiểu kết......................................................................................................................77
KẾT LUẬN....................................................................................................77
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................81
PHỤ LỤC.......................................................................................................93
4
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Ruộng đất ở Gia Trung đầu thế kỷ XIX.....................................28
Bảng 2.2: Số dự án và diện tích đất giao cho các dự án ở Quang Minh.. .35
Bảng 2.3: So sánh diện tích thu hồi ở dự án Long Việt và Hà Phong.......39
Bảng 2.4: Giá đất bồi thường ở Gia Trung qua các năm...........................41
Bảng 2.5: Khung giá bồi thường thiệt hại về đất ở Gia Trung..................42
Bảng 2.6: Khoản đền bù đất nông nghiệp hạng 1 ở Gia Trung năm 2006
.........................................................................................................................42
Bảng 2.7: Tài sản sở hữu của hộ gia đình trước và sau khi mất đất.........45
Bảng 3.1: Biến đổi nghề của chủ hộ tổ 6 và 7 (năm 2010 so sánh với 2000)
.........................................................................................................................52
Bảng 4.1: Các nguồn thu nhập chính ở Gia Trung (năm 2008)................71
Bảng 4.2: Tỷ lệ người dân Gia Trung đi cúng đình chùa hiện nay so với
trước khi công nghiệp hóa, đô thị hóa (đv: %)...........................................73
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh đổi mới và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Việt Nam nói chung, ở Hà Nội nói riêng, việc xây dựng các khu công nghiệp
và phát triển đô thị đã diễn ra với tốc độ nhanh. Kết quả là sự phát triển công
nghiệp và đô thị ở khu vực ven đô các thành phố lớn, nhất là khu vực ven đô
Hà Nội đã làm chuyển đổi các hoạt động sinh kế của nhiều hộ gia đình nông
dân vốn đã nhiều đời sống dựa vào nông nghiệp ở khu vực nông thôn.
Như nhiều làng ở khu vực ven đô Hà Nội, những biến đổi kinh tế và xã
hội chỉ thực sự diễn ra mạnh mẽ và nhanh chóng ở làng Gia Trung từ cuối thế
kỷ XX khi Nhà nước Trung ương và chính quyền thành phố thực hiện một
loạt dự án phát triển đô thị và công nghiệp ở khu vực này. Những biến đổi do
công nghiệp hóa và đô thị hóa ở các cộng đồng làng ven đô trong khoảng hai
thập kỷ qua nhanh chóng trở thành đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học
thuộc các lĩnh vực khác nhau trong đó có các nhà nhân học, dân tộc học, xã
hội học, tâm lý học, kinh tế học,…
Tuy nhiên, khảo sát tài liệu nghiên cứu của tôi cho thấy còn có ít những
nghiên cứu dân tộc học về những biến đổi kinh tế, văn hóa và xã hội ở những
cộng đồng làng cụ thể. Chính vì thế, tôi muốn tìm hiểu về những biến đổi sinh
kế của các hộ gia đình nông dân ở một làng ven đô Hà Nội trong bối cảnh đổi
mới và dưới tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa trong hơn một thập kỷ
vừa qua.
2. Mục đích nghiên cứu
1. Tìm hiểu lịch sử hình thành và biến đổi về mặt hành chính của làng
Gia Trung, thấy được quá trình biến động đất đai của làng trong lịch sử cũng
như hiện tại. Trên cơ sở đó phân tích quá trình thu hồi quyền sử dụng đất nông
nghiệp để phục vụ mục tiêu phát triển công nghiệp và đô thị.
2. Dựa trên khung phân tích sinh kế bền vững về sự biến đổi các nguồn
6
vốn dưới tác động của việc thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp để phân
tích và lý giải quá trình biến đổi sinh kế của hộ gia đình nông dân ở Gia
Trung, những loại hình sinh kế mới mà người nông dân đã và đang tiếp nhận
và thích nghi.
3. Lý giải một số biến đổi về văn hóa, xã hội ở Gia Trung trong môi
trường sống mới dưới tác động của công nghiệp và đô thị.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này đặt trong bối cảnh các vùng ven đô Hà Nội đang từng
ngày thay đổi cả về vật chất và lối sống. Luận văn chọn làng Gia Trung, xã
Quang Minh, huyện Mê Linh làm địa bàn nghiên cứu, bởi trong khoảng hơn
10 năm qua, ở đây có tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh chóng, chứng
kiến bước chuyển mình từ xã hội nông thôn sang đô thị, tạo nên bức tranh
nhiều màu sắc cùng những thay đổi mạnh mẽ ở một cộng đồng làng vốn xưa
kia thuộc khu vực nông thôn nông nghiệp.
Nội dung luận văn tập trung vào tìm hiểu các vấn đề thu hồi quyền sử
dụng đất để phát triển công nghiệp và đô thị ở làng Gia Trung, phân tích quá
trình biến đổi sinh kế của các hộ gia đình nông dân, góp phần làm rõ quá trình
biến đổi kinh tế, văn hóa và xã hội ở một làng ven đô trong quá trình công
nghiệp hóa và đô thị hóa ở khu vực đồng bằng sông Hồng.
4. Tiếp cận lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Để hiểu được quá trình biến đổi sinh kế của các hộ gia đình nông dân ở
làng Gia Trung, ngoài phần tổng quan tài liệu nghiên cứu, thu thập các nguồn
thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng, tôi tiến hành điền dã dân
tộc học ở địa bàn nghiên cứu. Trên thực địa, các phương pháp nghiên cứu cơ
bản của ngành học như quan sát tham gia, phỏng vấn sâu được sử dụng để
khai thác và thu thập tài liệu dân tộc học. Ngoài ra, tôi cũng đã khảo sát và
khai thác các nguồn tài liệu thành văn là các văn bản của các cấp chính quyền
Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương. Nguồn tài liệu này
7
cho phép tôi có được những thông tin định lượng, như một số số liệu thống
kê, để kết hợp với các tài liệu định tính thu được từ quan sát tham gia và
phỏng vấn, làm rõ được thực tiễn biến đổi sinh kế của các hộ gia đình nông
dân cũng như nguyên nhân, hệ quả và bối cảnh của quá trình chuyển đổi này ở
một địa bàn cụ thể.
Để phân tích nguồn tài liệu thu được, tôi sử dụng khung sinh kế bền
vững (Sustainable Livelihoods Framework). Nói cách khác, những chuyển đổi
về kinh tế - xã hội nói chung và biến đổi sinh kế của các hộ gia đình nói riêng
được phân tích thông qua lăng kính của các nguồn vốn mà người nông dân có,
sử dụng để sinh tồn và ứng phó với những chuyển đổi diễn ra với họ và xung
quanh họ. Tôi sẽ giới thiệu và phân tích chi tiết về khung sinh kế bền vững ở
phần tiếp theo của Luận văn.
5. Đóng góp của luận văn
Với nguồn tài liệu và những phân tích về biến đổi sinh kế của các hộ
gia đình nông dân ở Gia Trung trong hơn một thập kỷ qua, luận văn mong
muốn đóng góp thêm những tri thức về thực tiễn biến đổi sinh kế trong không
gian làng ven đô dưới tác động của các chính sách phát triển công nghiệp và
đô thị ở Hà Nội.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, Luận văn được bố cục
thành 4 chương chính:
Chương 1: Tổng quan tài liệu và tiếp cận lý thuyết.
Chương 2: Làng Gia Trung và quá trình thu hồi quyền sử dụng đất
nông nghiệp.
Chương 3: Biến đổi sinh kế ở Gia Trung.
Chương 4: Một số biến đổi về văn hóa và xã hội ở Gia Trung.
8
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ TIẾP CẬN LÝ THUYẾT
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về làng Việt Nam, bản chất và quá trình biến đổi của làng
Việt là chủ đề hấp dẫn và được nghiên cứu từ khá sớm bởi cả những nhà
nghiên cứu trong nước và nước ngoài. Chủ đề này đã thu hút và làm nổi danh
nhiều học giả trong giới nghiên cứu nhân học nói riêng và giới khoa học xã
hội ở Việt Nam nói chung như Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên, Toan Ánh,
Từ Chi, Phan Đại Doãn,... và một số nhà khoa học nước ngoài như Pierre
Gourou, James C.Scott, Samuel L.Popkin... Những công trình nghiên cứu của
họ đã mang lại những khái quát tổng quan về đời sống nông dân, những đặc
trưng văn hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam, đồng thời mô tả, phản ánh
được tính đa dạng của làng xã Việt Nam trong mối quan hệ với điều kiện tự
nhiên, môi trường sinh thái và hoàn cảnh lịch sử.
Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ, việc nghiên cứu làng Việt Nam
của các học giả nước ngoài gặp khó khăn, chủ yếu phục vụ mục đích chính trị.
Việc nghiên cứu chỉ thực sự được củng cố lại từ sau những năm 1980, trong
sự ngạc nhiên về một Việt Nam anh dũng trong chiến tranh của các học giả
Pháp, Nhật Bản, Liên Xô cũ …
Như vậy, ngay từ rất sớm, làng xã vùng đồng bằng sông Hồng nói
riêng, làng Việt nói chung đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
quan tâm và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Một điều chắc chắn,
trong hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy nông thôn vùng đồng bằng sông
Hồng là một khu vực kinh tế năng động và có sự biến đổi liên tục về văn hóa,
lối sống và cả những mâu thuẫn giữa văn hóa truyền thống và hiện đại trong
quá trình phát triển. Đóng góp đáng kể cho ngành Việt Nam học nói chung,
nhân học nói riêng cả về nội dung, cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu.
9
Trong hơn 20 năm đổi mới đất nước, làng xã các vùng nông thôn nước
ta được xác định là mục tiêu tiên phong của quá trình công nghiệp hóa - hiện
đại hóa đất nước. Tuy nhiên, sự phát triển có quy mô, tốc độ và toàn diện hơn
cả vẫn là các làng ven đô, ven các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ
Chí Minh ... Sự chuyển đổi tất yếu ở các vùng nông thôn này là phải công
nghiệp hóa, đô thị hóa môi trường xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp,
dịch vụ. Các khu công nghiệp, khu đô thị ra đời là nhằm cân bằng một bước
quan trọng giữa xã hội nông thôn và xã hội đô thị. Tuy nhiên, cùng với sự
biến đổi và phát triển nhanh chóng thì những vấn đề bức xúc của người dân
vùng chuyển đổi đã biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau, buộc người ta
phải nhìn nhận lại và đánh giá đúng mức những tác động to lớn mà sự chuyển
đổi đó đã tạo ra. Người dân vùng chuyển đổi trở thành đối tượng nghiên cứu
và quan tâm của nhiều nhà khoa học, đi đầu trên lĩnh vực này là các nhà kinh
tế học, dân tộc học, nhân học, xã hội học và các loại phương tiện thông tin đại
chúng, cũng như các ban ngành từ Trung ương đến địa phương. Với vùng ven
đô Hà Nội, lúc đầu địa bàn của các nghiên cứu đều tập trung ở các quận
huyện được sáp nhập vào nội đô Hà Nội như phường Yên Sở (Hoàng Mai),
khu vực quận Tây Hồ (phường Phú Thượng), khu vực các làng (làng Tám)
của phường Giáp Bát... Các nghiên cứu này bước đầu tập trung về việc bán
đất, giá đất tăng, quá trình lan tràn của đô thị hóa từ nội đô ra, việc chuyển đổi
từ hoạt động sản xuất nông nghiệp sang làm các loại hình công việc khác như
kinh doanh dịch vụ; mà chưa khảo sát kỹ về quá trình công nghiệp hóa, đô thị
hóa dẫn đến việc thu hồi quyền sử dụng đất, suy giảm hoạt động sinh kế
truyền thống của nông dân và những mâu thuẫn nông thôn do thu hồi đất gây
ra. Để bổ sung khoảng trống đó, các công trình nghiên cứu nông thôn thời
gian gần đây đã có một cách nhìn phân tích, chuyên ngành hơn và chia đối
tượng nghiên cứu thành các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội khác
nhau nên có thể đi sâu nghiên cứu vào từng mảng nhỏ. Phải nói rằng, các
10
nghiên cứu này đã góp phần thay đổi căn bản nhận thức của chúng ta về khả
năng phát triển toàn diện của nông thôn đồng bằng sông Hồng nói chung
trong quá trình đổi mới.
Tổng hợp tài liệu nghiên cứu cho thấy có một số lượng đáng kể các công
trình nghiên cứu trực tiếp hoặc liên quan đến chủ đề luận văn. Trong đó, có bài
nghiên cứu “Vấn đề đất đai ở nông thôn Việt Nam” của tác giả Lê Du Phong
[93, tr. 34-42]. Tác giả phân tích và khái quát những biến đổi quan trọng trong
chính sách đất đai ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay và chỉ ra những đặc điểm
của quá trình thu hồi đất hiện nay ở nước ta, bước đầu lý giải những hệ quả
chuyển đổi mà tác giả lập luận là tất yếu này.
Với nghiên cứu có tựa đề “Những vấn đề nảy sinh sau khi thu hồi đất
của nông dân để phát triển các khu công nghiệp” của Thu Lê [79, tr. 16-19].
Tác giả đưa ra bức tranh chung về quá trình thu hồi đất làm chuyển đổi việc
làm của người dân và dự báo về việc thu hồi đất sẽ làm ảnh hưởng nghiêm
trọng đến vấn đề an ninh lương thực quốc gia, chịu sự ảnh hưởng đó đầu tiên
sẽ là người nông dân mất đất. Từ bức tranh chung đó, tác giả dẫn chứng về
thực trạng lao động, việc làm của các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Mê
Linh. Trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản và quan trọng về bức tranh lao
động, việc làm của người dân các khu công nghiệp ở Mê Linh, địa bàn mà tôi
sẽ chọn làm nơi thực tập luận văn của mình.
Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở vùng ven đô cho thấy rằng mất
ruộng đất là người nông dân mất đi tư liệu sản xuất chính yếu. Số tiền đền bù lẽ
ra phải được sử dụng để tạo ra tư liệu sản xuất mới hoặc đầu tư cho việc nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm gia nhập vào hoạt động công nghiệp thì
một phần không nhỏ đã bị sử dụng sai mục đích. Cơ hội thì nhiều nhưng dường
như người dân ven đô đang loay hoay trước cánh cửa mở ra cho chính mình mà
không có được bao nhiêu sự trợ giúp từ các cấp quản lý [78, tr. 25].
11
Nguy cơ đánh mất cộng đồng dưới tác động của công nghiệp hóa, đô
thị hóa cũng được nhiều tác giả bàn tới. Nhìn nhận sự chuyển đổi ở vùng ven
đô từ cả khía cạnh tích cực và tiêu cực, nghiên cứu “Đánh giá của người dân
ven đô về những lợi ích và bất cập của đô thị hóa” của Lã Thị Thu Thủy [115,
tr. 25-31] một mặt chỉ ra những lợi ích mà công nghiệp hóa, đô thị hóa mang
lại cho người nông dân và được họ đón nhận, trong đó chủ yếu là những giá
trị vật chất, hạ tầng cơ sở và nếp sống văn hóa đô thị. Đồng thời, những bất
cập mà quá trình này mang lại là không nhỏ, thành vấn đề xã hội bức xúc ở
những địa bàn bị thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, đó là mất đất,
không có hoặc thiếu việc làm.
Nghiên cứu “Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt Nam”
của tác giả Đình Quang [99] khảo sát về đời sống của những người công nhân
ở các khu công nghiệp, một mặt đời sống văn hóa, tín ngưỡng của tầng lớp
này đã có nhiều biến đổi sau khi trở thành công nhân lao động ở khu vực công
nghiệp. Nhưng mặt khác, những giá trị văn hóa và lối sống tiêu cực của xã hội
hiện đại cũng đã làm mất đi bản chất nông nghiệp của nhiều đối tượng. Tác
giả đánh giá cao vai trò tiếp thu, biến đổi và thích ứng của cá nhân, gia đình
và xã hội.
Tổng hợp lại các nguồn tài liệu đã nghiên cứu về làng xã trong thời kỳ
công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, tôi nhận thấy, các nghiên cứu về
công nghiệp hóa, đô thị hóa và người nông dân bị thu hồi đất trong khoảng
thời gian trước năm 2008 tập trung vào hai vấn đề. Trước hết, là những bức
xúc của người nông dân về việc bị thu hồi đất, về chính sách đền bù và hỗ trợ
đất đai, về các vấn đề việc làm của người nông dân ở các vùng bị thu hồi đất.
Đồng thời, cộng đồng làng đang từng ngày biến đổi trong xu thế công nghiệp
hóa, đô thị hóa mạnh mẽ như hiện nay. Trong số này, những làng ven đô luôn
nằm trong vòng tác động đầu tiên và trực diện của mọi thay đổi, là tâm điểm
của sự va đập giữa cái cũ và cái mới, truyền thống và hiện đại. Làng ven đô
12
vẫn cơ bản là một xã hội nông nghiệp - nông thôn nhưng đồng thời cũng
mang trong nó nhiều yếu tố của xã hội đô thị. Ngoài ra, các nghiên cứu về đô
thị hóa, trong đó có những nghiên cứu mang tính tổng quát và những nghiên
cứu cụ thể về một vấn đề của đô thị hóa. Các nghiên cứu đã khái quát nên bức
tranh sinh động phản ánh thực trạng của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa
trên nhiều bình diện đang diễn ra ở Việt Nam.
1.2. Những thảo luận về khái niệm và tiếp cận lý thuyết
1.2.1. Khung sinh kế bền vững
Trong nghiên cứu về phát triển nông thôn và giảm nghèo thời gian qua,
vấn đề sinh kế và phát triển sinh kế bền vững đã trở thành mục tiêu phân tích
ở những cấp độ khác nhau. Trong đó, khung sinh kế bền vững được coi là một
cách tiếp cận toàn diện về các vấn đề phát triển thông qua việc thảo luận về
sinh kế của con người và đói nghèo trong các bối cảnh khác nhau. Cách phân
tích sinh kế này bắt nguồn từ phân tích của Amartya Sen về các loại quyền
trong mối quan hệ với nạn đói và đói nghèo. Do tính hữu ích và khả năng
phân tích của nó, khung phân tích sinh kế bền vững nhanh chóng trở thành
một công cụ phân tích và giải thích về sinh kế; được sử dụng khá phổ biến
trong các nghiên cứu phát triển và cơ bản, trong đó phải kể đến sự cổ vũ và
thúc đẩy cho khung phân tích này của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID).
Khi đề cập đến khung, một khái niệm quan trọng cần được làm rõ là “sinh
kế bền vững”, vốn bắt đầu được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu về phát triển
từ đầu những năm 1990. Trong khi Từ điển tiếng Việt định nghĩa sinh kế là “việc
làm, kế sinh nhai để kiếm ăn, để mưu sống” [128, tr. 859] thì các nhà khoa học
như Chambers và Conway (1992) định nghĩa về sinh kế bền vững như sau:
“Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai,
gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ. Ba khía cạnh tài sản
là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội. Sinh
kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và
13
toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh
kế khác. Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu
hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ
tương lai” [72, tr. 3].
Khung sinh kế bền vững lấy con người làm trung tâm của sự phân tích
nhằm giải thích mối quan hệ giữa con người, sinh kế của họ, môi trường sống,
các chính sách và các loại thiết chế khác liên quan đến việc sử dụng các loại vốn
mà họ có để sinh tồn và ứng phó với những rủi ro hay biến đổi diễn ra với họ và
xung quanh họ. Khung phân tích này được cụ thể hóa thành sơ đồ dưới đây:
Hình 1: Phân tích khung sinh kế của nông dân nghèo
Bối cảnh
dễ tổn
thương
- Xu hướng
- Thời vụ
- Chấn động
(trong tự
nhiên và
môi trường,
thị trường,
chính trị,
chiến
tranh…)
Con người
Xã hội
Vật chất
Tự nhiên
Tài chính
Chính sách, tiến
trình và cơ cấu
Các chiến
lược SK
- Ở các cấp khác
nhau của Chính
phủ, luật pháp,
chính sách công,
các động lực, các
qui tắc
- Các tác
nhân xã hội
(nam, nữ, hộ
gia đình, cộng
đồng …)
- Các cơ sở
tài
nguyên
thiên nhiên
- Cơ sở thị
trường
- Đa dạng
- Sinh tồn
hoặc tính bền
vững
- Chính sách và
thái độ đối với
khu vực tư nhân
- Các thiết chế
công dân, chính
trị và kinh tế (thị
trường, văn hoá).
Các kết quả SK
- Thu nhập nhiều
hơn
- Cuộc sống đầy đủ
hơn
- Giảm khả năng tổn
thương
- An ninh lương thực
được cải thiện
- Công bằng xã hội
được cải thiện
- Tăng tính bền
vững của tài nguyên
thiên nhiên
- Giá trị không sử
dụng của tự nhiên
được bảo vệ.
Nguồn: DFID (2004)
Như vậy, khung sinh kế bền vững nhấn mạnh rằng sinh kế của con
người trong mối quan hệ với các nguồn lực của con người, với bối cảnh và
xem xét ứng phó của con người. Các nguồn lực ở đây được cụ thể hóa thành
năm loại vốn, hay tài sản mà con người có thể có và cần để không chỉ sinh tồn
mà còn giảm nghèo hay thoát nghèo.
14
Vốn vật chất (physical capital): Vốn vật chất gồm các cơ sở hạ
tầng xã hội, tài sản mà người nông dân cần để hỗ trợ sinh kế như:
giao thông, hệ thống cấp thoát nước, cung cấp năng lượng, nhà
cửa, đồ đạc, các phương tiện vận chuyển, thông tin,...
Vốn tài chính (financial capital): Ngụ ý về các nguồn lực tài
chính mà người nông dân sử dụng để đạt được các mục tiêu tài
chính của mình.
Vốn xã hội (social capital): Là các tiềm lực xã hội mà con người
vạch ra nhằm theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình, thông qua
các mạng lưới và mối liên kết với nhau, tính đoàn hội của các
nhóm chính thức, niềm tin, sự phụ thuộc lẫn nhau.
Vốn tự nhiên (natural capital): Chú trọng vào các loại tài nguyên
tự nhiên như đất đai. Trong đó, quyền đất đai có ý nghĩa về nhiều
mặt và là cơ sở để người nông dân tiếp cận các loại tài sản khác
hay các sinh kế thay thế. Những thay đổi về cách các hộ sử dụng
vốn tự nhiên có thể dẫn tới những hậu quả khác nhau đối với hộ
đó. Bị thu hồi quyền sử dụng đất hoặc bán đất canh tác nông
nghiệp, đồng nghĩa với việc nông dân không có đất để canh tác
trong tương lai, đe dọa nghiêm trọng tới sinh kế của họ.
Vốn con người (human capital): Được xem là nhân tố quan trọng
nhất. Nguồn vốn này đại diện cho kĩ năng, kiến thức, năng lực để
lao động, sức khỏe,… tất cả giúp con người theo đuổi những chiến
lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của mình.
Ở Việt Nam, khung sinh kế bền vững đã được ứng dụng vào nhiều
nghiên cứu hành động ở cả khu vực nông thôn, đô thị, bởi cả các nhà khoa
học, cơ quan Nhà nước và các tổ chức phi chính phủ. Trong đề tài nghiên cứu
này, tôi sử dụng khung sinh kế bền vững như được trình bày tóm lược ở trên
15
để phân tích tiếp cận đất đai, quá trình thu hồi đất nông nghiệp để phát triển
công nghiệp và đô thị, những biến đổi sinh kế của các hộ gia đình nông dân
như là một hệ quả của thu hồi đất nông nghiệp ở một làng ven đô Hà Nội cụ
thể (ở một số mặt: mức độ tiếp cận đất nông nghiệp, cơ cấu nguồn thu nhập,
cơ cấu lao động, nghề nghiệp và mức sống,...). Cụ thể hơn, vận dụng khung
sinh kế bền vững vào đề tài nghiên cứu của mình, tôi muốn đi sâu tìm hiểu và
lý giải những thay đổi về các chiến lược sinh kế mới của người nông dân ven
đô sau khi đã mất hết tư liệu sản xuất truyền thống. Lập luận chính trong luận
văn này không tập trung vào sự dịch chuyển từ vốn tự nhiên sang vốn tài
chính để thực hiện chiến lược sinh kế bằng những ngành nghề phi nông
nghiệp. Mà nghiên cứu tập trung lý giải về các loại hình sinh kế mới mà người
nông dân đã và đang từng bước chuyển đổi, đặc điểm cũng như xu hướng phát
triển của loại hình sinh kế mới này. Nghiên cứu cũng chỉ ra một số đặc điểm
của hộ gia đình nông dân bị thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp cũng như
một số thay đổi của các hộ gia đình này từ trước và sau khi bị thu hồi đất; một
số khác biệt giữa các hộ gia đình bị thu hồi hết đất và không bị thu hồi hết. Từ
đó, mong muốn có thể gợi ra những suy ngẫm khoa học về ảnh hưởng nhiều
chiều của quá trình thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế của hộ gia đình nông
dân trong điều kiện cụ thể của các gia đình này. Tôi cũng muốn có một cách
nhìn đối sánh về loại hình sinh kế truyền thống và sinh kế mới mà người nông
dân ven đô đã và đang tiếp nhận để ứng phó với những biến đổi về tư liệu sản
xuất truyền thống và bối cảnh kinh tế - xã hội mới ở không gian sống của họ.
1.2.2. Một số khái niệm
1.2.2.1. Làng ven đô
“Làng ven đô’’ là một khái niệm xuất hiện cùng với quá trình đô thị hóa
ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam. Trong nghiên cứu về làng Việt và
những biến đổi kinh tế và xã hội ở làng Việt truyền thống và hiện đại, khái
niệm làng không còn là vấn đề mới, nhưng làng ven đô là một khái niệm mới
16
thể hiện sự giới hạn của các làng Việt thuộc vùng ven các đô thị mà cụ thể
trong nghiên cứu này là của thành phố Hà Nội. Đặc trưng của khung cảnh vùng
ven đô là sự biến đổi liên tục không ngừng. Bản chất biến đổi của nó là một
trong những đặc điểm quan trọng nhất để định nghĩa về ven đô.
Khi nghiên cứu về vùng ven đô trong quá trình tái lãnh thổ ở Đông
Nam Á, Micheal Leaf cho rằng vùng ven đô Đông Nam Á có thể coi là những
địa giới theo ít nhất 3 nghĩa.
Thứ nhất, chúng là những địa giới của sự đô thị hóa theo nghĩa rộng
nhất của từ này, bắt nguồn từ sự mở rộng ra bên ngoài của cái thường gọi là
những chức năng đô thị trên khắp các khu vực với đà gia tăng không ngừng.
Người ta cần phải tách đô thị thành các bộ phận nhỏ hơn để hiểu được hàm ý
của vùng ven đô với tư cách là địa giới của đô thị;
Thứ hai, sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động phi nông nghiệp;
Thứ ba, vùng ven đô còn là đường ranh giới, địa giới hành chính. Đây
là kết quả của quá trình tái lãnh thổ do Nhà nước thực hiện thông qua chính
quyền địa phương. Theo kiểu xác định lại ranh giới đô thị hạt nhân, hoặc được
tiến hành theo kiểu tăng thêm (trường hợp các quận mới vốn thuộc vùng nông
thôn của thành phố Hồ Chí Minh), hoặc theo kiểu sáp nhập các tỉnh phụ cận
như chính quyền thành phố Hà Nội đã thực hiện vào tháng 8 năm 2008 [86, tr.
466 - 467].
Dưới góc độ quản lý, các nhà hoạch định chính sách đã đưa ra một số
định nghĩa về vùng ven đô, có thể tóm tắt như sau:
Về mặt địa lý, vùng ven đô được hiểu là khu vực kế cận với thành
phố. Vùng ven đô là nơi vừa có các hoạt động đặc trưng cho nông
thôn vừa có các hoạt động mang tính chất đô thị. Vùng ven đô
không tồn tại độc lập mà nằm trong một miền liên thông nông thôn
- ven đô - đô thị. Các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của các bộ
phận hợp thành hệ thống nông thôn - ven đô - đô thị được thể hiện ở
17
chỗ nông thôn và ven đô là nơi cung cấp thường xuyên, lâu dài
lương thực thực phẩm, nguồn nguyên liệu và nguồn lao động cho
đô thị, ngược lại đô thị tạo ra thị trường để tiêu thụ các sản phẩm
nông nghiệp, tạo cơ hội việc làm và nơi ở cho các dòng di dân từ
nông thôn đến đô thị và cung cấp các sản phẩm phục vụ cho sản
xuất nông nghiệp. Thông thường, người ta xác định ranh giới của
vùng ven đô dựa vào các chính sách quy hoạch đô thị và các biện
pháp quản lý hành chính [110, tr. 80].
Nếu xem xét từ tiêu chí địa giới hành chính thì:
“Làng ven đô ở đây được hiểu bao gồm ngoài các làng thuộc các huyện
ngoại thành như Thanh Trì, Gia Lâm, Sóc Sơn, Đông Anh, Từ Liêm còn có tất
cả các làng thuộc các quận: Cầu Giấy, Tây Hồ, Thanh Xuân, Hoàng Mai và
Long Biên, vốn là các làng (thuộc xã, huyện) được chuyển thành các làng
trong phường (thuộc quận) trong khoảng thời gian mươi năm trở lại đây” [52,
tr. 7]. Theo quan niệm này thì toàn bộ các làng thuộc các huyện mới sáp nhập
năm 2008 của tỉnh Hà Tây và huyện Mê Linh được xác định là ranh giới của
các làng ven đô. Một lần nữa, địa giới các làng ven đô của Hà Nội được mở
rộng về biên độ và quy mô.
Như vậy, khái niệm làng ven đô ở đây được hiểu một cách tương đối là
các làng thuộc khu vực ngoại thành của thành phố Hà Nội. Theo đó, vùng ven
đô là một khu vực có địa giới hành chính không ổn định, có thể biến đổi theo
hướng được tách ra, nhập vào hoặc điều chỉnh dưới tác động của chính sách
và kế hoạch phát triển của Nhà nước. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở
khu vực ven đô tạo ra những biến đổi mạnh mẽ về nhiều mặt trong đời sống
của cư dân các làng. Sự chuyển đổi này thường diễn ra theo hướng chuyển từ
nông thôn sang thành thị, từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, vì thế
phản ánh rõ những ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đối
với khu vực nông thôn nói chung và vùng ven đô nói riêng.
18
1.2.2.2. Kinh tế hộ gia đình nông dân
Kinh tế hộ gia đình là một hình thức sản xuất có sớm trong lịch sử, xuất
hiện từ khi gia đình được hình thành. Ngày nay, hình thức sản xuất này đang
chịu nhiều tác động và cũng đang tự chuyển mình để trở thành một thành
phần kinh tế của xã hội phát triển - xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vì lẽ
đó, việc tìm hiểu về kinh tế hộ gia đình để nhận diện ra được vị trí, vai trò và
xu hướng biến đổi của đời sống người nông dân ven đô trong quá trình công
nghiệp hóa, đô thị hóa nông nghiệp nông thôn, nhất là ven đô Hà Nội là một
việc cần thiết.
Kinh tế hộ gia đình trong tư duy phát triển của Marx và Engels có thể
được tìm thấy trong khái niệm cộng đồng gia đình xuất hiện khoảng năm
1857 - 1858 trong tác phẩm “Formen” được coi là một hình thái xã hội đặc
thù, nhưng lại được hình thành một cách tự nhiên và chưa mang những thuộc
tính xã hội. Nội hàm của khái niệm “cộng đồng gia đình” được hiểu ngắn gọn:
cộng đồng gia đình được hình thành từ các cá nhân, thực hành một kiểu nông
nghiệp tự cung tự cấp, sản xuất và tiêu dùng trên cùng một mảnh đất chung
mà quyền chiếm hữu đất đai tùy thuộc vào tư cách thành viên trong cộng
đồng đó, gắn bó với nhau bởi các quan hệ phụ thuộc cá nhân có tính chất
bình đẳng [119, tr. 20].
Tchayanov, nhà nông học người Nga, vào những năm 20 của thế kỷ XX
đưa ra khái niệm “kinh tế nông dân”, vốn được hiểu là một hình thức tổ chức
kinh tế nông nghiệp chủ yếu dựa vào sức lao động gia đình và nhằm thỏa mãn
nhu cầu của hộ gia đình như một tổng thể mà không dựa trên chế độ trả công
theo lao động đối với mỗi thành viên của nó. Về mặt kinh tế, do đặc điểm tự
cung tự cấp và những hạn chế của sức sản xuất gia đình, kinh tế nông dân về
cơ bản, nhằm cân bằng khả năng lao động và nhu cầu tiêu dùng của hộ gia
đình mà không nhằm vào hoạch toán lợi nhuận như trường hợp của xí nghiệp
tư bản chủ nghĩa [119, tr. 22].
19
Mấy thập kỷ qua, trong giai đoạn hợp tác xã nông nghiệp, kinh tế hộ
còn nhiều hạn chế đã làm cho sản xuất nông nghiệp bị sút kém, bị khủng
hoảng. Tuy nhiên, kinh tế hộ gia đình không phải là vạn năng, không thể tồn
tại độc lập, không thể tự thân hiện đại hóa. Kinh tế hộ bao giờ cũng phải tồn
tại trong sự hợp tác đa dạng, phong phú. Sự phát triển lâu dài của kinh tế thị
trường và tổ chức hợp tác xã không làm thay đổi được kinh tế hộ gia đình. Do
vậy, trong thiết chế chính trị - xã hội nông thôn, thành tố đầu tiên phải kể đến
là hộ gia đình. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của Việt
Nam xác định kinh tế hộ gia đình là một đơn vị sản xuất cơ sở, cần thiết cho
quyền chuyển dịch cơ cấu kinh tế vĩ mô, nhằm huy động mọi nguồn lực tiến
hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.2.2.3. Công nghiệp hóa và đô thị hóa
Trên thế giới, vấn đề công nghiệp hóa, đô thị hóa và tác động của nó
đối với kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường... được nhiều nhà khoa học và
giới quản lý quan tâm, nghiên cứu. Ở Việt Nam, trong các hệ thống chính sách
phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, các khái niệm “công nghiệp hóa” và “đô
thị hóa” thường xuyên xuất hiện như những thuật ngữ then chốt trong nhiều
văn bản và công trình nghiên cứu. Để phân tích một cách thấu đáo những biến
đổi sinh kế do tác động của công nghiệp hóa và đô thị hóa, tôi muốn làm rõ
nội hàm của hai khái niệm này.
Hiểu theo nghĩa thông thường, “công nghiệp hóa là quá trình xây dựng
nền sản xuất cơ khí lớn trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân và đặc
biệt trong công nghiệp, dẫn tới sự tăng nhanh trình độ trang bị kỹ thuật cho
lao động và nâng cao năng suất lao động” [128, tr. 209]. Còn đô thị hóa là
“quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai
trò của thành thị đối với sự phát triển của xã hội” [128, tr. 332].
Tuy nhiên, xét dưới góc độ học thuật, nhiều nhà khoa học đã có những
cách định nghĩa khác nhau. Chẳng hạn, Trần Thị Minh Ngọc cho rằng: “Đô
20
thị hóa là một quá trình biến đổi về phân bố lực lượng sản xuất, là sự phân bố
dân cư những vùng không phải đô thị, đồng thời phát triển các đô thị hiện có
theo chiều sâu” [91, tr. 78-79].
Những quan điểm trên đã cố gắng làm rõ quá trình đô thị hóa như một
hiện tượng kinh tế - xã hội - văn hóa - không gian góp phần hình hành các hệ
quả kinh tế - xã hội bao gồm những sự kiện quan trọng trong cấu trúc xã hội nghề nghiệp và dịch cư xã hội; các hệ quả văn hóa - xã hội gồm sự tăng
trưởng của mức sống, sự thay đổi trong lối sống và nhu cầu giao tiếp xã hội;
và các hệ quả không gian - môi trường gồm những biến động trong hệ thống
các quần cư.
Lê Du Phong lại cho rằng:
“Công nghiệp hóa, đô thị hoá là nhân tố quyết định làm thay đổi căn
bản quá trình sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp
sang phương thức sản xuất mới hiện đại. Trong quá trình công
nghiệp hóa, đô thị hoá, tiến trình phát triển xã hội đã có thay đổi căn
bản, đó là phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn, là
thay đổi căn bản xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp. Để đẩy
mạnh công nghiệp hóa, đô thị hoá cần phải thực hiện việc thu hồi
đất cho xây dựng các khu công nghiệp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội” [94, tr. 8].
Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng cách định nghĩa về công nghiệp hóa
và đô thị hóa của nhóm tác giả Vũ Đình Tôn, Nguyễn Thị Huyền, Võ Trọng
Thành cho rằng “Công nghiệp hoá, đô thị hoá được hiểu là quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, dịch vụ và tập trung dân cư đô thị”
[118, tr. 50]. Quan điểm của nhóm tác giả này nhấn mạnh đến sự chuyển dịch
theo hướng nông thôn sang đô thị, nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Công
nghiệp hóa và đô thị hoá hiểu theo cách này thường bao hàm một số nét đặc
trưng cơ bản sau: Có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kinh tế nông nghiệp sang
21
công nghiệp; Làm chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công
nghiệp, nâng cao tỷ lệ lao động trong công nghiệp; Có sự tăng trưởng nhanh
của dân số và đô thị hoá; Đất đai chuyển từ phục vụ sản xuất nông nghiệp
sang phục vụ sản xuất công nghiệp và các mục đích phi nông nghiệp khác.
Áp dụng khái niệm công nghiệp hóa và đô thị hóa với nội hàm mà
nhóm tác giả Vũ Đình Tôn, Nguyễn Thị Huyền, Võ Trọng Thành đưa ra,
chúng ta có thể thấy quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra ở vùng
ven đô Hà Nội bao hàm những chuyển đổi ở nhiều khía cạnh khác nhau, như
chuyển đổi trong sử dụng đất nông nghiệp, chuyển đổi về cơ sở hạ tầng, di cư,
các hoạt động sinh kế, cư trú và lối sống của cộng đồng dân cư và không gian
sống nói chung ở khu vực ven đô. Những chuyển đổi về nhiều mặt này còn
dẫn đến sự xuất hiện và phát triển các trung tâm công nghiệp và đô thị ở khu
vực ven đô thành phố.
1.2.2.4. Quyền sử dụng đất và thu hồi quyền sử dụng đất
Luật đất đai lần đầu tiên được Quốc hội khóa VIII thông qua đầu năm
1988 nhằm xây dựng một khung khổ pháp lý quy định việc sở hữu, sử dụng
và quản lý đất đai ở Việt Nam theo hướng pháp quyền.
Luật đất đai năm 1988 xác định rằng:
“Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất
đặc biệt không gì thay thế được của nông nghiệp, lâm nghiệp, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn
phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã
hội, an ninh và quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta tốn
bao công sức và xương máu mới khai thác, bồi bổ, cải tạo và bảo vệ
được vốn đất như ngày nay” [82].
Luật này đồng thời khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà
nước thống nhất quản lý, các hộ gia đình nông dân và các tổ chức chính trị xã hội chỉ được giao quyền sử dụng đất.
22
Trong những năm tiếp theo, dù Việt Nam đã đổi mới trong chính
sách đất đai thông qua việc sửa đổi Luật đất đai và các văn bản dưới luật
về đất đai, nhưng vẫn khẳng định: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà
nước quản lý. Người nông dân và các tổ chức chính trị - xã hội được mở
rộng quyền sử dụng và được nhận bồi thường hay đền bù khi quyền sử
dụng đất của họ bị thu hồi.
Với Luật đất đai năm 2003, vấn đề thu hồi quyền sử dụng đất ở Việt
Nam được hoàn thiện, đi vào quy chuẩn và trở thành vấn đề quan trọng của
đạo luật. Luật đất đai năm 2003 quy định thành 3 nhóm đất: đất nông nghiệp,
đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng. Ở mục 5, điều 4 đề cập: “Thu hồi
đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất
hoặc thu lại đất đã giao cho các tổ chức, ủy ban nhân dân xã phường, thị trấn
quản lý theo quy định” [84, tr. 02].
Như vậy, một quan điểm và chủ trương cơ bản xuyên suốt chính sách
đất đai của Nhà nước Việt Nam là Nhà nước giao quyền sử dụng đất nông
nghiệp, đất phi nông nghiệp cho cá thể, hộ gia đình và các tổ chức, vì thế Nhà
nước có quyền và có thể thu hồi quyền sử dụng đất ấy với một mức giá đền bù
do Nhà nước quy định. Quan điểm này không chỉ được thể hiện ở trong văn
bản, mà đã được áp dụng vào thực tiễn thu hồi đất phục vụ các chính sách
phát triển trên phạm vi cả nước nói chung và trong quá trình công nghiệp hóa,
đô thị hóa ở khu vực ven đô nói riêng.
1.3. Tiểu kết
Làng Việt và những biến đổi trong không gian làng là một vấn đề cần
được tìm hiểu và giải thích. Việc tìm hiểu những biến đổi về sinh kế của các
hộ gia đình nông dân ở các làng ven đô do tác động của quá trình công nghiệp
hóa và đô thị hóa trong bối cảnh xã hội Việt Nam từ khi đổi mới đến nay lại
càng là một đề tài hấp dẫn cần được tìm hiểu từ nhiều góc độ khác nhau.
Nghiên cứu này của tôi tìm hiểu về những biến đổi sinh kế của các hộ gia đình
23
nông dân trong các bối cảnh nêu trên ở một làng cụ thể ở ven đô Hà Nội thông
qua lăng kính của khung phân tích sinh kế bền vững. Chúng tôi cho rằng
khung sinh kế bền vững là một cách phân tích toàn diện về việc các nguồn
vốn sinh kế và việc các hộ gia đình sử dụng các ngồn vốn sinh kế để kiếm
sống và phát triển. Những biến đổi về vốn sinh kế và môi trường sống vì thế
có ảnh hưởng quan trọng đến sinh kế và các chiến lược mưu sinh của các hộ
gia đình. Lập luận này sẽ được diễn giải cụ thể trong trường hợp làng Gia
Trung ở huyện Mê Linh.
Chương 2
LÀNG GIA TRUNG VÀ QUÁ TRÌNH THU HỒI
24
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
2.1. Làng Gia Trung
2.1.1. Về lịch sử hình thành và những thay đổi hành chính
Trong lịch sử, chỉ riêng tên gọi và lịch sử hình thành làng Gia Trung đã
cho thấy có nhiều biến đổi. Theo “Hậu phật Bi ký” còn ghi ở chùa Đại Bi,
làng Gia Trung được thành lập năm Chính Hòa 11 nhà Lê (1690), với tên thôn
Hạ thuộc xã Gia Thượng, huyện Kim Hoa (sau đổi là huyện Kim Anh), phủ
Bắc Hà (sau đổi là phủ Thiên Phúc), thuộc trấn Kinh Bắc (sau đổi là tỉnh Bắc
Ninh)1. Năm Quý tỵ, niên hiệu Thành Thái 5 (1893) thành lập xã Gia Trung
gồm thôn Hè và thôn Đồng2. Đến năm Tân tỵ, niên hiệu Thành Thái 13 (1901)
làng thuộc về tỉnh Phúc Yên mới thành lập.
Sau Cách mạng tháng 8, chính quyền cách mạng tổ chức lại đơn vị
hành chính mới, làng Gia Trung và xã Quang Minh có nhiều lần thay đổi.
Tháng 4/1946, Gia Trung sáp nhập với các thôn bên bờ nam sông Cà Lồ thành
lập xã mới là Đại Đồng, làng lấy tên xã cũ là Gia Trung. Cuối 1954, chia xã
bé hơn, làng thuộc xã Hoà Bình. Năm 1956, làng thuộc xã Quang Minh cho
đến nay. Trong bối cảnh cả nước đi lên Chủ nghĩa Xã hội, Hà Nội cần mở
rộng địa giới hành chính, đồng thời để đảm bảo yếu tố an ninh quốc phòng và
tránh lũ3, Đảng và Nhà nước định hướng mở rộng Hà Nội về phía bắc sang đất
tỉnh Vĩnh Phú, về phía tây sang đất tỉnh Hà Sơn Bình. Ngày 29/12/1978, Quốc
hội khoá VI kỳ họp thứ 4 đã phê chuẩn đề án của Chính phủ về việc mở rộng
địa giới hành chính thành phố Hà Nội bằng việc sáp nhập một số huyện, thị
1
Dưới thời Nguyễn, về mặt tổ chức các cấp hành chính có sự khác biệt giữa hai thời kỳ trước và sau cuộc cải
cách hành chính năm 1831 - 1832 dưới triều Minh Mệnh [Nguyễn Quang Ân, Việt Nam, những thay đổi địa
danh và địa giới hành chính (1945-2002), tr. 15].
2
Thời điểm cuối thế kỷ XIX, xã chỉ một làng lớn và thôn chỉ một làng nhỏ (Philip Papin, Olivier Tessier
(2002), Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: Vấn đề còn bỏ ngỏ, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn
Quốc gia, Hà Nội, tr. 98).
3
Trận lũ lịch sử tháng 8 năm 1971 ở Hà Nội được Cơ quan Quản trị Hải Dương và Khí tượng Hoa Kỳ (“Top
Global Weather, Water and Climate Events of the 20th Century”, U.S. National Oceanic & Atmospheric
Administration) liệt kê vào danh sách các trận lụt lớn nhất thế kỷ XX, đã làm vỡ đê sông Hồng và 100.000
người đã bị thiệt mạng.
25