Tải bản đầy đủ (.docx) (1 trang)

Phức hệ siêu mafic núi nưa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (44.66 KB, 1 trang )

Phức hệ siêu mafic Núi Nưa (σNP-PZ 1nn) (Nguyễn Đình Hữu, 1977)
-

Vị trí phân bố: phân bố rộng rãi dọc theo đới đứt gãy sông Mã.
Khối chuẩn: khối Núi Nưa ở phía Tây Nam của đút gãy, có diện lộ khoảng 50km2.
Đặc điểm địa chất: khối có dạng elip, kéo dài theo phương TB-ĐN, bị chia cắt bởi các
đứt gãy phương á kinh tuyến. Thành phần đá của khối chủ yếu là harzburgit, ít hơn là
lherzolit và dunit bị serpentin hóa mạnh. Trong khối gặp các mạch gabro-dolerit và

-

dolerit.
Đặc điểm thạch học: chủ yếu là harzburgit, ít hơn là lherzolit và dunit bị serpentin hóa
mạnh. Trong khối, trong những biến đổi loại biến đổi yếu hơn còn quan sát được các
khoáng vật tạo đá như là olivin và orthopyroxen. Khoáng vật phụ phổ biến là chromit và

-

sulfur.
Đặc điểm địa hóa: thành phần hóa học của Olivin tương ứng là forsterit với hàm lượng
NiO cao, CaO rất thấp, còn clinopyroxen-diopsid có hàm lượng Cr 2O3 cao trong lherzolit.
Chromit có thành phần khá biến động: Cr#= 0,38-0,788, Mg#= 0,1-0,67.
Dunnit serpentinnit hóa có đặc trưng cao magnesi, rất thấp Titan, thấp nhôm và thấp
kiềm. Chúng rất giàu Ni, Cr, nghèo Cu và Co. Hàm lượng Rb, Ba,Nb,Th,U,Sr và REE
đều rất thấp và đặc điểm phân bố cảu REE thể hiện sự nghèo các nguyên tố dất hiếm nhẹ
hơn các nguyên tố nặng . Về cơ bản, đặc điểm địa hóa của phức hệ phù hợp với đặc điểm
địa hóa các đá siêu mafic trong các tổ hợp ophiolit.

-

Tuổi thành tạo: Paleozoi sớm.





×