BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Mã ngành: 62 62 03 01
TÊN NCS: HỒ MỸ HẠNH
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ KỸ THUẬT
SẢN XUẤT GIỐNG CÁ CHÀNH DỤC
Channa gachua (Hamilton, 1822)
Cần Thơ, 2017
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Người hướng dẫn chính: TS. Bùi Minh Tâm
Người hướng dẫn phụ: PGS.TS. Dương Thúy Yên
Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp
trường
Họp tại:
Vào lúc ….. giờ ….. ngày ….. tháng ….. năm …..
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Trung tâm Học liệu, Trường Đại học Cần Thơ.
Thư viện Quốc gia Việt Nam.
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
Tạp chí khoa học
1. Hồ Mỹ Hạnh và Bùi Minh Tâm, 2014. Đặc điểm sinh học
sinh sản của cá chành dục (Channa gachua Hamilton, 1822)
phân bố ở tỉnh Hậu Giang. Tạp chí Khoa học Đại học Cần
Thơ, Số chuyên đề thủy sản, số 1: 188-195.
2. Hồ Mỹ Hạnh và Bùi Minh Tâm, 2015. Đặc điểm hình thái
phân loại và định danh cá chành dục phân bố ở tỉnh Hậu
Giang. Tạp chí Khoa học- Đại học Cần Thơ. Phần B:Nông
nghiệp và Công nghệ sinh học, số 38: 27-34.
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Trong các loài cá nước ngọt, họ cá lóc Channidae (thuộc Bộ
Perciformes), được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm do
chúng có kích thước lớn, thịt ngon và sức sống cao. Nhiều loài đã được
nghiên cứu đầy đủ về đặc điểm sinh học, sản xuất giống và phát triển công
nghiệp nuôi quan trọng ở các nước trong khu vực như Việt Nam, Thái
Lan, Campuchia, Phillipines, Ấn Độ và Malaysia (Muntaziana et al.,
2013). Ở ĐBSCL họ cá lóc có 04 loài trong cùng một giống Channa, gồm
cá lóc đen Channa striata, cá lóc bông Channa micropeltes, cá dầy C.
lucius và cá chành dục Channa gachua (Trương Thủ Khoa và Trần Thị
Thu Hương, 1993; Trần Đắc Định và ctv., 2013). Trong đó, cá lóc đen và
cá lóc bông đã được nghiên cứu nhiều và phát triển nghề nuôi do chúng có
kích cỡ lớn và giá trị kinh tế cao (Nguyễn Huấn và Dương Nhựt Long,
2008). Gần đây, cá dầy cũng đã được nghiên cứu sinh học và sản xuất
giống (Tiền Hải Lý, 2016). Riêng loài cá chành dục do kích thước nhỏ nên
chưa được quan tâm, các nghiên cứu ban đầu mới chỉ dừng lại ở đặc điểm
hình thái phân loại và phân bố (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu
Hương, 1993; Nguyễn Văn Hảo và ctv., 2011; Trần Đắc Định và ctv.,
2013).
Cá chành dục là loài cá địa phương của đồng bằng Nam bộ Cá có
màu màu sắc đẹp ở vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi với nền màu xanh
(con đực), viền ngoài màu đỏ hồng hoặc đỏ cam. Màu sắc hấp dẫn của cá
chành dục đã được sự chú ý của thị trường cá cảnh, đặc biệt là thị trường
cá cảnh ngoài nước.
Như vậy, cá chành dục là đối tượng nuôi tiềm năng đáp ứng được
nhu cầu đa dạng hóa các loài vật nuôi và bảo vệ nguồn lợi tự nhiên các
loài cá bản địa. Để phát triển nghề nuôi cá chành dục, rất cần thiết phải có
những thông tin cơ bản về đặc điểm sinh học cũng như khả năng sản xuất
giống nhân tạo của loài cá này. Chính vì vậy, đề tài “Đặc điểm sinh học và
kỹ thuật sản xuất giống cá chành dục Channa gachua (Hamilton, 1822)”
được thực hiện.
1.2 Mục tiêu của nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu này nhằm cung cấp những cơ sở khoa học về đặc điểm
sinh học và một số yếu tố kỹ thuật trong sản xuất giống cá chành dục, góp
1
phần vào việc phát triển kỹ thuật sản xuất giống và nuôi đối tượng này
trong tương lai, đồng thời góp phần bảo vệ nguồn lợi loài cá bản địa thuộc
giống Channa ở ĐBSCL.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định các đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học sinh trưởng,
dinh dưỡng và sinh sản của cá chành dục làm cơ sở khoa học cho việc
phát triển kỹ thuật sản xuất giống và ương nuôi loài cá này.
Xác định loại và liều lượng chất kích thích sinh sản thích hợp trong
sinh sản nhân tạo cá chành dục và một số yếu tố kỹ thuật gồm mật độ và
loại thức ăn thích hợp trong ương nuôi cá chành dục giai đoạn từ cá mới
nở đến 30 ngày tuổi.
1.3 Nội dung nghiên cứu
(1) Nghiên cứu đặc điểm sinh học
- Hình thái và định danh cá chành dục
- Đặc điểm sinh học sinh trưởng, dinh dưỡng và sinh sản
(2) Kích thích sinh sản và ương nuôi cá bột
- Nuôi vỗ thành thục
- Kích thích sinh sản
- Ương cá bột chành dục ở các mật độ và thức ăn
1.4 Ý nghĩa của luận án
Luận án đã bổ sung những kiến thức cơ bản về đặc điểm hình thái,
sinh học dinh dưỡng và sinh học sinh sản của loài cá chành dục. Đồng
thời, luận án cũng xác định được một số yếu tố kỹ thuật cơ bản trong sản
xuất giống (loại và và liều lượng của hormone HCG và LHRHa dùng kích
thích sinh sản) và ương nuôi cá chành dục giai đoạn mới nở đến 30 ngày
tuổi (thức ăn, mật độ). Kết quả của nghiên cứu là cơ sở khoa học quan
trọng trong việc thuần hóa loài cá này và góp phần phát triển kỹ thuật sản
xuất giống và ương nuôi cá chành dục.
1.5 Điểm mới của luận án
Luận án cung cấp dữ liệu mới về đặc điểm hình thái và đặc điểm
gen cytochome b của cá chành dục, góp phần định danh chính xác loài cá
này.
Luận án xác định được đặc điểm cơ bản trong sinh học dinh dưỡng
và sinh học sinh sản của cá chành dục gồm: phổ dinh dưỡng (tép nhỏ, cá
con, giun, thân mềm,..), kích thước cá thành thục lần đầu (11,85 cm), sức
sinh sản tuyệt đối trung bình (1.709 trứng/cá thể) và mùa vụ sinh sản
(tháng 7-10).
2
Luận án xác định được một số yếu tố kỹ thuật quan trọng trong sản
xuất giống cá chành dục. Đó là, trong nuôi vỗ cá, nguồn thức ăn là tép
sông cho hiệu quả thành thục cao (GSI=2,88%); Phương pháp sinh sản tự
nhiên hoặc sử dụng kích thích tố HCG (với liều 2.000 IU cá đực và 500
IU cá cái) kết hợp với não thùy (5 não) cho hiệu quả sinh sản cao; Trong
giai đoạn ương cá từ mới nở đến 30 ngày tuổi, mật độ ương 5 con/L và
thức ăn sử dụng là moina kết hợp với trùn chỉ cho kết quả tăng trưởng và
tỉ lệ sống của cá tốt.
CHƯƠNG 2
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Thời gian
Đề tài được thực hiện từ năm 2012-2015
2.2.2 Địa điểm
Các thí nghiệm được tiến hành bố trí và phân tích tại các phòng thí
nghiệm, trại cá nước ngọt của trường Đại học Cần Thơ và Trường Cao
đẳng Kinh tế-Kỹ thuật Cần Thơ.
2.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái và cấu trúc di truyền
2.2.1 Định loại cá chành dục bằng phương pháp giải trình tự
gen ty thể (gen Cytochrome b)
Cá chành dục được định danh phân loại dựa trên phương pháp giải
trình tự gen Cytochrome b gồm các bước phân tích: tách chiết DNA
(phương pháp của Taggart et al. 1992, có chỉnh sửa và bổ sung), khuếch
đại gene PCR (sử dụng cặp mồi L14841 và H15149 (Kocher et al.,
1989)), giải trình tự theo phương pháp Sanger sequencing (máy ABI
3100).
Phương pháp phân tích số liệu Cytochrome b
Trình tự vùng gen Cytochrome b của cá chành dục được so sánh với
cơ sở dữ liệu Genbank, bằng chương trình BLAST
( />2.2.2 Khảo sát một số chỉ tiêu hình thái và chỉ số sinh trắc của
cá
Phương pháp thu và bảo quản mẫu
Mẫu cá chành dục được thu từ các nguồn thu gom của ngư dân, thu
định kỳ hàng tháng kéo dài trong 12 tháng. Mẫu cá đem về được cân, đo,
đếm dựa trên phương pháp của Pravdin (1973) cho nhóm họ cá chép
Cyprinidae kết hợp với quan sát trực tiếp.
3
Các chỉ số sinh trắc (Biometric index)
- Chiều dài chuẩn/ chiều dài đầu (Lo/T).
- Chiều dài chuẩn/ Chiều cao thân (Lo/H).
- Chiều dài chuẩn/ Chiều cao cuống đuôi (Lo/Hcđ)
- Chiều dài đầu/đường kính mắt (T/O)
- Chiều dài đầu/khoảng cách giữa 2 mắt (T/OO).
- Chiều dài đầu/chiều cao đầu (T/Hcđ).
2.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh dọc sinh trưởng, dinh dưỡng và
sinh sản
2.3.1 Phương pháp phân tích đặc điểm sinh trưởng
Mẫu cá phân tích đặc điểm sinh trưởng có chiều dài khoảng 6,216,5 cm (khối lượng tương ứng là 1,7-39,5 g/con). Phương trình tương
quan giữa chiều dài và khối lượng xác định theo công thức của King
(2007).
W = aLb
Trong đó,W: Khối toàn lượng thân (g);
L: Chiều dài tổng (cm).
a: Hệ số điều kiện.
b: Hệ số tăng trưởng.
Sử dụng phần mềm SPSS để ước lượng các thông số trung bình a, b và sai
số chuẩn của hệ số a và b
2.3.2 Đặc điểm dinh dưỡng
(1) Tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài thân RLG
Khảo sát ống tiêu hóa của 640 mẫu cá chành dục (chiều dài tổng từ
6,2-17,5 cm) thu ngoài tự nhiên, chỉ số tương quan giữa chiều dài ruột và
chiều dài thân (RLG - Relative Lengh of the Gut) được tính toán theo
công thức của Al-Hussainy (1949) như sau:
RLG = Li/ L
Trong đó: Li: Chiều dài ruột cá; L: Chiều dài tổng
(2) Phổ dinh dưỡng của cá chành dục tự nhiên
- Thu và cố định mẫu
Mẫu cá được thu hàng tháng có chiều dài từ 8,7-15,4 cm và khối
lượng từ 8,15-34,55 g được xử lý ngâm trong formol 5% và đem về phòng
thí nghiệm phân tích.
- Phương pháp phân tích phổ dinh dưỡng
Phổ dinh dưỡng của cá chành dục được ước lượng theo phương
pháp thể tích của Biswas (1993).
Phương pháp ước lượng bằng mắt (Eye estimation).
4
- Tập tính ăn
Xác định tính ăn của cá dựa vào tỉ lệ tương quan giữa chiều dài ruột
và chiều dài tổng. RLG (Al-Hussainy, 1949). Ngoài ra, tập tính ăn và phổ
dinh dưỡng cũng được xác định dựa vào hình thái của các cơ quan tiên
hóa và thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của cá.
2.3.3 Đặc điểm sinh học sinh sản
- Xác định độ béo Fulton (F), Clark (C) và yếu tố điều kiện (CF)
Độ béo Fulton, Clark và CF được phân theo giới tính và được tính
toán theo công thức của Bagenal and Tesch (1978) như sau:
Ðộ béo Fulton, F = 100xW/Lo3
Ðộ béo Clark, Cl = 100 xWo 100/Lo3
Yếu tố điều kiện (Condition factor, CF) CF = W/Lb
- Hệ số thành thục, GSI (Gonado Somatic Index)
Hệ số thành thục của cá được xác định theo Biswas (1993).
GSI (%) = 100 * Wg/ W
Trong đó, Wo: Khối lượng không nội quan (g)
Wg: Khối lượng tuyến sinh dục (g)
Lo: Chiều dài chuẩn (cm)
- Mùa vụ sinh sản
Mùa vụ sinh sản được xác định dựa trên sự thay đổi tỷ lệ cá thành
thục sinh dục, hệ số thành thục và hệ số điều kiện của cá trong năm.
Quan sát đặc điểm của tuyến sinh dục bằng mắt thường kết hợp với
tiêu bản mô học để xác định các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục
dựa theo thang bậc thành thục sinh dục cá của Nikolski (1963). Các tiêu
bản mô học tuyến sinh dục được thực hiện theo phương pháp mô học
chuẩn của Drury and Wallinton (1967) và Kiernan (1990)
- Sức sinh sản (fecundity), Bagenal and Tesch (1978):
Sức sinh sản tuyệt đối (Absolute fecundity, Fa)
Fa (số trứng/cá thể cái) = nG/g
Sức sinh sản tương đối (Relative fecundity, Fr)
Fr (số trứng/kg cá thể cái) = Fa/kg
Trong đó: G: là khối lượng buồng trứng (g);
g: Khối lượng mẫu trứng được lấy ra để đếm (g);
n: số trứng của mẫu được lấy ra để đếm (hạt)
- Xác định chiều dài thành thục (Lm, maturity length)
Chiều dài thành thục đầu tiên của cá chành dục được xác định theo
King (2007):
P= 1/{1+e-r*(L-Lm)}
5
Trong đó:
P: là tỉ lệ cá thành thục
L: là chiều dài trung bình của cá (cm)
Lm: là chiều dài thành thục ở 50% quần đàn cá (cm)
Phương pháp xử lý số liệu
Vẽ đồ thị biểu diễn giá trị chiều dài thành thục (Lm) của cá chành
dục được phân tích bằng phần mềm Stat (8.0).
2.4 Kích thích sinh sản và ương nuôi cá bột chành dục
2.4.1 Kỹ thuật sản xuất giống cá chành dục
2.4.1.1 Nuôi vỗ cá chành dục
Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm nuôi vỗ được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 4
nghiệm thức thức ăn, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần (Bảng 2.1). Cá chành
dục bố mẹ có chiều dài từ 98-122 mm, khối lượng 10,2-14,4g.
Bảng 2.1: Các nghiệm thức và thông số liên quan được bố trí trong thí
nghiệm
Nghiệm thức
Các chỉ tiêu
50% Cá tạp
50 % Tép
100%
100%
kỹ thuật
+ 50% TA sông + 50%
Cá tạp
Tép
viên
TA viên
Mật độ
50 con/m3
nuôi vỗ
Khẩu phần
Theo nhu cầu
ăn
Tỉ lệ
1:1
đực:cái
Số lần
2 lần/ngày vào lúc 8 giờ sáng và 16 giờ chiều
cho ăn
2.4.1.2 Kích thích cá chành dục sinh sản bằng HCG, não thùy
LHRH-a + Dom
Các thí nghiệm kích thích sinh sản cá chành dục được dựa trên các
kết quả sinh sản trên cá lóc C. striatus và C. micropeltes của Bùi Minh
Tâm và ctv. (2008), Paray et al. (2014).
Các thí nghiệm được bố trí với 3 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức,
12 cặp cá/nghiệm thức. Trước khi bố trí sinh sản, kiểm tra mức độ thành
thục của cá cái và cá đực đạt cuối giai đoạn IV.
6
Thí nghiệm 1: Sử dụng HCG đơn với 2 liều tiêm 1.000 và 1.500
IU/kg cho cả cá cái và cá đực. Cá đực và cá cái chỉ tiêm 1 lần.
Thí nghiệm 2: Sử dụng HCG kết hợp với 5 mg não thùy với 4 mức
liều tiêm 500 IU, 1.000 IU, 1.500 IU, và 2.000 IU/kg cá đực và 500 IU/kg
cho cá cái. Cá đực được tiêm 2 lần, lần đầu bằng 1/3 tổng liều, lần sau
cách lần tiêm đầu 12 giờ. Cá cái chỉ tiêm 1 lần và tiêm cùng thời điểm với
tiêm lần sau của cá đực.
Thí nghiệm 3: Sử dụng LHRHa + DOM với 3 mức liều tiêm 60μg,
80 μg và 100 μg/kg cá đực và 50 µg/kg + 1 mg não cho 1 kg cá cái. Cá
đực được tiêm 2 lần, lần đầu bằng 1/3 tổng liều, lần sau cách lần tiêm đầu
12 giờ. Cá cái chỉ tiêm 1 lần và tiêm cùng thời điểm với tiêm lần sau của
cá đực.
Phương pháp thu và đánh giá các chỉ tiêu sinh sản
Sau khi cá đẻ, trứng được thu và chuyển sang bể ấp. Trứng của từng
cặp cá bố mẹ được bố trí ấp riêng trong bể kính có sục khí nhẹ. Các chỉ
tiêu đánh giá kết quả sinh sản theo phương pháp thông thường.
Thời gian hiệu ứng
Tỉ lệ cá đẻ (%)
Sức sinh sản thực tế (số trứng thu/cá thể)
Tỉ lệ thụ tinh (%)
Tỉ lệ nở (%)
Tỉ lệ cá dị hình (%)
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu lựa chọn thức ăn của cá bột
chành dục
Bố trí thí nghiệm
Cá bột chành dục mới nở (số lượng 1.000 con) được bố trí ương
trong bể lót bạt có diện tích 4m2, mực nước 50 cm, có lót bùn đáy 10 cm
và bể được sục khí liên tục. Nguồn thức ăn cung cấp cho cá bột là các loại
thức ăn tự nhiên được gây nuôi bằng bột cá và bột đậu nành với tỷ lệ 3:1
với lượng 50g lần đầu, sau đó định kỳ mỗi tuần dùng 20g hỗn hợp trên.
Mẫu phiêu sinh vật, động vật thủy sinh và mẫu cá được thu vào các
ngày 2, 3, 4, 5, 6, 7, 10, 15, 20, 25, 30 tuổi. Đối với cá, thu 20 con vào các
thời điểm trên và được bảo quản trong dung dịch formol 5%. Mẫu nước để
phân tích định tính và định lượng phiêu sinh vật được giữ trong chai nhựa
02 lít và đươc cố định bằng dung dịch formol 2-5%.
Phương pháp xác định RLG
RLG là tỷ lệ giữa chiều dài ruột trên chiều dài thân, được tính theo
công thức của Al - Hussainy (1949).
7
Phương pháp xác định độ mở miệng cá bột
Độ mở miệng của cá được xác định theo Shirota (1970):
Trong đó, MH: độ mở miệng cá (mm);
AB: Chiều dài hàm trên (mm
Phương pháp phân tích thành phần phiêu sinh vật trong bể
ương
+ Phương pháp phân tích định tính phiêu sinh vật
mẫu được xem trên kính hiển vi ở vật kính 10X, 40X để xác định giống,
loài phiêu sinh thực và động vật theo tài liệu phân loại của Shirota (1966),
Đặng Ngọc Thanh và ctv. (1980).
+ Phương pháp phân tích định lượng phiêu sinh vật
Khuấy đều mẫu cô đặc, dùng pipet hút lấy 1 ml dung dịch mẫu trải
đều vào buồng đếm Sedgewick Rafter để định lượng phiêu sinh vật bằng
phương pháp phân tích của Boyd and Tucker (1992). Trên một mẫu đếm
60 ô và đếm 3 vị trí khác nhau của buồng đếm. Số lượng phiêu sinh vật
được đếm theo từng nhóm ngành trên kính hiển vi ở vật kính 10X và được
tính theo công thức sau:
T x 1000 x Vcđ x
X (cá thể/lít) 103
=
A x N x Vthu
Trong đó, X: Mật độ của phiêu sinh thực vật (cá thể/lít)
T: Số cá thể đếm được theo từng nhóm ngành
A: Diện tích 01 ô đếm (1mm2);
N: Số ô đếm (10 ô);
Vcđ: Thể tích cô đặc (ml);
Vthu: Thể tích thu mẫu (ml);
Phương pháp phân tích thức ăn trong ống tiêu hóa cá bột
Thức ăn trong ruột cá bột được xác định bằng phương pháp tần số
xuất hiện thức ăn (Hyne, 1950).
Phương pháp phân tích chỉ số lựa chọn thức ăn của cá (E)
E= (ri-pi)/(ri+pi)
Trong đó,
- ri là phần trăm loại thức ăn i được tìm thấy trong ruột cá tính trên
tổng số loại thức ăn có trong ruột cá
8
-pi là phần trăm loại thức ăn tương ứng được tìm thấy trong môi
trường trên tổng số loại thức ăn có trong môi trường
2.4.3 Uơng cá chành dục với các loại thức ăn và mật độ khác
nhau
Thí nghiệm 1: Đánh giá chất lượng cá bột từ nguồn cá bố mẹ tự
nhiên và nuôi vỗ
Nguồn cá thí nghiệm: cá bột chành dục sử dụng trong thí nghiệm
được cho sinh sản từ 2 nguồn cá bố mẹ (cá bố mẹ tự nhiên (NT1-1) và cá
bố mẹ nuôi vỗ thành thục (NT1-2).
Cá bột cá chành dục 2 ngày sau khi nở được bố trí ương trong thùng
có thể tích 0,4x0,6x0,6 m, mức nước 30 cm, số lượng 100 con/thùng (1
con/L). Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên và mỗi nghiệm thức
được lặp lại 3 lần. Thức ăn sử dụng ương cá được dựa trên Amornsakun et
al., (1997, 1998a, 2003a và 2011) và cho cá ăn theo nhu cầu như sau:
7 ngày đầu: Moina
8-20 ngày tiếp theo: trùn chỉ
21-28 ngày: tép sông
Thí nghiệm 2: Ương cá chành dục với 3 mật độ 3 con/L, 5
con/L và 7 con/L
Nguồn cá thí nghiệm: cá bột chành dục được cho sinh sản từ
đề tài
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm
thức mật độ ương: (NT2-1) 3 con/L, (NT2-2) 5 con/L và (NT2-3) 7
con/L trên thùng xốp 20 lít. Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần.
Thời gian ương là 28 ngày. Hệ thống thí nghiệm được đặt ngoài trời
có che lưới lan. Thức ăn dùng trong thí nghiệm giống nhau cho các
nghiệm thức, qui trình cho ăn tương tự như thí nghiệm 1.
Thí nghiệm 3: Thử nghiệm ương cá chành dục với các loại thức
ăn khác nhau trong giai đoạn cá bột.
Cá bột chành dục sau khi tiêu hết noãn hoàng được bố trí ngẫu
nhiên vào thùng xốp 20 L với mật độ 5 con/L (kết quả thí nghiệm 2) ương
trong thời gian 28 ngày. Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức thức ăn với 3 lần
lặp lại (Bảng 3.3).
Bảng 3.3: Cách bố trí thí nghiệm
Thời gian ương
Nghiệm
thức
7 ngày đầu
8 -10 ngày
11-14 ngày
15-28 ngày
thức ăn
9
Trùn chỉ
(NT3-1)
Tép
(NT3-2)
TACN
(NT3-3)
100%
Moina
100%
Moina
100%
Moina
70% Moina
30% trùn chỉ
70% Moina
30% tép
70% Moina
30% TACN
100% trùn
chỉ
75% tép
25% Moina
75%TACN
25% Moina
100% trùn
chỉ
100% tép
100%
TACN
Phương pháp phân tích các chỉ tiêu thí nghiệm
Tỉ lệ sống (TLS)
TLS (%)= 100 x (số cá kết thúc thí nghiệm/số cá thả)
Các chỉ tiêu tăng trưởng
Mẫu cá được thu ngẫu nhiên hàng tuần với 20 con /bể để đo chiều
dài (mm), cân khối lượng (mg), ghi nhận số cá chết và sự phân hóa sinh
trưởng của cá lúc kết thúc thí nghiệm. Mẫu cá sau khi cân và đo được thả
lại thí nghiệm.
2.4 Xử lý số liệu
Số liệu được tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn. Sự khác biệt giá
trị trung bình giữa các nghiệm thức được kiểm tra bằng phân tích
ANOVA một nhân tố và phép thử DUNCAN ở mức ý nghĩa 0,05. Xử lý
thống kê bằng phần mềm SPSS 22.0.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm hình thái và cấu trúc di truyền
3.1.1 Định loại cá chành dục bằng phương pháp ty thể
Đoạn gen Cytochrome b của các mẫu cá chành dục thu ở tỉnh Hậu
Giang được giải trình tự có độ dài 340 bp. Thành phần 4 loại nuclecotide
của đoạn gen này gồm có T chiếm 34,1%, C 24,4%, A 23,8% và G chiếm
17,6%. So sánh mức độ tương đồng với trình tự của cùng loài (thu ở nhiều
nước khác nhau) đã công bố trong Ngân hàng gen cho thấy, cá chành dục
trong nghiên cứu có trình tự tương đồng cao nhất 97% (trong số 306
nucleotide) so với mẫu cá chành dục (Channa gachua) thu ở Sri Lanka
với số truy cập là Z30268.1 (Hình 3.1).
10
Hình 3.1: Kết quả so sánh gen cytochrome b của cá chành dục ở Hậu Giang với
mẫu cùng loài trên cơ sở dữ liệu Ngân hàng gen
3.1.2 Đặc điểm hình thái và chỉ tiêu sinh trắc
Kết quả khảo sát 226 mẫu cá cho thấy, cá chành dục là loài cá có
kích thước nhỏ, chiều dài tổng dao động từ 6,2 – 15,7 cm. Cơ thể cá có
dạng thon dài. Với vảy quanh cuống đuôi dao động từ 12-14 vảy, vảy
trước vây lưng khoảng 11-13 vảy và vảy đường bên là: 40 41 3 43 45 .
67
Toàn thân phủ vẩy lược to. Số tia vi được trình bày qua Bảng 3.1
Bảng 3.1: Các chỉ tiêu hình thái của cá chành dục (n=226)
Chỉ tiêu hình thái
Số tia vây lưng
Số tia vây ngực
Số tia vây bụng
Số tia vây hậu môn
Chỉ tiêu sinh trắc
Lo/T
Lo/H
T/O
T/OO
Lo/Hcđ
T/Hđ
Nhỏ nhất
32
12
5
21
Lớn nhất
35
13
5
23
Trung bình
33,0±1,0
12,0±0,0
5,0±0,0
22,0±1,0
1,94
4,27
3,6
1,80
3,75
1,29
5,61
10,13
9,33
4,20
17,6
3,86
3,37±0,44
6,42±1,14
6,24±1,22
2,89±0,47
10,18±1,78
2,4±0,39
3.2 Đặc điểm sinh trưởng của cá chành dục
Sự tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân cá chành
dục thể hiện qua phương trình: W = 0,0069 x L3,1082 (Hình 3.2).
11
Hình 3.2: Tương quan chiều dài và khối lượng thân của cá
Phương trình hồi qui với giá trị số mũ b=3,1082 (>3), chứng tỏ
tương quan giữa sự tăng trưởng về khối lượng và chiều dài của cá chành
dục thuộc nhóm tăng trưởng không đồng đều dương (positive allometric
growth), khối lượng cơ thể tăng nhanh hơn chiều dài cơ thể cá.
3.3 Đặc điểm dinh dưỡng của cá chành dục
3.3.1 Hình thái các cơ quan thuộc hệ tiêu hóa của cá
Cá chành dục có răng phân bố trên 2 hàm, răng nhỏ, nhọn và sắc,
không có răng nanh. Thực quản của cá ngắn, to và rộng. Dạ dày hình chữ
U, Manh tràng có dạng hình ống và một đầu bịt kín. Ruột cá ngắn, gấp
khúc và có vách dày.
Hình 3.3: Ống tiêu hóa của cá chành dục
3.3.2 Tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài thân
Cá chành dục có chỉ số RLG trung bình là 0,38±0,08 (Bảng 3.2)
(khoảng dao động 0,20-0,64). Như vậy, với chỉ số RLG (<1) và các đặc
điểm hình thái của ống tiêu hóa (mục 3.3.1) chứng tỏ cá chành dục thuộc
nhóm cá ăn động vật.
12
Bảng 3.2: Chiều dài ruột, chiều dài tổng và RLG của cá chành dục
(n=640)
Các chỉ tiêu
Chiều dài tổng (L, cm)
Chiều dài ruột (Li, cm)
RLG (Li/L)
Trung
bình+std
12,78±1,45
4,87±1,00
0,38±0,08
Tối
thiểu
8,9
2,5
0,2
Tối đa
17,8
7,7
0,64
3.3.3 Phổ dinh dưỡng của cá chành dục tự nhiên
Thành phần thức ăn hiện diện trong ống tiêu hóa của cá chành
dục
Thành phần và tần số xuất hiện của từng thức ăn hiện diện trong
ống tiêu hóa của cá chành dục gồm: tép nhỏ (33,23%), cá con (22,81%),
giun nhiều tơ (15,52%), thân mềm (8,55%), mảnh vụn hữu cơ (8,95%),
giáp xác (6,21%) và côn trùng (4,73%).
Phần trăm các loại thức ăn theo thể tích trong ống tiêu hóa của
cá chành dục
Kết quả phân tích phổ dinh dưỡng của cá chành dục gồm tép nhỏ,
cá con, động vật thân mềm và giun nhiều tơ (Bảng 3.3). Kết quả này hoàn
toàn phù hợp với kết quả của Bhuiyan and Rahman (1982), Rao et al.
(1998) trên cùng loài.
Bảng 3.3: Phổ dinh dưỡng của cá chành dục theo phương pháp thể
tích của Biswas (1993)
TT
1
2
3
4
5
6
7
Loại thức ăn
Giun nhiều tơ
Mảnh vụn hữu cơ
Thân mềm
Giáp xác
Côn trùng
Cá con
Tép nhỏ
% thể tích
3,38
7,02
9,21
12,15
18,35
21,45
29,04
3.4 Đặc điểm sinh học sinh sản của cá chành dục
3.4.1 Phân biệt cá đực và cá cái
Cá đực và cá cái chành dục có những đặc điểm khác nhau. Cá cái
bụng to và mềm. Cá đực thường có kích cỡ nhỏ hơn, bụng thon dài, màu
sắc thân thường đen sẫm hơn con cái; phần rìa vây lưng, vây bụng và vây
đuôi có màu đỏ sẫm, rất sặc sỡ; tỷ lệ giữa chiều dài đầu và chiều cao đầu
cao hơn có ý nghĩa so với cá cái.
13
Hình 3.4: Màu sắc vây lưng và vây đuôi của cá chành dục đực (A) và cái (B);
Hình dạng đầu của cá chành dục đực và cái (C)
3.4.2 Quá trình phát triển tuyến sinh dục của cá
3.4.2.1 Đặc điểm buồng trứng cá chành dục
Hình 3.5: A: Mô học tế bào buồng trứng giai đoạn 1, B: Hình thái buồng
trứng cá giai đoạn 1
Hình 3.6: A: mô học tế bào buồng trứng giai đoạn 2, N: Nhân, YG: noãn
hoàng; B: Hình thái buồng trứng cá giai đoạn 2
14
Hình 3.7: A Mô học tế bào buồng trứng giai đoạn 3, N: Nhân, YG: noãn
hoàng (H&E10X); B:Hình thái buồng trứng cá giai đoạn 3
Hình 3.8: A: Mô học tế bào buồng trứng giai đoạn 4 N: Nhân, YG: noãn
hoàng(H&E10X); B: Hình thái buồng trứng cá giai đoạn 4
3.4.2.2 Đặc điểm buồng tinh cá chành dục
Hình 3.9: A: Mô học tế bào buồng tinh cá giai đoạn 3, SC: tinh bào, ST:
tinh tử ; B: Hình thái buồng tinh cá giai đoạn 3
3.4.3 Hệ số thành thục (GSI)
Kết quả khảo sát trên 148 mẫu cá chành dục, cho thấy cá đực có
buồng tinh rất mỏng, nhỏ (<0,01 mg) nên đề tài không ghi nhận được (sử
dụng cân hai số lẻ).
GSI của cá chành dục cái có sự biến động lớn giữa các tháng trong
năm (Hình 3.9). Giá trị GSI bắt đầu thấp từ tháng 12 đến tháng 4 (0,59 -1
%), sau đó tăng vào tháng 5 và cao nhất là tháng 7 (2,61 %). Trong
15
khoảng thời gian tháng 11, 12 và từ tháng 1 đến tháng 4, hệ số thành thục
của cá giảm thấp và đạt thấp nhất là tháng 1 (0,48 %).
3.4.4 Độ béo Fulton, Clark và nhân tố điều kiện
Giá trị độ béo Fulton và Clark cùng với nhân tố điều kiện (CF) của
cá chành dục cái biến động không lớn qua các tháng. Trong đó, độ béo
Fulton biến động trong khoảng từ 1,69 - 1,94%; độ béo Clark ở
khoảng 1,59-1,77% (Hình 3.10), CF biến động trong khoảng 0,006-0,008.
3.4.5 Mùa vụ sinh sản
Kết quả về độ béo Fulton và Clark (cao ở tháng 2, 6 và tháng 10)
cùng với hệ số thành thục (GSI cao từ tháng 6-10 chứng tỏ mùa vụ sinh
sản của cá chành dục từ tháng 6-10.
Hình 3.10: Biến động hệ số thành thục và độ béo của cá chành dục
cái qua các tháng (n=94)
3.4.6 Chiều dài thành thục đầu tiên
Chiều dài thành thục trung bình đầu tiên của cá chành dục cái là
11,85 cm (n=94). Tỷ lệ thành thục ở cá cái có mối tương quan với chiều
dài (R=0,496).
3.4.7. Sức sinh sản tuyệt đối (SSS tuyệt đối)
Sức sinh sản của chành dục (Bảng 3.4) có sự biến động giữa các
nhóm khối lượng cá. Tuy nhiên, sức sinh sản tuyệt đối tương quan chặt
chẽ giữa với khối lượng và chiều dài thân cá được thể hiện phương trình
hồi qui F=19,608W1,4477 (R2 = 0,88) và F=1,4542L2,7086 (R2 = 0,85).
Bảng 3.4: Sức sinh sản (SSS) tuyệt đối và sức sinh sản tương đối
của cá chành dục
SSS
SSS tuyệt đối
Thấp
nhất
650
Cao nhất
3.250
16
Trung
bình
1.709
Độ lệch
chuẩn
868
(trứng/cá thể)
SSS tương đối
(trứng/kg)
47.549
87.837
77.011
16.676
3.5 Nuôi vỗ thành thục cá chành dục
3.5.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình nuôi vỗ thành thục
Nhiệt độ và pH nước trong thời gian nuôi vỗ thành thục cá chành
dục trung bình 27,5oC±0,7oC vào buổi sáng và 30,5oC±0,9oC vào buổi
chiều và pH là 7,6±0,2.
3.5.2 Nuôi vỗ thành thục cá bằng các loại thức ăn khác nhau
Hệ số thành thục của cá ở tất cả các nghiệm thức thức ăn đều tăng
qua 4 tháng nuôi vỗ (Bảng 3.5). Từ tháng nuôi thứ 3, hệ số thành thục của
cá tăng lên rõ rệt ở các nghiệm thức. Đến tháng nuôi vỗ thứ 4, hệ số thành
thục của cá đạt cao nhất ở nghiệm thức tép sông (2,88%) và khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p<0,05) so với các nghiệm thức thức ăn còn lại.
Bảng 3.5: Biến động hệ số thành thục của cá cái qua các tháng nuôi
vỗ
Nghiệm
thức
GSI qua các tháng nuôi vỗ
1
2
3
4
1
0,90±0,10b
1,16±0,14b
1,11±0,03a
2,3±0,48bc
2
1,60±0,35c
1,61±0,3c
2,14±0,01c
2,88±0,29c
3
0,42±0,05a
0,79±0,2a
1,09±0,05a
1,44±0,13a
4
1,42±0,49c
1,53±0,02c
1,90±0,06b
1,95±0,10ab
Các số liệu trong cùng một cột có chữ cái giống nhau thể hiện sự khác biệt
không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
3.6 Kích thích cá chành dục sinh sản bằng HCG, não thùy và
LHRHa+DOM
3.6.1 Kích thích cá chành dục sinh sản bằng HCG
Ở điều kiện nhiệt độ nước từ 26,5-28,7oC và pH 7,5 - 8,2, các
nghiệm thức thử nghiệm kích thích tố HCG đều gây chín và rụng trứng ở
tất cả các liều lượng (Bảng 3.6).
Thời gian hiệu ứng của nghiệm thức tiêm 1.500 IU/kg cho cá đực
và cái là thấp nhất (37,5 giờ) và không khác biệt (p>0,05) so với các
nghiệm thức liều tiêm khác.
Bảng 3.6: Hiệu quả kích thích sinh sản cá chành dục bằng HCG (n=36 cặp)
17
Liều lượng tiêm HCG (IU)
cá đực-cá cái
10001500-1500
1000
Chỉ tiêu
Đối chứng
Thời gian hiệu ứng
39,1±0,76 a
37,6±1,15 a
(giờ)
33,3±14,4 a
33,3±14,4 a
100,0±0,0 b
Tỷ lệ cá đẻ (%)
SSS thực tế (trứng/cá
417±5,2 a
419±1,15 a
446±27,0 b
thể)
95,3±1,44 a
83,0±17,0 a
96,2±2,4 a
Tỷ lệ thụ tinh (%)
a
a
36,1±0,16
34,8±1,22
58,7±7,6 b
Tỷ lệ trứng nở (%)
a
a
3,6±2,32
3,8±0,24
0,6±0,4 b
Tỷ lệ cá dị hình (%)
Các số liệu trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thể hiện sự khác
biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Tỷ lệ cá đẻ tương đồng nhau ở cá hai liều tiêm, trung bình khoảng
33,3%. Giá trị này thấp hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với nghiệm
thức không tiêm kích thích tố (100%). Sức sinh sản thực tế của cá chành
dục không khác nhau nhiều giữa các nghiệm thức kích thích tố, nhưng
thấp hơn có ý nghĩa (p<0,05) so với nghiệm thức đối chứng. Tỷ lệ trứng
thụ tinh cả 2 nghiệm thức liều tiêm và đối chứng đều đạt cao, dao động
trong khoảng 94,0-96,2 % và khác biệt không có nghĩa (p>0,05). Tương
tự, tỷ lệ trứng nở ở 2 nghiệm thức liều tiêm HCG đạt tương đương nhau
và đều thấp hơn có ý nghĩa (p<0,05) so với nghiệm thức đối chứng.
3.6.2 Kích thích sinh sản cá chành dục bằng HCG kết hợp não
thùy
ở điều kiện nhiệt độ nước từ 26,5-26,8oC và pH khoảng 7,5-8,2, các
nghiệm thức ở các liều tiêm khác nhau đều gây chín và rụng trứng. Hiệu
quả kích thích sinh sản cá chành dục bằng HCG kết hợp não thùy được
tổng hợp qua Bảng 3.7.
Bảng 3.7: Hiệu quả kích thích sinh sản cá bằng HCG kết hợp não
thùy (n=60 cặp)
Chỉ tiêu
Thời gian
hiệu ứng
(giờ)
Tỷ lệ cá đẻ
(%)
Liều lượng tiêm HCG (IU)+5 não thùy
cá đực-cá cái
500-500
1000-500
1500-500
2000-500
43,6±2,9 a
42,6±2,5 a
41,3±1,6 a
44,3±2,7 a
41,7±14,4 a
41,7±14,4 a
50,0±0,0 ab
66,7±14,4 b
18
Đối chứng
91,7±14,4 c
SSS thực tế
(trứng/cá
448±8,4 a
455±1,9 a
462±6,9 a 502±16,0 b 472±86,8 a
thể)
Tỷ lệ thụ
94,7±1,7 a 96,9±1,7 ab
97,5±0,5 b
97,8±1,3 b
90,2±4,9 a
tinh (%)
Tỷ lệ nở
35,4±1,3 a
39,6±1,9 a
38,6±2,0 a
52,2±7,4 b 61,6±13,5 c
(%)
Tỷ lệ cá
2,9±0,3 c
3,0±0,5 c
2,5±0,4 c
1,7±0,2 b
0,6±0,2 a
dị hình (%)
Các số liệu trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thể hiện sự khác
biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Trong thí nghiệm này, thời gian hiệu ứng dao động 41,3-44,4 giờ và
khác biệt không ý nghĩa (p>0,05) giữa các nghiệm thức tiêm liều khác
nhau. Tỷ lệ cá đẻ được tăng dần theo liều lượng tiêm cho cá đực và cao
nhất ở nghiệm thức cá đực nhận 2.000 IU/kg và khác biệt (p<0,05) so với
nghiệm thức cá đực được tiêm 500 và 1.000 IU/kg, tuy nhiên tỷ lệ cá đẻ
vẫn thấp hơn so với nghiệm thức đối chứng..
Sức sinh sản thực tế của cá cao nhất ở nghiệm thức liều tiêm HCG
2.000 IU/kg cá đực (502 trứng/cá thể) nhưng không có sự khác biệt thống
kê với nghiệm thức khác. Tương tự, tỷ lệ trứng thụ tinh, tỷ lệ nở ở
nghiệm thức này cao và cũng không có sự khác biệt (p>0,05). Tỷ lệ dị
hình của cá bột ở các nghiệm thức đều thấp, từ 0,6% (nghiệm thức đối
chứng) đến 3% ở nghiệm thức 1000 IU/kg cá đực (P<0,05) .
3.6.3 Kích thích sinh sản cá chành dục bằng LHRHa+Domperidone
Ở điều kiện nhiệt độ nước từ 25,5-28,1oC và pH khoảng 7,5-7,8,
các nghiệm thức ở các liều tiêm khác nhau đều có hiệu quả kích thích cá
sinh sản (Bảng 3.8).
Thời gian hiệu ứng dao động trong khoảng 37,3-39,7 giờ. Tỷ lệ cá
đẻ ở các nghiệm thức liều tiêm LHRH-a + Dom từ 33,3 - 41,7% và khác
biệt không ý nghĩa. Trong đó, cao nhất ở nghiệm thức cá đẻ tự nhiên
(83,3 %) và khác biệt có ý nghĩa (p<0,05) so với các nghiệm thức tiêm.
Sức sinh sản thực tế của cá chành dục đạt cao nhất ở nghiệm thức liều
tiêm LHRH-a 100 µg/kg cho cá đực (405 trứng/cá thể) và giữa chúng
khác biệt không ý nghĩa (p>0,05), tuy nhiên vẫn thấp hơn có ý nghĩa
nghiệm thức không tiêm (466 trứng).
Bảng 3.8: Hiệu quả kích thích sinh sản cá bằng LHRH-a+Dom (n=48 cặp)
Chỉ tiêu
Liều lượng tiêm LHRH-a (µg) cá đực-cá
cái
19
Đối chứng
60-50
80-50
100-50
Thời gian
hiệu ứng
39,6±4,7 a
39,3±3,0 a
37,3±1,1 a
(giờ)
Tỷ lệ cá đẻ
33,3±14,4 a
33,3±14,4 a
41,7±14,4 a 83,3±14,4 b
(%)
SSS thực tế
372±19,4b
336±15,2 a
407±13,6 c 466±74,6 c
(trứng/cá thể)
Tỷ lệ thụ tinh
90,0±4,2 a
88,1±5,6 a
89,2±4,3 a
87,2±5,7 a
(%)
Tỷ lệ trứng
85,1±3,7 b
84,8±3,3 b
87,2±3,2 b
64,1±9,2 a
nở (%)
Tỷ lệ cá
1,9±0,3 bc
2,0±0,1 c
1,4±0,4 b
0,8±0,6 a
dị hình (%)
Các số liệu trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thể hiện sự khác
biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Tỷ lệ trứng thụ tinh ở các nghiệm thức liều tiêm LHRH-a cao, dao
động từ 86,8-90,1% và khác biệt không ý nghĩa (p>0,05). Tỷ lệ trứng nở ở
các nghiệm thức liều tiêm tương đương nhau, dao động trong khoảng
84,9-88,1 % và cao hơn ý nghĩa so với nghiệm thức đối chứng. Tương tự,
tỷ lệ dị hình của cá con thấp, thấp nhất ở nghiệm thức không tiêm (0,8%)
và khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức liều tiêm LHRH-a+Dom.
3.7 Đặc điểm dinh dưỡng của cá bột
3.7.1 Tỷ lệ chiều dài ruột và chiều dài thân của cá
Kết quả phân tích cho thấy ống tiêu hóa của cá chành dục giai đoạn
cá bột lên cá hương luôn ngắn hơn chiều dài cơ thể, RGL dao động trong
khoảng 0,31-0,43. Như vậy, giai đoạn cá bột lên cá hương cá ăn động vật.
3.7.2 Sự biến đổi kích thước miệng cá
Sự biến đổi cỡ miệng và chiều dài của cá chành dục có mối tương
quan thuận. Bên cạnh đó, độ mở miệng của cá con có sự gia tăng đáng kể
theo sự phát triển của cơ thể. Theo đó, ở ngày tuổi thứ 2, độ mở miệng của
cá chỉ đạt 0,36 mm nhưng đến 30 ngày tuổi, độ mở miệng là 3,6mm. Từ
kết quả khảo sát độ mở miệng và giá trị RLG cho thấy, cá chành dục con
khi bắt đầu ăn thức ăn ngoài có tập tính ăn động vật nhỏ, điển hình là
động vật phiêu sinh.
3.7.3 Thành phần động vật phiêu sinh trong môi trường nước
ương
Thành phần động vật phiêu sinh phân bố trong môi trường nước bể
ương khá đa dạng và phong phú. Qua kết quả phân tích mẫu nước cho
20
thấy, phiêu sinh động vật có 4 ngành với 21 loài: Protozoa (5 loài),
Rotatoria (8 loài), Cladocera (6 loài); Copepod (3 loài).
3.7.4 Thành phần phiêu sinh trong ruột cá
Ở cá 2, 3 ngày tuổi, thức ăn chiếm tỷ lệ cao là nhóm luân trùng
Rotatoria (Brachionus angularis và Brachionus sp,) 70 %, tiếp đến là
Protozoa với tần số xuất hiện là 20% và Naupli của Copepod 10 %.
Giai đoạn 5 ngày tuổi, nhóm Rotatoria trong ống tiêu hóa của cá
vẫn chiếm tỷ lệ cao (48 %) nhưng bắt đầu giảm và thay vào đó là nhóm
Cladocera xuất hiện với tỷ lệ tăng dần (19 %), nhóm Protozoa giảm dần
cho đến cá đạt 30 ngày tuổi.
Sau 15 ngày tuổi, nhóm Protozoa và Copepod có tần số xuất hiện
thấp nhất, lần lượt là 6% và 7%. Trong khi đó, nhóm Cladocera gia tăng
tần số xuất hiện, lên đến 63-64% ở ngày tuổi thứ 20. Ưu thế là 2 giống
Moina và Daphnia có tần số xuất hiện khá cao, lần lượt chiếm 22% và
20%. Song song đó, ngành Rotatoria đã giảm tần số xuất hiện đáng kể, chỉ
còn 24%, trong đó, loài Polyarthra sp. chiếm tỷ lệ thấp nhất (7%).
3.7.5 Hệ số lựa chọn thức ăn
Khi bắt đầu ăn ngoài thì cá chành dục thể hiện sự lựa chọn thức ăn
rõ rệt, cá ăn chủ yếu Filinia, Brachionus và Nauplii với hệ số lựa chọn
thức ăn lần lượt là 0,54, 0,45 và 0,43, sau đó sự lựa chọn cá đối với nhóm
này giảm ở ngày tuổi thứ 10 (0,17 và 0,14).
Giai đoạn 7 ngày tuổi, lúc này độ mở miệng của cá là 1,26 mm, cá
bắt đầu khuynh hướng chọn lựa những động vật phiêu sinh có kích thước
lớn hơn, thể hiện Diaphanosoma, Moina, Daphnia với hệ số lựa chọn (E)
lần lượt là 0,43, 0,26 và 0,20.
Giai đoạn 15-30 ngày tuổi, khi cá đã phát triển đầy đủ các cơ quan
và kích cỡ miệng dao động từ 2,06-3,6 mm, cá chành dục có sự chọn lựa
tập trung vào nhóm động vật phiêu sinh ngành Cladocera với chỉ số E dao
động từ dao động từ 0,21-0,46, Moina E: 0,21-0,42, Daphnia E: 0,250,46.
3.8 Ương cá bột lên cá hương 30 ngày tuổi
3.8.1 Ương cá chành dục từ nguồn cá bố mẹ tự nhiên và nuôi vỗ
Sau 28 ngày ương, sự tăng trưởng về chiều dài và khối lượng, tỷ lệ
sống của cá được trình bày qua Bảng 3.9 và 3.10.
Bảng 3.9: Tăng trưởng của cá sau 28 ngày ương
Nghiệm thức
Chiều dài đầu (mm)
Chiều dài cuối (mm)
NT1-1
6,14±0,08
45,2±3,13a
21
NT1-2
6,31±0,08
47,3±0,45a