VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC
HỘILÂM
VIỆT NAM
VIỆNXÃ
HÀN
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ MINH HOÀNG
ĐỖ MINH HOÀNG
PHẠM
NHIỀU
THEO
LUẬT
SỰ
PHẠM
NHIỀU
TỘITỘI
THEO
PHÁP PHÁP
LUẬT HÌNH
SỰHÌNH
VIỆT NAM
TỪ THỰC
TIỄN
MỸ, THÀNH
PHỐ HÀMỸ,
NỘI
VIỆT
NAM
TỪHUYỆN
THỰCCHƢƠNG
TIỄN HUYỆN
CHƢƠNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số:60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. HỒ SỸ SƠN
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2017
HÀ NỘI, 2017
VIỆN HÀN LÂM
VIỆNXÃ
HÀN
LÂM
KHOA HỌC
HỘI
VIỆT NAM
HỌC
VIỆN
HỌC
XÃ
HỘI
KHOA
HỌCKHOA
XÃ HỘI
VIỆT
NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ MINH HOÀNG
ĐỖ MINH HOÀNG
PHẠM
NHIỀU
THEO
PHÁPHÌNH
LUẬT
SỰ
PHẠM
NHIỀU
TỘI TỘI
THEO
PHÁP LUẬT
SỰ HÌNH
VIỆT NAM
TỪ
THỰC
TIỄN
HUYỆN
CHƢƠNG
MỸ, THÀNH
PHỐ HÀ MỸ,
NỘI
VIỆT
NAM
TỪ
THỰC
TIỄN HUYỆN
CHƢƠNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. HỒ SỸ SƠN
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. HỒ SỸ SƠN
HÀ NỘI - 2017
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn với đề tài"Phạm nhiều tội theo pháp luật hình
sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Chương Mỹ" là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn là của tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực và chưa được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
NGƢỜI CAM ĐOAN
Đỗ Minh Hoàng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM VỀ PHẠM NHIỀU TỘI ............................................................ 7
1.1.Những vấn đề lý luận về phạm nhiều tội ................................................. 7
1.2. Quy định của pháp luật hình sự về phạm nhiều tội .............................. 19
Chƣơng 2: THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH
PHẠT TRONG TRƢỜNG HỢP PHẠM NHIỀU TỘI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CHƢƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ..................................... 30
2.1. Khái quát tình hình xét xử hình sự trên địa bàn huyện Chương Mỹ,
thành phố Hà Nội ......................................................................................... 30
2.2. Thực tiễn định tội danh trong trường hợp phạm nhiều tội trên địa bàn
huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội ....................................................... 31
2.3. Thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội trên
địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội ............................................ 42
Chƣơng 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ĐỊNH TỘI
DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐÚNG TRONG TRƢỜNG
HỢP PHẠM NHIỀU TỘI ............................................................................ 58
3.1. Các yêu cầu bảo đảm định tội danh và quyết định hình phạt đúng trong
trường hợp phạm nhiều tội ........................................................................... 58
3.2. Các giải pháp bảo đảm định tội danh và quyết định hình phạt đúng
trong trường hợp phạm nhiều tội ................................................................. 61
KẾT LUẬN .................................................................................................... 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………… …….72
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADPL
Áp dụng pháp luật
BLHS
Bộ luật hình sự
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
CHXHCNVN
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
CTTP
Cấu thành tội phạm
HĐTPTANDTC
Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao
HTND
Hội thẩm nhân dân
TAND
Toà án nhân dân
TANDTC
Toà án nhân dân tối cao
TNHS
Trách nhiệm hình sự
UBTP
Uỷ ban thẩm phán
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ năm 1986, Nhà nước Việt Nam chủ trương xây dựng và phát triển
đất nước theo nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước
pháp quyền XHCN. Đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội đã có sự chuyển biến
và phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực. Tuy nhiên, ngoài những thành tựu
tích cực đã đạt được thì nền kinh tế thị trường cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề
tiêu cực trong xã hội, trong đó có tình hình tội phạm mà người phạm tội phạm
nhiều tội ngày càng diễn biến phức tạp.
BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 và dự thảo BLHS năm 2015
đã có những tác động tích cực đối với công tác phòng, chống tội phạm trong
đó có các loại tội phạm do chủ thể thực hiện bị xác định là phạm nhiều tội.
Đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới của Đảng về cải cách tư pháp theo tinh
thần: Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002,[6]; Nghị quyết số 48/NQTW ngày 24/5/2005 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lược xây dựng, cải cách tư pháp Việt Nam đến năm 2020
và đảm bảo thực hiện các quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp
năm 2013 [6].
Việc nghiên cứu để làm sáng tỏ về mặt lý luận chế định phạm nhiều tội
của Luật hình sự Việt Nam có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Tuy nhiên từ
trước đến nay, vấn đề này vẫn chưa nhận được sự điểu chỉnh chính thức bằng
một quy phạm riêng biệt trong phần chung của Bộ luật hình sự Việt Nam, mà
thuật ngữ “phạm nhiều tội” chỉ được đề cập tại Điều 50 BLHS năm 1999 và
Điều 55 BLHS năm 2015. Chính vì vậy, việc nghiên cứu để đảm bảo nhận
thức thống nhất, khoa học và thực tiễn bản chất pháp lý của chế định phạm
nhiều tội nhằm xác định đường lối xử lý phù hợp mới có tác dụng tích cực
trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là loại phạm nhiều
1
tội. Trên thực tế hành vi phạm tội có biểu hiện phạm từ hai tội trở lên ở nhiều
dạng khác nhau [24,tr.34,35]. Việc định tội danh và quyết định hình phạt
trong trường hợp phạm nhiều tội có nội dung rất quan trọng trong lý luận và
thực tiễn thực thi pháp luật. Trong thời gian qua do chưa được quan tâm,
nghiên cứu đúng mức dẫn đến có những sai sót nhất định như:
- Xác định không đầy đủ, không đúng các hành vi phạm nhiều tội trên
thực tế do nhận thức chưa đúng hoặc không đầy đủ quy định pháp luật;
- Nhận thức chưa đúng, không đầy đủ về cấu thành tội phạm đối với các
hành vi nguy hiểm do chủ thể cụ thể đã thực hiện xâm phạm đến (các) nhiều
tội theo quy định của BLHS; nhận thức không chính xác các tình tiết cụ thể
của từng cấu thành tội phạm.
Do cần bổ sung một phần về lý luận và khái quát một số vấn đề thực tiễn
mà TAND huyện Chương Mỹ đã giải quyết, xét xử các vụ án có bị cáo (các bị
cáo) phạm nhiều tội, đồng thời đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao
hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự về phạm nhiều tội trong bối cảnh xây
dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay. Chính vì vậy, tác
giả chọn vấn đề: “Phạm nhiều tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực
tiễn huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học luật hình sự, hiện đã có nhiều công trình nghiên cứu và
các bài viết đề cập đến vấn đề phạm nhiều tội như:
Các công trình đã viết thành sách: “Những vấn đề cơ bản trong khoa học
Lụât hình sự, phần chung, chương IV” Nbx Đại học quốc gia Hà Nội, năm
2005 của TSKH.GS Lê Cảm [10, tr.71]; “Nhiều tội phạm” (chương XV, giáo
trình Luật hình sự Việt Nam) Trung tâm đào tạo từ xa Đại học Huế do GS.TS
Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb công an nhân dân Hà Nội (tái bản năm 2011)
tác giả có đề cập đến biện pháp nhân chủng học, tức là biện pháp tác động đến
các quá trình di cư và thích nghi xã hội của những người di cư hay một số tiêu
2
chí phân loại đáng chú ý, như việc phân loại theo cơ chế hoạt động hay các
biện pháp phòng ngừa có thể được nhóm theo sự phát triển của hoạt động
phòng ngừa có mục đích (như phòng ngừa giai đoạn sớm, ngăn chặn tội phạm
ở giai đoạn chuẩn bị và phạm tội chưa đạt, các biện pháp phòng ngừa tái
phạm).
Các Luận án, Luận văn nghiên cứu về chế định phạm nhiều tội: Luận án
Tiến sĩ luật học “Chế định nhiều tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam” của
nghiên cứu sinh Lê Văn Đệ [13, tr.34]; Luận văn Thạc sĩ luật học “Chế định
phạm nhiều tội trong Luật hình sự Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn trên đại bàn tỉnh Vĩnh Phúc”[26,tr.16] của tác giả Đặng Phú Lâm; Luận
văn Thạc sĩ luật học “Quyết định hình phạt trong những trường hợp đặc
biệt”[25,tr.52] của tác giả Hoàng Chí Kiên; Luận văn Thạc sỹ luật học “Phạm
nhiều tội trong luật hình sự Việt Nam” [38, tr.38] của tác giả Lê Thị Thúy.
Một số bài viết như: “Phạm tội nhiều lần và phạm nhiều tội” (Tạp chí
Toà án nhân dân số 3/1995 của Thạc sỹ Mai Bộ); “Tạp chí Luật học số 4/1996
của GS.TS Võ Khánh Vinh và Nguyễn Văn Hoàn); “Chế định đa (nhiều tội
phạm) và mô hình lý luận của nó trong Luật hình sự Việt Nam” [47,tr.37]
“Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 6/2001” của TSKH Lê Cảm..…
Sau khi tham khảo các công trình nghiên cứu khoa học nói trên; nghiên
cứu học tập tại Học viện khoa học xã hội nhân văn; từ thực tiễn áp dụng pháp
luật. Tác giả nhận thấy: Những công trình nghiên cứu và bài viết này dù ở
mức độ, phạm vi nghiên cứu khác nhau nhưng đã thể hiện tương đối rõ nét
khái niệm cũng như các trường hợp được coi là phạm nhiều tội. Những đề
xuất trong các công trình, bài viết đó rất có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu và
áp dụng trên thực tiễn. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào có
công trình nào nghiên cứu “Phạm nhiều tội theo pháp luật hình sự Việt Nam
từ thực tiễn huyện Chương Mỹ”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về phạm nhiều tội; thực trạng
các quy định của BLHS và thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS Việt
Nam trong định tội danh và quyết dịnh hình phạt đối với trường hợp phạm
nhiều tội; làm rõ những bất cập vướng mắc và nguyên nhân của chúng. Luận
văn kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật và trình bày một số giải
pháp khác nhằm bảo đảm áp dụng đúng trong trường hợp phạm nhiều tội.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên cứu, hệ thống những vấn đề lý luận về phạm nhiều tội;
+ Phân tích các quy định của pháp luật hình sự nước ta về phạm nhiều tội;
+ Phân tích đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình
sự về phạm nhiều tội, những bất cập, hạn chế và nguyên nhân;
+ Đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về phạm nhiều tội
và một số giải pháp bảo đảm dụng đúng các quy định đó trên thực tế.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 . Đối tượng nghiên cứu
Luận văn lấy các quan điểm khoa học, các quy định của pháp luật
hình sự Việt Nam về chế định phạm nhiều tội trong sự so sánh với quy định
pháp luật của một số quốc gia khác trên thế giới và thực tiễn xét xử phạm
nhiều tội của TAND huyện Chương Mỹ - Thành phố Hà Nội để nghiên cứu
các nội dung của đề tài đã giải quyết, xét xử các vụ án có bị cáo (các bị
cáo) phạm nhiều tội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Việt Nam;
- Đề tài được nghiên cứu gắn với địa bàn huyện Chương Mỹ, Thành
phố Hà Nội trong thời gian từ năm 2013 đến 2015.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phép duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm
của Đảng và Nhà nước ta về chính sách hình sự, về tội phạm và hình phạt, về
phòng chống tội phạm, về Nhà nước pháp quyền và Cải cách tư pháp...
5.2 .Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu có kết hợp trong một tổng thể các phương
pháp cụ thể như: Phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh,
đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống
kê, khảo sát thực tiễn giải quyết các vấn đề được đưa ra nghiên cứu trong
Luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 .Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận về chế định phạm nhiều
tội, đồng thời nâng cao nhận thức về chế định phạm nhiều tội trong luật hình sự
Việt Nam.
6.2 .Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đưa ra một số giải pháp về lý luận đối với chế định phạm
nhiều tội để các nhà làm luật tham khảo sửa đổi, bổ sung hoàn thiện những
quy định về phạm nhiều tội trong thời gian tới.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác
nghiên cứu khoa học chuyên ngành và tài liệu tham khảo đối với cán bộ làm
công tác nghiên cứu, giảng dạy và cán bộ làm công tác Điều tra, truy tố và
đặc biệt là đội ngũ Thẩm phán trong ngành TAND các cấp.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của Luận văn gồm 03 chương:
5
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự Việt Nam về
phạm nhiều tội
Chương 2. Thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt trong
trường hợp phạm nhiều tội trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
Chương 3. Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm định tội danh và quyết
định hình phạt đúng trong trường hợp phạm nhiều tội
6
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ PHẠM NHIỀU TỘI
1.1.
Những vấn đề lý luận về phạm nhiều tội
1.1.1. Khái niệm và các dấu hiệu của phạm nhiều tội
Luật hình sự là ngành luật trong hệ thống pháp luật có đối tượng
nghiên cứu và phương pháp Điều chỉnh riêng, tuân theo các nguyên tắc
và có các nhiệm vụ riêng. Với tính chất là ngành luật, luật hình sự được
hiểu là hệ thống các quy phạm pháp luật xác định những hành vi nguy
hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và quy định hình phạt áp dụng đối với
người đã thực hiện các tội phạm đó. Do vậy: Ngành luật hình sự gắn với
hai nội dung chủ yếu là – “Tội phạm”và “Hình phạt”. Tội phạm được quy
định trong BLHS Việt Nam là tội phạm riêng lẻ và các tội phạm được thực
hiện có thể mang tính chất độc lập hoặc có thể liên quan đến nhau. Thực tế
cho thấy rằng, trường hợp phạm nhiều tội xảy ra trên thực tế với tính chất,
mức độ nguy hiểm cao hơn so với trường hợp phạm tội đơn lẻ. Do sự khác
nhau về tính chất, mức độ nguy hiểm dẫn đến sự khác nhau về trách nhiệm
hình sự giữa trường hợp phạm nhiều tội và phạm tội đơn lẻ mà không chỉ
đơn thuần là phép cộng hình phạt thông thường. Chính vì vậy, Điều 41
BLHS năm 1985 (sửa đổi bổ sung; Điều 50 BLHS năm 1999 (được sửa đổi,
bổ sung năm 2009) và Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 đều đề cập và quy
định khá cụ thể về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.
Tuy nhiên các BLHS này đều chưa đưa ra được khái niệm “phạm nhiều tội”
bằng một Điều luật riêng. Do đó, trong quá trình cơ quan tiến hành tố tụng
giải quyết vụ án hình sự còn thiếu sự thống nhất trong việc áp dụng pháp
luật về trường hợp này.
7
Qua nghiên cứu và thực tiễn đã có tổng kết về khái niệm phạm
nhiều tội. Phạm nhiều tội gồm hai khái niệm “phạm tội” và “nhiều”,
trong đó “phạm tội” là hành vi thỏa mãn cấu thành tội phạm được mô
tả trong các quy định của BLHS, còn “nhiều” được hiểu là từ hai trở
lên. Khi xây dựng khái niệm về phạm nhiều tội có quan điểm cho
rằng: “Chủ thể có nhiều hành vi phạm tội độc lập hoặc chỉ có một
hành vi mà hành vi đã thực hiện đó thỏa mãn nhiều cấu thành tội
phạm khác nhau thì phạm nhiều tội” [34, tr .45].
Theo nghĩa hẹp, phạm nhiều tội gắn với hoạt động định tội danh và
quyết định hình phạt và là một trường hợp đặc biệt của quyết định hình phạt
[8, tạp chí DC&PL)
Trong khoa học luật hình sự, có quan điểm theo đó: “Phạm nhiều tội là
trường hợp một người đã thực hiện nhiều tội phạm khác nhau trong một
khoảng thời gian nhất định mà trong thời gian phạm các tội đó họ chưa bị xét
xử và kết án nay trong thời hiệu truy cứu TNHS bị đưa ra xét xử về các hành
vi phạm tội đã thực hiện.” [17,tr.185].
Theo một quan điểm khác thì: “Phạm nhiều tội được hiểu là trường
hợp các hành vi của người phạm tội do một người thực hiện được quy định
không những trong các Điều luật khác nhau mà còn được quy định trong các
khoản khác nhau thuộc phần các tội phạm của BLHS và người phạm tội chưa
bị xét xử về tội nào đó trong số tội ấy” [48, tr.211].
Khái niệm phạm nhiều tội đã được quy định trong luật hình sự một số
nước. Chẳng hạn theo Điều 45 BLHS Nhật Bản thì: “Phạm nhiều tội là
trường hợp mộtngười thực hiện hai hoặc nhiều tội phạm mà đối với các tội đó
chưa có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án, khi bản án phạt tù không có
quy định lao động bắt buộc hoặc hình phạt nặng hơn của Tòa án được tuyên
đối với một tội phạm đã có hiệu lực pháp luật thì chỉ có tội phạm đó và tội
8
phạm khác được thực hiện trước khi bản án nói trên có hiệu lực pháp luật
mới tạo thành trường hợp phạm nhiều tội”[19 tr.21]
Từ những phân tích nêu trên, có thể xây dựng khái niệm về phạm nhiều
tội như sau:
“Phạm nhiều tội là trường hợp một chủ thể (cá nhân hoặc pháp nhân
thương mại) phạm từ hai tội trở lên hoặc khi hành vi của chủ thể có dấu hiệu
của từ hai tội trở lên mà những tội ấy được quy định tại các Điều luật khác
nhau (hoặc các khoản khác nhau của cùng một Điều luật nếu các đối tượng
của tội phạm khác nhau) được quy định trong phần các tội phạm của BLHS,
chủ thể phạm tội chưa bị xét xử về các tội đã phạm và các tội ấy vẫn còn thời
hiệu truy cứu TNHS”.
Từ khái niệm trên và nghiên cứu “Chế định phạm nhiều tội trong luật
hình sự Việt Nam” [26, tr.16,22,32,35,43] có thể xác định dấu hiệu của phạm
nhiều tội là:
Phạm nhiều tội là một dạng đặc biệt của hành vi phạm tội, thể hiện rõ
ở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Mức độ nguy hiểm
cho xã hội được hiểu là chuẩn đánh giá, so sánh tính nguy hiểm cho xã hội
giữa các trường hợp phạm tội cụ thể đã thực hiện thuộc khung hình phạt
của từng tội phạm. Mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cụ thể đều
được thể hiện qua sự thống nhất của hai yếu tố là mức độ phủ định khách
quan của tội phạm (mức độ gây thiệt hại) và mức độ phủ định chủ quan của
tội phạm (mức độ lỗi).
Thứ nhất, về mức độ gây thiệt hại của tội phạm thì trong trường hợp
này, người phạm tội phạm nhiều tội tức là từ hai tội trở lên, mỗi tội phạm đều
có đối tượng bị xâm hại, tác động riêng. Do đó, khi xét về mức độ thiệt hại thì
phạm nhiều tội thường gây ra thiệt hại lớn hơn so với trường hợp phạm tội
đơn lẻ. Điều này dẫn đến hậu quả pháp lý mà người đó phải chịu cũng nghiêm
khắc hơn.
9
Thứ hai, về mức độ lỗi của tội phạm. Ý chí quyết tâm phạm tội của chủ
thể trong trường hợp phạm nhiều tội bao giờ cũng cao hơn trường hợp phạm
tội đơn lẻ, đồng thời xét về khả năng nhận thức tính nguy hiểm của hành vi
phạm tội thì trong trường hợp này, chủ thể cũng thấy được tính nguy hiểm
cho xã hội của hành vi cao hơn vì hành vi phạm tội của họ cùng một lúc xâm
hại đến nhiều khách thể khác nhau.
1.1.2. Các trường hợp phạm nhiều tội
Khoa học luật hình sự cũng như trong thực tiễn xét xử khi xem xét
việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội và nghiên cứu
“Các hình thức biểu hiện của chế định phạm nhiều tội trong Luật hình sự
Việt Nam” [12,Tạp chí NN&PL) đã ghi nhận hai trường hợp của phạm
nhiều tội, đó là:
- Trường hợp thứ nhất: Phạm nhiều tội do thực hiện nhiều hành vi
phạm tội độc lập thỏa mãn nhiều cấu thành tội phạm khác nhau. Người phạm
tội có nhiều hành vi phạm tội khác nhau và mỗi hành vi này cấu thành một tội
riêng. Những hành vi này có thể có mối liên quan với nhau hoặc không liên
quan đến nhau.
Một là: Người phạm tội thực hiện nhiều hành vi cấu thành các tội
riêng lẻ nhưng không liên quan đến nhau. Ví dụ: Nguyễn Văn A đến nhà ông
B trộm một chiếc ti vi trị giá 5.000.000 đồng mang về nhà cất giấu. Sau đó
đến nhà ông C lừa đảo chiếm đoạt một chiếc xe máy trị giá 10.000.000 đồng.
Khi đi tiêu thụ ti vi và xe máy thì bị phát hiện bắt giữ. Như vậy A đã thực
hiện hành vi “Trộm cắp” của chủ sở hữu khác, sau đó lại thực hiện hành vi
“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của chủ sở hữu khác, hai hành vi này không
liên quan đến nhau. Nguyễn Văn A bị truy tố xét xử 2 tội: Tội “Trộm cắp tài
sản” theo Điều 138 BLHS năm 1999 (Điều 173 BLHS năm 2015); tội “ Lừa
đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 139 BLHS năm 1999 (Điều 174 BLHS
năm 2015).
10
Hai là: Người phạm tội thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng có
liên quan với nhau, thỏa mãn nhiều cấu thành tội phạm độc lập khác nhau. Ví
dụ: Nguyễn Văn A muốn cướp chiếc đồng hồ của anh B đang đeo trên tay. A
đã có hành vi dùng dao chém đứt cánh tay của anh B rồi cướp chiếc đồng hồ.
Như vậy A muốn “Cướp tài sản” của anh B đã thực hiện thêm hành vi “Cố ý
gây thương tích” với anh B. Nguyễn Văn A bị truy tố, xét xử về 2 tội: Tội “Cố
ý gây thương tích” theo Điều 104 BLHS năm 1999 ( Điều 134 BLHS năm
2015) và tội “Cướp tài sản” theo Điều 133 BLHS năm 1999 (Điều 168 BLHS
năm 2015).
Trường hợp này xảy khi chủ thể thực hiện nhiều hành vi phạm tội biểu
hiện ra mặt khách quan mà mỗi hành vi này lại CTTP riêng lẻ một tội độc lập
được quy định trong BLHS. Trường hợp này là dễ nhận biết trong việc định
tội danh và trong việc quyết định hình phạt, thường không vướng mắc trong
thực tiễn;
Trường hợp thứ hai: Người phạm tội thực hiện một hành vi phạm tội
nhưng hành vi này lại thỏa mãn cấu thành hai hay nhiều tội phạm cụ thể. Thực
tiễn đã chỉ ra rằng, không phải cứ có nhiều hành vi phạm tội thì bị coi là phạm
nhiều tội và không phải cứ có một hành vi phạm tội thì chỉ bị coi là phạm một
tội. Người phạm tội ở đây bị coi là phạm nhiều tội khi không có tội phạm nào
loại trừ được tội phạm còn lại do tội còn lại này được coi là đáng kể so với tội
phạm đó. Trong trường hợp này có thể xảy ra các khả năng sau:
Một là, hành vi phạm tội thỏa mãn nhiều cấu thành tội phạm khác nhau.
Ví dụ, Lê Văn H đã gài mìn vào nhà anh P với mục đích giết cả gia đình anh
P để trả thù. Hành vi đó của H cấu thành hai tội cụ thể là tội “Giết người”
(Điều 93 BLHS năm 1999, Điều 123 BLHS năm 2015) và tội “Hủy hoại tài
sản”(Điều 143 BLHS năm 1999, Điều 178 BLHS năm 2015) vì tội phạm A
muốn thực hiện là tội giết người nhưng sử dụng công cụ phạm tội là mìn (có
tính sát thương và phá hủy trên phạm vi rộng) nên đã gây thêm thiệt hại về vật
11
chất do gia đình anh P. Do đó có thể xác định đây là trường hợp một hành vi
cấu thành nhiều tội.
Hai là, hành vi phạm tội thỏa mãn cấu thành tội phạm của hành vi đồng
phạm của hai tội khác nhau. Ví dụ, một người cố ý cho người khác mượn súng
mà người đó biết rõ người mượn súng, sẽ dùng súng đó để đi giết người, cướp
tài sản. Trong trường hợp này, hành vi phạm tội của người cho mượn súng
đồng thời thỏa mãn dấu hiệu của hành vi đồng phạm tội “Giết người” (Điều
93 trong mối liên hệ với Điều 20 BLHS năm 1999; Điều 123 trong mối liên
hệ với Điều 17 BLHS năm 2015) và đồng phạm tội “Cướp tài sản” (Điều 133
trong mối liên hệ với Điều 20 BLHS năm 1999; Điều 168 trong mối liên hệ
với Điều 17 BLHS năm 2015).
Ba là, hành vi phạm tội thỏa mãn cấu thành tội phạm của một tội phạm
cụ thể và thỏa mãn cấu thành tội phạm của hành vi đồng phạm của một tội
phạm khác. Ví dụ: Nhân viên hải quan đã nhận lợi ích vật chất của người khác
rồi cho người đó vận chuyển hàng hóa qua biên giới buôn bán trái phép.
Trong trường hợp này, hành vi của nhân viên Hải quan vừa thỏa mãn dấu hiệu
cấu thành tội nhận hối lộ theo Điều 279 BLHS năm 1999 (Điều 354 BLHS
năm 2015) vừa thỏa mãn dấu hiệu đồng phạm tội “Buôn lậu” theo Điều 153
trong mối liên hệ với Điều 20 BLHS năm 1999; (Điều 188 trong mối liên hệ
với Điều 17 BLHS năm 2015).
Đặc biệt có thể có những cặp CTTP có quan hệ đặc biệt với nhau mà
một khi hành vi phạm tội đã thỏa mãn một CTTP thì cũng đồng thời thỏa mãn
CTTP kia. Do vậy, trong trường hợp này, hành vi phạm tội tuy thỏa mãn
nhiều CTTP nhưng không thể áp dụng tất cả các Điều luật quy định CTTP đó
mà chỉ được phép chọn một trong số đó để áp dụng. Đây là trường hợp thỏa
mãn nhiều CTTP về hình thức. Quan hệ đặc biệt của những cặp CTTP trong
trường hợp này như quan hệ giữa trường hợp bình thường với trường hợp
tăng nặng hoặc giảm nhẹ [4,tr.19]. Ví dụ, quan hệ giữa tội “Giết người” quy
12
định tại Điều 93 BLHS năm 1999 (Điều 123 BLHS năm 2015) với tội “Giết
con mới đẻ” quy định tại Điều 94 BLHS năm 1999 (Điều 124 BLHS năm
2015); quan hệ giữa trường hợp chung với trường hợp riêng, ví dụ: Giữa tội
“Vô ý làm chết người” quy định tại Điều 98 BLHS năm 1999 (Đ 128 BLHS
năm 2015) với tội “Vi phạm quy định về Điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ” quy định tại Điều 202 BLHS năm 1999 (Điều 260 BLHS năm
2015). Đây là quan hệ giữa tội “Vô ý làm chết người” trong trường hợp chung
với tội vô ý làm chết người trong trường hợp cụ thể (trong lĩnh vực an toàn
giao thông đường bộ). Hoặc có trường hợp là quan hệ thu hút, ví dụ: Một
người thực hiện hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc buộc người quản lý
tài sản phải đưa tài sản ngay cho mình nếu không thì sẽ “Giết chết”. Xuất hiện
quan hệ giữa tội “Đe dọa giết người” quy định tại Điều 103 BLHS năm 1999
(Điều 133 BLHS năm 2015) với tội “Cướp tài sản” quy định tại Điều 133
BLHS năm 1999 (Điều 168 BLHS năm 2015), đây là quan hệ giữa CTTP bị
thu hút và CTTP thu hút. Trong trường hợp này, khi hành vi thỏa mãn cấu
thành tội “Cướp tài sản”, hành vi đe dọa dùng vũ lực tước đoạt tính mạng thì
cũng đồng thời thỏa mãn CTTP tội “Đe dọa giết người” nhưng chỉ được chọn
CTTP tội “Cướp tài sản” (cấu thành tội phạm thu hút) để áp dụng.
1.2.3 Phân biệt phạm nhiều tội với một số trường hợp khác
Trong lý luận cũng như thực tiễn áp dụng, trường hợp phạm nhiều tội
còn bị nhầm lẫn với: Phạm tội nhiều lần; tái phạm, tái phạm nguy hiểm; phạm
tội có tính chất chuyên nghiệp; phạm tội ghép; phạm tội kéo dài; phạm tội đơn
lẻ (phạm một tội). Các trường hợp này đều có những điểm chung nhưng vẫn
có sự khác biệt rõ rệt về bản chất pháp lý.
Phân biệt phạm nhiều tội với phạm tội nhiều lần:
Nghiên cứu các quy định của Luật hình sự thấy hiện nay chưa có khái
niệm nào về tình tiết “ phạm tội nhiều lần”. Thực tiễn truy tố, xét xử các cơ
quan tư pháp dựa trên một số hướng dẫn sau:
13
Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày
02/01/1998 của Bộ nội vụ, VKSND tối cao, TAND tối cao hướng dẫn áp
dụng tình tiết phạm tội nhiều lần (đối với một số tội phạm có tính chất tham
nhũng và tội phạm liên quan đến tình dục) được hiểu là đã có tất cả từ hai lần
phạm tội đó trở lên mà mỗi lần phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu thành quy định
tại khoản 1 Điều luật tương ứng, đồng thời trong các lần phạm tội đó chưa có
lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và cũng chưa hết thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự; Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT ngày 24/12/2007
của Bộ công an, VKSND tối cao, TAND tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp
dụng tình tiết “phạm tội nhiều lần” quy định tại khoản 2 các Điều 193, 194,
195, 196, 197, 198, 200 và 201 của BLHS năm 1999; Nghị quyết số
02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng
một số quy định của BLHS năm 1999.
+ Chủ thể thực hiện hành vi xâm hại từ 02 quy phạm pháp luật (02
quan hệ pháp luật) được các Điều luật cụ thể (Điều luật riêng) quy định trong
Bộ luật hình sự trở nên thì có thể bị coi là phạm nhiều tội
Phạm tội nhiều lần: Cũng như phạm nhiều tội, BLHS chưa đưa ra khái
niệm về trường hợp phạm tội nhiều lần, nhưng từ thực tiễn xét xử và quan
điểm của các học giả nghiên cứu thì có thể hiểu: Phạm tội nhiều lần là có từ
hai lần trở lên phạm cùng một loại tội, trong đó mỗi lần đều đã có đủ yếu tố
cấu thành tội phạm, chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nay các lần phạm
tội đó được xét xử trong cùng một vụ án. Hành vi phạm tội trong trường hợp
này là sự lặp lại tội đã phạm trước đó nên có mức độ nguy hiểm cao hơn
trường hợp bình thường. Từ khái niệm trên, có thể phân biệt về hai trường
hợp này như sau:
Thứ nhất, phạm tội nhiều lần là một tình tiết tăng nặng TNHS được
quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999 (điểm g khoản 1 Điều
52 BLHS năm 2015). Khi định tội danh và quyết định hình phạt trường hợp
14
phạm tội nhiều lần, BLHS quy định phạm tội nhiều lần được coi là tình tiết tăng
nặng khi đưa ra xét xử cùng một lúc (cùng một vụ án), nếu khi truy tố và xét xử
ở các thời điểm khác nhau thì khi định tội danh và quyết định hình phạt không áp
dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần mà phải theo nguyên tắc tổng hợp
hình phạt của nhiều bản án theo quy định tại Điều 51 BLHS năm 1999.
Trong trường hợp phạm nhiều tội được đưa ra xét xử trong cùng một vụ
án, Hội đồng xét xử xem xét định tội danh và quyết định hình phạt đối với
từng tội sau đó tổng hợp hình phạt của tất cả các tội.
Thứ hai, trong trường hợp phạm tội nhiều lần, người thực hiện tội phạm
chỉ xâm hại đến một khách thể (một quan hệ xã hội), mặc dù đối tượng bị
xâm hại có thể khác nhau.Ví dụ: Một người lén lút vào nhà người khác trộm
cắp 01 xe máy trị giá 15.000.000 đồng, sau khi trộm cắp xong mang xe máy
đi cất giấu, biết nhà bị hại không có người trông giữ lại tiếp tục quay lại trộm
cắp một ti vi trị giá 5.000.000 đồng. Như vậy, người này bị truy tố xét xử về
tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 138 BLHS 1999 (Điều 173
BLHS 2015) với tình tiết tăng nặng “Phạm tội nhiều lần”.
Còn đối với trường hợp phạm nhiều tội, người thực hiện tội phạm xâm
hại đến các khách thể khác nhau.Ví dụ, Nguyễn Văn A lén lút vào nhà người
khác trộm cắp 01 xe máy trị giá 15.000.000 đồng, sau khi trộm cắp xong
mang xe máy đi cất giấu, biết nhà bị hại không có người lớn ở nhà chỉ có 01
cháu bé đang ngủ lại tiếp tục quay lại “Dâm ô với cháu bé”. Như vậy, người
này bị truy tố xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 138
BLHS năm 1999 (Điều 173 BLHS năm 2015) và tội “Dâm ô với trẻ em” theo
Điều 116 BLHS năm 1999 (Điều 146 BLHS năm 2015).
Phân biệt phạm nhiều tội với “Tái phạm”, “Tái phạm nguy hiểm”
Trường hợp phạm nhiều tội cũng giống trường hợp tái phạm, tái phạm
nguy hiểm ở chỗ người phạm tội đều có hơn một lần thực hiện các tội phạm
nhưng lại có những điểm khác biệt như:
15
Thứ nhất, trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm vừa là tình tiết tăng
nặng TNHS chung, vừa là tình tiết định khung thì phạm nhiều tội là trường hợp
được đặt ra để cơ quan xét xử tổng hợp hình phạt đối với nhiều tội mà người
phạm tội gây ra;
Thứ hai, nếu như ở trường hợp phạm nhiều tội, người phạm tội có thể
thực hiện nhiều hành vi phạm tội cụ thể, cũng có thể là một hành vi nhưng các
hành vi đó có dấu hiệu của nhiều tội phạm thì ở tái phạm, tái phạm nguy hiểm,
người phạm tội phải luôn thực hiện nhiều hành vi phạm tội trong những thời
gian khác nhau.
Thứ ba, người phạm tội trong trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm
đã bị kết án về tội phạm trước, chưa được xóa án tích lại phạm tội mới còn ở
trường hợp phạm nhiều tội thì người phạm tội chưa bị xét xử về tội nào trong
các tội phạm mà họ gây ra.
Thứ tư, trong trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm phải xét đến dấu
hiệu hình thức lỗi của người phạm tội còn phạm nhiều tội thì không đặt ra dấu
hiệu này.
Phân biệt phạm nhiều tội với phạm tội chuyên nghiệp
Trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp cũng không được quy
định trong BLHS, cũng không được nhà làm luật giải thích cụ thể, không có khái
niệm. Tuy nhiên theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC tại Nghị
quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 thì Tòa án sẽ áp dụng tình tiết
phạm tội có tính chất chuyên nghiệp khi có đầy đủ các Điều kiện sau đây: Cố ý
phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu
TNHS hay chưa bị truy cứu TNHS, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc
chưa được xóa án tích; Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh
sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sinh sống chính.
Người phạm tội có tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp sẽ bị
phạt với mức án nghiêm khắc hơn người phạm tội không có tình tiết này vì
16
khi quyết định hình phạt, Tòa án sẽ không áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS
quy định tại điểm b khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999 (điểm b khoản 1 Điều
52 BLHS năm 2015). Ví dụ, A là một người không nghề nghiệp, chuyên sống
bằng nguồn thu nhập từ việc phạm tội. Trong một thời gian, A liên tiếp thực
hiện năm vụ trộm cắp tài sản (tài sản chiếm đoạt được trong mỗi vụ có giá trị
từ hai triệu đồng trở lên). Trong trường hợp này, A bị truy cứu TNHS và phải
bị áp dụng tình tiết định khung hình phạt “phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp”.
Đối với trường hợp phạm tội từ năm lần trở lên mà trong đó có lần
phạm tội đã bị kết án, chưa được xóa án tích thì tùy từng trường hợp cụ thể
mà người phạm tội có thể bị áp dụng cả ba tình tiết là phạm tội nhiều lần, tái
phạm hoặc tái phạm nguy hiểm và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Ví
dụ, B đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản nhưng chưa chấp hành hình phạt
hoặc sau khi chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích, B lại
liên tiếp thực hiện bốn vụ trộm cắp tài sản, tài sản chiếm đoạt được trong mỗi
vụ có giá trị từ hai triệu đồng trở lên. Trong trường hợp này, B phải bị truy
cứu TNHS và phải bị áp dụng ba tình tiết tăng nặng là: Phạm tội nhiều lần; tái
phạm hoặc tái phạm nguy hiểm và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.
Phân biệt phạm nhiều tội với tội ghép
Bộ luật hình sự năm 1999, BLHS năm 2015 có nhiều tội danh quy định
ghép các hành vi phạm tội khác nhau vào cùng một Điều luật (thường gọi là
tội ghép), như các tội: “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác”; “Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật”; “Chứa chấp
hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; “Tội chế tạo, tàng trữ,
vận chuyển sử dụng, mua bán hoặc chiếm đoạt trái phép vũ khí quân dụng,
phương tiện kỹ thuật quân sự”...;
Tuy nhiên, hiện chưa có quy định cụ thể về việc xử lý, định tội danh
trong trường hợp phạm tội ghép. TheoThông tư liên ngành số 01 ngày
17
07/01/1995 của Bộ Nội Vụ, VKSNDTC, TANDTC hướng dẫn: Nếu người
phạm tội thực hiện nhiều hành vi phạm tội mà những hành vi này liên quan
chặt chẽ với nhau (hành vi này là Điều kiện để thực hiện, là hậu quả tất yếu
của hành vi phạm tội kia) đối với nhiều đối tượng hay một đối tượng thì chỉ bị
truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội với tên tội danh đầy đủ các hành vi đã
thực hiện. Dẫn đến trong thực tiễn Điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tiến
hành tố tụng định tội danh đối với các tội ghép không có sự thống nhất;
thường hay nhầm lẫn giữa các hành vi phạm tội trong cùng một Điều luật, có
trường hợp tách từng hành vi tương ứng với từng tội danh, quyết định hình
phạt đối với từng tội danh sau đó tổng hợp hình phạt.
Ví dụ: Nguyễn VănA nhặt được một khẩu súng AK, đem cất giấu trong
nhà, một thời gian sau A đem khẩu súng ra sử dụng. Trong trường hợp này, A
đã thực hiện hai hành vi phạm tội là: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và
Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, quy định tại Điều 230 BLHSnăm 1999
(Điều 304 BLHS năm 2015). VKS Quận X truy tố A về hai tội: Tội “Tàng trữ
trái phép vũ khí quân dụng” và tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”; Tòa
án Quận X chỉ bị xét xử A về một tội danh là tội: “Tàng trữ, sử dụng trái
phép vũ khí quân dụng trái phép” là phù hợp với Thông tư liên ngành số 01
ngày 07/01/1995 của Bộ Nội Vụ, VKSNDTC, TANDTC.
Nếu người nào thực hiện nhiều hành vi trong tội ghép, mỗi hành vi
trong tội ghép lại thỏa mãn CTTP riêng, mà hành vi này không phải là Điều
kiện để thực hiện, là hậu quả tất yếu của hành vi phạm tội kia thì là phạm
nhiều tội, phải tuyên bố bị cáo phạm từng tội, quyết định hình phạt của mỗi
tội rồi mới tổng hợp hình phạt. Ví dụ: Nguyễn Văn A chế tạo một khẩu súng
kíp, đem cất dấu trong nhà, một thời gian sau A đem khẩu súng ra sử dụng
trái phép. Trong trường hợp này, A đã thực hiện ba hành vi phạm tội là: “Chế
tạo vũ khí quân dụng trái phép”; “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và Sử
dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại Điều 230 BLHS năm
18
1999 (Điều 304 BLHS năm 2015). Trường hợp này Nguyễn Văn A phải bị
truy tố và xét xử về hai tội: Tội “Chế tạo vũ khí trái phép vũ khí quân dụng
trái phép” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Tòa án phải
quyết định hình phạt của từng tội danh rồi mới tổng hợp hình phạt.
Phân biệt phạm nhiều tội với phạm tội liên tục
Phạm tội liên tục là do một loạt hành vi phạm tội cùng loại, xảy ra kế
tiếp nhau về mặt thời gian nhằm đạt tới mục đích của tội phạm. Trong một
loạt hành vi ấy, có hành vi đã thỏa mãn cấu thành tội phạm, có hành vi chưa
thỏa mãn nhưng đều là tội phạm thống nhất. Về phương diện khoa học luật
hình sự thì phạm tội liên tục với phạm tội nhiều lần có rất nhiều điểm giống
nhau đó là chúng đều thực hiện ít nhất 2 hành vi cùng loại, các hành vi đó xảy
ra kế tiếp nhau về mặt thời gian và xâm hại một khách thể. Nhưng khác cơ
bản với phạm nhiều tội là phạm tội liên tục mặc dù thực hiện một loạt hành vi
phạm tội cùng loại nhưng chỉ bị truy tố xét xử và bị quyết định hình phạt theo
01 tội danh cụ thể; không bị tổng hợp hình phạt như phạm nhiều tội.
Phạm nhiều tội với phạm tội đơn lẻ (Phạm một tội)
Phạm tội đơn lẻ (Phạm một tội) là chủ thể (“chỉ người nào”- theo Điều
2 BLHS năm 1999, khoản 1 Điều 2 BLHS năm 2015 và “chỉ pháp nhân nào”
– theo khoản 2 Điều 2 BLHS năm 2015) phạm một tội đã được quy định
trong BLHS và chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một tội đã phạm mà
đã đủ các yếu tố cấu thành một tội phạm cụ thể, còn phạm nhiều tội là phải
chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm đó khi có các yếu tố cấu thành
các tội phạm cụ thể đã được quy định trong BLHS và bị tổng hợp hình phạt
chịu trách nhiệm chung hình phạt được áp dụng với loại hình phạt đã tuyên.
Ví dù mức hình phạt tù có thời hạn thì khi tổng hợp hình phạt chung không
được vượt quá mức hình phạt 30 năm tù, nếu có tội bị áp dụng là chung thân,
hay tử hình thì mức tổng hợp chung là chung thân hoặc tử hình.
19
1.2.Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phạm nhiều tội
1.2.1. Từ năm 1945 đến 1985
Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời ngày 02 tháng 9 năm
1945. Trong giai đoạn từ năm 1945 đến tháng 4/1975 nhiệm vụ chủ yếu của
Nhà nước Việt Nam là giữ vững độc lập dân tộc, đấu tranh thống nhất nước
nhà, khắc phục hậu quả chiến tranh, bước đầu xây dựng CNXH ở Miền Bắc.
Nhà nước ta chưa có Điều kiện hoàn thiện pháp luật, trong đó có pháp luật
hình sự. Đến năm 1975 đất nước thống nhất và năm 1976 Nhà nước
CHXHCN Việt Nam ra đời. Song song với nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ đất
nước và quản lý xã hội. Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện pháp luật trong
đó có Luật hình sự. Đến ngày 27/6/1985 BLHS lần đầu tiên của nước ta được
Quốc Hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1986. Việc nghiên
cứu pháp luật nước ta thời kì từ năm 1945 đến năm 1985 quy định về chế định
phạm nhiều tội có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, do chưa xây dựng được luật hình sự mới, nhà nước ban
hành Sắc lệnh ngày 10/10/1945 cho phép áp dụng luật hình sự của chế độ cũ
nhưng không được trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính
thể Dân chủ cộng hòa, nhằm đáp ứng nhiệm vụ đấu tranh phòng và chống tội
phạm, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Sắc lệnh ngày 10/10/1945 quy định áp
dụng ba BLHS của chế độ cũ tương ứng với ba kỳ là: Luật hình An Nam
(Bộ luật Bắc Kỳ) ở miền Bắc, Luật hình Hoàng Việt (Bộ luật Trung Kì) ở
miền Trung và BLHS Pháp tu chính (Hình luật Canh Cải) ở miền Nam. Cả
ba bộ luật này đều có những quy định tương đối rõ ràng về quyết định hình
phạt như các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, quyết định
hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội. Chế định phạm nhiều tội đã
được nhận diện và thực thi thông qua quyết định hình phạt trong trường hợp
phạm nhiều tội. Cùng với việc thu nhận một số công chức trong các cơ quan
tư pháp hình sự của chế độ cũ, các quy phạm trên ở chừng mực nhất định đã
20