PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội của
thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh sáng
lập, lãnh đạo và rèn luyện. Hơn 80 năm hình thành và phát triển, Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh đã không ngường lớn mạnh về chính trị, tư tưởng, lực lượng và
phong trào. Tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã khẳng định được vai trò,
nhiệm vụ hết sức quan trọng trong cách mạng Việt Nam ở mọi thời kỳ. Đoàn
thanh niên thực sự đã trở thành đội quân dự bị đáng tin cậy của Đảng, là lực
lượng xung kích trong các phong trào cách mạng của dân tộc và cũng là môi
trường để thanh niên Việt Nam rèn luyện về phẩm chất đạo đức, chính trị, xã
hội. Với vị trí và địa vị quan trọng của mình thì tổ chức Đoàn thanh niên luôn
phải chú trọng phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức và quản lý hiệu quả
nguồn nhân lực ấy vì đặc trưng của lực lượng trong tổ chức đó là những người
trong độ tuổi còn trẻ khi công tác trong tổ chức. Chính vì điều đó dẫn đến sự bất
ổn về nhân sự trong tổ chức, mặc dù đây là một cơ quan trong hệ thống nhà
nước. Do đó, công tác quản lý nguồn nhân lực để có thể phát triển bền vững đối
với tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là điều rất quan trọng. Trong thực tế hiện
nay, việc quản lý nguồn nhân lực đối với tổ chức Đoàn thanh niên như việc: Khi
tuyển dụng nhân lực cho tổ chức Đoàn thì không cần chuyên môn cụ thể nào,
chỉ yêu cầu về cấp bậc nhưng khi hết tuổi Đoàn thì các vị trí sắp xếp cho cán bộ
Đoàn lại phụ thuộc vào chuyên môn hay cùng với đó là việc quản lý chưa được
tốt dẫn đến việc nhiều thanh niên có năng lực không có động lực để gắn bó với
tổ chức lâu dài... Chính những điều này dẫn đến một số tình trạng như thừa và
thiếu cán bộ, trình độ cán bộ, công tác lựa chọn và sử dụng cán bộ còn chưa hợp
lý, chưa phát huy được những yêu cầu và đặc trưng của người cán bộ Đoàn, việc
sử dụng cán bộ còn nặng về tình cảm, nhìn nhận cán bộ còn phiến diện,... Những
hạn chế, khiếm khuyết đó làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu hút thanh niên
1
có năng lực đến với tổ chức, ảnh hưởng đến chất lượng Đoàn viên thanh niên
các cấp và phong trào thanh niên khiến cho công tác Đoàn chưa thực sự hiệu quả
và phát triển.
Trước thực tế đó, công tác tuyển chọn, sử dụng cán bộ Đoàn phải được
nhìn nhận một cách khách quan đúng người đúng việc, phải có giải pháp về
chính sách thu hút và sử dụng cán bộ Đoàn phù hợp với yêu cầu của thời đại. Do
những trăn trở trước những tồn tại và thách thức nói trên trong tổ chức Đoàn
thanh niên nên tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Quản lý nguồn nhân lực trong tổ
chức Đoàn thanh niên Huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội” để nghiên cứu với
mong muốn góp phần vào việc xây dựng tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phát
triển vững mạnh, đáp ứng được những yêu cầu trong thời đại mới, thời kỳ Công
nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước.
2.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu về quản lý nguồn nhân lực đối với tổ chức Đoàn là một đề tài
mới mẻ. Tuy nhiên, với góc độ xã hội học quản lý nguồn nhân lực và công tác tổ
chức, nâng cao chất lượng hoạt động Đoàn thanh niên cấp cơ sở đã được các nhà
chính trị, khoa học quan tâm. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý
nguồn nhân lực, tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, theo các hướng tiếp cận
khác nhau, đề cập và giải quyết một số nội dung vấn đề quản lý nguồn nhân lực
góc độ khác của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Các công trình đã được thể
hiện như sau:
“Thực trạng thanh niên tỉnh Cà Mau, những giải pháp và chính sách cần
thiết đối với thanh niên trước yêu cầu phát triển kinh tế xã hội” - Tác giả Phạm
Văn Uýnh
(Nguồn: />cuukhahocvethanhnien)
2
Đề tài “Thực trạng quản lý nguồn nhân lực trong các doang nghiệp nhà
nước”.
Nguồn: />
Bài viết “Những vấn đề cơ bản về công tác thanh niên và quản lý nhà
nước về công tác thanh niên”.
(Nguồn: />Dựa trên những nghiên cứu trước đó làm cơ sở để tôi tham khảo, vận
dụng và bổ sung thêm những điều mới về vấn đề quản lý nguồn nhân lực trong
tổ chức Đoàn thanh niên, những điểm mới trong nghiên cứu của tôi đó là:
- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác
quản lý nguồn nhân lực đối với tổ chức Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
cấp cơ sở ở huyện Sóc Sơn giai đoạn hiện nay.
- Đánh giá thực trạng ưu, nhược điểm của công tác quy hoạch đội ngũ cán
bộ Đoàn cấp cơ sở ở huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội hiện nay và các nguyên
nhân.
- Đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực đối với tổ chức Đoàn cấp cơ sở ở huyện Sóc Sơn, thành phố Hà
Nội.
3.
3.1.
Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa khoa học
Trong quá trình nghiên cứu tác giả tiến hành vận dụng các lý
thuyết xã hội học như thuyết cấu trúc chức năng, Thuyết nhu cầu, các
học thuyết quản lý và vai trò vào để giải thích các sự kiện hiện tượng
trong quá trình nghiên cứu. Qua đó nhằm thêm một lần khẳng định sự
3
đúng đắn của các lý thuyết xã hội học trong quá trình nghiên cứu
khoa học, đặc biệt là trong thực tiễn quản lý xã hội giai đoạn hiện nay.
3.2.
Ý nghĩa thực tiễn
Bằng những phương pháp nghiên cứu xã hội học như phân tích tài liệu,
phỏng vấn sâu, trưng cầu ý kiến giúp chúng ta tiếp cận với đối tượng nghiên cứu
để thu thập những thông tin quan trọng không chỉ giúp Huyện đoàn Sóc Sơn xây
dựng các chính sách quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức một cách hiệu quả,
phù hợp mà còn có thể áp dụng ở cả các cơ sở Đoàn các cấp khác.
4.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1.
Đối tượng nghiên cứu
Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức Đoàn thanh niên.
4.2.
Khách thể nghiên cứu
Tổ chức Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Huyện Sóc
Sơn
4.3.
Phạm vi nghiên cứu
4.3.1. Phạm vi không gian
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại Huyện đoàn huyện Sóc
Sơn, thành phố Hà Nội.
4.3.2. Phạm vi thời gian
Thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2015 đến hết tháng 3/2015
4.3.3. Phạm vi nội dung
- Tìm hiểu thực trạng vấn đề tuyển chọn và quản lý nguồn nhân lực trong tổ
chức Đoàn thanh niên của Huyện đoàn Sóc Sơn hiện nay.
- Những yếu tố tác động đến việc tuyển chọn cán bộ và quản lý cán bộ,
Đoàn viên thanh niên của Huyện đoàn Sóc Sơn. Nhu cầu nguyện vọng của
Huyện đoàn trong việc sử dụng và quản lý cán bộ Đoàn hiện nay.
4
5.
Mục đích nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu
5.1.
Mục đích nghiên cứu
Nêu ra vấn đề có tính chất lý luận, khoa học về quản lý nguồn nhân
lực trong tổ chức Đoàn thanh niên Huyện Sóc Sơn. Đưa ra được một số ý kiến,
phương thức quản lý nguồn nhân lực hiệu quả, phù hợp với các điều kiện kinh tế
- xã hội của huyện cũng như điều kiện hoạt động của Huyện đoàn hiện nay.
5.2.
Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng vấn đề tuyển dụng và quản lý nguồn nhân lực trong tổ
chức Đoàn thanh niên của Huyện đoàn Sóc Sơn.
- Tìm hiểu cơ cấu hoạt độngcủa Huyện đoàn Sóc Sơn và cơ sở Đoàn các
cấp trên địa bàn Huyện Sóc Sơn.
- Đưa ra các kết quả nghiên cứu và đề xuất một số khuyến nghị, phương
pháp quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức Đoàn thanh niên sao cho phù hợp
với điều kiện của tổ chức và tình hình kinh tế - xã hội của huyện Sóc Sơn hiện
nay.
6.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp xử lý thông tin
Phương pháp quan sát
Phương pháp phỏng vấn sâu.
PHẦN 2: PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ QUẢN
LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC ĐOÀN
THANH NIÊN
5
1.1.
Lý thuyết vận dụng
Vận dụng lý thuyết cấu trúc – chức năng của T. Passons để làm cơ sở
nghiên cứu đề tài: “Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức Đoàn thanh niên
huyện Sóc Sơn”. Các chủ thể của cấu trúc – chức năng nhấn mạnh tính liên kết
chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi một bộ phận đều
có một chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của một chỉnh thể đó
với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định và bền vững. Từ lý thuyết hệ thống
xã hội này, vận dụng vào việc phân tích thực trạng, tình hình quản lý nguồn
nhân lực trong tổ chức Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh huyện Sóc Sơn
với những nội dung sau:
Passons (1902 – 1979) là đại diện chính của lý thuyết chức năng. Nhưng
ông không tự coi mình là như vậy, đối với ông thuyết chức năng cấu trúc chỉ là
giai đoạn xây dựng lý thuyết dù cho ông đã đưa ra những yếu tố nhất định của
thuyết này vào những công trình cuối của mình.
Theo ông thuyết chức năng cấu trúc thỏa mãn các yêu cầu của một phạm
trù, nhưng vì tri thức khoa học xã hội về các quy luật là mơ hồ và chưa hoàn
chỉnh nên ông coi rằng các lý thuyết cũng hầu như chưa đạt tới.
Passons sử dụng khái niệm cấu trúc và khái niệm hệ thống gần như tương
đương nhau với nghĩa là hệ thống có cấu trúc và cả hai đều có chung thành phần
nhất định. Khái niệm cấu trúc nhấn mạnh yếu tố tạo nên khuôn mẫu định hình
hệ thống một cách tương đối ổn định. Khái niệm hệ thống nhấn mạnh một tập
hợp các yếu tố được sắp xếp theo trật tự nhất định, nghĩa là vừa được định hình
và độc lập liên tục qua lại trao đổi với hệ thống môi trường xung quanh. Passons
xem xét hệ thống trong một trục tọa độ ba chiều như sau: thứ nhất kiểu hệ thống
có cấu trúc của nó, thứ hai là chiều chức năng – hệ thống luôn nằm trong trạng
thái động vừa tự biến đổi vừa trao đổi với môi trường, thứ ba là chiều kiểm sát –
hệ thống có hệ thống điều khiển và tự điều khiển.
6
Như vậy nội dung của thuyết cấu trúc – chức năng của ông là thuyết hành
động. Ở độ xuất phát điểm là hành động riêng lẻ và mô hình cơ bản của nó được
phát triển trong cấu trúc của hành động xã hội có hội tụ các công trình của
Durkheim, Weber, Pareto... Các yếu tố của các hành động trước tiên là người
hành động là người theo đuổi mục đích, hoàn cảnh mà người đó đang tác động
và các yếu tố của nó mà một phần được kiểm tra như là phương tiện từ đó định
hướng cho hành động của mình.
Ngay trong cấu trúc hành động xã hội, hành động đã gắn vào một hệ
thống hành động phức tạp hơn mà cạnh đó phải phương biệt giữa hệ thống tự
nhiên và hệ thống văn hóa. Quan điểm này được phép tiếp tục phát triển trong
sự tiến tới một lý thuyết tổng quan về hành động. ở đây và hệ thống.
Trong lý thuyết hệ thống xã hội học của ông đã trình bày phân tích chức
năng cấu trúc với tư cách là phương pháp. Để có thể tiếp cận các hiện tượng
trong quá trình phân tích các khái niệm cấu trúc và chức năng đã được đưa vào.
Lý thuyết hệ thống xã hội được thể hiện qua sơ đồ 4 thành phần: AGIL
do Passons xây dựng là một cách tiếp cận hệ thống tương đối hoàn chỉnh bao
gồm: A= hệ thống hành vi thích nghi, G = hệ thống hướng đích, I = hệ thống
tích hợp xã hội và L = hệ thống bảo tồn khuôn mẫu văn hóa.
Cuối cùng một hệ thống xã hội đòi hỏi một ngôn ngữ để tồn tại. Trong
thập kỷ trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa chức năng cơ cấu
của Passons thống trị xã hội học Mỹ và ảnh hưởng to lớn đối với xã hội học thế
giới. Thế nhưng chính Passons cũng nhận thấy những thiếu sót cơ bản trong lý
thuyết hệ thống tổng quát ông xây dựng, đó chính là sự thiếu vắng quan điểm
lịch sử. Và trong thập kỷ 60, 70, chính ông đã đưa tiến hóa luận vào lý thuyết hệ
thống xã hội. Không có hệ thống xã hội nhất thành bất biến. Mọi hệ thống xã hội
đều biến đổi và thực chất của quá trình biến đổi đó là sự thay đổi hình thái ổn
định cân bằng xã hội này bằng hình thái ổn định cân bằng xã hội khác. Nhờ đó
7
lý thuyết xã hội của Passons không chỉ giải thích trật tự xã hội và còn giải thích
các biến đổi xã hội. Điều này càng minh chứng rằng cần xây dựng một tiếp cận
hệ thống hoàn chỉnh, trong đó cấu trúc luận, chức năng luận, hành vi luận và tiến
hóa luận chỉ là những bộ phận hợp thành một lý thuyết hệ thống tổng quát.
1.2.
1.2.1.
Một số khái niệm liên quan đến đề tài
Khái niệm nguồn nhân lực
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên
Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm,
năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá
nhân và của đất nước”.
Ngân hàng thế giới cho rằng: “nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người
bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân”. Như vậy, ở
đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật
chất khác: Vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Theo tổ chức lao động quốc tế thì: “Nguồn nhân lực của một quốc gia là
toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”. Qua đó có
thể hiểu nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa:
-
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động
cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó,
nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
-
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là
nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ
tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ
các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể
lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị có
thể hiểu: Nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực
8
lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh
nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản
xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai
của đất nước.
Khái niệm nhân lực
- Nhân lực bao gồm các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã
1.2.2.
hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo). Tức là tất cả các thành viên
trong tổ chức sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để
thành lập, duy trì và phát triển tổ chức, xã hội.
1.2.3.Khái niệm tổ chức
Theo Chester I. Barnard, thì tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay
nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức. Như
vậy theo lý thuyết quản trị công, để hình thành tổ chức phải có từ hai người trở
lên (điều kiện về chủ thể) và các hoạt động của họ được kết hợp với nhau một
cách có ý thức. Quản trị công nhấn mạnh đến hai yếu tố là chủ thể và nguyên tắc
hoạt động của tổ chức (sự kết hợp có ý thức của các chủ thể) khi nhận thức về
khái niệm tổ chức.
-
Trong cuốn “Sổ tay nghiệp vụ cán bộ làm công tác tổ chức nhà
nước” định nghĩa: “Tổ chức là một đơn vị xã hội, được điều phối một cách có ý
thức, có phạm vi tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều
mục tiêu chung (của tổ chức). Quan niệm của những người làm công tác tổ chức
nhà nước có nhiều điểm tương đồng với khoa học quản lý, luật học trong đó
nhấn mạnh tới mục tiêu chung, nguyên tắc hoạt động của tổ chức (điều phối một
cách có ý thức). Điểm mới quan trọng của quan niệm này về tổ chức thể hiện ở ý
nói về phạm vi của tổ chức, mỗi tổ chức có phạm vi hoạt động khác nhau phụ
thuộc vào các yếu tố chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ cấu, nguồn lực của tổ
chức đó. Các yếu tố này là những điều kiện của tổ chức.
9
Khái niệm Đoàn thanh niên
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội của
1.2.3.
thanh niên Việt Nam, giữ vai trò nòng cốt trong phong trào thanh niên; tổ chức,
hướng dẫn hoạt động của thiếu niên, nhi đồng, phụ trách Đội Thiếu niên tiền
phong Hồ Chí Minh.
1.2.4. Khái niệm Thanh niên
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quán
triệt quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí,vai trò của thanh niên, Hội nghị lần
thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã ban hành Nghị quyết về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên. Nghị quyết khẳng
định: “Đảng ta tiếp tục đề cao vai trò, vị trí quan trọng của thanh niên; xác
định thanh niên là lực lượng xung kích trong giai đoạn cách mạng mới”;
“Thanh niên là giường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là
lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc, một trong những nhân tố
quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên được đặt ở vị trí
trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con
người”. Đồng thời nêu rõ “thanh niên nước ta đang đứng trước những cơ hội,
thuận lợi lớn, nhưng cũng phải đương đầu với những khó khăn, thách thức
không
nhỏ…”
(nguồn: />co_id=30668&cn_id=240818)
1.2.5. Khái niệm Quản lý
Tác giả Hà Văn Tác định nghĩa về quản lý như sau: “Quản lý là sự tác
động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm
sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được
mục tiêu đặt ra trong điều kiện tác động của môi trường”.
1.2.6. Khái niệm cán bộ Đoàn
Cán bộ Đoàn là cán bộ hoạt động chính trị - xã hội được Đảng giao nhiệm
vụ vận động thanh, thiếu nhi; trực tiếp thực hiện công tác vận động tuyên tuyền
giáo dục thanh thiếu nhi theo đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và Điều
10
lệ Đoàn; rồi tiếp tổ chức các hoạt động gắn với hình thức phù hợp và lợi ích thiết
thực của thanh thiếu nhi và của xã hội.
Cán bộ Đoàn bao gồm cán bộ chuyên trách, cán bộ bán chuyên trách;
cán bộ không chuyên trách, cán bộ làm công tác Hội LHTN Việt Nam, Hội Sinh
viên Việt Nam và Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh. Cụ thể là những
người giữ chức danh bí thư chi đoàn, phó bí thư, bí thư đoàn cấp cơ sở trở lên;
những người làm việc trong các cơ quan chuyên trách của Đoàn và trực tiếp làm
công tác đoàn, hội, đội, phong trào thanh thiếu nhi từ cấp huyện và tương đương
trở lên; trợ lý thanh niên, cán bộ ban thanh niên trong Quân đội nhân dân; uỷ
viên ban công tác thanh niên các cấp trong Công an nhân dân.
1.2.7. Khái niệm công tác cán bộ đoàn
Công tác cán bộ Đoàn là việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán
bộ Đoàn, trong đó bao gồm các khâu: xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, tuyển dụng,
quy hoạch, đào tạo, đánh giá, bổ nhiệm, đề bạt, luân chuyển, điều động, quản lý,
khen thưởng, chính sách đãi ngộ cán bộ Đoàn, kể cả ở cấp Đoàn cơ sở… nhằm
phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước trong từng thời gian nhất
định. Nói cách khác, công tác cán bộ Đoàn là những công việc mà cấp ủy, đảng
bộ, chi bộ tiến hành nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn cơ sở có chất lượng tốt
đảm bảo thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước, các nghị quyết, quyết định của cấp ủy các cấp một cách nghiêm túc
và đem lại hiệu quả thiết thực cho cơ sở. Có thể nói, ở đâu xây dựng được đội
ngũ cán bộ Đoàn ở cơ sở vững mạnh thì ở đó sẽ phát huy được tiềm năng của
thế hệ trẻ, qua đó để củng cố thêm nguồn cán bộ cho cơ sở. Bởi lẽ, thế hệ trẻ
chính là lực lượng không thể thay thế để kế cận các thế hệ đi trước. Sự nghiệp
cách mạng Việt Nam, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa có thành công hay không chính là phụ thuộc vào thế hệ trẻ trong
tương lai. Như vậy, có thể khẳng định công tác cán bộ Đoàn nói chung và công
tác cán bộ Đoàn cơ sở nói riêng có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại đất nước.
11
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
TRONG TỔ CHỨC ĐOÀN THANH NIÊN HUYỆN SÓC SƠN
2.1.
Vài nét khái quát về Đoàn thanh niên huyện Sóc Sơn.
Sóc Sơn là một trong 18 huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội. Huyện
này có tổng diện tích tự nhiên là 30.650 ha (bằng 1/3 diện tích của Hà Nội cũ và
là huyện rộng thứ hai của Hà Nội mở rộng); diện tích đất nông lâm nghiệp là
18.000 ha, trong đó có 4.557 ha rừng, gần 1.700 ha đất chuyên dụng dành cho
quốc phòng. Tổng số dân là trên 30 vạn người. Huyện gồm 25 xã và 01 thị trấn
với 199 thôn, làng, khu dân cư. Trên địa bàn huyện hiện có 98 đơn vị, cơ quan,
trường học, đơn vị lực lượng vũ trang của Trung ương, Thành phố và gần 1.000
doanh nghiệp, 9 trường đại học, cao đẳng, trung học dạy nghề.
Trước năm 1977, huyện Sóc Sơn bao gồm huyện Kim Anh và huyện Đa
Phúc trực thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Tháng 7/1977, một phần huyện Kim Anh và
huyện Đa Phúc sát nhập thành huyện Sóc Sơn trực thuộc thành phố Hà Nội.
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Sóc Sơn cũng được thành lập từ đó. Trải qua
37 năm thành lập và phát triển, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Sóc Sơn dưới
sự lãnh đạo trực tiếp của Huyện uỷ và Thành đoàn Hà Nội, đã không ngừng lớn
mạnh. Nhiều phong trào hành động cách mạng đã ra đời, nhiều tấm gương đã trở
thành điểm sáng trong phong trào thanh niên thành phố Hà Nội và của cả nước.
Ở giai đoạn trước 01/8/2008, Sóc Sơn là huyện khó khăn và khoảng cách
địa lý xa nhất của Thành phố Hà Nội. Là huyện duy nhất của Thủ đô Hà Nội
(cũ) có đồi núi bao phủ. Những năm gần đây, được sự quan tâm của Trung ương,
thành phố cùng với sự nỗ lực của các cấp ủy, chính quyền và nhân dân trong
huyện, huyện Sóc Sơn đã có những bước phát triển nhanh, mạnh. Tốc độ tăng
trưởng kinh tế luôn đạt trên 10%. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới giảm dần
hằng năm. Huyện đang chuyển dịch mạnh cơ cấu sản xuất từ nông nghiệp, công
nghiệp, dịch vụ sang công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp.
12
Có được kết quả như vậy, bên cạnh yếu tố khách quan, một trong yếu tố
hết sức quan trọng đó là yếu tố cán bộ, cán bộ là gốc của mọi hoạt động. Thực
tiễn cho thấy, đội ngũ cán bộ huyện Sóc Sơn từ huyện đến cơ sở chủ yếu được
tạo nguồn, trưởng thành từ công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi (80%
cán bộ trưởng thành từ cán bộ Đoàn).
Nhưng thực tế cũng cho thấy việc phát triển đội ngũ kế cận cho Đảng,
chính quyền và các đoàn thể nhân dân còn có những điểm bất cập, chưa thực sự
đáp ứng được điều kiện thực tiễn địa phương khi có sự thay đổi.
Quá trình phát triển của Huyện đoàn Sóc Sơn gắn liền với sự phát triển
của huyện Sóc Sơn nói riêng và của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nói chung. Trong
những năm qua, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Sóc Sơn đã tập trung chỉ đạo
phong trào, đầu tư mạnh về cả cơ sở vật chất và con người để đáp ứng nhu cầu
công tác thanh vận hiện nay.
Trải qua 10 kỳ Đại hội, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Sóc Sơn đã có
nhiều cố gắng trong việc xây dựng tổ chức, đổi mới nội dung, hình thức hoạt
động; từng bước đáp ứng được nhu cầu hoạt động của thanh thiếu nhi trong tình
hình mới. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho thanh niên
được đẩy mạnh, các phong trào hành động cách mạng được phát huy cao độ đã
khẳng định khẩu hiệu hành động của tuổi trẻ cả nước nói chung và tuổi trẻ Sóc
Sơn nói riêng trong thời kỳ mới: “Thanh niên Việt Nam xung kích, sáng tạo vì
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; vì tương lai tươi sáng của
tuổi trẻ”.
Từ những thành công của các phong trào hành động, số cơ sở Đoàn và
đoàn viên thanh niên không ngừng tăng lên. Đến tháng cuối năm 2014, Huyện
đoàn Sóc Sơn bao gồm 60 cơ sở Đoàn trực thuộc với 10.476 đoàn viên, 15.200
thanh niên, 48.000 thiếu nhi, trong đó trên 80% là thanh niên nông thôn. Đại bộ
phận thanh niên có ý thức phấn đấu, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng;
năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường. Thanh niên Sóc Sơn
có nhu cầu cao về học nghề, việc làm, học tập nâng cao trình độ văn hoá, tiếp
13
cận với công nghệ mới, các vấn đề xã hội; tích cực tham gia các hoạt động xã
hội tình nguyện.
Thời đại hiện nay là thời đại của khoa học công nghệ, nền kinh tế tri
thức. Trong xu thế hội nhập sâu rộng với khu vực và quốc tế, thanh niên là đối
tượng chịu tác động lớn nhất. Điều đó đòi hỏi Huyện đoàn Sóc Sơn cần có
những bước phát triển đột phá về chất, đặc biệt là công tác cán bộ để có thể đáp
ứng yêu cầu đổi mới và bối cảnh thay đổi hiện nay.
2.2.
Quá trình xây dựng, phát triển nguồn lực, cán bộ
đoàn cấp cơ sở
2.2.1. Cơ cấu tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Sóc Sơn hiện
nay
* Hệ thống tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Sóc Sơn
Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đoàn do bầu cử lập ra, thực hiện nguyên
tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Sóc Sơn là
Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Sóc Sơn. Giữa hai kỳ Đại hội,
cơ quan lãnh đạo là Ban chấp hành do Đại hội đại biểu Đoàn cấp huyện bầu ra.
Giữa hai kỳ họp Ban Chấp hành, cơ quan lãnh đạo là Ban Thường vụ Huyện
đoàn do Ban Chấp hành Huyện đoàn bầu ra.
Hệ thống tổ chức Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh huyện Sóc Sơn
gồm 02 cấp:
- Cấp cơ sở Đoàn (Gồm Đoàn cơ sở và chi đoàn)
- Cấp huyện
* Cơ cấu tổ chức Huyện đoàn Sóc Sơnhiện nay
+ Ban Chấp hành: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Sóc Sơn có 33 đồng
chí. BCH Huyện đoàn huyện Sóc Sơn có trách nhiệm và quyền hạn đó là: Quyết
định các vấn đề thuộc nguyên tắc Điều lệ Đoàn; quyết định quy chế làm việc,
quy chế thi đua khen thưởng và chương trình hoạt động của Ban Chấp hành;
quyết định chủ trương, phương hướng, nhiệm vụ chương trình công tác lớn;
thông qua báo cáo định kỳ hang năm, 6 tháng về công tác Đoàn và phong trào
TTN của huyện; quyết định triệu tập Đại hội, Hội nghị đại biểu toàn huyện của
Đoàn, chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội và giới thiệu nhân sự tham gia BCH
14
khi đến nhiệm ký Đại hội; quyết định quy chế làm việc của Ủy ban kiểm tra
Huyện đoàn, quy chế làm việc của Hội đồng đội huyện; quyết định thành lập,
giả thể tổ chức Đoàn trực thuộc huyện; giới thiệu nhân sự đại diện cho Đoàn
TNCS Hồ chí Minh huyện ứng cử vào vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà
nước.
+ Ban Thường vụ: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Sóc Sơn có 11 đồng
chí có nhiệm vụ là thay mặt Ban Chấp hành lãnh đạo các cấp bộ Đoàn trong việc
thực hiện Nghị quyết của BCH giữa hai kỳ hội nghị BCH.
+01 Bí thư, 02 phó Bí thư Huyện đoàn là ủy viên Ban Thường vụ. Trong
đó, cơ cấu Bí thư Huyện đoàn là Chủ tịch Hội LHTN. 01 Phó bí thư Huyện đoàn
là Chủ tịch Hội đồng Đội, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Huyện đoàn. 01 Phó bí
thư Huyện đoàn phụ trách khối nông nghiệp, công tác học sinh, sinh viên.
* Hệ thống cơ sở Đoàn trực thuộc: 60 cơ sở, bao gồm:
- Đoàn cơ sở khối xã - thị trấn: 26 đơn vị.
- Đoàn cơ sở khối Công nhân viên chức - Lực lượng vũ trang: 19 đơn vị
- Đoàn cơ sở khối THPT - GDTX - DN: 15 đơn vị
- Bên cạnh đó còn có:
+ Đội TNTP Hồ Chí Minh huyện: 60 liên đội (27 Liên đội Trung học cơ sở
và 33 Liên đội Tiểu học).
+ Hội LHTN huyện Sóc Sơn: 38 đơn vị.
Từ những tổ chứccơ cấu bộ máy hoạt động của Đoàn thanh niên huyện
Sóc Sơn để thấy được việc quản lý hoạt động cũng như quản lý nguồn nhân lực
từ cấp trên xuống đoàn cơ sở được tổ chức một cách rõ ràng.Và ở mỗi một cấp
thì đều phải diễn ra việc quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức và tổ chức trực
thuộc.
Bảng 1: Số liệu tổ chức cơ sở Đoàn trực thuộc Huyện đoàn Sóc Sơn
Trong đó
N
ăm
Tổn
g sô
2
60
Khôi xã
Khôi
Khôi
- thị trấn
CNVC -
THPT - GDTX
26
LLVT
21
- DN
13
008
15
2
59
26
20
13
2
59
26
20
13
2
59
26
20
13
2
61
26
20
15
2
60
26
19
15
009
010
011
012
013
(Nguồn: Số liệu thống kê của Cơ quan thường trực Huyện đoàn Sóc
Sơn)
•Thực trạng Cơ cấu tổ chức cơ quan thường trực Huyện đoàn:
- Thường trực Huyện đoàn gồm: 01 bí thư và 02 phó bí thư có trách nhiệm
và quyền hạn đó là điều hành bộ máy tham mưu, giúp việc ở cơ quan Huyện
đoàn đmả bảo yêu cầu hoạt động của BCH, BTV Huyện đoàn; xử lý công việc
hàng ngày theo sự ủy nhiệm của BTV và quy chế làm việc của cơ quan Huyện
đoàn; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung Hội nghị BTV Huyện đoàn; chỉ
đạo, điều hành, tổ chức công tác thông tin trong hệ thống phục vụ việc chỉ đạo
công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi toàn huyện; Chỉ đạo lập và điều
hành công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt của cơ
quan Huyện đoàn; quyết định những vấn đề, công việc cần giải quyết ngay trong
trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của BTV Huyện đoàn khi trong BTV còn có
ý kiến khác nhau và phải chịu trách nhiệm về quyết định đó.
+ Bí thư Huyện đoàn: phụ trách chung.
+ Phó bí thư Thường trực Huyện đoàn: phụ trách công tác khối trường
THPT - GDTX - DN, khối CNVC- LLVT; công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn
và công tác Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh.
+ Phó bí thư: Phụ trách khối xã - thị trấn; khuyến nông thanh niên; công tác
văn phòng - tài chính.
16
- Giúp việc cho bí thư và phó bí thư là các chuyên viên, cán bộ chuyên
trách tại Cơ quan thường trực Huyện đoàn theo các mảng:
+ Mảng công tác Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh
+ Mảng công tác văn phòng - tài chính
+ Mảng công tác Hội LHTN Việt Nam
+ Mảng công tác Đoàn khối xã - thị trấn
+ Mảng công tác Đoàn khối CNVC – LLVT
+ Mảng công tác Đoàn khối THPT - GDXT – DN
SƠ ĐỒ CẤU TRÚC CÁN BỘ HUYỆN ĐOÀN SÓC SƠN
Ban Chấp hành
Hội đồng đội
Ban thường vụ
Chủ tịch Hội
đồng đội
Chủ nhiệm ủy
Bí thư
Phó chủ tịch
Hội đồng đội
Ủy ban kiểm tra
ban kiểm tra
Phó chủ nhiệm
2 Phó bí thư
ủy ban kiểm tra
2.2.2. Thực trạng nguồn lực cán bộ Đoàn cấp cơ sở khối xã, thị trấn.
2.2.2.1. Nhiệm vụ đôi với cán bộ Đoàn
- Đối với tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, việc phân tích công việc trong
tổ chức tại cấp huyện, xã chỉ là do cảm tính chủ quan của các đồng chí trong cấp
ủy cảm nhận về việc cá nhân nào có tố chất công tác Đoàn.
- Đối với Trung ương, phân tích công việc trong tổ chức Đoàn đã được
Trung ương đoàn cụ thể hóa thông qua tiêu chuẩn cán bộ Đoàn đ theo tinh thần
Nghị quyết Hội nghị lần thứ III Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, cụ
thể là:
+ Có tinh thần yêu nước, trung thành với Tổ quốc, tận tuỵ phục vụ nhân
dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện tốt chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
17
+ Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Có ý thức tổ chức kỷ luật, trung
thực, không cơ hội; nhiệt tình, năng động, sáng tạo, có khả năng tổ chức tập hợp,
gắn bó mật thiết và được sự tín nhiệm của đoàn viên, thanh niên, thiếu niên, nhi
đồng và nhân dân.
+ Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên môn, ngoại
ngữ, tin học phù hợp với yêu cầu của vị trí công tác được giao; trưởng thành từ
phong trào Đoàn - Hội - Đội hoặc tham gia hoạt động phong trào thanh thiếu nhi
hoặc đã được đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ, kiến thức công tác
thanh vận.
- Có sức khoẻ tốt, ngoại hình phù hợp với công tác thanh vận; tuổi cán bộ
Đoàn được quy định theo cương vị được giao và có thể hơn từ 1 đến 2 tuổi để
phù hợp với yêu cầu công tác cụ thể.
- Đối với cán bộ Đoàn cấp cơ sở, bên cạnh tiêu chuẩn chung nêu trên, còn
phải đảm bảo một số tiêu chuẩn cụ thể dưới đây:
- Trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên, trình độ lý luận sơ cấp.
+ Giữ chức vụ không quá 35 tuổi.
Đối với vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, đối tượng chính sách,
trình độ văn hoá nói chung từ tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên, đã được bồi
dưỡng chương trình lý luận chính trị sơ cấp, giữ chức vụ không quá 37 tuổi.
2.2.2.2. Kế hoạch hóa nguồn nhân lực trong tổ chức
Đây là nội dung rất quan trọng đối với QL NNL của tổ chức Đoàn. Vì
tính chất luôn biến động nên khâu kế hoạch hóa để có nguồn nhân lực dự phòng
nhằm có thế hệ kế cận đối với tổ chức. Trong thực tế tại các xã, thường khi cán
bộ Đoàn đến tuổi trưởng thành, quá tuổi trưởng thành hoặc luân chuyển được thì
tổ chức Đoàn mới xác định đến nguồn kế cận. Hay có những trường hợp nếu là
con cháu trong lãnh đạo thì có thể là nhân sự nguồn từ khi còn đang học, chưa
có sự khách quan và đảm bảo công bằng.
2.2.2.3. Sử dụng nhân lực
18
Sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Sử dụng hợp lý số lượng lao động: Là hình thức phân công lao động vào
công việc có đặc tính khác nhau về chuyên môn, hình thái.
- Sử dụng hợp lý chất lượng lao động: Sử dụng có hiệu quả nguồn lao động
thực chất là việc phân bố nguồn lao động một cách hợ lý sao cho việc sử dụng
lao động này đạt được mục đích là tăng trưởng và phát triển.
- Sử dụng hợp lý thời gian lao động: Tức là ở một khoảng thời gian nhất
định, việc sử dụng thời gian vào các công việc phải đạt được hiệu quả, mục tiêu
công việc đặt ra.
- Sử dụng hợp lý cường độ lao động: Đó là việc phân bổ công việc một
cách hợp lý, thời gian làm việc, công việc phải hoàn thành không quá nặng hay
nhẹ để sử dụng hiệu quả chất lượng công việc cũng như thời gian lao động.
- Sử dụng hợp lý năng suất lao động: Đây là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
hoạt động có ích của con người trong một đơn vị thời gian. Do đó sử dụng hợp
lý năng suất lao động cũng là việc sử dụng thời gian hợp lý với các yếu tố khác
tối thiểu là để đạt được mục tiêu đặt ra.
Tuy nhiên, hiện nay trong các tổ chức Đoàn thanh niên, đặc biệt là ở khối
xã, thị trấn tại huyện Sóc Sơn hiện nay vẫn còn tình trạng sử dụng cán bộ Đoàn
như bộ phận phục vụ. Các công việc còn vụn vặt, không phải chức năng của
Đoàn nhưng lãnh đạo vẫn giao nhiệm vụ…
2.2.2.4. Trình độ nghiệp vụ nguồn nhân lực
Tại huyện Sóc Sơn, tổ chức Đoàn cấp xã đều được quan tâm đến công tác đào
tạo, hàng năm đều có các lớp tập huấn dành riêng cho cán bộ Đoàn - Đội các khối tại
huyện và Thành phố. Tuy nhiên nội dung tập huấn, đào tạo còn chưa sát thực và phù
hợp với thực tiễn, chưa đổi mới. Nội dung tập huấn chưa đáp ứng được nguyện vọng
của các cá nhân.
19
•Về trình độ lý luận chính trị
Hầu hết cán bộ Đoàn cấp cơ sở huyện Sóc Sơn có trình độ sơ cấp và trung
cấp LLCT. Đa số cán bộ Đoàn cấp cơ sở huyện Sóc Sơn là đảng viên Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Hiện tại, đối với khối xã, thị trấn, trình độ chuyên môn của cán bộ đoàn
được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2. Cơ cấu trình độ của cán bộ Đoàn khối xã, thị trấn huyện Sóc
Sơn
Đơn vị tính: Người
Trình độ chuyên
T
T
Tiêu
chuẩn, chức vụ
môn
Số
T
lượng
C
Cấp sơ sở
Bí thư
1
.
2
Phó bí thư
.
3
.
Uỷ
viên
BTV
4
UV BCH
.
Tổng
Đ
2
5
04
1
24
2
8
0
1
0
2
05
1
12
0
9
1
4
3
12
2
7
(Nguồn: Số liệu thống kê của Cơ quan thường trực Huyện đoàn)
•Về trình độ nghiệp vụ quản lý
20
C
C
1
1
9
5
7
1
0
4
9
C
cấp
3
4
LLCT
S
T
6
0
5
ơ
1
2
1
hs
6
3
T
1
0
1
122
H
8
3
Đ
0
1
26
679
C
0
26
549
Trình độ
Nhìn chung, cán bộ Đoàn cấp cơ sở huyện Sóc Sơn hằng năm đều được
tham gia các khoá tập huấn về nghiệp vụ, kỹ năng công tác thanh niên. Tuy
nhiên, còn khá nhiều cán bộ Đoàn chưa được đào tạo về quản lý nhà nước và
chương trình chuyên viên cũng như về lý luận chính trị. Trong khi đó, những nội
dung gắn với hai chương trình này gần như bắt buộc phải có đối với cán bộ Đoàn.
Ngoài ra, những kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ Ngoài ra, những kiến thức
chuyên môn và nghiệp vụ quản lý cần thiết khác, cán bộ Đoàn của huyện cũng
chưa được đào tạo. Hạn chế lớn này đã dẫn tới sự yếu kém trong công tác lãnh đạo
ở hầu hết cấp bộ Đoàn cơ sở, nhất là khi có sự thay đổi của tình hình thực tế.
Tiểu kết: Phần này giới thiệu cơ bản về tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
huyện Sóc Sơn: đặc điểm kinh tế, xã hội, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của
huyện Sóc Sơn. Quá trình xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cán bộ Đoàn
cấp cơ sở trên địa bàn huyện Sóc Sơn. Đặc điểm công tác Đoàn tại Huyện Sóc
Sơn, cơ cấu, bộ máy điều hành công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi tại
huyện. Đặc biệt đó là thực trạng nguồn nhân lực trong tổ chức, trong đó bao
gồm nhiệm vụ của các cán bộ Đoàn thanh niên, kế hoạch hóa nguồn nhân lực
trong tổ chức và việc sử dụng nguồn nhân lực đó phải đảm bảo tính hợp
21
CHƯƠNG 3:
QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC ĐOÀN
THANH NIÊN
3.1. Tuyển dụng nhân lực của tổ chức
Quá trình tuyển dụng cán bộ đối với tổ chức Đoàn cấp xã, thị trấn không
qua thi tuyển, phỏng vấn. Quy trình tuyển dụng đối với tổ chức Đoàn thông qua
bầu cử, cụ thể như sau:
- Trường hợp kết thúc nhiệm kỳ thì do Ban chấp hành Đoàn xã bầu tại hội
nghị lần thứ nhất sau khi kết thúc Đại hội đại biểu Đoàn xã hoặc có thể bầu trực
tiếp tại Đại hội nếu được cấp trên chỉ thị hoặc cho phép.
- Trong trường hợp giữa nhiệm kỳ, nhân sự là do BCH Đoàn xã giới thiệu,
đề xuất, trình cấp ủy trực tiếp tại xã, nếu cấp ủy thống nhất thì làm văn bản xin ý
kiến chỉ đạo của Huyện đoàn, Huyện đoàn thống nhất thì BCH tổ chức hội nghị
và bầu tại hội nghị với hình thức bỏ phiếu kín. Trường hợp nhân sự dự kiến
không được cấp ủy tại vị thống nhất thì triển khai lấy ý kiến trong BCH giới
thiệu nhân sự khác.
- Tuy nhiên trong thực tế, khi tìm kiếm nhân sự vào chức danh cán bộ chủ
chốt Đoàn khối xã, thị trấn (Bí thư, Phó bí thư đoàn xã, thị trấn) thì còn chịu ảnh
hưởng, tác động của nhiều yếu tố: mối quan hệ họ hàng với cấp ủy, tư tưởng
vùng miền, cục bộ, … dẫn đến việc bỏ phiếu để xin ý kiến và bầu chỉ mang tính
hình thức và chất lượng cán bộ Đoàn tại một số địa phương, đơn vị trên địa bàn
huyện không đáp ứng được những tiêu chuẩn theo quy định.
Trên thực tế, cán bộ Đoàn cấp xã, thị trấn vẫn được bầu cử nhưng
thường nhân sự đã có sự chỉ đạo và phải thông qua lãnh đạo cấp ủy cơ sở và
lãnh đạo Đoàn cấp huyện nên không đảm bảo tính khách quan và công bằng.
22
3.2. Tình hình quản lý nguồn nhân lực
Hàng năm, cấp ủy các cơ sở và Huyện đoàn Sóc Sơn đều có đánh giá, xếp
loại các cơ sở Đoàn trực thuộc và cá nhân các đồng chí cán bộ Đoàn chủ chốt.
Tuy nhiên, việc đánh giá, xếp loại chưa được khách quan, còn mang tính hình
thức, mặc dù đây cũng là một căn cứ để xét quy hoạch. Tâm lý nói tránh còn
nhiều và đặc biệt là tâm lý “giơ cao đánh sẽ” vẫn còn nặng nề trong tư tưởng của
người dân Sóc Sơn.
Việc sử dụng, đánh giá và luân chuyển đối với Bí thư, Phó bí thư Đoàn
các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Sóc Sơn còn chưa thật xác đáng và phù hợp
với năng lực, trình độ.
Nội dung, chương trình công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi của
khối xã, thị trấn là do Huyện đoàn chỉ đạo, có sự điều chỉnh và áp dụng đối với
thực tế mỗi địa phương cũng như nhiệm vụ chính trị của từng xã. Việc đánh giá,
xếp loại tổ chức Đoàn xã và cá nhân Bí thư,Phó bí thư Đoàn hằng năm (để xét
thi đua) là do Huyện đoàn. Tuy nhiên, đơn vị trực tiếp quản lý Bí thư, Phó bí thư
Đoàn xã là Đảng ủy xã. Việc đánh giá, xếp loại thi đua cuối năm cũng như quy
hoạch và luân chuyển, điều động, bố trí, sắp xếp vị trí công việc của Bí thư
Đoàn xã sau khi hết tuổi công tác đều do Đảng ủy xã quyết định, không có thông
tin cũng như ý kiến nào từ phía Huyện đoàn.
Trong những năm gần đây, các đồng chí Bí thư, Phó bí thư Đoàn thanh
niên các xã, thị trấn cũng được quy hoạch, bổ nhiệm hoặc điều động, luân
chuyển sang nhiều vị trí khác nhau tại các địa phương, như chuyển sang làm cán
bộ văn phòng Đảng ủy, Văn phòng UBND, Chủ tịch MTTQ, Chủ tịch Hội nông
dân, Phó chủ tịch UBND xã, Phó bí thư thường trực Đảng ủy xã, Phó chủ tịch
HĐND,… Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp Bí thư Đoàn xã đã quá tuổi công
tác chưa chuyển được hoặc chuyển về làm cán bộ thôn.
23
Do yêu cầu về độ tuổi đối với cán bộ Đoàn nên đầu ra cho đội ngũ cán bộ
Đoàn chủ chốt khối xã, thị trấn trên địa bàn huyện Sóc Sơn cũng đang là một
vấn đề cấp bách.
Bảng 3. Tình hình luân chuyển Bí thư Đoàn cấp xã, giai đoạn 2010 –
2014
Chủ tịch các
Nă đoàn thể khác của
m
xã
Cấ
p ủy
Công tác
Công
chính quyền tại xã tác tại thôn
20
4
của xã
1
20
3
2
1
0
20
5
3
1
1
20
4
2
1
0
20
5
2
2
0
2
0
10
11
12
13
14
3.3. Chính sách đãi ngộ và quản lý nguồn nhân lực
Nhìn chung, những năm gần đây, việc thực hiện chế độ, chính sách đối
với cán bộ Đoàn thuộc khối xã, thị trấn ở huyện Sóc Sơn được các cấp thẩm
quyền vận dụng theo Điều 23 trong Quy chế cán bộ Đoàn, trong đó có quy định
cụ thể như sau:
- Cán bộ đoàn có thời gian công tác đoàn, hội, đội từ 3 năm liên tục trở lên
và hoàn thành tốt nhiệm vụ, khi thi tuyển công chức được cộng điểm ưu tiên.
- Độ tuổi đi học tại chức về lý luận chính trị đối với cán bộ đoàn có thể ít
hơn 5 tuổi so với các đối tuợng khác.
- Cán bộ đoàn thực hiện việc luân chuyển công tác được hưởng chế độ trợ
cấp và nhà ở công vụ theo quy định chung; được bảo lưu phụ cấp trong thời gian
luân chuyển.
24
- Cán bộ đoàn là đảng viên nếu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, có khả năng,
triển vọng phát triển, đã qua rèn luyện, thử thách trong thực tiễn công tác đoàn,
hội, đội, phong trào thanh thiếu nhi, được xem xét giới thiệu để bầu vào cấp uỷ
đảng. Bí thư, phó bí thư đoàn từ cấp cơ sở trở lên, đạt tiêu chuẩn cấp uỷ viên thì
được cơ cấu để bầu vào cấp uỷ đảng cùng cấp.
Đối với chức danh Bí thư Đoàn xã được tính là cán bộ chuyên trách cấp
xã và hưởng các chế độ như công chức cấp xã theo pháp lệnh cán bộ công chức.
Đối với chức danh Phó bí thư Đoàn xã thì được hưởng theo chế độ là cán
bộ không chuyên trách cấp xã.
3.4. Những điểm mạnh cơ bản
Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước đã tạo nhiều điều
kiện thuận lợi cho thế hệ trẻ rèn luyện, cống hiến và trưởng thành như: ra Luật
Thanh niên; Đảng cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số 25 - NQ/TW của
BCH Trung ương Đảng khoá X “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước”; Bộ Chính trị đã ban hành Quy chế cán bộ Đoàn trong đó chỉ rõ những
quy định trong công tác tổ chức cán bộ Đoàn. Qua mỗi kỳ Đại hội, Đảng luôn có
những nghị quyết chuyên đề về công tác thanh niên…
(Nguồn: />co_id=30668&cn_id=240818)
Những chủ trương, chính sách nói trên của Đảng và Nhà nước đã được
các cấp uỷ Đảng huyện Sóc Sơn từ huyện tới cơ sở quán triệt và tổ chức thực
hiện về cơ bản là nghiêm túc; từ đó tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức Đoàn các
cấp từ huyện đến cơ sở phát huy ngày càng tốt hơn vai trò của mình.
Những điểm mạnh cơ bản của đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở huyện Sóc
Sơn thể hiện ở chỗ: Đa số đều được rèn luyện và trưởng thành từ thực tiễn
phong trào tại cơ sở; đội ngũ cán bộ Đoàn cấp khối xã, thị trấn huyện Sóc Sơn
hầu hết là người dân gốc địa phương, có điều kiện nắm chắc đặc điểm của địa
25