Tải bản đầy đủ (.pdf) (87 trang)

Tăng cường quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại chi cục thuế Đô Lương – Nghệ An

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.28 MB, 87 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THỜI

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ ĐÔ LƯƠNG - NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

Hà Nội, 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THỜI

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ ĐÔ LƯƠNG - NGHỆ AN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Trần Kim Hào


Hà Nội, 2017


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
Chương 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP ...................................................................................................................... 6
1.1. Khái quát về thuế thu nhập doanh nghiệp ............................................................ 6
1.2. Quản lý thu thuế Thu nhập doanh nghiệp .......................................................... 10
Chương 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN ĐÔ LƯƠNG - NGHỆ AN ..................... 31
2.1. Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Đô Lương ......................................................... 31
2.2. Khái quát về chi cục thuế huyện Đô Lương - Nghệ An .................................... 32
2.3. Thực trạng công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại chi cục thuế
huyện Đô Lương - Nghệ An ..................................................................................... 37
2.4. Đánh giá thực trạng quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại chi cục thuế Đô
Lương………………………………………………………………………………54
Chương 3. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN ĐÔ LƯƠNG - NGHỆ AN ..... 63
3.1. Mục tiêu, yêu cầu của hoạt động quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp ............. 63
3.2. Các giải pháp tăng cường quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại chi cục
thuế huyện Đô Lương ............................................................................................... 66
3.3. Kiến nghị ............................................................................................................ 76
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................. 81


DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
1. Bảng:
Bảng 2.1: Công tác thu thuế tại Chi cục thuế Đô Lương từ 2013 đến 2016 ............. 36

Bảng 2.2: Số lượng doanh nghiệp theo tính chất hoạt động tại huyện Đô Lương.... 37
Bảng 2.3: Mức độ hài lòng của khác hàng đối với công tác thu thuế TNDN ........... 50

2. Hình:
Hình 2.1. Số lượng doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp thuế TNDN tại huyện Đô Lương 39
Hình 2.2. Doanh thu tính thuế TNDN trên địa bàn Đô Lương ................................. 40
Hình 2.3. Tổng chi phí được trừ khỏi thuế TNDN trên địa bàn Đô Lương .............. 41
Hình 2.4. Tổng thuế TNDN phải nộp và phần bổ sung trên địa bàn Đô Lương....... 42
Hình 2.5. Tổng số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp thu được .................................. 44
Hình 2.6. Hiệu quả của công tác dự toán .................................................................. 47
Hình 2.7. Đối chiếu chỉ tiêu 𝒀𝟏, 𝒀𝟐 và 𝒀𝟑 .............................................................. 48
Hình 2.8. Đối chiếu chỉ tiêu 𝒀𝟒, 𝒀𝟓 và 𝒀𝟔 .............................................................. 49
Hình 2.9. Đối chiếu các chỉ tiêu 𝒁𝟏, 𝒁𝟓 và 𝒁𝟔 ....................................................... 51
Hình 2.10. Đối chiếu các chỉ tiêu 𝒁𝟐, 𝒁𝟑 và 𝒁𝟒 ..................................................... 52
Hình 2.11. Hiệu quả công tác quản lý nợ thuế tại chi cục Đô Lương ....................... 53

3. Sơ đồ:
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy Chi cục thuế huyện Đô Lương – Nghệ An .......... 33


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DN

Doanh nghiệp

GTGT

Thuế giá trị gia tăng

NSNN


Ngân sách nhà nước

TNDN

Thu nhập doanh nghiệp

UBND

Ủy ban nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế thị trường với sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đã làm cho các thành
phần kinh tế trong xã hội có điều kiện cạnh tranh một cách lành mạnh để phát triển
và dần khẳng định được vai trò của mình trong nền kinh tế. Kinh tế của các doanh
nghiệp, trong đó bao gồm các doanh nghiệp hoạt động trên nhiều lĩnh vực có đóng
góp to lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và đóng góp vào ngân sách nhà
nước (NSNN) nói riêng. Với phạm vi hoạt động rộng lớn và mang tính chất đa dạng
phong phú, bộ phận này không những đạt hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất
kinh doanh mà hàng năm còn đóng góp vào số thu của ngân sách Nhà nước một tỷ
lệ khá lớn. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội cũng như số lượng doanh
nghiệp, công tác quản lý thu thuế cũng gặp rất nhiều khó khăn bởi những doanh
nghiệp làm ăn yếu kém, không thực hiện tốt các nghĩa vụ với Nhà nước, luôn lợi
dụng những sơ hở của chính sách chế độ và sự yếu kém trong công tác quản lý để
thực hiện hành vi trốn lậu thuế gây thất thu lớn cho ngân sách Nhà nước.
Là một huyện nghèo của tỉnh Nghệ An, Đô Lương có một số lượng doanh
nghiệp không quá lớn, nhưng có xu hướng tăng qua các năm, từ 203 doanh nghiệp
năm 2012 đến 229 doanh nghiệp vào năm 2015 và giữ nguyên cho đến tháng 3 năm

2017, tuy đa phần là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng hoạt động thu thuế thu
nhập doanh nghiệp mang tính chất phức tạp, như số lượng sai sót của các doanh
nghiệp có xu hướng tăng lên. Thêm vào đó, tỷ lệ thất thu năm nay so với năm trước
có giảm, nhưng vẫn còn dừng ở mức 90%, làm cho mức độ thất thoát thuế vẫn còn
ở mức độ cao. Thêm vào đó, những yếu tố về công nghệ thông tin, cơ sở hạ tầng
còn kém gây ra nhiều bất cập cho các doanh nghiệp trên địa bàn. Trong quá trình
hội nhập vào những cam kết mà Việt Nam đã ký thì yêu cầu đặt ra với ngành thuế
nói chung và ngành thuế Đô Lương nói riêng, tăng cường thu thuế thu nhập doanh
nghiệp trở thành vấn đề cấp thiết, vừa góp phần tránh thất thoát thuế, vừa góp phần
thúc đẩy quá trình tôn trọng pháp luật của nhà nước. Chính vì thế, đề tài “Tăng

1


cường quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại chi cục thuế Đô Lương –
Nghệ An” đã được lựa chọn để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, các công trình nghiên cứu về quản lý thuế nói riêng và
quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp nói chung tại Việt Nam khá đa dạng. Tuy
nhiên, đa phần các công trình này mới đề cập đến một khía cạnh nào đó của thuế.
Nghiên cứu kinh điển về vấn đề này có thể kể đến Joseph (1995). Tác giả
này đã hệ thống các lý thuyết về ngân sách nhà nước, nguồn thu ngân sách nhà
nước và quản lý thu ngân sách nhà nước từ thuế của Mỹ và một số nước châu Âu.
Một trong những kế thừa lớn của ông là đã tổng hợp các lý thuyết đi trước, bao gồm
lý thuyết của Adam Smith, Keynes và Semuelson về động viên tiền của nền kinh tế
vào ngân sách nhà nước, từ đó nêu ra một số cách quản lý nguồn này và sử dụng
vào các dự án phát triển. Tuy nhiên, một trong những hạn chế của nghiên cứu này là
mang tính sách giáo khoa quá nhiều, và được coi là một nguồn lý thuyết gốc cho
các nghiên cứu tiếp theo chứ không tập trung cụ thể vào nguồn nào, cũng như
không đưa ra được một nghiên cứu cụ thể về quản lý thuế - đặc biệt là thuế thu nhập

doanh nghiệp.
Kế thừa và phát triển học thuyết của Joseph thì có thể kể đến các nghiên cứu
khác trên thế giới như của Cuttaree (2008). Tác giả này nghiên cứu đến nguồn tài
trợ cho các dự án phát triển tại Mexico và Chile – chủ yếu bằng nguồn hình thành từ
ngân sách nhà nước, sau đó tập trung vào phân tích thực trạng nguồn thu thuế để tập
trung vào đầu tư một số ngành cần thiết trong nền kinh tế. Tuy nhiên, nghiên cứu
này vấp phải một số ý kiến rằng mang tính chất định tính quá cao, không lượng hóa
được tác động của từng yếu tố đối với quản lý ngân sách nhà nước, đặc biệt là đối
với nguồn thu từ các doanh nghiệp – vốn được coi là rất năng động và dồi dào trên
nền kinh tế Mexico và Chile. Tương tự, nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện các dự
án cải cách thuế tại Úc và lấy trường hợp nghiên cứu điển hình là Airport Link,
Banks (2008) cho rằng một hệ thống quản lý thuế được cho là thành công thì phải
thực hiện tốt các vấn đề sau: (1) cam kết chính trị mạnh mẽ của nhà nước; (2) có

2


luận chứng kinh tế đúng đắn; (3) gặp sự phản ứng không quá mạnh mẽ từ các đối
tượng thu thuế (4) năng lực của nhóm cán bộ thực hiện Pascual (2008) khi nghiên
cứu dự án cải cách một số vấn đề về thủ tục thuế và tài trợ cho dự án phát triển
thông qua nguồn thuế đó ở Philippine đã cho thấy, một dự án cải cách được coi là
thành công khi được hỗ trợ về khung pháp lý, chính sách và phải có chương trình
truyền thông tốt. Các nghiên cứu này cho thấy phần nào các chỉ tiêu phải đánh giá
về quản lý dự án, song lại khó áp dụng tại các nước đang phát triển như Việt Nam.
Nguyễn Thị Bất (2003) đã hệ thống hóa những lý luận về quản lý thuế và
phân tích thực trạng quản lý thuế tại Việt Nam. Tác giả đã đưa ra các giải pháp
mang tính đột phá, phù hợp với tình hình thực tiễn Việt Nam. Tuy nhiên, sau gần 15
năm, đề tài này đã trở lên lạc hậu. Tương tự, Nguyễn Thị Mai Phương (2003) cũng
đã khái quát thực trạng quản lý thuế tại Việt Nam dưới 2 góc độ là thực trạng công
tác bộ máy quản lý thu thế và thực trạng công tác hành thu, từ đó đề ra một số giải

pháp cho tình hình Việt Nam lúc đó. Tuy nhiên, tác giả này lại không đề cập các
vấn đề lý thuyết cơ bản như quản lý thuế, phương pháp quản lý thuế. Các cải cách
hành chính của nhiều nước trên thế giới khá đa dạng và phong phú, nhưng lại không
áp dụng được vào Việt Nam, giải pháp đưa ra không đột phá để cải thiện công tác
thu thuế.
Lê Duy Thành (2007), Nguyễn Ngọc Túc (2007), Phạm Xuân Hòa (2014)
đều đã tìm hiểu các nghiên cứu về quản lý thuế tại Việt Nam, và đi từ góc độ định
tính đến định lượng nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu thuế. Đặc
biệt, Phạm Xuân Hòa (2014) đã đánh giá được tác động của từng yếu tố được nêu
trong nghiên cứu của Banks (2008) đến hệ thống thuế Việt Nam, từ đó đưa ra một
số hàm ý chính sách đối với các cơ quan quản lý. Tuy nhiên, tác giả này để ngỏ một
phần hàm ý chính sách và thực tiễn tại các vùng biên giới, vốn được coi là phức tạp
và có nhiều đối tượng trong nền kinh tế hoạt động.
Khoảng trống nghiên cứu: từ các nghiên cứu nước ngoài và nghiên cứu trong
nước, có thể thấy, còn một số hướng nghiên cứu để lại, đó là nghiên cứu về quản lý
các nguồn hình thành thuế, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập

3


cá nhân tại các nước đang phát triển, hoặc các nước sau hội nhập. Một vấn đề cũng
đáng lưu tâm là hiện tại, quá trình hội nhập đang diễn ra rất mạnh mẽ, và những yêu
cầu về tránh đánh trùng thuế cũng đang để lại nhiều yêu cầu cấp bách. Tóm lại, các
nghiên cứu trước đây tại trong nước và quốc tế đã đề cập đến nhiều lĩnh vực trong
quản lý thuế, song không có nghiên cứu nào đề cập sâu đến vấn đề tăng cường thu
thuế thu nhập doanh nghiệp, nhằm tránh thất thoát. Do đó, đề tài của tác giả chọn
nghiên cứu là đề tài mới, không trùng lắp với các vấn đề đi trước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Hệ thống những vấn đề lí luận cơ bản về thu thuế thu
nhập doanh nghiệp đối với một chi cục. Đánh giá thực trạng thu thuế dựa trên

những chỉ tiêu đã được lựa chọn từ trước, từ đó đánh giá xem chi cục thuế Đô
Lương đã làm được những vấn đề gì đối với thu thuế thu nhập doanh nghiệp, còn
hạn chế gì cần giải quyết.
Nhiệm vụ nghiên cứu: đề xuất giải pháp và kiến nghị để tăng cường quản lý
thu thuế tại chi cục thuế Đô Lương, Nghệ An.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại chi
cục thuế Đô Lương, Nghệ An.
Phạm vi nghiên cứu: Thời gian nghiên cứu của luận văn từ năm 2013 đến
năm 2016 và tập trung nghiên cứu quản lý thu thuế.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: sử dụng phương pháp luận trong học thuyết của chủ
nghĩa Mác – Lênin bao gồm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu: cụ thể, tác giả sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp thống kê: Số liệu thu thập từ báo cáo thường niên của các
doanh nghiệp gửi lên chi cục thuế Đô Lương.
Phương pháp so sánh: So sánh và đối chiếu các số liệu, phân tích giữa các
năm để thấy được những thành công, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế đối với
việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn Đô Lương.

4


Phương pháp tổng hợp: Sàng lọc và đúc kết thực tiễn, từ đó đề ra giải pháp
thực hiện tại chi nhánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: hệ thống hóa được các lý luận về thuế thu nhập doanh
nghiệp và các chỉ tiêu đánh giá quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp.
Ý nghĩa thực tiễn: đã phân tích được các chỉ tiêu về tăng cường thu thuế thu
nhập doanh nghiệp, từ đó đưa ra các nhóm giải pháp (1): Giải pháp về quản lý

người nộp thuế, Bao gồm các giải pháp về công tác quản lý thông tin người nộp
thuế; công tác tuyên tuyền, hỗ trợ người nộp thuế. (2) Giải pháp về quản lý căn cứ
tính thuế, bao gồm các giải pháp về quản lý doanh thu tính thuế như Tăng cường
giám sát hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp; Quản lý tốt hoá đơn chứng từ
ở các đơn vị. (3) Giải pháp về quản lý thu nộp tiền thuế bao gồm các biện pháp như:
Thực hiện triệt để việc tạm nộp thuế, Giúp các doanh nghiệp tháo gỡ những khó
khăn về tài chính; Triệt để tách biệt giữa bộ phận kiểm tra, thanh tra với bộ phận
quản lý khác. (4) Giải pháp về quản lý thanh tra, kiểm tra thuế, bao gồm các biện
pháp về công tác kiểm tra thuế, Về việc đánh giá công tác quản lý thu thuế.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu theo 3 chương.
Chương 1: Lý luận chung về quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại chi cục
thuế Đô Lương – Nghệ An
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại
chi cục thuế Đô Lương – Nghệ An

5


Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát về thuế thu nhập doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm
Khái niệm về thuế
Thuế là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước và ngân sách của địa
phương. Mặc dù đã ra đời từ lâu, song rất khó có một định nghĩa chung nhất về thuế
cho tất cả các quốc gia trên thế giới.

Theo Nguyễn Thị Liên và Nguyễn Văn Hiệu (2012, trang 15) thì: “Thuế là
một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và cá nhân cho nhà nước theo mức độ
và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng, được
nhà nước quy định bằng văn bản pháp luật và không mang tính hoàn trả trự tiếp”.
Ngoài ra, có thể quan niệm rộng hơn như: “Thuế là số tiền thu của các công
dân, hoạt động và đồ vật (như giao dịch, tài sản) nhằm huy động tài chính cho chính
quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội.”
Như vậy, về cơ bản, hoạt động đánh thuế và nộp thuế chịu sự quản lý của các
cơ quan nhà nước thông qua các văn bản pháp luật và các hướng dẫn dưới luật,
nhằm tạo nguồn để phân phối lại thu nhập trong xã hội, chi trả cho các hoạt động
của chính phủ cũng như đầu tư mới.
Thuế có thể chia thành 2 loại, dựa theo cơ sở đánh thuế và tính chất thuế:
- Theo cơ sở đánh thuế có thể chia thành thuế tiêu dùng, thuế thu nhập, thuế
tài sản. Thuế tiêu dùng là loại thuế được đánh dựa trên phần thu nhập được mang đi
tiêu dùng, biểu hiện như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt… Thuế thu nhập
là loại thuế được đánh dựa trên thu nhập của cá nhân và tổ chức. Vì cá nhân và thể
nhân trên thị trường có nhiều nguồn thu nhập nên loại thuế này cũng có nhiều cách
biểu hiện, như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp… Thuế tài sản
được đánh trên giá trị tài sản. Tài sản có thể biểu hiện dưới dạng tài sản tài chính,
thể hiện qua tiền mặt và các khoản đầu tư tài chính (thường là cổ phiếu, trái phiếu

6


hoặc hợp đồng tài chính phái sinh); tài sản cố định như nhà cửa, đất đai, máy móc;
tài sản có định vô hình như thương hiệu doanh nghiệp…
- Theo tính chất đánh thuế, có thể chia thành 2 loại là thuế trực thu và thuế
gián thu. Thuế gián thu là loại thuế không đánh trực tiếp vào thu nhập hay tài sản
của người nộp thuế mà đánh gián tiếp thông qua việc tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ
của cá nhân, tổ chức trên thị trường. Một số loại thuế gián thu điển hình như thuế

giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt. Ngược lại, thuế trực thu lại đánh trực tiếp vào
thu nhập hay tài sản của cá nhân, tổ chức. Có một số loại thuế trực thu tại Việt Nam
như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp.
Khái niệm và đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận trước
thuế của các doanh nghiệp trong kỳ sau khi đã trừ đi các khoản chi phí hợp lí, hợp lệ.
Thuế thu nhập doanh nghiệp xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ 19, và được
một số nước trên thế giới áp dụng vào hệ thống pháp luật của mình như Anh, Pháp,
Thụy Sĩ… Trước đổi mới, Việt Nam cũng đã áp dụng loại thuế này dưới hình thức
các khoản trích lập của các đơn vị kinh doanh của nhà nước trong giai đoạn từ năm
1953 đến hết ngày 31/12/1989. Sau đó, sắc thuế này được áp dụng đối với các doanh
nghiệp trong vào ngoài quốc doanh, song mang tính chất phân biệt để thực hiện mục
tiêu “kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo”. Tuy nhiên, để góp phần thực hiện chính
sách công bằng đối với mọi thành phần kinh tế, từ năm 1999, Chính phủ đã áp dụng
tỷ lệ thu thuế như nhau với tất cả các đơn vị đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Về cơ bản, thuế thu nhập doanh nghiệp có những đặc điểm sau
Thứ nhất, đây là loại thuế trực thu. Đối tượng nộp thuế là các doanh nghiệp có
đăng ký kinh doanh trên thị trường. Thường thì các doanh nghiệp này sẽ được miễn
thuế trong giai đoạn đầu mới thành lập, hoặc được miễn giảm thuế đối với (1) sản
xuất - kinh doanh sản phẩm, dịch vụ đặc trưng, có vai trò quan trọng đối với nhiều
ngành khác như sản xuất nông nghiệp, điện hay nước; (2) là loại hình các doanh
nghiệp đóng vai trò cung ứng những sản phẩm dịch vụ đặc biệt như các ngân hàng
chính sách hay các doanh nghiệp công ích, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.

7


Thứ hai, thuế thu nhập doanh nghiệp phụ thuộc trước hết vào kết quả sản
xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, do nó đánh trực tiếp vào phần lợi nhuận trước
thuế được tạo ra. Do vậy, đối với các doanh nghiệp có lợi nhuận càng cao thì khoản

thuế phải nộp cho nhà nước càng lớn.
Thứ ba, thuế thu nhập doanh nghiệp là một phần quan trọng trong việc quản
lý chính sách tài khóa của chính phủ. Đối với những thời kỳ kinh tế đi xuống, chính
phủ sẽ giảm tỷ lệ nộp thuế xuống. Điều này kích thích các doanh nghiệp sản xuất
nhiều hơn, do phần lợi nhuận giữ lại tăng lên, từ đó thúc đẩy các hoạt động khác
phát triển như tiêu dùng của cá nhân (do được tăng thêm thu nhập từ 1 phần lợi
nhuận sau thuế trả thêm), vay nợ mới để tài trợ sản xuất kinh doanh – làm thúc đẩy
hoạt động ngân hàng. Đồng thời đối với các nước đang phát triển, thuế suất thuế thu
nhập doanh nghiệp thường thấp nên có khả năng thu hút các nguồn đầu tư từ nước
ngoài vào. Việc này tạo điều kiện cho các cá nhân trên thị trường có cơ hội tìm
kiếm việc làm với thu nhập cao hơn từ trong nước. Tuy nhiên, một vấn đề bất cập là
các nước này thường là thiên đường cho các công ty đa quốc gia tiến hành các hoạt
động tránh thuế và chuyển thuế, gây ra tình trạng thất thu thuế cho cả nước đầu tư
và nước nhận đầu tư.

1.1.2. Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu nhập doanh nghiệp có vai trò quan trọng không chỉ đối với nhà
nước, mà còn đối với các doanh nghiệp hoạt động trong từng ngành, từng lĩnh vực
khác nhau.
Thứ nhất, thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong những nguồn thu chủ yếu
của ngân sách nhà nước. Loại thuế này được đánh như nhau đối với lợi nhuận trước
thuế của tất cả các doanh nghiệp trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế. Khi nền
kinh tế càng phát triển ổn định, lợi nhuận mà các doanh nghiệp tạo ra càng lớn thì
lượng thuế thu được càng cao. Cũng nhờ một phần vào hoạt động này mà chính phủ
có thể chi trả các khoản tiền lương cho bộ máy quản lý, trả nợ nước ngoài, trợ cấp
cho các đối tượng yếu thế trong xã hội và dùng để đầu tư mới vào những ngành có
khả năng sinh lời thấp. Đồng thời, nguồn này cùng với thuế thu nhập cá nhân được

8



coi là những nguồn ổn định, góp phần cân đối khi sử dụng ngân sách nhà nước
trong những năm tới.
Thứ hai, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong những công cụ
của chính sách tài khóa, nhằm quản lý – chủ yếu là thúc đẩy – sự phát triển của nền
kinh tế cùng như thu hút đầu tư của nước ngoài. Đây được coi là một trong những
chính sách làm góp phần khuyến khích đầu tư, sản xuất kinh doanh phát triển theo
những định hướng khác nhau của chính phủ: đối với những ngành ưu tiên phát triển
sản xuất kinh doanh, thuế suất đối với hoạt động này có thể bằng 0 hoặc được giảm
trong một thời gian nhất định. Bên cạnh đó, đi kèm với hoạt động giảm thuế suất
thuế thu nhập, các doanh nghiệp thường được hỗ trợ thêm nhiều chính sách khác.
Thứ ba, thuế thu nhập doanh nghiệp giúp chính phủ thực hiện chức năng tái
phân phối thu nhập xã hội, nhằm đảm bảo công bằng đối với các thành phần khác
nhau trong nền kinh tế. Đối với các doanh nghiệp có quy mô vốn lớn, khả năng áp
dụng công nghệ tiên tiến, quy trình quản lý tốt… sẽ có cơ hội mở rộng sản xuất
kinh doanh và chiếm được thị phần lớn trên thị trường. Tuy nhiên, cũng chính vì
vậy nên theo cơ chế thị trường sẽ tạo ra một số các doanh nghiệp có khả năng độc
chiếm các lĩnh vực, tạo áp lực tham gia thị trường đối với các doanh nghiệp mới,
hoặc đối với các doanh nghiệp cũ, đã hoạt động. Những doanh nghiệp không có khả
năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn không có cơ hội để nâng cao nguồn thu
cũng như mở rộng sản xuất kinh doanh, vừa gây ra bất bình đẳng giữa các thành
phần kinh tế, vừa tạo áp lực đối với hệ thống an sinh xã hội. Do vậy, thuế thu nhập
doanh nghiệp khi đánh vào các thành phần như nhau sẽ có tác dụng điều tiết thu
nhập của các chủ thể chịu thuế. Đồng thời, với các doanh nghiệp mới hoặc những
doanh nghiệp chưa có doanh thu, thuế suất thường bằng 0 hoặc được kết chuyển lỗ
sang năm sau, sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí cho bản thân các doanh nghiệp.
Thứ tư, thuế có chức năng kiểm tra, giám sát các hoạt động sản xuất kinh
doanh. Trong quá trình thu thuế, cơ quan thuế quản lý doanh nghiệp vì Nhà nước
muốn thu thuế thì nhà nước phải quản lý được đối tượng nộp thuế. Nội dung quan
lý đối tượng nộp thuế bao gồm tên, địa chỉ, vốn, phản ứng của doanh nghiệp… Các


9


doanh nghiệp thuộc nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau nên nhà nước quản lý doanh
nghiệp cần kết hợp với việc phân nhóm quản lý đối tượng nộp thuế.

1.2. Quản lý thu thuế Thu nhập doanh nghiệp
1.2.1. Nội dung quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
Khái niệm và sự cần thiết của hoạt động quản lý thu thuế thu nhập doanh
nghiệp
Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp là một phần của quản lý nhà nước về
kinh tế. Theo Đỗ Hoàng Toàn và Mai Văn Bưu (2008, trang 109) thì: “Quản lý nhà
nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà nước lên nền
kinh tế quốc dân, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và
ngoài nước, các cơ cấu có thể có để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế đất nước
đặt ra, trong điều kiện hội nhập và giao lưu quốc tế”.
Theo Dương Thị Bình Minh (2005, trang 423) thì: “Quản lý thuế là những
biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu ngân sách nhà nước thực hiện; là
những hoạt động thường xuyên của cơ quan thu hướng về phía đối tượng nộp nhằm
đảm bảo thu thuế đầy đủ kịp thời và đúng luật định. Như vậy, theo quan điểm này
thì quản lý thuế là quản lý thu thuế, và phù hợp với khái niệm quản lý nhà nước về
kinh tế nêu trên”.
Cũng từ khái niệm trên, có thể khái quát, quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
là quá trình các cơ quan thu thuế sử dụng hệ thống công cụ và phương pháp thích
hợp để tác động lên các doanh nghiệp nhằm đảm bảo thu thuế đúng, đủ, theo quy
định của pháp luật.
Theo khái niệm này: “Cơ quan thu thuế là tổng thể các cơ quan hành chính
có quan hệ hữu cơ với nhau trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và quan hệ công tác
được quy định để tổ chức thực thi các luật thuế”.

Công cụ của quản lý thuế là các văn bản liên quan đến pháp luật như Luật
thuế thu nhập doanh nghiệp, các văn bản hướng dẫn thực thi luật, chính sách của
nhà nước trong từng thời kỳ và các công cụ khác. Trong số các công cụ này thì các

10


văn bản liên quan đến pháp luật đóng vai trò quan trọng nhất vì nó có tính định
hướng và có khả năng điều tiết.
Phương pháp quản lý thuế gồm có một số phương pháp như phương pháp
hành chính, phương pháp kinh tế. Phương pháp hành chính được sử dụng khi các cơ
quan quản lý thuế muốn các doanh nghiệp phải tuân thủ một cách bắt buộc, vô điều
kiện. Việc này có một tác dụng là đơn giản, có thể tránh gây rắc rối đối với các cán
bộ thu thuế, nhưng lại gây bất lợi cho người nộp thuế trong việc phân định hay
tranh chấp các khoản mục phải nộp, và có thể tạo ra tính quan lieu, lạm dụng quyền
hành, gây bất cập đối với các doanh nghiệp. Phương pháp kinh tế được sử dụng
thông qua việc sử dụng lợi ích vật chất để kích thích tính tích cực của các doanh
nghiệp khi nộp thuế cho nhà nước, như ưu đãi về thuế, giảm chi phí phải nộp…,
thậm chí còn có thể giao khoán việc đối với các cán bộ thuế đại phương.
Quản lý thu thế thu nhập doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong sự phát
triển kinh tế nói chung và Ngân sách nhà nước nói riêng. Quản lý thu thuế TNDN
có vai trò quyết định trong việc tổ chức, triển khai và thực hiện hệ thong các chính
sách thuế TNDN trong thời kỳ đi với cuộc sống. Quản lý thu thế TNDN sẽ giúp các
nhà lãnh đạo nhận ra điểm mạnh, điểm yếu của bộ máy thu thuế, theo đó kịp thời
xây dựng một bộ máy thu thuế khoa học, đảm bảo tuân thủ theo các quy tắc quản lý
nhà nước về kinh tế, nguyên tắc quản lý thuế cơ bản bản như: tập trung dân chủ,
công khai, tiết kiệm và hiệu quả, nhờ đó cho phép hệ thổng chính sách thuế TNDN
đặt ra hoạt động ổn định và đạt được những mục tiêu đề ra trong thời kỳ. Bên cạnh
đó, Quản lý thu thuế TNDN tốt sẽ giúp nhận ra và giải quyết các vấn đề phát sinh
để tập trung và kịp thời huy động đầy đủ số thu cho Ngân sách nhà nước. Quản lý

thu thế TNDN tốt sẽ giúp hệ thống thế TNDN không ngừng phát triển, nuôi dưỡng
các nguồn thu, hỗ trợ người nộp thuế trong quá trình chấp hành luật thuế TNDN,
tạo ra sự công bằng, hiệu quả, minh bạch trong quá trình quản lý thu thuế.
Các nội dung quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp

1.2.2.1. Quản lý người nộp thuế

11


Thuế TNDN là một loại thuế trực thu, nên người nộp thuế cũng là người chịu
thuế. Người nộp thuế TNDN là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ có thu nhập chịu thuế. Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm các
trường hợp sau:
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài có
cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại VIệt Nam.
- Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã.
- Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập.
- Cấp mã số thuế cho doanh nghiệp.

1.2.2.2. Quản lý căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế là thu nhập tính thuế và thuế suất.
Số thuế TNDN phải nộp trong kỳ tính thuế = Thu nhập tính thuế × Thuế suất
Trong đó:
 Thu nhập tính thuế được tính như sau:
Thu nhập tính thuế = Thu nhập chịu thuế − Thu nhập được miễn thuế −
Các khoản lỗ được kết chuyển theo quy định
Trong đó:

(1) Thu nhập chịu thuế: bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác.
Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế xác định như sau:
Thu nhập chịu thuế
= Doanh thu − Chi phí được trừ + Các khoản thu nhập khác
Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bằng doanh
thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trừ chi phí được trừ của
hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó. Doanh nghiệp có nhiều hoạt
động kinh doanh áp dụng nhiều mức thuế suất khác nhau thì doanh nghiệp phải tính
riêng thu nhập của từng hoạt động nhân với thuế suất tương ứng.

12


Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản phải hạch toán riêng để
kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, không được bù trừ với thu nhập hoặc lỗ từ
các hoạt động sản xuất kinh doanh khác.
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng hóa, tiền gia
công, tiền cung cấp dịch vụ bao gồm cả các khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà
doanh nghiệp được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
Đối với doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ
thuế là doanh thu chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng.
Đối với doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp
trên giá trị gia tăng là doanh thu bao gồm cả thuế giá trị gia tăng.
Chi phí được trừ: Doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các
điều kiện sau: Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp; Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy
định của pháp luật.
Các khoản thu nhập khác: là các khoản thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế
mà khoản thu nhập này không thuộc các ngành, nghề lĩnh vực kinh doanh có trong

đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp.
(2) Thu nhập được miễn thuế: là phần thu nhập được khấu trừ khỏi thu
nhập chịu thuế. Thu nhập được miễn thuế bao gồm các khoản cơ bản sau:
Thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản của tổ chức được
thành lập theo Luật hợp tác xã.
Thu nhập từ việc thực hiện dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp.
Thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của doanh
nghiệp có số lao động là người khuyết tật, người sau cai nghiện ma túy, người
nhiễm HIV bình quân trong năm chiếm từ 51% trở lên trong tổng số lao động bình
quân năm của doanh nghiệp.
Thu nhập từ hoạt động dạy nghề dành riêng cho người dân tộc thiểu số,
người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đối tượng tệ nạn xã hội.

13


Thu nhập từ chia hoạt động góp vốn, mua cổ phẩn, liên doanh, liên kết kinh
tế với doanh nghiệp trong nước, sau khi bên nhận góp vốn, phát hành cổ phiếu, liên
doanh, liên kết đã nộp thuế TNDN theo quy định của Luật thuế TNDN, kể cả
trường hợp bên nhận góp vốn, phát hành cổ phiếu, bên liên doanh, liên kết được
miễn thuế, giảm thuế.
Khoản tài trợ nhận được để sử dụng cho hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa học,
văn hóa, nghệ thuật, từ thiện, nhân đạo và hoạt động xã hội khác tại Việt Nam.
(3) Các khoản lỗ được kết chuyển theo quy định.
Doanh nghiệp sau khi quyết toán thuế mà bị lỗ thì được chuyển lỗ của năm
quyết toán thuế trừ vào thu nhập chịu thuế của những năm sau. Thời gian chuyển lỗ
tính liên tục không quá 5 năm, kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ.
Lỗ phát sinh trong kỳ tính thuế là số chênh lệch âm về thu nhập chịu thuế.
Doanh nghiệp tự xác định số lỗ được trừ vào thu nhập chịu thuế theo nguyên

tắc này.
Số lỗ của doanh nghiệp phát sinh trước khi chuyển đổi chủ sở hữu, sáp nhập,
hợp nhất, chia, tách phải được theo dõi chi tiết theo năm phát sinh và được tiếp tục
chuyển vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp sau khi chuyển đổi sở hữu, sáp
nhập, hợp nhất, chia, tách để đảm bảo nguyên tắc chuyển lỗ tính liên tục không quá
5 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ.
Doanh nghiệp là liên doanh của nhiều doanh nghiệp khác, khi có quyết định
giải thể mà bị lỗ thì số lỗ được phân bổ cho từng doanh nghiệp tham gia liên doanh.
Thuế suất là mức thuế phải nộp được ấn định trên mỗi đơn vị tính của đối
tượng tính thuế bằng những phương pháp tính thuế phù hợp. Đối với mỗi thời kỳ
phát triển của kinh tế đất nước, Nhà nước có những quy định cụ thể để xác định
mức thuế suất cho phù hợp nhằm khuyến khích các doanh nghiệp thúc đẩy sản xuất
phát triển. Trong xu hướng hiện tại, nhà nước đã giảm thuế suất thuế thu nhập
doanh nghiệp từ 25% xuống còn 22% (giai đoạn 2013 – 2015) và từ sau năm 2016,
mức thuế suất hạ xuống còn 20% đối với đa phần các mặt hàng trong nền kinh tế.

1.2.2.3. Quản lý thu nộp tiền thuế
14


Các cơ quan thuế quản lý thu nộp tiền thuế thông qua các hoạt động: Đăng
ký thuế, kê khai và nộp thuế, quyết toán thuế. Theo đó:
Đăng ký thuế: là việc người nộp thuế kê khai những thông tin của mình theo
quy định của pháp luật và nộp tờ khai này cho cơ quan quản lý thuế để bắt đầu thực
hiện nghĩa vụ về thuế đối với nhà nước theo quy định của pháp luật. Đât là hoạt
động đầu tiên trong việc quản lý thuế, trong đó cơ quan thu thuế sẽ có được những
thông tin đầu tiên về doanh nghiệp phải nộp thuế như đăng ký thành lập, địa chỉ,
ngành nghề… Hoạt động đăng ký thuế được thực hiện theo quy định của Thông tư
liên tịch 05/2008/TTLT/BKH/BTC/BCA về chế độ phối hợp quyết định đăng ký
kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký dấu. Quy trình đăng ký thuế phải thực hiện

theo quy trình quản lý đăng ký thuế được ban hành trong quyết định số 443/QĐTCT ngày 29/04/2009 của Tổng cục thuế. Theo đó, đối tượng đăng ký thuế theo
quy định tại Luật Quản lý thuế số 106/2016/QH13 thay thế Luật quản lý thuế số
78/2006 có thể thực hiện đăng ký thuế tại Phòng đăng ký kinh doanh – Sở kế hoạch
đầu tư hoặc tại cơ quan thuế.
Kê khai thuế: Người nộp thuế phải có trách nhiệm tính số thuế phải nộp
NSNN do mình kê khai, thông tin kê khai phải chính xác, trung thực, đầy đủ các nội
dung trong tờ khai thuế và nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan quản lý thuế trực tiếp.
Luật quản lý thuế, Nghị định số 85/2007/NĐ-CP quy định cụ thể về quy tắc tính
thuế, khai thuế, hồ sơ khai thuế, trách nhiệm của cơ quan quản lý thu thuế và công
chức thuế trong tiếp nhận hồ sơ khai thuế.
Người nộp thuế phải thực hiện khai thuế theo đúng quy định. Khai thuế
TNDN có thể thực hiện khai tạm tính theo quý, trừ trường hợp khai thuế theo
phương pháp khai khoán; khai theo từng lần phát sinh đối với thuế TNDN từ hoạt
động chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất; khai quyết toán năm hoặc
khai quyết toán thuế đến thời điểm chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp, chấm dứt
hợp đồng, chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp, tổ chức lại doanh nghiệp.
Người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế tại cơ quan quản lý thuế trực tiếp. Hồ sơ
khai thuế thu nhập doanh nghiệp tạm tính theo quý là tờ khai thuế TNDN quý; Hồ

15


sơ khai thuế TNDN từ hoạt động chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất
là tờ khai thuế TNDN về chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất và các
tài liệu liên quan.
Hồ sơ khai quyết toán thuế TNDN gồm:
- Tờ khai quyết toán thuế TNDN.
- Báo cáo tài chính năm hoặc báo cáo tài chính đến thời điểm chấm dứt hoạt
động, chấm dứt hợp đồng, chuyển đổi hình thức sở hữu của doanh nghiệp, tổ chức
lại doanh nghiệp.

- Tài liệu liên quan khác đến quyết toán thuế.
Nộp thuế: các doanh nghiệp có nghĩa vụ thuế đối với nhà nước sẽ nộp thuế
theo thời gian quy định tại kho bạc nhà nước địa phương hoặc thông qua các ngân
hàng thương mại được ủy quyền thu thuế: Điều này có nghĩa là hàng năm, các
doanh nghiệp gửi bản kê về doanh thu, chi phí tính thuế để chi cục thuế tính các
khoản phải nộp, từ đó tiến hành nộp tại các cơ quan được ủy quyền thu thuế.
Quyết toán thuế: là việc xác định số thuế phải nộp của năm tính thuế hoặc
thời gian từ đầu năm tính thuế đến khi chấm dứt hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế
hoặc thời dian tính từ khi phát sinh đến khi chấm dứt hoạt động phát sinh nghĩa vụ
thuế theo quy định của pháp luật. Khi kết thức kỳ tính thuế, cơ sở kinh doanh phải
thực hiện quyết toán thuế TNDN đối với cơ quan thuế và phải chịu trách nhiệm về
tính chính xác, trung thực của tờ khai quyết toán thuế TNDN. Kỳ tính thuế TNDN
là năm dương lịch. Thường thì cơ sở kinh doanh phải nộp tờ khai quyết toán thuế
TNDN cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày kết
thúc năm dương lịch hoặc kết thúc năm tài chính. Nếu số thuế tạm nộp trong năm
thấp hơn số thuế phải nộp theo báo cáo quyết toán thuế thì cơ sở kinh doanh phải
nộp đầy đủ số thuế còn thiếu trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày kết thúc năm dương
lịch hoặc năm tài chính. Nếu số thuế tạm nộp trong năm lớn hơn số thuế phả nộp
theo báo cáo quyết toán thuế thì cơ sở kinh doanh được trừ số tiền thuế nộp thừa
vào số thuế phải nộp của kỳ tiếp theo. Đối với trường hợp cơ sở kinh doanh chuyển
đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu (kể cả giao, bán, khoán,

16


cho thuê doanh nghiệp Nhà nước), sáp nhập, chia tách, giải thể, phá sản thì thời
gian nộp tờ khai quyết toán thuế trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày có quyết định
của cơ quan có thẩm quyền. Cơ sở kinh doanh sau khi đã nộp tờ khai quyết toán
thuế thu nhập doanh nghiệp cho cơ quan thuế mới phát hiện ra sai sót và cần điều
chỉnh số liệu thì xử lý như sau: Nếu trong thời hạn nộp tờ khai quyết toán thuế, cơ

sở kinh doanh được nộp tờ khai quyết toàn thuế điều chỉnh để thay thế tờ khai quyết
toán thuế đã gửi cho cơ quan thuế. Nếu quá thời hạn nộp tờ khai quyết toán thuế
nhưng vẫn trong thời hạn 10 ngày nộp số thuế còn thiếu theo tờ khai quyết toán
thuế thì cơ sở kinh doanh nộp tờ khai quyết toán thuế điều chỉnh thay thế tờ khai
quyết toán thuế đã nộp cho cơ quan thuế và nộp thuế theo tờ khai quyết toán thuế
điều chỉnh, đồng thời nộp phạt về hành vi chậm nộp tờ khai quyết toán thuế.
Trường hợp nộp tờ khai quyết toán thuế điều chỉnh đã quá hạn 10 ngày nộp số thuế
còn thiếu theo tờ khai quyết toán thuế đã gủi thì ngoài việc phải nộp số thuế còn
thiếu theo tờ khai quyết toán thuế điều chỉnh còn phải nộp phạt về hành vi chậm
nộp tờ khai và chậm nộp thuế. Đối với cơ sở kinh doanh không nộp tờ khai quyết
toán thuế TNDN thì phải nộp thuế theo số thuế ấn định của cơ quan thuế.

1.2.2.4. Quản lý miễn, giảm thuế
Cơ sở quản lý thuế thực hiện miễn thuế, giảm thuế đối với các trường hợp
thuộc diện miễn thuế, giảm thuế được quy định tại các văn bản pháp luật thuế. Cơ
sở kinh doanh tự xác định các điều kiện được ưu đãi thuế, mức thuế suất ưu đãi,
mức miễn thuế, giảm thuế, sô lỗ được trừ vào thu nhập chịu thuế để tự kê khai và tự
quyết toán thuế với cơ quan thuế. Trường hợp hồ sơ miễn thuế, giảm thuế được nộp
trực tiếp tại cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế tiếp nhận và đóng dấu
tiếp nhận hồ sơ, ghi thời gian nhận hồ sơ, ghi số lượng tài liệu trong hồ sơ. Trường
hợp hồ sơ miễn thuế, giảm thuế chưa đầy đủ theo quy định, trong thời hạn 3 ngày
làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan quản lý thuế phải thông báo cho
người nộp thuế để hoàn chỉnh hồ sơ. Cơ quan thuế khi kiểm tra, thanh tra đối vơi cơ
sở kinh doanh phải kiểm tra các điều kiện được hưởng ưu đãi thuế, số thuế cơ sở
kinh doanh được miễn thuế, giảm thuế, số lỗ cơ sở kinh doanh được trừ vào thu

17


nhập chịu thế theo đúng điều kiện thực tế mà cơ sở kinh doanh đáp ứng được.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan quản lý thuế ra quyết
định miễn thuế, giảm thuế hoặc thông báo cho người nộp thuế lý do không thuộc
diện miễn thuế, giảm thuế.

1.2.2.5. Quản lý thanh tra, kiểm tra quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp
Thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các
hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện
thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp, nhằm đảm
bảo pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế xã hội. Kiểm
tra, thanh tra thuế được thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan
đến các doanh nghiệp thuộc diện phải đóng thuế nhằm đánh giá việc chấp hành
nghĩa vụ đối với nhà nước.
Mục đích của kiểm tra thuế, tranh tra thuế là phát huy nhân tố tích cực, ngăn
ngừa, xử lý những sai phạm gây tổn thất tới lợi ích của Nhà nước, của các doanh
nghiệp, góp phần hoàn thiện chính sách thuế, thanh tra thuế phải tuân thủ những
nguyên tắc nhất định. Nguyên tắc kiểm tra thuế, thanh tra thuế gồm có:
- Thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp
thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập
chứng cư để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế.
- Không cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là
người nộp thuế.
- Tuân thủ quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có
liên quan.
- Ngoài ra, công tác kiểm tra thuế, thanh tra thuế còn phải tuân thủ các
nguyên tắc khác như nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan, nguyên tắc công
khai, dân chủ; nguyên tắc bảo vệ bí mật; và nguyên tắc hiệu quả.
Kiểm tra thuế là hoạt động được thực hiện thường xuyên. Việc kiểm tra thuế
có thể được thực hiện tại trụ sở cơ quan thuế hoặc tại trụ sở của đối tượng nộp thuế.

18



Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế được thực hiện thường xuyên đối với
các hồ sơ thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ
trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật thuế đối với người nộp thuế. Công chức
thuế, khi nhận được hồ sơ khai thuế sẽ thực hiện đối chiếu hồ sơ khai thuế, tức là
thực hiện việc kiểm tra nội dung kê khai trong hồ sơ thuế, so sánh với dữ liệu của
người nộp thuế có cùng ngành nghề kinh doanh, mặt hàng kinh doanh để phân tích,
đánh giá tính tuân thủ hoặc phát hiện trường hợp gian lận thuế. Sau khi kiểm tra,
công chức thuế xác nhận kết quả kiểm tra thuế vào hồ sơ thuế theo một trong các
trường hợp sau: Nếu hồ sơ khai thuế chưa đầy đủ nội dung, chỉ tiêu theo quy định
thì cơ quan thuế thông báo cho người nộp thuế biết để hoàn chỉnh hồ sơ. Nếu hồ sơ
cần làm rõ hơn thì ghi rõ nội dung để kiểm tra tiếp. Trường hợp hồ sơ khai thuế
chưa đầy đủ nội dung, chỉ tiêu theo quy định thì cơ quan thuế thông báo bằng văn
bản cho người nộp thuế biết, và đề nghị người nộp thuế gửi trình hoặc bổ sung
thông tin, tài liệu trong khoảng thời gian là 10 ngày.
Sau khi người nộp thuế giải trình hoặc bổ sung thông tin, tài liệu đầy đủ theo
yêu cầu của cơ quan thế, nếu hồ sơ thuế sau giải trình mà đầy đủ nội dung và tài
liệu theo yêu cầu thì hồ sơ được chấp nhận, nếu hồ sơ không đủ chứng minh số thuế
đã khai là đúng thì cơ quan thuế yêu cầu người nộp thuế khai bổ sung tiếp trong
thời hạn 5 ngày kể từ ngày cơ quan thế ra thông báo yêu cầu khai bổ sung. Hết thời
hạn này mà người nộp thế không giải trình, bổ sung thông tin tài liệu hoặc bổ sung
nhưng vẫn không chứng minh được số thuế đã khai thì cơ quan thuế ấn định số thuế
phải nộp hoặc ra quyết định kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế để có đủ căn cứ ấn
định số thuế phải nộp. Quyết định kiểm tra thuế phải được gửi cho người nộp thuế
trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày ký.
Kiểm tra thuế tại trụ sở của đối tượng nộp thuế chỉ được thực hiện khi có quyết
định kiểm tra thuế tại trụ ở của đối tượng nộp thuế do thủ trưởng của cơ quan thuế ban
hành và phải đảm bảo các nội dung như căn cứ pháp lý để kiểm tra, đối tượng kiểm tra,
nội dung kiểm tra… Khi tiến hành kiểm tra thuế, trưởng đoàn kiểm tra thuế có trách


19


nhiệm công bố quyết định kiểm tra thuế và giải thích nội dung quyết định kiểm tra để
đối tượng kiểm tra hiểu và có trách nhiệm chấp hành quyết định kiểm tra.
Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác
kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối lương thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và
xử lý những hành vi trái pháp luật. Việc thanh tra thuế chỉ được tiến hành với các
trường hợp sau:
- Đối với doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh
doanh rộng thì thanh tra định kỳ một năm không qua một lần.
- Khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế: Trường hợp qua kiểm tra thuế
mà phát hiện hành vi vi phạm về thuế có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế thì trong
thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày phát hiện, đoàn kiểm tra có trách nhiệm báo
cáo thủ trưởng cơ quan thuế để chuyển hồ sơ sang bộ phận thanh tra thuế và bổ
sung vào kế hoạch thanh tra.
- Để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan
quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ tài chính.
Việc lập kế hoạch thanh tra phải dựa trên cơ sở phân tích thông tin về người
nộp thuế, từ đó phát hiện, lập danh sách người nộp thuế có dấu hiệu bất thường
trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế để lựa chọn đối tượng lập kế hoạch thanh tra. Kể
hoạch thanh tra bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây: đối tượng thanh tra, kỳ
thanh tra, loại thuế thuộc diện thanh tra, thời gian dự kiến tiến hành thanh tra.
Trên cơ sở kế hoạch thanh tra, bộ phận thanh tra soạn thảo quyết định thanh
tra trình lãnh đạo cơ quan thuế. Quyết định thanh tra thuế phải có các nội dung như
căn cứ pháp lý để thanh tra, đối tượng thanh tra, nội dung, phạm vi, nhiệm vụ thanh tra,
thời hạn tiến hành thanh tra… Quyết định thanh tra thuế phải được gửi cho đối tượng
thanh tra chậm nhất là 3 ngày làm việc, kể từ ngày ký. Thời hạn một lần thanh tra thuế
không quá 30 ngày kể từ ngày công bố Quyết định thanh tra thuế. Quyết định thanh tra

thuế phải được công bố chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày ban hành.

20


×