Tải bản đầy đủ (.pdf) (89 trang)

Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ba Vì

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.1 MB, 89 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ TIẾN DŨNG

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN ĐÌNH LONG

HÀ NỘI, 2017


MỤC LỤC

Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU

1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG


8

NÔNG THÔN MỚI
1.1. Một số khái niệm chung

8

1.2. Nội dung về xây dựng nông thôn mới

12

1.3. Nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng nông thôn mới

22

1.4. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới

24

Chương 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN

29

ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh của

29

huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
2.2. Thực trạng xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ba Vì,thành


37

phố Hà Nội
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG

69

NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ
HÀ NỘI
3.1. Phương hướng, mục tiêu về xây dựng nông thôn mới của huyện Ba Vì

69

3.2. Một số giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới trên địa bàn

71

huyện Ba Vì.
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

79


DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang
Biể u 2.1. Cơ cấ u đấ t đai của huyê ̣n Ba Vì năm 2016


31

Biểu 2.2. Kết quả thực hiện các tiêu chí

47

Biểu 2.3. Tổng hợp kết quả Tổng số tiêu chí và số xã đạt được

55

Biể u 2.4. Kế t quả huy đô ̣ng vố n xây dựng nông thôn mới

56

Biể u đồ 2.1. Cơ cấ u vố n đầ u tư xây dựng cơ sở ha ̣ tầ ng nông thôn mới

57

huyê ̣n Ba Vì 2011-2016


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐ

Ban chỉ đa ̣o

BQLDA

Ban quản lý dự án


CCB

Cựu chiế n binh

GT-TL

Giao thông- Thủy lơ ̣i

GTVT

Giao thông vâ ̣n tải

GPMB

Giải phóng mă ̣t bằ ng

HĐND

Hội đồng nhân dân

MTQG

Mu ̣c tiêu quố c gia

NTM

Nông thôn mới

NXB


Nhà xuấ t bản

SXKD

Sản xuất kinh doanh

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung ho ̣c phổ thông

UBND

Ủy ban nhân dân

VH-TT

Văn hóa - Thể thao


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông
nghiệp, nông thôn, nông dân nước ta đã đạt được nhiề u thành tựu to lớn và khá toàn
diện; kinh tế nông thôn đã có sự chuyển biến sâu rộng: sản xuất lương thực tăng, thu
nhập nông dân gia tăng, an ninh lương thực được bảo đảm, khả năng cạnh tranh của
một số mặt hàng như gạo, cà phê, hạt điều, thuỷ hải sản... đã được nâng lên và có vị thế

trên thị trường thế giới. Cùng với tăng trưởng kinh tế, cấu trúc kinh tế cũng đã có thay
đổi rõ nét với sự tăng lên mạnh mẽ của khu vực công nghiệp dịch vụ trong nền kinh tế.
Thêm vào đó, thành tựu về xoá đói giảm nghèo của khu vực nông thôn đã giảm rõ rệt,
đồng thời Chính phủ và các nhà tài trợ đã có đầu tư thích đáng cho cơ sở hạ tầng cơ bản
(điện, đường, trường, trạm) trong khu vực nông thôn, và điều này đã hỗ trợ rất lớn cho
việc cải thiện điều kiện sống của người dân nông thôn. Tuy nhiên, những thành tựu đạt
được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng, miề n;
nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần,
sức cạnh tranh thấp; việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất
trong nông nghiệp còn chậm; năng xuất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng
thấp, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn; đời
sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp; chênh lệch giàu, nghèo
giữa nông thôn với thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức
xúc. Đứng trước thực trạng đó, Trung ương đã ra Nghị quyết 26 –NQ/TW của BCH
Trung ương khóa X, về vấn đề “ nông nghiệp, nông thôn, nông dân” và Chính phủ ban
hành theo quyết định số 800/QĐ –TTg ngày 04/6/2010 về Chương trình xây dựng nông
thôn mới. Đây là chương trình MTQG về xây dựng NTM có tác động đến mọi mặt
kinh tế - xã hội với mục tiêu xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại;
cơ cấu kinh tế và tổ chức sản xuất hợp lý; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn
hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ… Sau 5 năm triển khai chương trình đã
đạt được nhiều thành tựu, đã và đang tạo động lực thúc đẩy cộng đồng dân cư nông
thôn và cả hệ thống chính trị vào xây dựng NTM góp phần phát triển kinh tế - xã hội
nông thôn. Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu đạt được, quá trình triển khai xây dựng NTM

1


cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế, như: nợ đọng trong xây dựng cơ bản; chạy đua thành
tích; thiếu tính bền vững …Cần có giải pháp khắc phục để xây dựng NTM trong giai
đoạn tiếp theo đạt kết quả tốt…

Ba Vì là huyê ̣n có địa bàn rộng với tổng diện tích đất tự nhiên là 42.402 ha, dân
số trên 270 ngàn người, cách trung tâm Thành phố Hà Nội 60 km. Sau khi Hà Tây sáp
nhập về Hà Nội (tháng 8/2008), Ba Vì là huyện miền núi của Thủ đô. Bắt đầu vào triển
khai thực hiện xây dựng nông thôn mới từ năm 2011, đến nay, sau gần 06 năm thực
hiện, đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn nhiều xã trong huyện được nâng
lên; kết cấu kinh tế- xã hội, nhất là đường giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế,
khu dân cư... nhiều xã được xây mới đồng bộ và hiện đại. Tuy nhiên, trong thực hiện
cũng còn nhiều những khó khăn, vướng mắc, bất cập cần phải có những giải pháp khắc
phục, tháo gỡ để đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ba Vì có chất
lượng, hiệu quả hơn. Chiń h vì vâ ̣y,vấ n đề đă ̣t ra bức thiế t ở đây là cầ n phải có những
nghiên cứu lý luâ ̣n, khảo sát, đánh giá thực tiễn tìm giải pháp phù hơ ̣p cho viê ̣c xây
dựng nông thôn mới, phát triể n kinh tế - xã hô ̣i trên điạ bàn huyê ̣n Ba Vi.̀ Xuất phát từ
lý do trên, tác giả chọn đề tài " Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ba Vì"
làm luận văn tốt nghiệp ngành quản lý kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1.Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
a).Công trình nghiên cứu ngoài nước
Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân là chủ đề lớn đã thu hút sự quan tâm
nghiên cứu của nhiều cơ quan và các nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam,
đặc biệt trong những năm gần đây.
Trên thế giới, đã từ lâu biết đến công trình: “Chính sách nông nghiệp trong các
nước đang phát triển” của tác giả Frans Ellits do Nxb nông nghiệp ấn hành năm 1994.
Cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề về chính sách phát triển nông nghiệp, chính sách
thương mại nông sản, những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa và mối quan hệ
phát triển nông nghiệp nông thôn. Công trình đã đặc biệt bàn tới các chính sách nhằm
chuyển đổi nền nông nghiệp của các nước đang phát triển trong quá trình chuyển sang
sản xuất hàng hóa gắn liền với thương mại nông sản trên thế giới, đồng thời cũng nêu

2



lên những mô hình thành công hay thất bại trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn
và giải quyết những vấn đề nông dân.
Công trình: “Một số vấn đề nông nghiệp, nông dân nông thôn ở các nước và Việt
Nam” của tác giả Benedict J.tria Kerrkvliet, Jamesscott Nguyễn Ngọc và Đỗ Đức Thịnh
sưu tầm và giới thiệu, Nxb Hà Nội ấn hành năm 2000. Các tác giả đã nghiên cứu đề cập
về vai trò, đặc điểm của nông dân, thiết chế nông thôn ở một số nước trên thế giới và
những kết quả bước đầu trong nghiên cứu làng nghề truyền thống ở Việt Nam và phát
triển kinh tế nông thôn. Những kết quả nghiên cứu của công trình có giá trị tham khảo
cho việc gợi ý về chính sách phát triển nông thôn nước ta hiện nay, bao gồm: phát triển
các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp nông thôn, các chính sách thúc đẩy
sản xuất chính sách đất đai, tín dụng... Đặc biệt đối với phát triển ngành nghề phi nông
nghiệp và các làng nghề truyền thống ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi cơ chế
quản lý kinh tế.
Trong nghiên cứu của OECD năm 2004, cũng đã chỉ ra về sự thay đổi ở khu vực
nông thôn , cần phải có chính sách về nông thôn mới . Theo đó, các nghiên cứu về lý
thuyết phát triển nông thôn của Mateo Ambrosio; Albala and Johan Bastiaensen 1010 ).
Lý luận về mô hình nông thôn mới đã có những thay đổi trong tiếp cận mục tiêu phát
triển, như: cạnh tranh nông nghiệp sang phạm vi rộng hơn về cạnh tranh giữa các khu
vực nông thôn; tài sản khu vực nông thôn; phát triển các thể chế nông thôn…
Dự án MISPA 2006 với vấn đề “Lý luận và thực tiễn xây dựng nông
thôn mới xã hội chủ nghĩa” do dịch giả Cù Ngọc Hưởng đã nghiên cứu
vấn đề xây dựng nông thôn mới XHCN ở Trung Quốc trên nhiều khía cạnh.
Từ sự hình thành khái niệm, bối cảnh, nội hàm, ý nghĩa thực hiện của sự
nghiệp xây dựng nông thôn mới XHCN. Công trình tổng hợp ý kiến nhiều
chiều của các học giả trong nước trên những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
như hệ thống lý luận xây dựng NTM XHCN; mục tiêu, tiêu chuẩn đánh giá và
hệ thống chỉ tiêu đánh giá quá trình xây dựng NTM XHCN; hệ thống chỉ tiêu
đánh giá quá trình xây dựng NTM XHCN và lựa chọn các chỉ tiêu cho từng
khu vực; Phạm vi, trọng điểm và phương án xây dựng NTM; lý thuyết,

nguyên tắc, phương pháp và sự đảm bảo thực hiện các kế hoạch xây dựng
NTM; thể chế quản lý, cơ chế trao vốn, các chỉ tiêu đánh giá hiệu ích kinh tế,

3


cơ chế giám sát và cơ chế đảm bảo của sự nghiệp xây dựng NTM... Nhìn
chung, kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo hữu ích khi tiếp cận đến kinh
nghiệm xây dựng NTM.
b). Công trình nghiên cứu trong nước
Xây dựng nông mới là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, nhằm xây
dựng xã hội nông thôn phát triển có cơ cấu kinh tế ngày càng hiện đại và phát triển bền
vững…. Đã có nhiều nghiên cứu được thực hiê ̣n không chỉ làm rõ các vấ n đề lý luâ ̣n và
thực tiễn mà còn nêu rõ mô hình về xây dựng NTM, cu ̣ thể đối với một số nghiên cứu sau:
- PGS.TS. Trần Thị Minh Châu (chủ biên) (2007) “Về chính sách nông nghiệp ở
nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia. Tác giả đã đề cập đến thực trạng chính sách
nông nghiệp ở Việt nam, những chính sách đất nông nghiê ̣p từ thời kì 1981 đế n nay.
Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra những giải pháp để hoàn thiê ̣n chiń h sách đấ t nông
nghiê ̣p như: Hoàn thiê ̣n khung khổ pháp lý đảm bảo phân quyề n tự chủ ruô ̣ng đấ t cho
nông dân theo nguyên tắ c thi ̣ trường và quyề n đa ̣i diê ̣n quản lý đấ t đai của Nhà nước;
Hoàn thiê ̣n chiń h sách khuyế n khić h nông dân tăng hiê ̣u quả sử du ̣ng đấ t nông nghiê ̣p;
Tích cực tuyên truyề n về đường lố i, chiń h sách đấ t đai nông nghiê ̣p của Đảng và Nhà
nước ở nông thôn.
- PGS.TS. Nguyễn Đình Long Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông
nghiệp nông thôn,”Hiện trạng nông thôn và thực hiện Nghị quyết 26 khóa X (Nông
nghiệp, Nông thôn, Nông dân)”. Tác giả phân tích làm rõ thực trạng nông thôn, nông
nghiệp và nông dân, những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiê ̣n Nghi ̣ quyế t 26 khóa
X và chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM.
- Đặng Kim Sơn (2008), “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay
và mai sau”, Nxb Chính trị quốc gia. Tác giả phân tích thực trạng nông nghiệp trong 20

năm đổi mới về tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu, tổ chức sản xuất và dịch vụ trong
nông nghiệp; nông dân Việt Nam bàn về việc làm, về quyền sử dụng đất và thị trường
đất đai và tiếp cận nguồn vốn tín dụng; Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn,
nông dân trong quá trình công nghiệp hoá, Nxb Chính trị quốc gia, (2008). Vai trò phát
triển nông nghiệp là tiền đề khởi động công nghiệp hoá, vấn đề tập trung hoá đất đai,
vấn đề lao động và di cư lao động ra đô thị, vai trò của công nghiệp nông thôn và dân
cư nông thôn, công nghiệp hóa chưa thành công ở những nước đang phát triển...

4


- Phan Xuân Sơn và Nguyễn Cảnh với bài viế t “ Xây dựng mô hin
̀ h nông thôn
mới ở nước ta hiê ̣n nay”, Bài viế t phân tích chủ yế u ba vấ n đề : Thứ nhấ t nông thôn Viê ̣t
Nam trước yêu cầ u mới, thứ hai là hin
̀ h dung ban đầ u về những tiêu chí của mô hin
̀ h
NTM, thứ ba là về những nhân tố chin
́ h của mô hiǹ h NTM như kinh tế , chiń h tri,̣ văn
hóa, con người, môi trường… các nô ̣i dung trên trong cấ u trúc mô hình NTM có mố i
quan hê ̣ chă ̣t chẽ với nhau. Nhà nước đóng vai trò chỉ đa ̣o, tổ chức điề u hành quá trin
̀ h
hoa ̣ch đinh
̣ và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế , ta ̣o hành lang pháp lý, hỗ trơ ̣
vố n, kỹ thuâ ̣t, nguồ n lực, ta ̣o điề u kiê ̣n đô ̣ng viên tinh thầ n. Nhân dân tự nguyê ̣n tham
gia, chủ đô ̣ng trong thực thi và hoa ̣ch đinh
̣ chính sách.

2.2.Tình hình nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ba Vì.
Thực tế trong quá trình triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới ở huyện Ba

Vì, hằng năm, Phòng Kinh tế huyện (cơ quan thường trực chỉ đạo về xây dựng nông thôn
mới của huyện) đều tham mưu tổng hợp, báo cáo và có đánh giá về những khó khăn, thuận
lợi, đưa ra những giải pháp và bài học kinh nghiệm. Tuy nhiên, những báo cáo đó là riêng
lẻ từng năm, mới đánh giá được kết quả thực hiện trong năm, mà chưa đánh giá được có
tính hệ thống cả quá trình triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới trên toàn huyện để
có những giải pháp tổng thể, dài hạn hơn trong những năm tiếp theo.
Xây dựng nông thôn mới là một trong những chương trình mục tiêu quốc gia
đang được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Ba Vì coi là nhiệm vụ trọng tậm
để tập trung chỉ đạo thực hiện. Đây là một nhiệm vụ mới, trên địa bàn huyện Ba Vì
cũng chưa có tác giả nào chọn đề tài liên quan đến xây dựng nông thôn mới để nghiên
cứu, do vậy, đây là đề tài mới lần đầu tiên được nghiên cứu tại huyện Ba Vì.
* Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy vấn đề xây dựng NTM đã được nghiên
cứu khá toàn diện và có tính hệ thống trên các mặt lý luận, thực tiễn và mô hình về
NTM thể hiện qua các mục tiêu, tiêu chí về xây dựng NTM. Những kết quả nghiên cứu
là những tài liệu quan trọng, mà tác giả xin kế thừa vận dụng trong nghiên cứu luận
văn. Đồng thời sẽ đi sâu làm rõ hơn thực trạng đặc điểm và các nguồn lực để xây dựng
NTM trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Từ đó đề xuấ t những giải pháp có
tính thực tiễn về xây dựng NTM giai đoạn tiếp theo của huyện.

5


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài nghiên cứu làm rõ thực tra ̣ng quá trình xây dựng nông thôn mới ở
huyê ̣n Ba Vì, thành phố Hà Nô ̣i và đề xuất các giải pháp nhằ m đẩ y ma ̣nh quá trình xây dựng
nông thôn mới ở huyện Ba Vì trong thời gian tới.
Để thực hiện được mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ cụ thể sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới.
- Đánh giá thực trạng về xây dựng nông thôn mới ở huyện Ba Vì thời gian qua.
- Xác định những thuận lợi và khó khăn trong quá trình xây dựng nông thôn mới

trên địa bàn huyện Ba Vì.
- Đề xuất các giải pháp định hướng chủ yếu nhằm đẩy mạnh xây dựng nông thôn
mới ở huyện Ba Vì trong những năm tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu quá trình thực hiê ̣n xây dựng nông
thôn mới ở huyê ̣n Ba Vì, thành phố Hà Nô ̣i.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Hệ thống hóa và làm rõ thêm những vấn đề lý luận về xây
dựng nông thôn mới; đánh giá thực trạng quá trình xây dựng NTM về việc thực hiện
các tiêu chí NTM, tâ ̣p trung vào các tiêu chí có yế u tố kinh tế nhằm làm rõ kết quả, hạn
chế và nguyên nhân, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình xây
dựng NTM ở huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đế n năm 2020 và những năm tiếp theo.
- Phạm vi về không gian: địa bàn huyện Ba Vì.
- Phạm vi về thời gian: Nguồn số liệu thu thập phục vụ cho việc nghiên cứu trong 6
năm từ 2011 đến 2016 và đề xuấ t giải pháp đế n năm 2020 và những năm tiế p theo.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, để kế
thừa các quan điểm lý luận của các học giả nghiên cứu trước; Tham khảo các tài liê ̣u lý
luâ ̣n khoa ho ̣c, sách báo, ta ̣p chí, các bài viế t trên internet, các Nghi ̣ đinh,
̣ thông tư, Chỉ
thi,̣ Quyế t đinh
̣ về xây dựng nông thôn mới.
Đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: thu thập số liệu thứ cấp chủ
yếu từ báo cáo của các phòng, ban ngành có liên quan của huyện Ba Vì, huyện Hoài Đức,
huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc, huyện Tiền Hải tỉnh Nam Định;

6


Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp qua điều tra thực tế tại một số xã trên địa bàn

huyện Ba Vì bằng hai phương pháp chính: phương pháp phỏng vấn sâu và phương pháp
điều tra bằng phiếu khảo sát, Việc khảo sát được thực hiện theo cơ cấu 3 vùng miền (miền
núi, trung du, đồng bằng) Đối với các xã đồng bằng chọn 8 xã, trung du 8 xã, và miền núi
chọn 4 xã. Mỗi xã khảo sát chọn 4 phiếu đối với người đứng đầu cấp ủy, đảng, chính quyền
và 16 phiếu chọn là các trưởng ban, ngành đoàn thể ở các thôn. Kết quả của việc khảo sát
chỉ là tài liệu tham khảo củng cố cho các kết luận và giải pháp của tác giả đối với luận văn.
* Phương pháp phân tích số liệu: Luận văn sử dụng phần mềm Excel để xử lý số
liệu, phương pháp thống kê so sánh, tổng hợp và trong quá trình nghiên cứu có sự kết
hợp giữa lý luận và thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài sẽ góp phần hệ thống hóa vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng nông
thôn mới; góp phần tổng hợp, đánh giá lại thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện
Ba Vì trong 6 năm qua để thấy được những tồn tại, hạn chế, những khó khăn, vướng
mắc trong quá trình thực hiện, từ đó đề ra các giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn
mới ở huyện Ba Vì trong thời gian tới. Đề tài sẽ là cơ sở khoa ho ̣c có tác dụng hữu ích
cho các đồng chí Lãnh đạo, cán bộ từ huyê ̣n đế n các xã, thị trấn trong vấ n đề chỉ đa ̣o,
lañ h đa ̣o, đưa ra các quyế t sách về xây dựng nông thôn mới ở điạ phương, đồ ng thời
nhìn nhận rõ hơn về bức tranh xây dựng nông thôn mới của huyện nhà, từ đó vận dụng
các giải pháp trong luâ ̣n văn này vào thực tiễn nhằm đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới
ở huyện Ba Vì đạt chất lượng, hiệu quả hơn.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài kết cấu
thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luâ ̣n và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới
Chương 2: Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện Ba Vì.
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Ba
Vì trong thời gian tới.

7



Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Một số khái niệm chung
1.1.1. Nông thôn
“Nông thôn” là một khái niệm thông dụng, nhưng có nội hàm rộng và có thể
khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Trong tâm thức người Việt, khái niệm “nông
thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn…, đó là một môi trường kinh tế sản xuất
với nghề trồng lúa nước cổ truyền, không gian sinh tồn, không gian xã hội và cảnh quan
văn hoá xây đắp nên nền tảng tinh thần, tạo thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh của
người Việt. Làng - xã là một cộng đồng địa vực, cộng đồng cư trú có ranh giới lãnh thổ
tự nhiên và hành chính xác định. Làng là một đơn vị tự cấp, tự túc về kinh tế, có ruộng,
có nghề, có chợ…tạo thành một không gian khép kín thống nhất. Làng - xã là một cộng
đồng tương đối độc lập về phong tục tập quán, văn hoá, là một đơn vị tự trị về chính trị.
Trong lịch sử, làng - xã là đơn vị hành chính cơ sở. Làng - xã đã từng đóng vai trò rất
quan trọng đối với sự phát triển đất nước, là nơi lưu giữ những giá trị văn hoá, nuôi
dưỡng nguyên khí của dân tộc trước các nguy cơ đồng hoá, nô dịch. Nông thôn được
xác định là tổng hợp của các làng, nói cách khác, Làng Việt là đơn vị cơ bản của nông
thôn Việt Nam.
Ngân hàng thế giới (2008) cho rằng, vùng nông thôn có thể được định nghĩa bởi
quy mô định cư, mật độ dân số, khoảng cách đến những vùng thành thị, phân chia hành
chính và tầm quan trọng của ngành công nghiệp. Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc
(FAO), có hai phương pháp chính để định nghĩa nông thôn. Phương pháp thứ nhất là sử
dụng định nghĩa địa -chính trị. Trước hết thành thị được xác định bởi luật là tất cả
những trung tâm của tỉnh, huyện và các vùng còn lại được định nghĩa là nông thôn.
Phương pháp phổ biến thứ hai là sử dụng mức độ tập trung dân số sống thành cụm quan
sát được để xác định vùng thành thị. Trong một vùng có các hộ gia đình sống gần nhau
tạo nên cộng đồng lớn hơn một số nhất định nào đó, ví dụ 2000 người, thì được coi là
thành thị và khu vực còn lại được coi là nông thôn. Phương pháp này có sự thuyết phục
hơn bởi nó đưa ra một giới hạn xác định rõ ràng. Tuy nhiên, giới hạn này rất khác nhau

theo từng nước. Bên cạnh đó, có một số quốc gia sử dụng cách tính mức độ sẵn có của

8


các loại hình dịch vụ để xác định vùng thành thị, phần còn lại là nông thôn(TS. Đặng
Kim Sơn, nông thôn Việt Nam- 20 năm đổi mới và phát triển,Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2006). Phương pháp này đúng đắ n ở quan điểm phân tích nghèo đói,
bởi sự thiếu vắng các dịch vụ cần thiết thường đi kèm với đói nghèo.
Hiện nay, Việt Nam theo phương pháp thứ nhất - định nghĩa địa chính trị để phân
định nông thôn-thành thị. Khái niê ̣m nông thôn được thống nhất với quy định tại Thông tư
số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã,
thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã".Nông thôn, theo
quy định về hành chính và thống kê Việt Nam là những địa bàn thuộc xã (những địa bàn
thuộc phường hoặc thị trấn được quy định là khu vực thành thị).
Nông thôn là một hệ thống xã hội, một cộng đồng xã hội có những đặc trưng
riêng biệt như một xã hội nhỏ, trong đó có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề xã hội và các
thiết chế xã hội. Nông thôn được xem xét như một cơ cấu xã hội, trong đó có hàng loạt
các yếu tố, các lĩnh vực nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Theo đó, hệ thống xã hội nông thôn được xác định theo ba đặc trưng cơ bản sau:
- Về các nhóm giai cấp, tầng lớp xã hội: Ở nông thôn, đặc trưng chủ yếu ở đây là
nông dân, ngoài ra ở từng xã hội còn có các giai cấp, tầng lớp như nhóm thơ ̣ thủ công
nghiệp, buôn bán nhỏ, vv...
- Về lĩnh vực sản xuất: Đặc trưng rõ nét nhất của nông thôn là sản xuất nông
nghiệp; ngoài ra, còn có thể kể đến cấu trúc phi nông nghiệp bao gồm: dịch vụ, buôn bán,
tiểu thủ công nghiệp mà có vai trò rất lớn đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
- Về lối sống, văn hóa của từng loại cộng đồng: Nông thôn thường rất đặc trưng
với lối sống văn hóa của cộng đồng làng xã. Đặc trưng này bao gồm rất nhiều khía cạnh
như từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời sống tinh thần, phong tục, tập quán, hệ giá trị,

chuẩn mực cho hành vi,... đến khía cạnh dân số, lối sống gia đình, sinh hoạt kinh tế,...
ngay cả đến hệ thống đường xá, năng lượng, nhà ở,...
Đó là những đặc trưng cơ bản nhất về mặt xã hội học để nhận diện nông thôn.
Chính đặc trưng thứ ba đã tạo ra bản sắc riêng, diện mạo riêng cho hệ thống xã hội
nông thôn.

9


1.1.2. Nông thôn mới
Đã có rất nhiều diễn giải và phân tích về khái niệm thế nào là nông thôn mới.
Nếu so sánh giữa nông thôn mới và nông thôn truyền thống, thì nông thôn mới phải bao
hàm cơ cấu và chức năng mới. Ở đây chúng ta sẽ không thảo luận về định nghĩa nông
thôn mới, mà sẽ xem xét từ góc độ nông thôn mới gồm có những đặc điểm gì. Nghị
Quyết 26- NQ/TW, Hội nghị TW lần thứ 7, Khóa X, ngày 05/8/2008 đưa ra mục tiêu:
“Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và
các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công
nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá
dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở
nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”.
Như vậy, nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị
trấn, thị xã, thành phố... Nông thôn mới vừa bao hàm chức năng lịch sử vốn có của
nông thôn là vùng nông dân quần tụ trong đơn vị làng xã và chủ yếu làm nông nghiệp,
vừa có những thuộc tính khác với nông thôn truyền thống.Có thể khái quát gọn theo
năm nội dung cơ bản đó là: làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát
triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống về vật chất và tinh thần của người
dân nông thôn ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát
triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ.
Nông thôn mới gồm các chức năng sau:
a) Chức năng vốn có của nông thôn là sản xuất nông nghiệp: Nông thôn mới phải

là nơi sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp có năng suất, chất lượng cao theo hướng sản
xuất hàng hóa, không phải là tự cung, tự cấp, phát huy được đặc sắc của địa phương (đặc
sản). Đồng thời với việc này là phát triển sản xuất ngành nghề, trước hết là ngành nghề
truyền thống của địa phương. Sản phẩm ngành nghề vừa chứa đựng yếu tố văn hóa vật
thể và phi vật thể của từng làng quê Việt Nam, vừa tạo việc làm, tăng thu nhập cho cư
dân nông thôn... Xây dựng nông thôn mới không có nghĩa là biến nông thôn trở thành
thành thị. Hướng tư duy áp dụng mô hình phát triển của thành thị vào xây dựng nông
thôn phần nào đã phủ nhận những giá trị tự có của nông thôn và khả năng phát triển trên
cơ sở giữ vững bản sắc riêng nông thôn.

10


b).Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống dân tộc: Quốc gia nào cũng vậy, các
tộc người được sinh ra bắt đầu từ nông thôn hoặc là đồng bằng và miền núi, ven sông
suối, ven biển. Sự phát triển của nhân loại tạo ra đô thị.
Bản sắc văn hóa làng quê cũng đồng nghĩa với bản sắc từng dân tộc, giữ gìn nó là giữ
gìn văn hóa truyền thống đa dạng của các dân tộc, của từng quốc gia. Làng quê nông thôn
Việt Nam khác so với các nước xung quanh, ngay cả ở Việt Nam, làng quê dân tộc Thái
khác với các dân tộc H'Mông, khác với Ê-đê, Ba-na, người Kinh... Nếu quá trình xây dựng
nông thôn mới làm phá vỡ chức năng này là đi ngược lại với lòng dân và làm xóa nhòa
truyền thống văn hóa muôn đời của người Việt.
c) Chức năng bảo đảm môi trường sinh thái: Chức năng này chính là một trong
những tiêu chí quan trọng phân biệt giữa thành thị với nông thôn. Nếu như nền văn
minh công nghiệp phá vỡ mối quan hệ hài hòa vốn có giữa con người và thiên nhiên, thì
sản xuất nông nghiệp lại mang chức năng phục vụ hệ thống sinh thái. Từ vườn cây, ao
cá, cánh đồng lúa bát ngát mênh mông, trang trại cà phê, tiêu..., hệ thống tưới tiêu, hồ
đập thủy lợi cho đến bờ dậu... làm cho con người gần gũi, gắn chặt với thiên nhiên. Do
vậy, phải nên xây dựng nông thôn mới với những đóng góp tích cực cho sinh thái. Có
thể coi chức năng sinh thái chính là thước đo một khu vực có thể đươ ̣c coi là nông thôn

mới hay không. Đồng thời phải phân biệt rõ không được lẫn lộn ranh giới giữa nông
thôn với thành thị.
1.1.3. Xây dựng nông thôn mới
Xây dựng NTM chính là thực hiện chương trình phát triển toàn diện, vững chắc
nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhằm nâng cao đời sống người dân và sự phát triển.
Đó là quá trình thay đổi toàn diện về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường; trong đó có
hàm ý là tạo ra những “con người mới” có văn hoá trong môi trường NTM.
Xây dựng NTM bao gồm tất cả các vấn đề gắn với đời sống của người dân và
môi trường, không gian sống ở khu vực nông thôn (giáo dục, y tế, nhà cửa, dịch vụ
công cộng, cơ sở vật chất, năng lực lãnh đạo, quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị các di
sản văn hóa cũng như các vấn đề kinh tế của địa phương nói chung, kinh tế ngành nói
riêng), là một quá trình ổn định, bền vững với những thay đổi kinh tế, xã hội, văn hóa,
môi trường hướng tới hội nhập bền vững trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã
hội, môi trường. Mục tiêu trọng tâm là nâng cao được đời sống dân cư tại cộng đồng và

11


được sống trong một xã hội nông thôn năng động, văn hoá hiện đại nhưng vẫn giữ được
bản sắc văn hoá truyền thống, đồng thời ở đó môi trường được bảo vệ và ngày càng
được tôn tạo.
Như vậy, Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để
cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang
trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có
nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống
vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao.
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của
cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà còn là vấn
đề kinh tế - chính trị tổng hợp.
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm

chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.
1.2. Nô ̣i dung xây dựng nông thôn mới.
1.2.1. Mục tiêu và nguyên tắ c xây dựng nông thôn mới.
a) Mu ̣c Tiêu xây dựng nông thôn mới.
- Xây dựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội từng bước hiê ̣n đa ̣i; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hơ ̣p lý, gắ n
nông nghiê ̣p với phát triể n nhanh công nghiê ̣p, dich
̣ vu ̣.
- Gắn Phát triể n nông thôn với đô thị theo quy hoạch; từng bước thực hiện công
nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn;
- Xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc;
trình độ dân trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ;
- Hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống
vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao; theo đinh
̣
hướng xã hô ̣i chủ nghiã .
b) Nguyên tắ c xây dựng nông thôn mới.
- Nô ̣i dung xây dựng NTM hướng tới thực hiê ̣n Bô ̣ tiêu chí Quố c gia đươ ̣c quy
đinh
̣ ta ̣i Quyế t đinh
̣ số 491/QĐ-TTG ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính Phủ.
- Xây dựng NTM theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cô ̣ng đồ ng dân
cư điạ phương là chính, Nhà nước đóng vai trò đinh
̣ hướng, ban hành các tiêu chí, quy

12


chuẩ n xã đă ̣t ra các chiń h sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn. Các hoa ̣t đô ̣ng cu ̣ thể do chiń h
cô ̣ng đồ ng người dân ở thôn, xã bàn ba ̣c dân chủ để quyế t đinh

̣ và tổ chức thực hiê ̣n.
- Đươ ̣c thực hiê ̣n trên cơ sở kế thừa và lồ ng ghép các chương trình MTQG,
chương trình hỗ trơ ̣ có mu ̣c tiêu, các chương triǹ h dự án khác đang triể n khai ở nông
thôn, có bổ sung dự án hỗ trơ ̣ đố i với các liñ h vực cầ n thiế t; có cơ chế , chính sách
khuyế n khić h ma ̣nh mẽ đầ u tư của các thành phầ n kinh tế ; huy đô ̣ng đóng góp của các
tầ ng lớp dân cư.
- Đươ ̣c thực hiê ̣n gắ n với quy hoa ̣ch, kế hoa ̣ch phát triể n kinh tế - xã hô ̣i, đảm bảo
an ninh quố c phòng của mỗi điạ phương (xã, huyê ̣n, tin̉ h); có quy hoa ̣ch và cơ chế đảm
bảo cho phát triể n theo quy hoa ̣ch ( trên cơ sở các tiêu chuẩ n kinh tế , kỹ thuâ ̣t do các Bô ̣
chuyên ngành ban hành).
- Là nhiê ̣m vu ̣ của cả hê ̣ thố ng chính tri ̣và toàn xã hô ̣i; cấ p ủy Đảng, chính quyề n
đóng vai trò chỉ đa ̣o, điề u hành quá triǹ h xây dựng quy hoa ̣ch, kế hoa ̣ch, tổ chức thực
hiê ̣n; Hình thành cuô ̣c vâ ̣n đô ̣ng “ toàn dân xây dựng nông thôn mới” do MTTQ chủ trì
cùng các tổ chức chiń h tri-̣ xã hô ̣i vâ ̣n đô ̣ng mo ̣i tầ ng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ
thể trong viê ̣c xây dựng nông thôn mới.
1.2.2. Nội dung xây dựng nông thôn mới.
Nô ̣i dung xây dựng NTM đươ ̣c thể hiê ̣n trong chương triǹ h MTQG xây dựng
NTM (Quyế t đinh
̣ số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010), gồ m 11 nô ̣i dung sau:
1.2.2.1. Quy hoạch xây dựng nông thôn mới.
Thực hiê ̣n quy hoa ̣ch sử du ̣ng đấ t và ha ̣ tầ ng thiế t yế u cho phát triể n sản xuấ t
nông nghiê ̣p hàng hóa, công nghiê ̣p, tiể u thủ công nghiê ̣p và dich
̣ vu ̣; Quy hoa ̣ch phát
triể n ha ̣ tầ ng kinh tế - xã hô ̣i- môi trường; phát triể n các khu dân cư mới và chin
̉ h trang
các khu dân cư hiê ̣n có trên điạ bàn cấ p xa.̃
1.2.2.2. Phát triể n hạ tầ ng kinh tế - xã hội.
Hoàn thiê ̣n đường giao thông đế n tru ̣ sở UBND xã và hê ̣ thố ng giao thông trên
điạ bàn xa.̃ Đế n năm 2015 có 35% số xã đa ̣t chuẩ n ( các tru ̣c đường đươ ̣c nhưa ̣ hóa
hoă ̣c bê tông hóa) và đế n 2020 có 70% số xã đa ̣t chuẩ n các tru ̣c đường thôn, xóm cơ

bản cứng hóa;

13


Hoàn thiê ̣n hê ̣ thố ng các công triǹ h đảm bảo cung cấ p điê ̣n phu ̣c vu ̣ sinh hoa ̣t và
sản xuấ t trên điạ bàn xa.̃ Đế n 2015 có 85% số xã đa ̣t tiêu chí NTM và năm 2020 là 95%
số xã đa ̣t chuẩ n;
Hoàn thiê ̣n hê ̣ thố ng các công trin
̀ h phu ̣c vu ̣ nhu cầ u hoa ̣t đô ̣ng văn hóa thể thao
trên điạ bàn. Đế n năm 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xa,̃ thôn đa ̣t chuẩ n, đế n năm
2020 có 75% số xã đa ̣t chuẩ n;
Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn
xã. Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn
xã. Đến 2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ. Đến 2015 có 65% số xã đạt tiêu
chí và năm 2020 có 85% số xã đạt chuẩn;
Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã. Đến 2015 có 45% số xã đạt
chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hóa). Đến 2020 có 77% số xã đạt chuẩn
(cơ bản cứng hóa hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch).
1.2.2.3.Chuyể n di ̣ch cơ cấ u, phát triể n kinh tế , nâng cao thu nhập.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển
sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao;
Tăng cường công tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp; Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn
thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp;
Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một
sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương; Đẩy mạnh đào tạo
nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc

làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn. Đến năm 2015 có 20% số xã đạt,
đến 2020 có 50% số xã đạt.
1.2.2.4. Giảm nghèo và thực hiê ̣n chính sách an sinh xã hội.
Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62
huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30a của Chính phủ) theo Bộ tiêu chí quốc gia
về nông thôn mới;

14


Tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo; Thực hiện
các chương trình an sinh xã hội.
1.2.2.5. Đổ i mới và phát triể n các hình thức tổ chức sản xuấ t có hiê ̣u quả ở nông thôn.
Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã; Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
nông thôn;
Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở
nông thôn. Đến 2015 có 65% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn.
1.2.2.6. Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn
Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo, đáp
ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; Đến 2015 có 45% số xã đạt chuẩn
và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn;
1.2.2.7. Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn
Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia trong lĩnh vực về y tế, đáp
ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và
đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn.
1.2.2.8. Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn.
Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, đáp ứng yêu cầu
Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn,
đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới.
Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 45% số xã có bưu điện và

điểm internet đạt chuẩn. Đến 2020 có 75% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 70% có
điểm bưu điện và điểm internet đạt chuẩn.
1.2.2.9. Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường
học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ
và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã. Tiếp tục thực hiện chương trình mục
tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn;
Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo
quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm;
xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải

15


tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình
công cộng…. Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn.
1.2.2.10. Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị xã hội trên địa bàn.
Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu cầu
xây dựng nông thôn mới;
Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ tiêu
chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn
để nhanh chóng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ ở các vùng này;
Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ
thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới. Đến 2015 có 85% số xã
đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn.
1.2.2.11. Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng, chống các tệ nạn
xã hội và các hủ tục lạc hậu;
Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho
lượng lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã

hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới. Đến 2015 có 85% số xã đạt
chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn.
1.2.3. Tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Chương trình nông thôn mới ở Việt Nam có 19 tiêu chí để đánh giá (Hộp 1).
Hộp 1: Các tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
1. Tiêu chí Quy hoạch và thực hiện quy hoạch: Đạt quy hoạch sử dụng đất, phát triển
hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường và khu dân cư mới.
2. Tiêu chí giao thông: 100% số km đường trục xã, liên xã được nhựa hoá hoặc bê tông
hoá đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT. 75% số km đường trục thôn, xóm
được cứng hoá đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT. 70% số km đường ngõ,
xóm được cứng hoá. 70% số km đường trục chính nội đồng được cứng hoá, xe cơ
giới đi lại phải thuận tiện
3. Tiêu chí Thủy lợi. Đạt hệ thống thuỷ lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân
sinh. 85% số đường mương do xã quản lý được kiên cố hoá

16


4. Tiêu chí Điện: Đạt hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện. 98% số
hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn.
5. Tiêu chí Trường học. 80% số trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học,
THCS có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia
6. Tiêu chí cơ sở vật chất văn hoá: Nhà văn hoá và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ
VH-TT và Du lịch. 100% số thôn có nhà văn hoá và khu thể thao thôn đạt quy định
của Bộ VH-TT và Du lịch
7. Tiêu chí Chợ nông thôn: xã có chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng
8. Tiêu chí Bưu điện: xã có điểm phục vụ bưu chính viễn thông. Xã có internet đến
nông thôn.
9. Tiêu chí nhà ở dân cư: Không có nhà tạm dột nát. 80% ở đạt tiêu chuẩn Bộ Xây
dựng.

10. Tiêu chí thu nhập: Thu nhập bình quân đầu người/năm đạt 1,4 lần so với mức bình
quân chung của thành phố .
11. Tiêu chí tỷ lệ hộ nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo dưới mức 6%.
12. Tiêu chí cơ cấu lao động: 30% lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực, nông
thôn, nghề nghiệp
13. Tiêu chí hình thức tổ chức sản xuấ: Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã sinh hoạt có hiệu
quả.
14. Tiêu chí giáo dục: Đạt phổ cập giáo dục trung học. 85% số học sinh tốt nghiệp
THCS được tiếp tục họcTHPT
15. Tiêu chí Y tế: Đạt tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế. Y tế xã đạt
chuẩn quốc gia.
16. Tiêu chí Văn hoá: Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hoá
theo quy định của Bộ VH-TT&DL. 85% số hộ được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh
theo quy chuẩn quốc gia
17. Tiêu chí Môi trường: Các cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn về môi trường. Không có
hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường. Nghĩa
trang được xây dựng theo quy hoạch. Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý
theo quy định.

17


18. Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh: Cán bộ xã đạt chuẩn. Có đủ các tổ
chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định. Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu
chuẩn “Trong sạch, vững mạnh”. Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh
hiệu tiên tiến trở lên.
19. Tiêu chí An ninh - Trật tự xã hộiAn ninh xã hội được giữ vững.
Nguồn Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới, Thủ tướng chính phủ, 2009
Việc triển khai chương trình nông thôn mới lấy xã là xuất phát điểm. Các địa
phương xây dựng nông thôn mới từ xã, nếu đạt tiêu chí đánh giá thì được công nhận là xã

nông thôn mới, huyện nông thôn mới và tỉnh nông thôn mới (Thủ tướng chính phủ, 2009).
Theo quyết định 491/ QĐ-Ttg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng chính
phủ về Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới có 3 Bộ tiêu chí đánh giá sự phát triển
nông thôn bao gồm Bộ tiêu chí cho cấp Xã nông thôn mới,Huyện nông thôn mới và
Tỉnh nông thôn mới. Bộ tiêu chí của xã nông thôn mới gồm 19 nhóm tiêu chí: Quy
hoạch (1 tiêu chí), Xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại (8 tiêu chí);
Kinh tế và tổ chức sản xuất (4 tiêu chí), Văn hóa- xã hội-môi trường (4 tiêu chí) và hệ
thống chính trị (2 tiêu chí). Nếu đạt được 19 tiêu chí đó thì được công nhận là xã nông
thôn mới. Tiêu chí đánh giá huyện nông thôn mới là những huyện phải có 75% số xã
đạt tiêu chuẩn xã nông thôn mới. Tỉnh nông thôn mới phải có 80% số huyện trong tỉnh
đạt tiêu chuẩn huyện nông thôn mới (Thủ tướng chính phủ, 2009).
Như vậy, cái “mới” trong chương trình phát triển nông thôn mới là nhìn nhận sự
phát triển nông thôn mang tính tổng hợp và đa ngành và xã phải đạt được 19 tiêu chí
trên. Đây là cách nhìn nhận toàn diện và phù hợp. Sự khác biệt giữa xây dựng nông
thôn trước đây với xây dựng nông thôn mới chính là ở những điểm sau:
- Thứ nhất, xây dựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn theo tiêu chí chung
cả nước được định trước.
- Thứ hai, xây dựng nông thôn địa bàn cấp xã và trong phạm vi cả nước, không
thí điểm, nơi làm nơi không, 9111 xã cùng làm.
- Thứ ba, cộng đồng dân cư là chủ thể của xây dựng nông thôn mới, không phải
ai làm hộ, người nông dân tự xây dựng.

18


- Thứ tư, đây là một chương trình khung, bao gồm 11 chương trình mục tiêu
quốc gia và 13 chương trình có tính chất mục tiêu đang diễn ra tại nông thôn.
1.2.4. Trình tự các bước tiế n hành xây dựng nông thôn mới
Trình tự xây dựng nông thôn mới gồm 7 bước như sau:
- Bước 1: Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện;

- Bước 2: Tổ chức thông tin, tuyên truyền về thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn
mới (được thực hiện trong suốt quá trình triển khai thực hiện);
- Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí
tỉnh đã ban hành;
- Bước 4: Xây dựng quy hoạch nông thôn mới của xã ;
- Bước 5: Lập, phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới của xã;
- Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án;
- Bước 7: Giám sát, đánh giá và báo cáo về tình hình thực hiện Chương trình.
Sau khi đề án và quy hoạch xây dựng nông thôn mới của xã đã được phê duyệt,
các xóm họp dân để xây dựng kế hoạch phát triển của thôn (5 năm và hàng năm) trong
đó cần bàn thống nhất các nội dung:
- Cải tạo nâng cấp nhà ở, xoá nhà tạm; chỉnh trang khuôn viên, vườn ao, hàng
rào, cổng ngõ, các công trình vệ sinh …theo quy định chung của thôn; sắp xếp đồ dùng
sinh hoạt trong gia đình gọn, đẹp.
- Xác định hướng đi phát triển kinh tế của từng hộ gia đình trong xóm (theo quy
hoạch của xã); chủ động nâng cao kiến thức, đào tạo nghề..., chuyển đổi lao động nông
nghiệp sang phi nông nghiệp.
- Đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng của xóm, xã: Đường thôn xóm,
đường nội đồng, kênh mương, nhà văn hoá, nhà mẫu giáo và khu thể thao xóm, hệ
thống cống rãnh thoát nước thải, trồng cây xanh…
- Xây dựng hương ước, quy ước của xóm về nếp sống văn hoá, về an ninh trật tự
xã hội trong xóm.
- Ban Phát triển xóm phát động thi đua giữa các hộ gia đình trong xóm với nhau,
thi đua với xóm khác trong thực hiện xây dựng nông thôn mới theo phương châm “Làm
từ nhà làm ra xóm”. Tổ chức cho các hộ ký cam kết xây dựng nông thôn mới theo kế
hoạch của xóm.

19



- Khi đã thực hiện xong các công việc của hộ, Ban phát triển xóm xây dựng kế
hoạch đề nghị với xã hỗ trợ xây dựng các công trình công cộng của xóm. Khi kế hoạch
được duyệt: Ban Phát triển xóm tổ chức họp dân bàn biện pháp thực hiện kế hoạch; bầu
Ban giám sát xây dựng công trình của xóm; tham gia nghiệm thu các công việc đã hoàn
thành, thông báo công khai quyết toán phần nguồn lực, kinh phí hàng năm do dân đóng
góp để thực hiện xây dựng nông thôn mới tại xóm.
Việc triển khai đề án xây dựng nông thôn mới cần theo nguyên tắc: ưu tiên làm ở
thôn, xóm, hộ gia đình trước nhằm tạo sự hào hứng tham gia của cộng đồng. Hàng năm
trên cơ sở đề án, kế hoạch của các thôn, kế hoạch của xã phân công các thành viên Ban
quản lý triển khai thực hiê ̣ntừng nội dung.
1.2.5. Chủ thể xây dựng nông thôn mới
a). Chủ thể xây dựng nông thôn mới: Đây là chương triǹ h phát triể n nông thôn
toàn diê ̣n, bề n vững với mu ̣c đích nâng cao nhanh cuô ̣c số ng vâ ̣t chấ t và tinh thầ n của
cư dân nông thôn. Không phải là dự án xây dựng cơ bản mà đây là mô ̣t chương trình
phát triể n tổ ng hơ ̣p về kinh tế , văn hóa, chính tri,̣ xã hô ̣i, do vâ ̣y vai trò của cô ̣ng đồ ng
nhân dân là chủ thể xây dựng NTM ta ̣i điạ bàn lấ y nô ̣i lực là căn bản, toàn thể nhân dân
nông thôn chủ đô ̣ng, sáng ta ̣o có biê ̣n pháp tham gia tić h cực vào thực hiê ̣n xây dựng
nông thôn mới. Như vậy mỗi địa phương, mỗi vùng miền sẽ có những đặc thù riêng đối
với việc thực hiện các tiêu chí về xây dựng NTM. Nhưng có một điều bất biến là xây
dựng nông thôn mới là vì đời sống của người dân nông thôn và nông dân chính là chủ
thể của xây dựng nông thôn mới cu ̣ thể như sau:
- Nông dân chủ thể nhận thức thấm nhuần chủ trương, quan điểm của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng nông thôn mới.
- Nông dân là chủ thể thực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế
nông thôn.
- Nông dân là người thực hiện xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới.
- Nông dân là chủ thể mọi hoạt động văn hóa, xã hội, trật tự, an ninh ở nông thôn.
- Nông dân có vai trò quan trọng góp phần xây dựng hệ thống chính trị cơ sở.
Trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, người dân phải tham gia từ khâu quy
hoạch, đồng thời góp công, góp của và phần lớn trực tiếp lao động sản xuất trong quá

trình làm ra của cải vật chất, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc… đồng thời, cũng là người

20


hưởng lợi từ thành quả của nông thôn mới, chính vì vậy, người dân là chủ thể xây dựng
nông thôn mới.
b). Chủ thể quản lý xây dựng nông thôn mới: UBND huyê ̣n là cơ quan quản lý
chung về công tác xây dựng nông thôn mới trên điạ bàn huyê ̣n, có nhiê ̣m vu ̣ hướng dẫn,
kiể m tra, giám sát và đôn đố c tiế n đô ̣ thực hiê ̣n xây dựng NTM ta ̣i các xa;̃ UBND xã là
cơ quan trực tiế p tổ chức, quản lý quá trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương. Vai
trò đó được thể hiện thông qua các chức năng, nhiệm vụ cụ thể sau:
Thứ nhất: Lập dự án xây dựng nông thôn mới ở xã
Để triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới được hiệu quả, việc đầu tiên của mỗi
chính quyền địa phương phải thực hiện là xây dựng kế hoạch thực hiện của từng giai
đoạn và từng năm. Trong đó, chính quyền xã phải đặt ra mục tiêu chung, mục tiêu cụ
thể của từng giai đoạn; phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương.
Thứ hai: Tổ chức thực hiện quá trình xây dựng nông thôn mới ở xã
Là quá trình sau khi đã xác định những công việc cần phải làm tiến hành phân công cho
các đơn vị, cá nhân đảm nhận công việc đó, tạo ra mối quan hệ ngang dọc trong nội bộ
hệ thống nhằm vận hành nhịp nhàng, đồng bộ và hướng tới mục tiêu đã định.
Thứ ba: Kiểm tra đánh giá quá trình xây dựng NTM ở xã
Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự lãnh đạo,
tổ chức, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Nội
dung kiểm tra, thanh tra, giám sát cần được chính quyền thực hiện toàn diện, trong quy
hoạch, đầu tư, áp dụng chính sách hỗ trợ, tiến độ thực hiện,... Cần phải tiến hành kiểm
tra về việc thực hiện theo các tiêu chí, tốc độ thực hiện quá trình xây dựng nông thôn
mới, đồng thời kiểm tra về việc thực hiện chủ trương chính sách xây dựng NTM, kiểm
tra đội ngũ cán bộ xem có thực hiện đúng nhiệm vụ của mình không, cuối cùng là kiểm
tra về quá trình phân bổ và sử dụng nguồn lực.

Chính quyền cấp xã với vị trí là một trong bốn cấp quản lý của hệ thống chính trị ở Việt
Nam và là cấp quản lý trực tiếp con người và sự vụ xảy ra ở nông thôn, là một trong
những chủ thể hết hết sức quan trọng trong thực hiện Chương trình này.
1.2.6. Nguồn lực xây dựng nông thôn mới
a. Nguồn vốn xây dựng nông thôn mới : Có 5 nguồn chính:

21


×