BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HCM
KHOA CN SINH HOC & KT MÔI TRƯỜNG
__________
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
XÂY DỰNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ
MÔI TRƯỜNG THEO TIÊU CHUẨN
ISO 14001 CHO KHÁCH SẠN
MÔN
ISO 14000
LỚP
04ĐHMT1
NHÓM
2
GVHD
Th.S Đặng Hồ Phương Thảo
Tp.HCM, tháng 11 năm 2016
DANH SÁCH NHÓM
STT
Họ và Tên
MSSV
1
Đặng Thị Sương Mai
2009130036
2
Võ Thị Cẩm Tiên
2009130053
3
Trần Minh Tiến
2009130003
MỤC LỤC
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
DANH MỤC BẢNG
4
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
DANH MỤC HÌNH
5
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
DANH MỤC SƠ ĐỒ
6
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BOD
Biological oxygen demand – Nhu cầu oxy sinh học
CBCNV
Cán bộ - công nhân viên
COD
Chemical oxygen demand – Nhu cầu oxy hóa học
CTNH
Chất thải nguy hại
CTR
Chất thải rắn
EMS
Hệ thống quản lý môi trường
QCVN
Quy chuẩn Việt Nam
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
TSS
Tổng rắn lơ lửng trong nước
UBND
Ủy ban nhân dân
VSV
Vi sinh vật
7
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
I.
Giới thiệu chung
Ngành khách sạn
Hoạt động kinh doanh khách sạn đã thực sự trở thành một ngành kinh doanh ở Việt
I.1.
-
Nam vào những năm đầu của thập niên 90. Từ đó đến nay, ngành kinh doanh khách
sạn của Việt Nam phát triển hết sức nhanh chóng. Cùng với việc đời sống ngày càng
được nâng cao, nhu cầu hưởng thụ các dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng, vui chơi, giải trí
của người dân cũng tăng mạnh. Bên cạnh đó, tác động tích cực của tiến trình hội nhập
kinh tế thế giới và khu vực đã khiến cho Việt nam đã trở thành điểm đến đầy hấp dẫn
của các hoạt động du lịch Quốc tế, hội thảo, tổ chức sự kiện, thể thao. Hai nhân tố trên
đã góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch, mà trong đó khách sạn
-
chiếm một vai trò vô cùng quan trọng.
Thuật ngữ “Hotel” – khách sạn có nguồn gốc từ tiếng Pháp. Từ thế kỷ XIX đến đầu
thế kỷ XX sự phát triển của khách sạn thay đổi cả về chất và lượng. Các khách sạn
xuất hiện sự khác biệt về phong cách phục vụ và cấp độ cung cấp dịch vụ. Sự khác biệt
còn tùy thuộc vào mức độ phát triển của ngành kinh doanh khách sạn ở mỗi quốc gia.
Do đó, dẫn đến có nhiều khái niệm khác nhau về khách sạn:
+ Bỉ: Khách sạn phải có ít nhất từ 10 đến 15 buồng ngủ với các tiện nghi tối thiểu như
+
phòng vệ sinh, máy điện thoại, …
Pháp: Khách sạn là một cư sở lưu trú được xếp hạng, có các buồng và căn hộ với các
trang thiết bị tiện nghi nhằm thỏa mãn nhu cầu nghĩ ngơi của khách trong một thời
gian dài (có thể là hàng tuần hoặc hàng tháng nhưng không lấy đó làm nơi cư trú
thường xuyên), có thể có nhà hàng. Khách sạn có thể hoạt động quanh năm hay theo
mùa.
+ Mỹ: Khách sạn là nơi bất kỳ ai cũng có thể trả tiền để thuê buồng ngủ qua đêm ở đó.
Mỗi buồng ngủ cho thuê bên trong phải có ít nhất hai phòng nhỏ (phòng ngủ và phòng
tắm). Mỗi buồng đều phải có giường, điện thoại và vô tuyến. Ngoài dịch vụ buồng
ngủ, có thể có thêm các dịch vụ khác như: dịch vụ vận chuyển hành lý, trung tâm
thương mại, nhà hàng, quầy bar và một số dịch vụ giải trí. Khách sạn có thể được xây
dựng ở gần các khu thương mại, khu du lịch nghỉ dưỡng hoặc các sân bay.
+ Theo quy định về tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn ban hành kèm Quyết định số
01/2001/QĐ-TCDL ngày 27/4/2001 của Tổng cục Du lịch về việc bổ sung, sửa đổi
tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn: Khách sạn (hotel) là công trình kiến trúc được xây
8
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
dựng độc lập, có quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật
-
chất, trang thiết bị, dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch.
Việc đưa ra một khái niệm mang tính khái quát, đầy đủ về khách sạn còn phụ thuộc
vào nhiều điều kiện, đặc trưng của từng vùng, từng quốc gia. Do đó, khách sạn được
xem là cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú (với đầy đủ tiện nghi), dịch vụ ăn uống, dịch
vụ vui chơi giải trí và các dịch vụ cần thiết khác cho khách lưu lại qua đêm và thường
được xây dựng tại các điểm du lịch.
- Các đặc trưng đối với khách sạn:
+ Khách sạn là cơ sở cung cấp dịch vụ lưu trú (với tiện nghi đầy đủ). Sự ra đời của
khách sạn xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu ngủ, nghỉ cho khách và cho đến nay, cho
thuê buồng ngủ vẫn là hoạt động chủ đạo của tất cả các khách sạn. Tuy nhiên, khách
sạn không chỉ dừng lại ở việc cung cấp các dịch vụ lưu trú thông thường mà còn phải
đáp ứng đầy đủ tiện nghi cho khách, tức là phải đảm bảo được cơ sở vật chất, trang
thiết bị, dịch vụ cần thiết như vận chuyển hành lý, giặt là…thỏa mãn nhu cầu của
khách.
+ Khách sạn là nơi cung cấp dịch vụ ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ cần thiết
khác. Cùng với sự phát triển của hoạt động du lịch cũng như việc đi lại của con người
giữa các vùng miền, quốc gia khác nhau, các khách sạn đã bổ sung thêm cả dịch vụ ăn
uống, các dịch vụ giải trí, thể thao, y tế, thểm mỹ, …vào hoạt động của mình.
+ Khách sạn thường được xây dựng tại các địa điểm du lịch, các thành phố lớn, nơi tập
trung dân cư. Điều này có liên quan mật thiết đến khái niệm khách của khách sạn.
Khách của khách sạn là tất cả những ai có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm của khách sạn.
Trong đó, khách du lịch chỉ là một phân đoạn thị trường của khách sạn nhưng lại là thị
trường chính quan trọng nhất. Khách du lịch thường tập trung tại các điểm du lịch nổi
tiếng, nên khi xây dựng các khách sạn chủ đầu tư phải chọn địa điểm thích hợp để có
-
khả năng thu hút khách tối đa.
Phân loại: khách sạn là loại hình kinh doanh lưu trú chính, chiếm tỷ trọng lớn cả về số
lượng và loại kiểu trong hệ thống các cơ sở kinh doanh lưu trú của ngành du lịch.
+
Khách sạn có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí và góc độ khác nhau như:
Theo vị trí địa lý: khách sạn thành phố, khách sạn nghĩ dưỡng, khách sạn ven đô,
khách sạn ven đường, khách sạn sân bay.
9
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
+
Theo mức cung cấp dịch vụ: Khách sạng sang trọng (khách sạn 5 sao), khách sạn với
dịch vụ đầy đủ (khách sạn 4 sao), khách sạn cung cấp số lượng hạn chế dịch vụ (khách
sạn 3 sao), khách sạn thứ hạng thấp (khách sạn 1 – 2 sao).
+ Theo quy mô: Việc phân chia theo quy mô phụ thuộc vào số buồng thiết kế và mức độ
phát triển của ngành khách sạn ở từng quốc gia.
• Ở Mỹ: Khách sạn quy mô lớn (có từ 500 buồng trở lên), khách sạn quy mô
trung bình (có từ 125 – 500 buồng), khách sạn loại nhỏ (dưới 125 buồng).
• Ở Việt Nam: Khách sạn quy mô lớn (có từ 200 buồng trở lên), khách sạn quy
mô trung bình (có từ 50 – 200 buồng), khách sạn loại nhỏ (có từ 10 – 50
buồng).
+ Theo hình thức sở hữu và quản lý: Khách sạn tư nhân, khách sạn Nhà nước, khách sạn
-
liên doanh, liên kết.
I.2.
Khách sạn và môi trường
Do sự tăng trưởng của quá trình hội nhập, cùng với sự đa dạng của các loại hình du
lịch kéo theo sự tăng trưởng của ngành khách sạn và chiếm vị trí quan trọng trong nền
-
nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh dịch vụ tại các khách sạn tác động
tới công tác quản lý và bảo vệ môi trường tương tự các hoạt động sản xuất kinh doanh
khác. Việc quản lý và bảo vệ môi trường lĩnh vực này chưa được đầu tư, quan tâm
đúng mức sẽ có tác động ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường.
Thực trạng công tác bảo vệ môi trường các cơ sở kinh doanh dịch vụ khách sạn về vấn
đề bảo vệ môi trường chưa được thực hiện nghiêm túc, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi
+
trường do nhiều nguyên nhân như:
Khí thải: Phát sinh từ các hoạt động:
Khí thải do hoạt động giao thông vận tải: Các loại phương tiện, động cơ sử dụng nhiên
liệu (chủ yếu là xăng và dầu diesel) sẽ phát sinh một lượng khí thải ra môi trường
không khí. Thành phần khí thải sinh ra từ các phương tiện vận tải gồm: bụi, SO x, NOx,
THC, …Tải lượng các chất ô nhiễm phụ thuộc vào lưu lượng, tình trạng kỹ thuật xe,
tình trạng giao thông, …Lượng khí thải này rất khó định lượng vì đây là nguồn phân
tán và không gian phân bố rộng.
• Bụi: Xâm nhập vào phổi gây kích thích cơ học và phát sinh phản ứng xơ hóa
phổi, gây nên những bệnh thứ cấp.
10
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
• Các khí NOx, SOx: khi tiếp xúc vs niêm mạc ẩm ướt tạo thành các axit. SO 2,
NOx vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc hòa tan vào nước bọt rồi vào đường tiêu
hóa sau đó phân tán vào máu tuần hoàn.
• CO, CO2: dễ gây độc do kết hợp với hemoglobin trong máu tạo thành
cacboxylhemoglobin dẫn đến giảm khả năng vận chuyển oxy của máu.
+ Khí thải do hệ thống thiết bị điều hòa bị rò rỉ (NH 3): máy điều hòa thường được đặt tại
các tầng, khu văn phòng nhằm làm giảm nhiệt độ không khí, quá trình hoạt động lâu
dài sẽ làm rò rỉ NH 3, loại khí này rất có hại cho con người và bầu khí quyển. Vì vậy
cần có biện pháp quản lý nhằm hạn chế phát sinh.
+ Mùi hôi, thối (ammoniac, các mecaptan (HS -), …) sinh ra do phân hủy nước thải tại
các hố ga, khu vệ sinh, nơi tập trung chất thải rắn thực phẩm.
• Quá trình phân hủy kỵ khí rác sinh ra các khí có mùi như: H 2S, CH4, …
• Đối với mùi hôi từ các hố ga và bể tự hoại, thành phần khí, hơi độc rất đa dạng
như NH3, H2S, CH4, …trong đó, H2S và Mercaptane là chất gây mùi hôi, CH 4 là
+
chất gây cháy nổ.
Khí thải từ hoạt động nấu nướng: đối với các khách sạn không có dịch vụ ăn uống thì
không phát sinh khí thải do hoạt động này.
→ Nhận xét: Ô nhiễm không khí do hoạt động giao thông là chủ yếu. Tuy nhiên ,mức
độ ảnh hưởng đến môi trường sẽ giảm khi áp dụng các biện pháp vệ sinh như: tưới
nước tại mặt đường, vệ sinh mặt đường, quản lý chất lượng xe cộ. Lượng khí sinh ra từ
các nguồn khác đều có tải lượng nhỏ và tác động không đáng kể.
Nước thải:
+ Nước thải sinh ra từ khu vệ sinh, hoạt động của nhân viên và khách lưu trú, …có chứa
-
các thành phần cặn bã (TSS), các chất hữu cơ (BOD/COD), các chất dinh dưỡng (N,P)
và vi sinh gây bệnh.
• Các chất dinh dưỡng (N,P): Nguồn nước có mức N, P cao sẽ là điều kiện cho
rong, rêu, tảo phát triển, gây nên hiện tượng phú dưỡng hóa.
• Vi khuẩn: luôn tồn tại trong nước thải, đặc biệt là nước thải sinh hoạt, môi
trường bị ô nhiễm sẽ tạo điều kiện thuận lợi đề VSV phát triển, phát tán vi trùng
gây bệnh đến con người và sinh vật.
• Dầu mỡ: Khi xả vào nguồn nước sẽ loang trên bề mặt tạo thành một màng dầu,
một phần hòa tan trong nước hoặc tồn tại trong nước dưới dạng nhũ tương. Cặn
chứa dầu khi lắng xuống sông, rạch sẽ tích tụ trong bùn đáy. Dầu mỡ không
11
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
những là hợp chất hydrocacbon khó phân hủy sinh học, mà còn chưa các chất
phụ gia độc hại tác động tiêu cực đến hệ sinh thái thủy sinh.
• Chất hữu cơ: Khi hàm lượng chất hữu cơ tăng cao sẽ dẫn đến suy giảm nồng độ
oxy hòa tan trong nước do VSV sử dụng để phân hủy các chất hữu cơ. Ngoài ra,
nồng độ oxy hòa tan thấp cũng ảnh hưởng đến khả năng tự làm sạch của nguồn
nước.
• TSS: Đây là một trong những tác nhân tiêu cực gây ô nhiễm đến tài nguyên
thủy sinh, đồng thời gây tác hại về mặt cảm quan, làm tăng độ đục của nguồn
nước.
+ Nước mưa chảy tràn trên mặt bằng của khách sạn cuốn theo các tạp chất rơi vãi trên
mặt đất xuống nguồn nước. Thành phần chủ yếu của nước mưa chảy tràn là cặn, chất
dinh dưỡng, …và các rác thải cuốn trôi trên khu vực khách sạn.
→ Nhận xét: Ô nhiễm nước thải chủ yếu do nước thải sinh hoạt từ hoạt động của nhân
viên bên trong khách sạn. Nước mưa chảy tràn chủ yếu chứa hàm lượng chất rắn lơ
lửng. Việc xây dựng hệ thống thoát nước mưa là điều kiện rất thuận tiện và dễ dàng
cho việc thoát toàn bộ lượng nước mưa chảy tràn trên bề mặt.
Chất thải rắn: Các nguồn phát sinh CTR như sau:
+ CTR từ hoạt động của nhân viên, khu vực văn phòng bao gồm các loại bao bì, giấy, túi
-
nilông, thủy tinh, vỏ chai nước, …
+ CTR phát sinh từ dịch vụ phục vụ ăn uống của nhân viên làm việc trong khách sạn:
thức ăn thừa, vỏ trái cây, …
+ CTNH: bóng đèn hỏng, băng, gạt y tế, …
- Tiếng ồn và độ rung: phát sinh do nhiều nguồn khác nhau: hoạt động giao thông, hoạt
động của các thiết bị, máy móc (máy bơm, máy lạnh, thang máy, ,…). Mức độ ồn từ
các nguồn này rất khó xác định, phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loại thiết bị, tình trạng
chất lượng thiết bị, sự cộng hưởng của tiếng ồn, …
+ Tiếng ồn và độ rung có tác động lớn đến sức khỏe con người. Tác hại của tiếng ồn là
gây nên những tổn thương cho các bộ phận trên cơ thể người. Trước hết là các cơ quan
thính giác chịu tác động trực tiếp: giảm độ nhạy của tai, thính lực giảm sút, gây bệnh
điếc nghề nghiệp. Ngoài ra, tiếng ồn cũng gây ra các chứng đau đầu, ù tai, chóng mặt,
buồn nôn, rối loạn thần kinh, …Rung động gây nên các bệnh về thần kinh, khớp
xương.
12
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
I.3.
-
Khách sạn và Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO
14001:2004
I.3.1. Lợi ích của khách sạn khi áp dụng ISO 14001
IHEI - Nhóm các Khách sạn tiên phong về Môi trường đã đưa ra những chương trình
với mục tiêu bảo vệ Trái đất. Nói một cách đơn giản, đó chính là việc tích hợp vào
khách sạn những chương trình tối ưu năng lượng, nước, quản lý chất thải, và các hoạt
động vì môi trường khác. Nhìn chung, có 5 lợi ích chính sau khi khảo sát và đánh giá
-
hiệu quả các mô hình khách sạn đã áp dụng ISO 14000:
+ Lợi ích về kinh tế.
+ Tuân thủ được các quy định luật pháp về môi trường.
+ Đạt được sự kỳ vọng của khách du lịch.
+ Hỗ trợ đối với các hàng rào thương mại (giảm thuế).
+ Tăng khả năng cạnh tranh.
Xét về khía cạnh kinh tế, ngành công nghiệp nghỉ dưỡng có thể đạt nhiều lợi ích khi
thực hiện các tiêu chuẩn môi trường, vì đó chính là chìa khóa chiến lược trong việc
giảm chi phí hoạt động, tăng thu nhập và khả năng đạt lợi nhuận cao hơn. Việc thực thi
ISO 14001 có thể giảm chi phí tổng phần lớn dựa vào việc tiết kiệm tài nguyên. Nói
một cách đầy đủ, khả năng giảm chi phí gồm những yếu tố sau:
+ Số lượng nguyên vật liệu và năng lượng giảm đáng kể.
+ Tái chế chất thải và vật liệu dư thừa.
+ Tăng hiệu mức độ an toàn, sức khỏe của lao động, nhờ đó tăng hiệu quả làm
việc, giảm ngày bệnh, và giảm thiểu rủi ro công việc.
+ Giảm chi phí bảo hiểm, được hỗ trợ từ Chính phủ và các tổ chức khác.
Bảng 1.1. Một số khách sạn dẫn đầu trong công tác bảo vệ môi trường và hiệu
quả kinh tế - môi trường tương ứng. (Enz & Sigauw, 1999)
Tên Khách sạn
Mục tiêu phát triển
Đánh giá mức thành công
Khách và nhân viên phản ứng tích cực. Đây
là khách sạn duy nhất ở vùng Maine được
chứng nhận thuộc Tổ chức các Khách sạn
The
Colony Trở thành Khách sạn Xanh. Khách sạn này đã thắng một số giải
Hotel
“Xanh”
tiên phong vì môi trường. KS này cũng trở
thành địa điểm duy nhất được chỉ định là
Khu dự trữ Hoang dã duy nhất ở phía Bắc
nước Mỹ.
The Hotel Bel Thực hiện chương Tiết kiệm được 10000 USD trong 10 tháng,
Air
trình quản lý môi cộng với các khoản thu nhập gia tăng từ việc
trường toàn diện
bán lại các bìa carton. Khách hàng không
được hưởng lợi từ chương trình này, nhưng
vừa lòng với việc tăng chất lượng dịch vụ
13
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
Thực hiện chương
Hyatt Regency
trình giảm thải và tái
Chicago
chế
Thực hiện chương
Hyatt Regency trình tái chế và giáo
Scottsdale
dục môi trường cho
nhân viên
như khăn ăn bằng vải lanh hay khăn tắm
bằng vải bông.
Tái chế được gần 70% các vật liêu có thể tái
chế được, giảm 1/2 chi phí vận chuyển chất
thải. Chương trình tái chế tiết kiệm được gần
120.000 USD từ những vật dụng được thu
hồi từ thùng rác.
Thu hút các nhóm doanh nghiệp sinh thái.
Trở thành người dẫn đầu trong trách nhiệm
đối với môi trường. Nhân viên cảm thấy tự
hào khi thực hiện chương trình.
Bảng 1.2. Mức thu chi cho việc tái chế tại KS Hyatt Regency (Chicago)
(Enz & Sigauw, 1999)
1997
Khoản tiết kiệm
Chi phí vận chuyển
Phục hồi vật dụng, thiết bị
Thu vào
Tổng
Khoản chi
Phí hoạt động
1998
$200,787
28,459
8,842
$238,088
$176,770*
33,578
6,000
$216,220
$73,508
$74,000
Phí giám sát
65,000
55,400
Bãi chứa
8,250
9,740
Tổng
$146,758
$139,140
TỔNG
$91,330
$77,080
* Chi phí vận chuyển giảm là do giá thị trường giảm đối với các sản phẩm tái chế
-
Tiêu chuẩn quốc tế ISO 14000 tích hợp trong tất cả hệ thống kinh doanh, làm tăng khả
năng quản lý, tăng hiệu quả và đòi hỏi sự hoàn thiện trong khả năng lãnh đạo. ISO
14000 giúp đơn giản hóa và tích hợp việc bảo vệ môi trường vào các khung điều hành
chặt chẽ của khách sạn. Việc có những các tiêu chuẩn quốc tế giúp các khách sạn dễ
dàng phát triển các hệ thống quản lý môi trường (EMS), đồng thời cũng là sự cam kết
trước các cổ đông, các đại diện luật pháp, công ty bảo hiểm có liên quan, và các cơ
quan tài chính về trách nhiệm của doanh nghiệp trước việc nâng cao hiệu quả “hoạt
động xanh”. Đồng thời, các tổ chức có ISO 14000 có thể tận dụng chứng chỉ này như
14
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
là một cách thắt chặt mối quan hệ với các nhóm khách hàng, với cộng đồng, và các
-
nhà đầu tư có ý thức thân thiện với môi trường.
Khách du lịch, cũng như những người hoạt động trong lĩnh vực khách sạn cũng có thể
đáp ứng với các áp lực xã hội và thay đổi luật pháp. Họ cũng muốn có được sự nghiên
cứu đầy đủ để giảm lượng tiêu thụ năng lượng, nước, và nguyên vật liệu, từ đó chi phí
hoạt động cũng như phí dịch vụ sẽ giảm rõ rệt. Thêm vào đó, khách du lịch và chủ
khách sạn cũng tin rằng các hoạt động thân thiện với môi trường sẽ càng làm tăng sự
nhìn nhận về ý thức của họ đối với môi trường, cũng như hình ảnh của khách sạn đó
đối với công chúng.
I.3.2.
Hậu quả nếu không có hệ thống quản lý môi trường
Việc áp dụng hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 rõ ràng là mang
lại nhiều lợi ích thiết thực. Ngược lại, nếu các tổ chức kinh doanh, sản xuất nói chung,
và các khách sạn nói riêng, không áp dụng một hệ thống quản lý môi trường đúng đắn
thì họ cũng sẽ gặp những vấn đề về kinh tế cũng như gây ra những hậu quả nghiêm
trọng đối với môi trường và xã hội.
-
Trước hết, khi một khách sạn không có một hệ thống quản lý môi trường hợp lý, hoặc
thậm chí là không hề có các hoạt động bảo vệ môi trường thì tất yếu sẽ gây ra ô nhiễm
môi trường trong quá trình hoạt động kinh doanh vì hầu như tất cả các dịch vụ của
khách sạn đều tạo ra dòng thải. Nổi bật nhất là việc xả nước thải, khí thải và chất thải
-
rắn.
Có nhiều khách sạn không chú trọng đến vấn đề xử lý nước thải mà xả thẳng ra kênh,
sông nếu ở gần đó. Có trường hợp thì thải chung tất cả vào đường cống thoát nước thải
sinh hoạt mà không qua xử lý mặc dù trong nước thải của khách sạn cũng có nhiều
thành phần không được xem là nước thải sinh hoạt mà có thể gọi là nước thải công
nghiệp, ví dụ như nước thải giặt ủi công nghiệp. Việc thải nước bừa bãi mà không qua
xử lý sẽ làm ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm, mà đây lại chính là nguồn cung cấp
nước uống cho người dân. Đã có không ít trường hợp các cơ sở chế biến và nhà máy
xả nước thải công nghiệp ra sông gây ô nhiễm và gây hại trực tiếp đến sức khỏe người
dân, thậm chí là giết chết cả một đoạn sông như trường hợp sông Thị Vải. Thậm chí
nhiều thành phần ô nhiễm có khả năng gây bệnh rất nguy hiểm, có thể dẫn đến tử
vong. Cấp độ nguy hiểm hơn nữa khi xảy ra ô nhiễm nguồn nước là sự phát tán dịch
15
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
bệnh. Nguồn nước chính là một trong những nguồn lan truyền dịch bệnh nhanh và khó
kiểm soát nhất. Đặt giả thiết đang có dịch bệnh mà khách sạn không có biện pháp kiểm
soát chặt chẽ (đây cũng là một trong những yêu cầu của hệ thống quản lý môi trường)
-
thì sẽ phát sinh tình huống dịch bệnh bị lan truyền qua việc sử dụng nước.
Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm và phát tán dịch bệnh chưa phải là tất cả hậu quả của
một hệ thống quản lý môi trường không hợp lý. Vẫn còn một vấn đề quan trọng khác
là thất thoát, lãng phí tài nguyên nước. Nhiều khách sạn hiện nay vẫn còn xem nhẹ vấn
đề sử dụng hiệu quả và tiết kiệm nguồn nước. Do giá nước còn thấp nên các khách sạn
vẫn sử dụng nước rất bừa bãi mà không có chính sách hạn chế và tiết kiệm. Chính điều
này làm cho khách hàng cũng không quan tâm đến việc tiết kiệm nước khi sử dụng
dịch vụ của khách sạn. Khi phần lớn nhân viên và khách hàng vẫn cho rằng nước là
-
nguồn tài nguyên vô tận thì lượng nước thất thoát sẽ ngày càng tăng lên.
Không chỉ có nước thải mà không khí ô nhiễm cũng khó có thể được kiểm soát nếu
không có một hệ thống quản lý môi trường phù hợp. Trong môi trường khách sạn, các
hoạt động sinh ra khí thải là không ít nên quản lý ô nhiễm không khí là một hoạt động
không đơn giản vì nếu quản lý không tốt thì có thể gây hậu quả nghiêm trọng như rò rỉ
khí độc, cháy, nổ, …Hơn nữa, những khí nhà kính thoát ra sẽ làm gia tăng hiệu ứng
nhà kính, một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự ấm lên toàn cầu. Hiện nay, khí hậu
Trái Đất đang có những chuyển biến phức tạp, còn nhiệt độ trung bình thì ngày càng
tăng lên. Theo kết quả quan trắc của các nhà khoa học thì nhiệt độ Trái Đất trong vòng
100 năm qua đã tăng lên 0.74oC, và sẽ còn tiếp tục tăng lên nữa nếu nồng độ khí nhà
kính trong không khí không được giới hạn (GreenFacts, 2007). Khi nhiệt độ ngày càng
tăng thì băng tuyết trên các đỉnh núi cao, ở Greenland và hai cực cũng sẽ tan chảy làm
mực nước biển ngày càng dâng cao. Chỉ cần mực nước biển dâng cao 1m thì cũng có
nhiều vùng trên Trái Đất bị biến mất. Cụ thể ở Việt Nam, mức tăng 1m của mực nước
biển có thể nhấn chìm cả vùng đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh.
16
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
Hình 1.1. Bản đồ vùng bị ngập khi mực nước biển dâng lên (Rohde, 2008)
-
Bên cạnh sự gia tăng nhiệt độ chung, ở những đô thị lớn, nơi thường tập trung nhiều
khách sạn, còn xảy ra một hiện tượng tăng nhiệt độ đột biến hơn. Đó chính là hiện
tượng “ốc đảo nhiệt”. Các khách sạn thường dùng số lượng lớn thiết bị làm lạnh và các
máy móc, trang thiết bị khác thải ra khí nhà kính cũng như nhiệt độ vào môi trường, và
chính điều này làm nhiệt độ trong đô thị cao hơn nhiệt độ của những vùng lân cận.
Ngoài ra, các hợp chất khí của Clo, Flo và Brom sẽ góp phần làm thủng tầng ozone.
Tầng ozone là bảo vệ Trái Đất và tất cả những sinh vật trên Trái Đất khỏi tia cực tím.
Nếu tầng ozone bị tổn hại, tia cực tím từ Mặt Trời sẽ chiếu thẳng xuống Trái Đất mà
không bị giữ lại. Đối với con người, tiếp xúc với tia cực tím có thể gây ung thư da và
-
những bệnh nguy hiểm khác. Vì thế, đây là một trong những hậu quả nguy hiểm nhất.
Hơn nữa, một trong những hoạt động quan trọng của khách sạn chính là việc sử dụng
vải (màn, drap trải giường, …) và giặt ủi. Sử dụng quá mức lượng vải cần thiết không
chỉ làm tiêu tốn điện năng giặt ủi và gây hiệu ứng nhà kính mà nó còn dẫn đến những
hậu quả nghiêm trọng hơn rất nhiều. Tiêu tốn điện năng là vấn đề trước mắt. Xa hơn là
việc phát thải khí nhà kính. Nhưng chính từ việc tiêu tốn điện năng quá mức sẽ ảnh
hưởng đến vấn đề sản xuất điện năng. Ở Việt Nam, thủy điện là nguồn cung cấp quan
17
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
trọng, do đó nếu lạm dụng quá mức thì sẽ làm ảnh hưởng đến chế độ dòng chảy, thay
đổi quy luật tự nhiên và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên nước. Rõ ràng là bên cạnh vấn
đề ô nhiễm môi trường thì việc lạm dụng, tiêu dùng quá mức còn gây ra những hậu
-
quả nghiêm trọng hơn cho tài nguyên thiên nhiên.
Về chất thải rắn, lượng rác thải từ các khách sạn thật sự là một vấn đề nan giải. Trong
các hoạt động của khách sạn, chất thải rắn rất đa dạng khi bao gồm cả chất thải rắn
thông thường và chất thải nguy hại. Không có hệ thống quản lý môi trường tốt thì việc
phân loại chất thải rắn cũng sẽ không được chú trọng. Điều này sẽ gây khó khăn cho
nhà thu gom và phân loại chất thải rắn. Khi không phân loại chất thải thì cũng sẽ
không có định hướng tái chế chất thải rắn, từ đó lượng rác thải không được giải quyết
giảm thiểu mà kết thúc ở các bãi chôn lấp. Nếu hầu hết các khách sạn đều không tiến
hành phân loại rác mà loại bỏ tất cả như vậy thì sẽ dẫn đến tình trạng quá tải ở các bãi
chôn lấp và làm tăng nhu cầu sử dụng đất cho việc xây dựng bãi chôn lấp. Với tình
trạng bùng nổ dân số hiện nay, quỹ đất là một vấn đề bức thiết nên việc quy hoạch và
giải phóng mặt bằng lấy đất làm bãi chôn lấp là rất khó khăn và cần được hạn chế.
Không ai mong muốn biến đất nước mình và cả Trái Đất thành một bãi chôn lấp khổng
lồ. Hơn nữa, việc chôn lấp chất thải rắn và chất thải nguy hại cũng có khả năng gây ô
nhiễm nguồn nước ngầm và ô nhiễm không khí. Do đó, việc đẩy mạnh tái chế chất thải
nhằm hạn chế lượng rác thải là vô cùng cần thiết. Điều này có nghĩa rằng áp dụng hệ
thống quản lý môi trường chuẩn mực, mà cụ thể là theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho các
khách sạn, cũng như các ngành công nghiệp khác, là một mục tiêu và nhiệm vụ cần
-
phải được thực hiện.
Việc hệ thống quản lý môi trường tốt hay không tốt không chỉ ảnh hưởng đến khía
cạnh môi trường mà nó còn ảnh hưởng sâu sắc đến toàn xã hội mà quan trọng nhất là
yếu tố con người, trong đó bao gồm cả nhân viên của khách sạn và thành phần bên
-
ngoài khách sạn, ví dụ như giới khách hàng.
Nếu một khách sạn không được tổ chức tốt, sắp đặt không hợp lý, không gian làm việc
chật chội, bừa bộn, thiếu thông thoáng, …thì sẽ gây tác động không tốt đến tinh thần
làm việc của nhân viên. Một khi họ đã không được tạo một không khí làm việc thoải
mái thì hiệu quả làm việc không thể đảm bảo được. Không chỉ có vấn đề sắp đặt, bố
cục mà hệ thống quản lý môi trường yếu kém còn thể hiện trong khâu tổ chức quản lý
18
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
và nhân sự. Nếu hệ thống đó không chặt chẽ, sự phân công nhiệm vụ sẽ bị chồng chéo,
thiếu rõ ràng, dẫn đến sự gián đoạn và trục trặc trong quy trình làm việc chung. Những
vấn đề đó thường làm tình hình kinh doanh cũng như mối quan hệ giữa các nhân viên
trong khách sạn trở nên căng thẳng hơn. Hơn nữa, trong một hệ thống quản lý môi
trường chuẩn mực như theo tiêu chuẩn ISO 14001 thì hoạt động giáo dục, đào tạo,
nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng bắt buộc. Nếu thiếu
đi khâu này thì nhân viên trong khách sạn sẽ không có nhận thức đúng đắn về tầm
quan trọng của công tác bào vệ môi trường cũng như những kiến thức cần thiết về bảo
vệ môi trường. Chính điều này đưa đến tình trạng thiếu thống nhất trong công tác quản
lý do bản thân mỗi nhân viên không tự giác thực hiện đúng các yêu cầu bảo vệ môi
trường trong khách sạn và vì vậy họ cũng không thể hiện được tinh thần trách nhiệm
-
cao, kể cả trong những hoạt động khác.
Đối với thành phần ngoài khách sạn, mà cụ thể là khách hàng, khi bản thân khách sạn
không có những biện pháp bảo vệ môi trường và tuyên truyền nhận thức thì khách
hàng cũng sẽ thờ ơ với việc giữ gìn vệ sinh chung khi sử dụng các dịch vụ trong khách
sạn. Nếu bước vào một khách sạn không bị một tì vết nào về vấn đề ô nhiễm và có
những thông báo, nhắc nhở bảo vệ môi trường hợp lý thì sẽ hiếm có khách hàng nào
làm ngược lại các quy tắc chung đó. Ngược lại sẽ là tình trạng sử dụng năng lượng và
tài nguyên quá mức cần thiết hay các hành động gây ô nhiễm khác vì họ sẽ có suy nghĩ
rằng họ đã chi một khoản phí để được quyền làm bất cứ điều gì, hơn nữa là trong tình
trạng khách sạn cũng không nhắc nhở hay vệ sinh trong khách sạn vốn đã không tốt
-
lắm.
Tất cả những hậu quả trên là rất to lớn, và chúng cũng đều dẫn đến một khía cạnh hậu
-
quả quan trọng nhất đối với bản thân các khách sạn, đó chính là vấn đề kinh tế.
Nếu các khách sạn không có ý thức và quyết tâm xây dựng hệ thống quản lý môi
trường cùng các hoạt động bảo vệ môi trường thì sẽ có tình trạng lạm dụng tài nguyên
và năng lượng. Như đã phân tích trong phần lợi ích khi áp dụng hệ thống quản lý môi
trường theo ISO 14001, việc sử dụng năng lượng và tài nguyên không hợp lý sẽ gây
tổn thất chi phí rất lớn nếu so với chi phí tiết kiệm được về lâu dài khi áp dụng các
biện pháp nhằm bảo vệ môi trường. Có một mâu thuẫn vẫn luôn tồn tại giữa phát triển
kinh tế và bảo vệ môi trường, và đó là điều không thể loại bỏ hoàn toàn. Các nhà kinh
19
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
tế luôn muốn đặt lợi nhuận lên hàng đầu và họ thấy rằng các biện pháp bảo vệ môi
trường đều cần có sự đầu tư về mặt kinh tế. Do đó, hiển nhiên là không doanh nghiệp
nào muốn chi những khoản tiền lớn mà họ không tìm thấy lợi ích cho doanh thu về
sau. Nắm bắt được điều đó, các nhà sản xuất trang thiết bị thân thiện với môi trường đã
và đang nghiên cứu cho ra những sản phẩm có lợi hơn về mặt môi trường với giá
thành ngày càng kinh tế hơn. Đặt biệt là họ đi sâu vào chi phí tiết kiệm được về mặt
lâu dài so với các trang thiết bị truyền thống vốn giá ban đầu không cao nhưng chi phí
vận hành và tiêu thụ năng lượng rất lớn. Mặt khác, lý do khiến các khách sạn không
chú ý đến việc thất thoát năng lượng và tài nguyên là vì những thất thoát do mỗi thiết
bị gây ra là không lớn. Tuy nhiên, nếu tính trên tổng thể tất cả các thiết bị và quy ra chi
-
phí thì khoản phí đó trong một tháng, hoặc một năm là không hề nhỏ.
Không chỉ có hậu quả kinh tế lâu dài do chi phí vận hành máy móc, trang thiết bị cũ
mà việc xả thải không qua xử lý còn bị phạt do vi phạm Luật bảo vệ môi trường. Mặc
dù theo tình hình hiện nay ở Việt Nam, nhiều doanh nghiệp thà chịu đóng tiền phạt và
phí xả thải hơn là đầu tư hệ thống xử lý và các hoạt động giảm thiểu ô nhiễm vì khung
tiền phạt ở Việt Nam vẫn được xem là còn thấp. Tuy nhiên, khung phạt hiện nay còn
thấp không có nghĩa là trong tương lai sẽ không được nâng lên. Trong khi đó đầu tư
khách sạn là hoạt động kinh doanh lâu dài, không thể chỉ tính một, hai năm. Càng về
sau mức phạt càng tăng, nếu vẫn giữ tình trạng ô nhiễm như hiện nay thì chắc chắn
-
doanh thu sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ.
Không chỉ có vấn đề đóng phí, việc gây ô nhiễm môi trường của các khách sạn còn
làm ảnh hưởng đến thiện cảm của khách hàng đối với các khách sạn đó. Có thể các
khách sạn vẫn còn quan niệm rằng khách hàng không mấy quan tâm đến các chứng chỉ
và việc khách sạn có chứng chỉ ISO 14001 hay không cũng không ảnh hưởng đến sự
lựa chọn của họ. Đây rõ ràng là một quan niệm thiển cận. Chứng chỉ ISO 14001 không
phải là một cái tên chỉ để đăng lên bảng hiệu của khách sạn, mà đó là cả một hệ thống
quản lý môi trường cần được thực hiện một cách nghiêm túc và duy trì liên tục. ISO
14001 như một bằng chứng, chứng minh rằng khách sạn có các hoạt động bảo vệ môi
trường chuẩn mực, và ngược lại, khi họ không có một điều gì để chứng minh cho hệ
thống quản lý môi trường của họ thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trên thị
trường mà một chi tiết nhỏ cũng có thể làm thay đổi tất cả. Tầng lớp khách hàng ở đây
20
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
không chỉ là những khách lẻ - những người thường chú ý đến giá cả nhiều hơn - mà
khách hàng nên được hiểu là những đoàn khách của các tổ chức, doanh nghiệp khác,
hoặc là đối tác kinh doanh. Rõ ràng khi đề cập đến tầng lớp khách hàng đó tức là đang
đề cập đến các bản hợp đồng lớn mà những đối tác luôn phải cân nhắc giữa nhiều sự
lựa chọn. Khi đó, một hình ảnh khách sạn thân thiện với môi trường được chứng nhận
quốc tế đương nhiên sẽ có lợi thế rất lớn. Hơn nữa, trong xu thế kinh doanh hiện nay,
vấn đề thân thiện với môi trường đang dần trở thành một tiêu chí thời thượng, một
phần là vì thiện chí muốn bảo vệ môi trường, một phần là vì muốn xây dựng hình ảnh
tốt đẹp và thiện cảm đối với xã hội. Vì thế, chỉ cần đánh mất hình ảnh này thì khách
-
sạn có nguy cơ mất đi một bộ phận lớn khách hàng.
Những phân tích trên chưa phải là tất cả những hậu quả mà các khách sạn có thể gặp
phải nếu không áp dụng một hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn, cụ thể là
ISO 14001. Điều đó có nghĩa rằng những vấn đề bất cập sẽ vẫn tiếp diễn, và ngày càng
trầm trọng hơn nếu các khách sạn không có ý thức hướng đến một nền kinh doanh thân
thiện với môi trường, mà EMS ISO 14001 là một trong những giải pháp hữu hiệu cho
họ.
21
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
II.
Tổng quan về khách sạn Rex
II.1.
Hình 2.1. Khách sạn Rex
Thông tin khách sạn
Tên Công ty: KHÁCH SẠN BẾN THÀNH
Tên giao dịch: REX HOTEL
Đơn vị chủ quản: TỔNG CÔNG TY DU LỊCH SÀI GÒN TNHH Một Thành viên
Địa chỉ: 141 Nguyễn Huệ , phường Bến Nghé , quận I , Tp.HCM
Điện thoại: 3829 2185 / 3829 3115
Fax: 3829 6536 / 3829 1469
Website: www.rexhotelvietnam.com
Email:
Giám đốc: Ông Phan Thanh Long
Cán bộ phụ trách Môi trường: Vũ Ngọc Lộc
Điện thoại: 38299087
Di động: 0908 283 326
Email:
Ngành, nghề kinh doanh: Khách sạn, nhà hàng, chiếu bóng, ca nhạc, cho thuê văn
phòng đại diện, kinh doanh sân quần vợt, massage – sauna, hồ bơi, mỹ nghệ. Kinh
doanh rượu các loại. mua bán thuốc lá điếu sản xuất trong nước. Kinh doanh vận tải
hành khách theo hợp đồng. Đại lý đổi ngoại tệ.
22
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
II.2.
-
Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Khách Sạn Bến
Thành
Khi còn là thuộc địa của Pháp, Rex là một gara 2 tầng lầu tọa lạc giữa trung tâm
thương mại Saigon. Từ năm 1959 đến tháng 4/1975 ông bà Ưng Thi là người Việt
Nam đã mua gara này để kiến tạo thành một cao ốc 6 tầng lầu, lấy tên là thương xá
Rex, với 100 phòng ngủ cho cơ quan thông tin Hoa Kỳ thuê làm nơi ăn nghỉ và làm
việc. Các dịch vụ còn lại được kinh doanh ở thương xá Rex là 3 rạp chiếu bóng, một
-
nhà hàng Cafétéria, khiêu vũ trường và thư viện.
Tháng 5/1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, thương xá Rex được Ủy Ban Nhân
Dân Thành Phố Hồ Chí Minh giao cho Công ty Du Lịch tiếp nhận để chỉnh trang nâng
cấp thành một khách sạn quốc tế với tên là khách sạn Bến Thành và tên giao dịch quốc
tế là khách sạn Rex. Chiếc vương miện đã trở thành biểu tượng chính thức của khách
-
sạn Rex từ năm 1986.
Từ tháng 2/1991 đến tháng 8/1998 Rex tiếp nhận thêm khách sạn Hướng Dương và
nhà số 146 Pasteur để chỉnh trang nâng cấp làm cho Rex có thêm 115 phòng ngủ, nhà
hàng Cung Đình Rex. Tổng Cục Du Lịch Việt Nam xếp hạng Rex là khách sạn 4 sao
-
từ năm 1995.
Đặc biệt từ 20/09/1998 Rex đã đầu tư mở rộng thêm khu tiền sảnh Đông và Tây với
1.000 m2 tiếp nối bằng một sân vườn hoa cảnh độc đáo; năm 2002 khách sạn Rex tiếp
tục được đầu tư mở rộng thêm 3.000 m 2 với một số dịch vụ cần thiết và trang thiết bị
hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế. Ngày 23/07/2008 khách sạn Rex được Tổng cục Du
lịch Việt Nam công nhận là khách sạn quốc tế 5 sao. Hiện nay Rex có 284 phòng ngủ
và đầy đủ các dịch vụ chất lượng cao. Với lối kiến trúc hài hòa mang màu sắc dân tộc
-
độc đáo, Rex đã thật sự là “Ngôi nhà Việt Nam của quý khách”.
Để thực hiện mục tiêu phát triển du lịch có trách nhiệm và bền vững, từ tháng 3/2002,
với sự tài trợ một phần của Liên Minh Châu Âu thông qua chương trình Asia-Invest,
Cơ quan Tiết kiệm Năng lượng và Bảo vệ Môi trường (ADEME-Pháp) và Ủy Ban
Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh, Khách sạn Rex đã cùng với 14 đơn vị trong Tổng
Công Ty Du Lịch Sài Gòn triển khai thực hiện dự án “Thực hiện Quản lý Môi trường
cho các Khách sạn và Khu du lịch ở Việt Nam”, đến ngày 30/11/2004 khách sạn đã đạt
được chứng chỉ ISO 14001 về hệ thống quản lý môi trường.
II.3.
Địa điểm hoạt động
II.3.1. Vị trí và diện tích
23
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
Vị trí tọa lạc
Khách sạn Rex được xây dựng tại số 141, 155 Nguyễn Huệ; 177 Lê Thánh Tôn; 146,
+
+
+
+
148, 150 Pasteur, phường Bến Nghé, quận I, Tp.HCM.
Phía Đông giáp với đường Nguyễn Huệ.
Phía Tây giáp với đường Pasteur.
Phía Nam giáp với đường Lê Lợi và khu dân cư.
Phía Bắc giáp với đường Lê Thánh Tôn.
Diện tích
Bảng 2.1. Tổng diện tích đất và sàn xây dựng của khách sạn
Tổng diện tích đất
Tổng diện tích sàn xây dựng
Khu Tây
2.043 m2
14.188 m2
Khu Đông
3.060 m2
14.453 m2
Khu Bắc
2.932 m2
19.523 m2
Tổng cộng
8.035 m2
48.164 m2
II.3.2. Quy mô công trình
-
Cơ sở hạ tầng khách sạn Rex được xây dựng trên diện tích đất 8.035 m 2 chia thành 3
khu: khu Đông, khu Executive, và khu Tây.
+ Khu Đông: cao 6 tầng bao gồm: 86 phòng ngủ, 1 bếp, 1 nhà hàng, 1 bar, 7 phòng tiệc hội nghị, 1 CLB trò chơi có thưởng, 1 hồ bơi, chuổi cửa hàng thời trang tại tầng trệt, 1
hệ thống máy lạnh trung tâm, 1 hệ thồng cung cấp nước nóng sử dụng năng lượng mặt
trời.
+ Khu Executive: cao 5 tầng, 1 tầng áp mái, 2 tầng hầm bao gồm: 75 phòng ngủ, 1 bếp,
2 phòng tiệc – hội nghị, 1 hồ bơi, 1 phòng tập thể dục, chuỗi cửa hàng thời trang tại
tầng trệt, 1 hệ thống máy lạnh trung tâm, 1 hệ thống cung cấp nước nóng sử dụng năng
+
lượng mặt trời, 1 hệ thống xử lý nước thải, 1 nhà giặt, 1 nhà chứa rác thải.
Khu Tây: cao 6 tầng, 1 tầng áp mái bao gồm: 125 phòng ngủ, 1 bếp, 1 nhà hàng, 1 cửa
hàng cà phê, 1 Câu lạc bộ massage, 1 sân tennis, khối văn phòng nội bộ, 1 hệ thống
máy lạnh trung tâm, 2 máy phát điện dự phòng 1250 KVA và 1500 KVA, 1 hệ thống
cung cấp nước nóng sử dụng năng lượng mặt trời, 1 hệ thống xử lý nước thải 130 m 3/
ngày đêm.
-
II.3.3. Đặc điểm, tính chất hạ tầng cơ sở
Lịch sử khách sạn Rex có từ thời Pháp thuộc, nguyên gốc là ga ra giữ xe hơi tọa lạc tại
số 141 Nguyễn Huệ, sau nhiều lần thay đổi chủ và được cải tạo lại đến năm 1959 mới
chính thức là khu giải trí với tên gọi là Rex. Đến năm 1975 sau khi Thống nhất đất
24
Xây dựng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 cho khách sạn Bến Thành
nước, Rex được UBND thành phố Hồ Chí Minh giao lại cho Công ty Du lịch Sài Gòn
-
quản lý và đổi tên thành khách sạn Bến Thành (khu Đông).
Năm 1991, khách sạn tiếp nhận thêm khách sạn Hướng Dương số 148 – 150 đường
Pasteur và tòa nhà 146 Pasteur để chỉnh trang và nâng cấp mở rộng về hướng Tây.
Năm 2012, khách sạn Rex tiếp tục đầu tư sửa chữa nâng cấp khu này đến tháng 12
-
năm 2013 chính thức đưa vào hoạt động (khu Tây).
Năm 2002, khách sạn đầu tư xây dựng mở rộng khu Kysaco số 155 Nguyễn Huệ và
-
đưa vào khai thác từ tháng 8/2008 đến nay (khu Executive).
Như vây, có thể nói đặc điểm của khách sạn Rex là cơ sở hạ tầng được xây dựng trước
-
năm 1975 chiếm 2/3 diện tích toàn khách sạn.
II.4.
Tính chất và quy mô hoạt động
II.4.1. Quy mô hoạt động
Khách sạn Rex là một khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao, bao gồm 286 phòng ngủ (trong
đó khu Tây có 125 phòng, khu Đông có 86 phòng, và khu Executive có 75 phòng), 2
nhà hàng, 1 bar, 1 café sân vườn, 02 hồ bơi, 1 Câu lạc bộ Sức khỏe, 1 Câu lạc bộ trò
chơi điện tử có thưởng, các văn phòng cho thuê, Hội nghị - Tiệc cưới, dịch vụ vận tải
-
hành khách, dịch vụ giặt ủi, và 2 tầng hầm để xe.
Cơ cấu tổ chức khách sạn được chia thành 11 bộ phận/phòng ban.
Tổng số cán bộ, công nhân viên của khách sạn Bến Thành là 495 người. Số lượng
tham gia làm việc trung bình mỗi ngày là 384 người.
Số lượng ngày khách trung bình sử dụng dịch vụ tại khách sạn là 528 người.
II.4.2. Máy móc, thiết bị phục vụ cho hoạt động của khách sạn
Bảng 2.2. Danh sách máy móc, thiết bị của khách sạn
STT
Tên thiết bị
Thiết bị lạnh
Máy lạnh (Hoa đào)
Máy lạnh (Khối Văn
Phòng)
Máy lạnh (phòng họp số 2)
Máy lạnh (NH Hoa Mai)
Máy lạnh (Phòng họp số 1)
Máy lạnh trung tâm (khu
mới)
Máy lạnh (Phòng họp số 4)
Máy lạnh (Phòng họp số 3)
Thiết bị nâng
Thang máy khách khu
Model
Năm lắp
đặt
ĐVT
SL
Công
suất
Daikin,Nhật
31/12/1992
cái
1
20 HP
Daikin,Nhật
01/01/1991
cái
1
20 HP
Daikin,Nhật
Daikin,Nhật
Daikin,Nhật
30/05/2011
30/12/2010
30/05/2011
cái
cái
cái
1
2
2
Hitachi
08/2008
cái
1
Daikin,Nhật
Mitshubishi
30/05/2011
01/06/1994
cái
cái
1
1
20 HP
30 HP
30 HP
600
HP
4 HP
5 HP
NIPPON
1987
cái
2
5.5
25