Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

2425 QD dao tao theo he thong tin chi moi(1)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (190.29 KB, 22 trang )

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Số:2425/QĐ-HVCTKV I

Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2014

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

QUYẾT ĐỊNH
Về việc ban hành Quy định đào tạo theo hệ thống tín chỉ
GIÁM ĐỐC HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
Căn cứ Quyết định số 224-QĐ/TW ngày 06 tháng 01 năm 2014 của Bộ Chính trị và
Nghị định số 48/2014/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh;
Căn cứ Quyết định số 2952/QĐ-HVCTQG ngày 27 tháng 6 năm 2014 của Giám đốc
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của
Học viện Chính trị khu vực I;
Căn cứ vào Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín
chỉ ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/08/2007 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo;
Căn cứ Thông tư số 57/2012/TT-BGDĐT ngày 27 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đào tạo đại học và cao

đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐBGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Xét đề nghị của Trưởng ban Quản lý đào tạo,

QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định đào tạo đại học hệ chính quy


theo hệ thống tín chỉ của Học viện Chính trị khu vực I.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký. Các Quy
định trước đây trái với Quy định này đều bị bãi bỏ.
Điều 3. Chánh Văn phòng Học viện, Trưởng ban Quản lý đào tạo, Thủ trưởng các đơn
vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Lưu: VT, Ban QLĐT.

GIÁM ĐỐC

Đã ký
Đoàn Minh Huấn


QUY ĐỊNH
ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
(Ban hành kèm theo Quyết định số 2425/QĐ-HVCTKV I ngày 31 tháng 12 năm 2014
của Giám đốc Học viện Chính trị khu vực I)

Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Văn bản này quy định đào tạo đại học hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ bao
gồm: Tổ chức đào tạo, kiểm tra và thi học phần; xét và công nhận tốt nghiệp.
2. Quy định này này áp dụng đối với học viên hệ chính quy trình độ đại học tại
Học viện Chính trị khu vực I thực hiện theo hình thức tích luỹ tín chỉ.
Điều 2. Chương trình giáo dục đại học
1. Chương trình giáo dục đại học (gọi tắt là chương trình) thể hiện mục tiêu
giáo dục đại học, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung

giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào
tạo đối với mỗi học phần, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học.
2. Chương trình được xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ Giáo dục
và Đào tạo ban hành.
Mỗi chương trình gắn với một ngành (kiểu đơn ngành) hoặc với một vài ngành
(kiểu song ngành; kiểu ngành chính - phụ; kiểu hai văn bằng).
3. Đề cương chi tiết của từng học phần phải thể hiện rõ số lượng tín chỉ, điều
kiện tiên quyết (nếu có), nội dung lý thuyết và thực hành, cách thức đánh giá học
phần, giáo trình, tài liệu tham khảo và điều kiện thí nghiệm, thực hành, thực tập
phục vụ học phần.
4. Giám đốc Học viện ban hành chương trình thực hiện cụ thể với khối lượng
của mỗi chương trình không dưới 180 tín chỉ đối với khoá đại học 6 năm; 150 tín
chỉ đối với khoá đại học 5 năm; 120 tín chỉ đối với khoá đại học 4 năm. Đối với mỗi
ngành đào tạo, Giám đốc Học viện quy định cụ thể việc phân bổ các học phần và
các hoạt động khác cho từng học kỳ, năm học.
Điều 3. Học phần, Tín chỉ và Học phí tín chỉ

1


1. Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho học
viên tích luỹ trong quá trình học tập. Mỗi học phần có khối lượng từ 2 đến 4 tín chỉ,
nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Kiến thức
trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và được
kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ
nhiều môn học. Mỗi học phần đều có mã số riêng.
2. Có hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn.
a) Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính
yếu của mỗi chương trình và bắt buộc học viên phải tích luỹ.
b) Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần

thiết, nhưng học viên được tự chọn theo hướng dẫn của Học viện nhằm đa dạng hoá
hướng chuyên môn hoặc được tự chọn tuỳ ý để tích luỹ đủ số tín chỉ quy định cho
mỗi chương trình.
c) Ngoài các loại học phần nêu trên, theo tính chất tổ chức học tập trong kế
hoạch đào tạo còn sử dụng một loại học phần khác là Học phần tiên quyết. Phân biệt
hai kiểu học phần tiên quyết:
- Học phần tiên quyết phải là học phần đã được tích lũy: Học phần A là học
phần tiên quyết của học phần B nghĩa là sinh viên phải tích lũy học phần A rồi mới
được đăng kí học học phần B.
- Học phần tiên quyết là học phần đã học trước: Học phần A là học phần học
trước của học phần B nghĩa là sinh viên đã học xong học phần A (có thể chưa đủ
điểm tích lũy) rồi mới được đăng kí học học phần B.
d) Học phần tương đương và học phần thay thế
Học phần tương đương là một hay một nhóm học phần thuộc chương trình đào
tạo của một khoá, ngành khác đang tổ chức đào tạo tại Học viện được phép tích luỹ
để thay cho một học phần hay một nhóm học phần trong chương trình của ngành
đào tạo.
Học phần thay thế được sử dụng khi một học phần có trong chương trình đào
tạo nhưng nay không còn tổ chức giảng dạy nữa và được thay thế bằng một học
phần khác đang còn tổ chức giảng dạy.

2


Các học phần hay nhóm học phần tương đương hoặc thay thế do Khoa đề xuất
là các phần bổ sung cho chương trình đào tạo trong quá trình thực hiện.
e) Hoạt động học tập giảng dạy của mỗi học phần bao gồm một hay kết hợp
một số trong các hình thức sau:
- Giảng dạy lý thuyết;
- Hướng dẫn thảo luận, thực hành, bài tập;

- Hướng dẫn thực tập, thực tập tốt nghiệp;
- Hướng dẫn tiểu luận, bài tập lớn, khoá luận tốt nghiệp...
Mỗi học phần đều có đề cương chi tiết thể hiện các nội dung: Giới thiệu tóm
tắt học phần, các học phần tiên quyết, học phần song hành, học phần học trước,
cách đánh giá học phần, nội dung chính các chuyên mục, các giáo trình tài liệu
tham khảo. Đề cương chi tiết được Trưởng khoa phê duyệt, công bố cùng chương
trình và được giảng viên giới thiệu cho học viên trong buổi học đầu tiên của học
phần.
3. Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của học viên. Một tín chỉ
được quy định 15 tiết học lý thuyết, 30 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 60
giờ thực tập tại cơ sở; 45 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc khóa luận tốt nghiệp.
Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, thảo luận để
tiếp thu được một tín chỉ học viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.
4. Một tiết học được tính là 50 phút.
5. Học phí tín chỉ là đơn vị dùng để lượng hoá chi phí của các hoạt động giảng
dạy học tập tính cho từng học phần. Học phí được xác định căn cứ theo số học phần
được xếp thời khoá biểu trong học kỳ và bằng tổng số học phí tín chỉ quy định cho
các học phần đó nhân với mức tiền học phí/ một học phí tín chỉ. Mức tiền học
phí/một học phí tín chỉ do Giám đốc quy định cho từng học phần và từng học kỳ.
Điều 4. Thời gian hoạt động giảng dạy, học tập và các hoạt động khác
1. Thời gian hoạt động giảng dạy, học tập và các hoạt động khác liên quan đến
đào tạo của Học viện từ 7h30' đến 17h30’ hàng ngày và có thể bố trí cả vào thứ bảy
và chủ nhật.

3


2. Tuỳ theo số lượng học viên, số lớp học phần tổ chức và điều kiện cơ sở vật
chất của Học viện, Ban Quản lý đào tạo có trách nhiệm xếp thời khoá biểu học tập,
lịch kiểm tra giữa học phần, thi kết thúc học phần trong khoảng thời gian nói trên.

Điều 5. Đánh giá kết quả học tập
Kết quả học tập của học viên được đánh giá sau từng học kỳ, qua các tiêu chí sau:
1. Số tín chỉ của các học phần mà học viên đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ
(gọi tắt là khối lượng học tập đăng ký).
2. Điểm trung bình chung học kỳ là điểm trung bình có trọng số của các học
phần mà học viên đăng ký học trong học kỳ đó, với trọng số là số tín chỉ tương ứng
của từng học phần.
3. Khối lượng kiến thức tích lũy là khối lượng tính bằng tổng số tín chỉ của
những học phần được đánh giá theo thang điểm chữ A, B, C, D tính từ đầu khóa học.
4. Điểm trung bình chung tích lũy là điểm trung bình của các học phần và được
đánh giá bằng các điểm chữ A, B, C, D, F mà học viên đó tích lũy được, tính từ đầu
khóa học cho tới thời điểm được xem xét vào lúc kết thúc mỗi học kỳ.
Chương II
TỔ CHỨC ĐÀO TẠO
Điều 6: Thời gian và kế hoạch đào tạo
1. Học viện tổ chức đào tạo theo khoá học, năm học và học kỳ.
a) Khoá học là khoảng thời gian thiết kế để học viên hoàn thành một chương
trình cụ thể, mỗi khoá học kéo dài 4 năm (120 tín chỉ).
b) Một năm học gồm hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có 15 tuần dành
cho các hoạt động giảng dạy, học tập và 3 đến 4 tuần kiểm tra giữa học phần và
thi kết thúc học phần. Ngoài hai học kỳ chính, Học viện có thể tổ chức học kỳ
phụ (5 tuần học và một tuần thi) để học viên có các học phần bị đánh giá không
đạt (điểm F) học lại, học viên có nhu cầu cải thiện điểm ở các học kỳ chính có
thể học cải thiện điểm, và học viên học giỏi có điều kiện học vượt nhằm kết thúc
sớm chương trình đào tạo. Học viên đăng ký tham gia học kỳ phụ trên cơ sở tự
nguyện, không bắt buộc.

4



2. Căn cứ vào khối lượng và nội dung kiến thức quy định, Ban Quản lý đào tạo
tham mưu để Giám đốc quyết định dự kiến phân bổ số học phần cho từng năm học
và học kỳ.
3. Thời gian tối đa để hoàn thành chương trình bao gồm: thời gian thiết kế cho
chương trình quy định tại khoản 1 của điều này, cộng với 4 học kỳ chính đối với
khoá đào tạo đại học 4 năm.
Điều 7. Đăng ký nhập học
1. Khi đăng ký vào học hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ tại Học viện
Chính trị khu vực I, học viên phải nộp các giấy tờ theo quy định tại Quy chế tuyển sinh.
2. Sau khi xem xét thấy đủ điều kiện nhập học, Ban Quản lý đào tạo trình
Giám đốc quyết định công nhận người đến học là học viên chính thức của Học viện
và cấp cho học viên:
a) Thẻ học viên;
b) Sổ đăng ký học tập;
c) Phiếu nhận giáo viên chủ nhiệm (cố vấn học tập).
3. Mọi thủ tục đăng ký nhập học phải được hoàn thành trước ngày khai giảng
khóa học. Trong vòng 15 ngày của học kỳ đầu tiên hồ sơ nhập học vẫn được tiếp tục
nhận nhưng sau thời gian quy định trên, học viên coi như bỏ học.
4. Học viên nhập học phải được Học viện cung cấp đầy đủ các thông tin về
mục tiêu, nội dung và kế hoạch học tập của các chương trình, quy chế đào tạo,
nghĩa vụ và quyền lợi của học viên thông qua niên giám và Website của Học viện.
5. Học viên dự thính là sinh viên đang học ở trường đại học khác, cán bộ đang
công tác tại các cơ quan, xí nghiệp, viện nghiên cứu... có nguyện vọng đăng ký học
một số học phần. Để được nhập học, học viên dự thính phải nộp hồ sơ xin học theo
mẫu của Học viện; có thể phải dự kiểm tra điều kiện theo quy định của Học viện;
phải thực hiện các nhiệm vụ học tập, đóng học phí như học viên chính quy nhưng
chỉ được cấp chứng chỉ môn học, không được hưởng các quyền lợi và chế độ của
học viên hệ chính quy của Học viện.
Điều 8. Sắp xếp học viên vào học các chương trình hoặc ngành đào tạo
1. Đối với những trường hợp xác định điểm xét tuyển theo chương trình hoặc

theo ngành đào tạo trong kỳ thi tuyển sinh Đại học: Học viên đạt điểm xét tuyển

5


quy định đối với ngành đăng ký dự thi thì được Học viện sắp xếp học theo đúng
nguyện vọng.
2. Đối với những ngành định điểm xét tuyển theo nhóm ngành đào tạo trong kỳ
thi tuyển sinh: Học viện công bố công khai chỉ tiêu đào tạo cho ngành ngay từ đầu
khóa học. Sau 02 học kỳ, Học viện căn cứ vào kết quả học tập và nguyện vọng của
học viên để phân ngành. Giám đốc sẽ quy định số lượng, tiêu chí và quy trình phân
ngành cụ thể cho từng năm.
3. Đối với Lưu học sinh của nước CHDCND Lào, sau khi có Quyết định của
Cục Đào tạo với nước ngoài - Bộ Giáo dục và Đào tạo, căn cứ vào đăng ký ngành
học Ban Quản lý đào tạo trình Giám đốc để sắp xếp học theo đúng nguyện vọng.
Điều 9. Tổ chức lớp học
1. Lớp học viên và giáo viên chủ nhiệm
Lớp học viên được tổ chức theo khóa học của ngành đào tạo. Học viên duy trì
trong cả khóa đào tạo, có tên riêng, có lớp trưởng, hệ thống Đoàn, Hội sinh viên do
giáo viên chủ nhiệm lớp phụ trách.
Giáo viên chủ nhiệm đồng thời đảm nhiệm vai trò cố vấn học tập cho học viên
trong lớp về đào tạo như giúp đỡ học viên lập kế hoạch học tập trong từng học kỳ
và kế hoạch cho toàn bộ khóa học. Tổ chức hoạt động của lớp học viên, vai trò và
trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm được quy định theo Quy chế hiện hành của
Học viện.
2. Lớp học phần
Lớp học phần được tổ chức theo từng phần dựa trên kết quả đăng ký khối
lượng học tập của học viên ở từng học kỳ. Mỗi lớp học phần có thời khóa biểu, lịch
thi, có mã số riêng. Số học viên tối thiểu của mỗi lớp học phần do Giám đốc quy
định theo từng học kỳ tùy theo từng điều kiện cụ thể của Học viện. Nếu số lượng

học viên đăng ký ít hơn quy định, lớp học phần sẽ không được tổ chức và học viên
phải đăng ký học chuyển sang những lớp học phần khác cho đủ khối lượng kiến
thức (số tín chỉ) tối thiểu đăng ký trong học kỳ.
Điều 10. Đăng ký khối lượng học tập
1. Đầu mỗi năm học, Ban Quản lý đào tạo phải thông báo công khai lịch trình
học tuần dự kiến cho từng chương trình trong từng học kỳ, dự kiến quy mô và số

6


lớp học phần sẽ mở, danh sách các học phần bắt buộc và tự chọn dự kiến sẽ dạy, đề
cương chi tiết, nội dung đánh giá (ngân hàng câu hỏi thi kết thúc học phần) và điều
kiện tiên quyết để được đăng ký học cho từng học phần, lịch kiểm tra học phần,
hình thức kiểm tra và thi đối với các học phần.
2. Trước khi bắt đầu mỗi học kỳ, tùy theo khả năng và điều kiện học tập của
bản thân, từng học viên phải đăng ký học các học phần dự định sẽ học trong học kỳ
đó với giáo viên chủ nhiệm theo hướng dẫn của Ban Quản lý đào tạo. Có 3 hình
thức đăng ký các học phần sẽ học trong mỗi học kỳ: Đăng ký sớm, đăng ký bình
thường và đăng ký muộn.
a) Đăng ký sớm là hình thức đăng ký được thực hiện trước thời điểm bắt đầu
học kỳ 2 tháng;
b) Đăng ký bình thường là hình thức đăng ký được thực hiện trước thời điểm
bắt đầu học kỳ 2 tuần;
c) Đăng ký muộn là hình thức đăng ký được thực hiện trong 2 tuần đầu của học
kỳ chính hoặc trong tuần đầu của học kỳ phụ cho những sinh viên muốn đăng ký
học thêm hoặc đăng ký học đổi sang học phần khác khi không có lớp.
3. Khối lượng học tập tối thiểu mà mỗi sinh viên phải đăng ký trong mỗi học
kỳ được quy định như sau:
a) Tối thiểu 14 tín chỉ và tối đa là 25 tín chỉ cho mỗi học kỳ chính (trừ học kỳ
cuối khóa học) đối với những học viên được xếp hạng học lực bình thường;

b) Tối thiểu 10 tín chỉ và tối đa 20 tín chỉ cho mỗi học kỳ chính (trừ học kỳ cuối
khóa học) đối với những học viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu;
c) Số tín chỉ tối đa học viên đăng ký học vào học kỳ phụ là 6.
4. Việc đăng ký các học phần sẽ học cho từng học kỳ phải đảm bảo điều kiện
tiên quyết của từng học phần và trình tự học tập của mỗi chương trình cụ thể.
5. Ban Quản lý đào tạo chỉ nhận đăng ký khối lượng học tập của học viên ở
mỗi học kỳ khi đã có chữ ký chấp thuận của giáo viên chủ nhiệm (cố vấn học tập)
trong sổ đăng ký học tập của học viên trong mỗi học kỳ và Ban Quản lý đào tạo xử
lý dữ liệu và lưu giữ.
Điều 11. Rút bớt học phần đã đăng ký

7


1. Việc rút bớt học phần trong khối lượng học tập đã đăng ký chỉ được chấp
nhận sau 2 tuần kể từ đầu học kỳ chính, nhưng không muộn quá 4 tuần; hoặc là sau
1 tuần kể từ đầu học kỳ phụ, nhưng không muộn quá 2 tuần đầu của học kỳ phụ.
Ngoài thời hạn trên học phần vẫn được giữ nguyên trong phiếu đăng ký và nếu học
viên không đi học sẽ được xem như tự ý bỏ học và phải nhận điểm F.
2. Điều kiện rút bớt các học phần đã đăng ký:
a) Học viên phải tự viết đơn gửi Ban Quản lý đào tạo;
b) Phải được giáo viên chủ nhiệm xác nhận;
c) Không vi phạm khoản 2 Điều 10 của Quy chế này.
Chỉ khi có giấy báo của Ban Quản lý đào tạo cho giáo viên phụ trách lớp học
phần, học viên mới được phép bỏ lớp đối với các học phần xin rút bớt.
Điều 12. Đăng ký học lại
1. Học viên có điểm tổng kết học phần bắt buộc bị điểm F phải đăng ký học lại
học phần đó ở một trong các học kỳ tiếp theo cho đến khi đạt điểm A, B, C hoặc D.
2. Học viên có điểm tổng kết học phần tự chọn bị điểm F phải đăng ký học lại
học phần đó hoặc học đổi sang học phần tự chọn tương đương khác.

3. Ngoài các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều này, học
viên được quyền đăng ký học lại hoặc học đổi sang học phần khác (đối với các học
phần tự chọn) cải thiện điểm trung bình chung tích lũy.
Điều 13. Nghỉ ốm
Học viên xin nghỉ ốm trong quá trình học hoặc trong đợt thi, phải viết đơn xin
phép gửi Ban Quản lý đào tạo trong vòng một tuần kể từ ngày ốm, kèm theo giấy
chứng nhận của Phòng Y tế Học viện hoặc y tế địa phương hoặc của bệnh viện.
Điều 14. Xếp hạng năm đào tạo và học lực
1. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào khối lượng kiến thức tích lũy, học viên được xếp
hạng năm đào tạo như sau:
a) Học viên năm thứ nhất:
b) Học viên năm thứ hai:

Nếu khối lượng kiến thức tích lũy dưới 30 tín chỉ.
Nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 30 tín chỉ đến

c) Học viên năm thứ ba:

dưới 60 tín chỉ.
Nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 60 đến dưới 90

d) Học viên năm thứ tư:

tín chỉ.
Nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 90 đến dưới 120

8


tín chỉ.

2. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào điểm trung bình chung tích luỹ, học viên được
xếp hạng về học lực như sau:
a) Hạng bình thường: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt từ 2,00 trở lên.
b) Hạng yếu: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 2,00, nhưng chưa
rơi vào trường hợp bị buộc thôi học.
3. Kết quả học tập trong học kỳ phụ được gộp vào kết quả học tập trong học kỳ
chính ngay trước học kỳ phụ để xếp hạng học viên về học lực.
Điều 15. Nghỉ học tạm thời
1. Học viên được quyền viết đơn gửi Trưởng ban Quản lý đào tạo xin nghỉ học
tạm thời và bảo lưu kết quả đã học trong các trường hợp sau:
a) Được điều động vào các lực lượng vũ trang;
b) Bị ốm hoặc tai nạn phải điều trị thời gian dài, nhưng phải có giấy xác nhận
của cơ quan y tế cấp tỉnh trở lên;
c) Vì nhu cầu cá nhân. Trường hợp này, học viên phải học ít nhất một học kỳ,
không rơi vào các trường hợp bị buộc thôi học quy định tại Điều 16 của Quy định
này và phải đạt điểm trung bình chung tích lũy không dưới 2,00. Thời gian nghỉ học
tạm thời vì nhu cầu cá nhân phải được tính vào thời gian học chính thức quy định
tại khoản 3 Điều 6 của Quy định này. Giám đốc sẽ xem xét đơn và ra quyết định cho
học viên được phép nghỉ học tạm thời.
2. Học viên nghỉ học tạm thời, khi muốn trở lại học tiếp, phải viết đơn gửi Ban
Quản lý đào tạo ít nhất một tuần trước khi bắt đầu học kỳ mới .
Điều 16. Bị buộc thôi học
1. Sau mỗi học kỳ, học viên bị cảnh cáo kết quả học tập nếu rơi vào một trong
các trường hợp sau:
a) Có điểm trung bình chung học kỳ đạt dưới 0,80 đối với học kỳ đầu của
khóa học; đạt dưới 1,00 đối với các học kỳ tiếp theo hoặc đạt dưới 1,10 đối với 2
học kỳ liên tiếp (theo thang điểm 4);
b) Có điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 1,20 đối với học viên năm thứ
nhất; dưới 1,40 đối với học viên năm thứ hai; dưới 1,60 đối với học viên năm thứ ba
hoặc dưới 1,80 đối với học viên năm thứ tư.

2. Sau mỗi học kỳ học viên bị buộc thôi học nếu rơi vào các trường hợp sau:
9


a) Đã tự ý bỏ học từ một học kỳ chính trở lên;
b) Bị cảnh cáo kết quả học tập 2 học kỳ liên tiếp;
c) Vượt quá thời gian tối đa được phép học tại Học viện quy định tại Khoản 3
Điều 6 của Quy chế này;
d) Bị kỷ luật lần thứ hai vì lý do đi thi hộ hoặc nhờ người thi hộ theo quy định
tại khoản 2 Điều 29 của Quy định này.
3. Học viên có quyết định thôi học hoặc buộc thôi học, chậm nhất là một
tháng, Học viện phải thông báo trả về địa phương nơi học viên có hộ khẩu thường
trú. Đối với Lưu học sinh Lào, Học viện thông báo về Đại sứ quán.
Điều 17. Học cùng lúc hai chương trình
1. Học viên học cùng lúc hai chương trình là học viên có nhu cầu đăng ký học
thêm một chương trình thứ hai để khi tốt nghiệp được cấp hai văn bằng.
2. Điều kiện để học cùng lúc hai chương trình:
a) Ngành đào tạo chính ở chương trình thứ hai phải khác ngành đào tạo chính ở
chương trình thứ nhất;
b) Sau khi đã kết thúc học kỳ thứ nhất năm học đầu tiên của chương trình thứ nhất;
c) Học viên không thuộc diện xếp hạng học lực yếu ở chương trình thứ nhất;
3. Học viên đang học thêm chương trình thứ hai, nếu rơi vào diện bị xếp hạng
học lực yếu của chương trình thứ hai, phải dừng học thêm chương trình thứ hai ở
học kỳ tiếp theo.
4. Thời gian tối đa được phép học đối với học viên học cùng lúc hai chương
trình là thời gian tối đa quy định cho chương trình thứ nhất, quy định tại khoản 3
Điều 6 của Quy định này. Khi học chương trình thứ hai, học viên được bảo lưu điểm
của những học phần có nội dung và khối lượng kiến thức tương đương có trong
chương trình thứ nhất.
5. Học viên chỉ được xét tốt nghiệp chương trình thứ hai, nếu có đủ điều kiện

tốt nghiệp ở chương trình thứ nhất.
Điều 18. Chuyển trường
1. Học viên được xét chuyển trường nếu có các điều kiện sau đây:

10


a) Trong thời gian học tập, nếu gia đình chuyển nơi cư trú hoặc học viên có
hoàn cảnh khó khăn, cần thiết phải chuyển đến trường gần nơi cư trú của gia đình
để thuận lợi trong học tập;
b) Xin chuyển đến trường có cùng ngành hoặc thuộc cùng nhóm ngành với
ngành đào tạo mà học viên đang học;
c) Được sự đồng ý của Thủ trưởng cơ sở đào tạo nơi xin chuyển đến; đối với
Lưu học sinh Lào phải được sự đồng ý của Đại sứ quán;
d) Không thuộc một trong các trường hợp không được phép chuyển trường quy
định tại khoản 2 Điều này.
2. Học viên không được phép chuyển đến Học viện trong các trường hợp sau:
a) Học viên năm thứ nhất và năm cuối khóa;
d) Học viên đang trong thời gian bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên.
3. Thủ tục chuyển đến Học viện:
a) Học viên xin chuyển đến Học viện phải làm hồ sơ xin chuyển trường theo
quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và quy định của Đại sứ quán;
b) Giám đốc Học viện có quyền quyết định tiếp nhận hoặc không tiếp nhận;
quyết định việc học tập tiếp tục của học viên. Việc công nhận các học phần mà học
viên chuyển đến được chuyển đổi kết quả và số học phần phải học bổ sung, trên cơ
sở so sánh chương trình ở trường học viên xin chuyển đi và chương trình tương ứng
của Học viện Chính trị khu vực I.
Chương III
KIỂM TRA VÀ THI HỌC PHẦN
Điều 19. Đánh giá học phần

1. Đối với các học phần chỉ có lý thuyết hoặc có lý thuyết và thực hành: Điểm
học phần được tính căn cứ vào điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần.
2. Điểm đánh giá bộ phận được tính trọng số 0,3; trong đó 0,1 là điểm chuyên
cần, ý thức xây dựng bài, tham luận; 0,2 là các bài kiểm tra, thực hành, thảo luận;
Điểm thi kết thúc học phần được tính trọng số 0,7.
3. Điểm đánh giá bộ phận do giáo viên phụ trách học phần trực tiếp cho điểm.
Quy định học phần 2 tín chỉ có một bài kiểm tra, học phần 3 tín chỉ trở lên có hai
bài kiểm tra.

11


4. Chậm nhất sau năm ngày kể tử khi kết thúc giảng dạy học phần, giảng viên
phụ trách học phần phải nộp về Trung tâm Khảo thí & Đảm bảo chất lượng đào tạo
bảng điểm đánh giá quá trình. Không bảo lưu hay phúc khảo điểm đánh giá quá
trình.
5. Học viên vắng mặt không lý do trong buổi thi hoặc kiểm tra đánh giá quá
trình sẽ bị điểm 0. Học viên vắng mặt có lý do trong buổi kiểm tra, thi đánh giá quá
trình phải viết đơn gửi Ban Quản lý đào tạo (kèm các minh chứng cần thiết), nếu
được Trưởng ban Quản lý đào tạo cho phép, giảng viên thực hiện bổ sung đánh giá
quá trình cho học viên theo hình thức phù hợp với học phần.
Điều 20. Tổ chức kỳ thi kết thúc học phần
1. Cuối mỗi học kỳ, Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng đào tạo tổ
chức một kỳ thi chính thức kết thúc học phần. Khoảng tuần thứ 8 mỗi học kỳ, giảng
viên tự bố trí tổ chức kiểm tra để lấy điểm đánh giá bộ phận. Ban Quản lý đào tạo
lập kế hoạch và thi kiểm tra kết thúc các học phần.
2. Thời gian dành cho ôn thi kết thúc học phần là 1 ngày cho 1 tín chỉ. Học
viên tự sắp xếp thời gian ôn kiểm tra giữa học phần.
3. Điều kiện dự thi kết thúc học phần
- Học viên tham dự ít nhất 80% số tiết lên lớp lý thuyết được quy định t rong

đ ề cương chi tiết học phần.
- Tham dự đầy đủ các buổi thực hành, seminar khoa học.
- Tham gia đầy đủ các lần kiểm tra giữa học phần (hoặc tiểu luận) điểm đạt
yêu cầu trở lên (≥ 5);
- Học viên thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về học phí và lệ phí (nếu có).
4. Học viên vắng thi kết thúc học phần nếu không có lí do chính đáng coi như
đã dự thi và phải nhận điểm 0 (thang điểm 10). Học viên vắng thi kết thúc học phần
nếu có lí do chính đáng được Trưởng ban Quản lý đào tạo cho phép sẽ được dự thi
vào kỳ thi phụ (nếu có) hoặc vào các học kỳ chính tiếp theo và được coi là thi lần
đầu. Trường hợp điểm trung bình tích lũy học phần không đạt phải học lại học phần
đó theo quy định.
5. Học lại, thi lại, kiểm tra bổ sung, thi bổ sung

12


Học viên học lại, thi lại, kiểm tra bổ sung, thi bổ sung phải nộp đơn về Ban
Quản lý đào tạo trình Giám đốc Học viên phê duyệt. Kinh phí học lại, thi lại, kiểm
tra bổ sung, thi bổ sung do học viên tự chi trả theo Quy định hiện hành của Học viện.
a) Học lại, thi lại
Học viên phải đăng ký học lại, thi lại trong các trường hợp sau:
- Học viên không đủ điều kiện dự thi kết thúc học phần ở những lần thi trước.
- Học viên có điểm thi kết thúc học phần dưới 5,0 (theo thang điểm 10) ở kỳ
thi chính hoặc kỳ thi phụ (nếu có).
- Học viên vắng mặt trong kỳ thi chính hoặc kỳ thi phụ mà không có lý do
chính đáng coi như đã dự thi và phải nhận điểm 0,0 (theo thang điểm 10).
- Học viên có điểm trung bình chung các học phần chưa đạt 5,5 trở lên thì học
viên phải đăng ký học lại một hoặc một số học phần có điểm dưới 5,5. Điểm được
công nhận sau khi học lại là điểm học phần cao nhất trong 2 lần học.
b) Kiểm tra bổ sung, thi bổ sung

Học viên được kiểm tra bổ sung, thi bổ sung trong các trường hợp sau:
- Học viên nghỉ học không quá 20% số tiết lên lớp quy định cho mỗi học
phần, có lý do chính đáng, được Trưởng ban Quản lý đào tạo đồng ý mà thiếu bài
kiểm tra giữa học phần (hoặc tiểu luận); Trưởng ban Quản lý đào tạo bố trí tổ chức
kiểm tra giữa học phần (hoặc tiểu luận) bổ sung để lấy điểm đánh giá bộ phận.
- Học viên vắng thi kết thúc học phần có lí do chính đáng được Trưởng ban
Quản lý đào tạo cho phép sẽ được dự thi vào kỳ thi phụ (nếu có) hoặc vào các học
kỳ chính tiếp theo và được coi là thi lần đầu.
Thi bổ sung là hình thức thi dành cho học viên chưa đủ điều kiện dự thi lần
đầu, nay đã đủ điều kiện; hoặc học viên đủ điều kiện dự thi lần đầu, nhưng không
dự thi vì lý do chính đáng. Thi bổ sung và thi lại được tổ chức như thi kết thúc học
phần.
6. Học viên vắng mặt có lý do chính đáng (ốm đau, tai nạn, hoặc lý do đặc biệt
khác) ở kỳ thi kết thúc học phần phải làm đơn gửi Trưởng ban Quản lý đào tạo, nếu
được Trưởng ban Quản lý đào tạo cho phép, được dự thi bổ sung tại các kỳ thi kết
thúc học phần ở đợt sau theo lịch thi. Học viên có thể đăng ký học lại, học ghép nếu
kết quả học tập lần 1 không đạt yêu cầu. Thi bổ sung là hình thức thi dành cho học
viên chưa đủ điều kiện dự thi lần đầu, nay đã đủ điều kiện; hoặc học viên đủ điều
kiện dự thi lần đầu, nhưng không dự thi vì lý do chính đáng. Thi bổ sung và thi lại
được tổ chức như thi kết thúc học phần.
7. Bài kiểm tra thường kỳ, bài tập, tiểu luận do giảng viên phụ trách học
phần đảm nhiệm. Không tổ chức kiểm tra lại cho những học viên có điểm kiểm
13


tra thường kỳ < 5,0. Học viên vắng mặt có lý do chính đáng một trong các kỳ kiểm
tra thường kỳ được dự kỳ kiểm tra bổ sung; vắng mặt có lý do chính đáng một
trong các buổi thực hành được giảng viên xem xét bố trí buổi khác; vắng mặt có lý
do chính đáng một trong các buổi seminar khoa học được giảng viên xem xét cho
phép nộp báo cáo khoa học thay thế.

8. Điểm kiểm tra thường xuyên và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo
thang điểm 10, làm tròn đến một chữ số thập phân. Điểm học phần là tổng của điểm
chuyên cần, điểm kiểm tra thường xuyên và điểm thi kết thúc học phần nhân với
trọng số tương ứng, làm tròn đến một chữ số thập phân. Học phần đạt yêu cầu (học
phần tích lũy) khi có điểm học phần từ 5,0 trở lên. Nếu điểm học phần dưới 5,0 thì
học viên phải học lại học phần đó hoặc có thể đổi sang học phần khác tương đương
(nếu là học phần tự chọn). Kinh phí cho việc tổ chức học lại do học viên tự chi trả
theo Quy chế hiện hành của Học viện.
Điều 21. Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi và số lần được dự thi kết thúc
học phần
1. Đề thi kết thúc học phần và kiểm tra giữa học phần phải phù hợp với nội
dung học phần đã quy định trong chương trình. Việc ra đề thi do các Khoa chuyên
môn ra hoặc lấy từ ngân hàng câu hỏi thi theo quy định của Học viện.
2. Hình thức kiểm tra giữa học phần và thi kết thúc học phần.
Hình thức kiểm tra giữa học phần tùy thuộc vào giáo viên phụ trách học phần.
Hình thức thi kết thúc học phần có thể là thi viết (trắc nghiệm hoặc tự luận),
vấn đáp, viết tiểu luận, làm bài tập lớn, hoặc kết hợp giữa các hình thức trên được
thể hiện rõ trong đề cương chi tiết của học phần. Trưởng Khoa duyệt các hình thức
thi thích hợp cho từng học phần. Mỗi học phần chỉ có một bài thi kết thúc học phần.
3. Chấm thi kết thúc các học phần: Theo Quyết định số 698/QĐ-HVCT-HCKV I
ngày 31 tháng 8 năm 2012 của Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I.
4. Số lần thi kết thúc học phần: Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng
đào tạo chỉ tổ chức 1 lần thi kết thúc cho mỗi học phần. Học viên vắng thi kết thúc
học phần nếu không có lí do chính đáng coi như đã dự thi và phải nhập điểm 0
(thang điểm 10).

14


Học viên vắng thi kết thúc học phần nếu có lí do chính đáng được Trưởng ban

Quản lý đào tạo cho phép sẽ được dự thi vào kỳ thi phụ (nếu có) hoặc vào các học
kỳ chính tiếp theo và được coi là thi lần đầu.
Điều 22. Cách tính điểm đánh giá bộ phận, điểm học phần
1. Điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang
điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến một chữ số thập phân.
2. Điểm học phần là tổng điểm của điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc
học của học phần nhân với trọng số tương ứng. Điểm học phần làm tròn đến một
chữ số thập phân, sau đó được chuyển thành điểm chữ như sau:
a) Loại đạt:
A (8,5 - 10)

Giỏi

B (7,0 - 8,4)

Khá

C (5,5 - 6,9)

Trung bình

D (5,0 - 5,4)

Trung bình yếu

b) Loại không đạt:
F (dưới 5,0)

Kém


c) Đối với những học phần chưa đủ cơ sở để đưa vào tính điểm trung bình
chung học kỳ, khi xếp mức đánh giá được sử dụng các kí hiệu sau:
I

Chưa đủ dữ liệu đánh giá.

X

Chưa nhận được kết quả thi.

d) Đối với những học phần được Khoa cho phép chuyển điểm, khi xếp mức
đánh giá được sử dụng kí hiệu R viết kèm với kết quả.
3. Việc xếp loại các mức điểm A, B, C, D, F được áp dụng cho các trường hợp
sau đây:
a) Đối với những học phần mà học viên đã có đủ điểm đánh giá bộ phận, kể cả
trường hợp bỏ học, bỏ kiểm tra hoặc bỏ thi không có lý do phải nhận điểm 0;
b) Chuyển đổi từ mức điểm I qua, sau khi đã có các kết quả đánh giá bộ phận
mà trước đó học viên được giảng viên cho phép nợ;
c) Chuyển đổi từ các trường hợp X qua.
4. Việc xếp loại ở mức điểm F ngoài những trường hợp như đã nêu ở khoản 3
mục này, còn áp dụng cho trường hợp học viên vi phạm quy chế thi và bị xử lý kỷ

15


luật ở mức đình chỉ khi kiểm tra, thi kết thúc học phần, bảo vệ thí nghiệm, hoặc khi
bảo vệ bài tập lớn...
5. Việc xếp loại theo mức điểm I được áp dụng cho các trường hợp sau đây:
a) Trong thời gian học hoặc trong thời gian thi kết thúc học kỳ, học viên bị ốm
hoặc tai nạn không thể dự kiểm tra hoặc thi, nhưng phải được Trưởng ban Quản lý

đào tạo cho phép;
b) Học viên không thể dự kiểm tra bộ phận hoặc thi vì những lý do khách
quan, được Trưởng ban Quản lý đào tạo chấp thuận.
Trước khi bắt đầu học kỳ mới kế tiếp, học viên nhận mức điểm I phải trả xong
các nội dung kiểm tra bộ phận còn nợ để được chuyển điểm. Trường hợp học viên
chưa trả nợ và chưa chuyển điểm nhưng không rơi vào trường hợp bị buộc thôi học
thì vẫn được học tiếp ở các học kỳ kế tiếp.
6. Việc xếp loại theo mức điểm X được áp dụng đối với những học phần mà
Ban Quản lý đào tạo chưa nhận được kết quả học tập của học viên.
7. Ký hiệu R được áp dụng cho các trường hợp sau:
a) Điểm học phần được đánh giá ở các mức điểm A, B, C, D trong đợt đánh giá
đầu học kỳ (nếu có) đối với một số học phần được phép thi sớm để giúp học viên
học vượt.
b) Những học phần được công nhận kết quả, khi học viên chuyển từ trường
khác đến hoặc chuyển đổi giữa các chương trình.
Điều 23. Cách tính điểm trung bình chung
1. Để tính điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy,
mức điểm chữ của mỗi học phần phải được quy đổi qua điểm số như sau:
A

tương ứng với 4

B

tương ứng với 3

C

tương ứng với 2


D

tương ứng với 1

F

tương ứng với 0

2. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy được tính
theo công thức (*) và được làm tròn đến 2 chữ số thập phân:

16


n

∑a

A=

i=
1

i

×n i

n

∑ni


(*)

i=
1

Trong đó:
A là điểm trung bình chung học kỳ hoặc điểm trung bình chung tích lũy
ai là điểm của học phần thứ i
ni là số tín chỉ của học phần thứ i
n là tổng số học phần.
Điểm trung bình chung học kỳ để xét học bổng, khen thưởng (nếu có) sau mỗi
học kỳ chỉ tính theo kết quả thi kết thúc học phần ở lần học thứ nhất với số tín chỉ
đăng ký lớn hơn hoặc bằng số tín chỉ chuẩn trên 1 học kỳ của chương trình. Điểm
trung bình chung học kỳ và điểm trung bình trung tích lũy dùng để xét cảnh cáo kết
quả học tập, buộc thôi học cũng như xếp hạng học lực, xếp hạng tốt nghiệp của học
viên tính theo kết quả điểm học phần của lần học có điểm cao nhất.
Điểm học phần học trong học kỳ phụ được tính vào học kỳ chính trước đó và
thay thế cho điểm đã có nếu kết quả cao hơn (kể cả học phần đã đạt được và học lại
để cải thiện điểm).
3. Bảo lưu kết qủa học và miễn học phần
Một học phần A được phép miễn học theo diện bảo lưu kết quả (điểm) khi học
viên đã đạt học phần tương đương trong thời gian học để lấy văn bằng thứ nhất của
Học viện.
Việc xem xét miễn học, bảo lưu kết quả đối với học viên thuộc diện chuyển
trường do Giám đốc quyết định.
Thời gian bảo lưu các kết quả học tập của các học phần được quy định như sau:
- Không quá 7 năm tính đến ngày xét đối với các học phần thuộc kiến thức
giáo dục đại cương.
- Không quá 5 năm đối với các học phần khác thuộc khối kiến thức học phần

chuyên nghiệp.
4. Phúc tra và khiếu nại điểm

17


Sau khi điểm học phần đã được công bố, học viên có quyền gửi đơn khiếu nại
về điểm (điểm học phần) đến Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng đào tạo
chậm nhất là 07 ngày sau công bố. Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng đào
tạo có trách nhiệm giải quyết và trả lời khiếu nại của học viên theo quy định của
Học viện.
Khi phát hiện có bất cứ sự khác biệt nào giữa bảng ghi điểm đã công bố và
điểm được nhập, lưu trữ trong hệ thống quản lý đào tạo của Trung tâm Khảo thí và
Đảm bảo chất lượng đào tạo, học viên có trách nhiệm gửi đơn đề nghị Trung tâm
Khảo thí và Đảm bảo chất lượng đào tạo kiểm tra lại các điểm tương ứng.
Chương IV
XÉT VÀ CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP
Điều 24. Thực tập cuối khóa và khóa luận tốt nghiệp
1. Đầu học kỳ cuối khóa, học viên được đăng ký làm khóa luận tốt nghiệp hoặc
học thêm một số học phần chuyên môn theo quy định sau:
a) Làm khóa luận tốt nghiệp: Áp dụng cho các học viên đạt mức quy định của
Học viện, khóa luận tốt nghiệp là học phần có khối lượng 10 tín chỉ.
b) Học và thi một số học phần chuyên môn: Những học viên không được giao
làm khóa luận tốt nghiệp phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn, nếu
chưa tích lũy đủ số tín chỉ quy đinh cho chương trình.
2. Điều kiện, hình thức và thời gian làm khóa luận tốt nghiệp
Học viên đạt những điều kiện sau để làm khóa luận tốt nghiệp:
a) Tích lũy được ít nhất 75% số tín chỉ trong chương trình đào tạo và có
điểm trung bình chung tích lũy từ 2,2 trở lên và không nợ học phần.
b) Không bị kỷ luật trong quá trình học tập.

c) Không bị gián đoạn trong quá trình học tập.
d) Những học viên không được giao làm khóa luận tốt nghiệp phải đăng ký
học thêm một số học phần chuyên môn, nếu chưa tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho
chương trình đào tạo.
3. Đối với học viên CHNCND Lào đòi hỏi dành nhiều thời gian để khảo sát,
thực tế để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, Ban Quản lý đào tạo có thể chủ động bố

18


trí thời gian làm khóa luận tốt nghiệp kết hợp với thời gian thực tập chuyên môn
cuối khóa.
Điều 25. Tổ chức khóa luận tốt nghiệp
(thực hiện theo Quyết định số 1410 ngày 24 tháng 9 năm 2014 của Giám đốc
Học viện Quy định tổ chức thực hiện khóa luận tốt nghiệp).
Điều 26. Điều kiện xét tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp
1. Những học viên có đủ các điều kiện sau thì được Học viện xét và công nhận
tốt nghiệp:
a) Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự
hoặc không đang trong thời gian bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập;
b) Tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho chương trình đào tạo ;
c) Điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học đạt từ 2,00 trở lên;
d) Thỏa mãn một số yêu cầu về kết quả học tập đối với nhóm học phần thuộc
ngành đào tạo chính do Giám đốc quy định;
đ) Có chứng chỉ giáo dục quốc phòng - an ninh đối với các ngành đào tạo
không chuyên về quân sự và hoàn thành học phần giáo dục thể chất đối với các
ngành không chuyên về thể dục - thể thao;
e) Có đơn gửi Ban Quản lý đào tạo đề nghị được xét tốt nghiệp trong trường
hợp đủ điều kiện tốt nghiệp sớm hoặc muộn so với thời gian thiết kế của khoá học.
2. Sau mỗi học kỳ, Hội đồng xét tốt nghiệp căn cứ các điều kiện công nhận tốt

nghiệp quy định tại Khoản 1 Điều này để lập danh sách những học viên đủ điều
kiện tốt nghiệp.
Hội đồng xét tốt nghiệp do Giám đốc hoặc Phó Giám đốc được uỷ quyền làm
Chủ tịch, Trưởng ban Quản lý đào tạo làm Thư ký và có các thành viên là Trưởng
các đơn vị có liên quan.
3. Căn cứ đề nghị của Hội đồng xét tốt nghiệp, Giám đốc quyết định công nhận
tốt nghiệp cho những học viên đủ điều kiện tốt nghiệp.
Điều 27. Cấp bằng tốt nghiệp, bảo lưu kết quả học tập, chuyển chương
trình đào tạo và chuyển loại hình đào tạo

19


1. Bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng được cấp theo ngành đào tạo chính (đơn
ngành hoặc song ngành). Hạng tốt nghiệp được xác định theo điểm trung bình
chung tích lũy của toàn khoá học, như sau:
a) Loại xuất sắc:

Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,60 đến 4,00.

b) Loại giỏi:

Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,20 đến 3,59.

c) Loại khá:

Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,50 đến 3,19.

d) Loại trung bình khá: Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,20 đến 2,49.
e) Loại trung bình:


Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,00 đến 2,19.

2. Hạng tốt nghiệp của những học viên có kết quả học tập toàn khoá loại xuất
sắc và giỏi sẽ bị giảm đi một mức, nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:
a) Có khối lượng của các học phần phải thi lại vượt quá 5% so với tổng số tín
chỉ quy định cho toàn chương trình;
b) Đã bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên trong thời gian học.
3. Kết quả học tập toàn khóa của học viên phải được ghi vào bảng điểm của
học viên theo từng học phần với cả điểm của học phần lần 1 và điểm học phần cao
nhất (nếu có), điểm trung bình chung toàn khóa và xếp loại tốt nghiệp. Trong bảng
điểm phải ghi rõ chuyên ngành (hướng chuyên sâu) hoặc ngành phụ (nếu có).
4. Nếu kết quả học tập của học viên thỏa mãn những quy định tại khoản 1 của
điều này đối với một số chương trình đào tạo tương ứng với các ngành đào tạo khác
nhau, thì học viên được cấp các bằng tốt nghiệp khác nhau tương ứng với các ngành
đào tạo đó.
5. Học viên không tốt nghiệp được cấp giấy chứng nhận về các học phần đã
học trong chương trình của Học viện.
Chương V
XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 28. Xử lý kỷ luật đối với học viên vi phạm các quy định về thi,
kiểm tra
1. Trong khi dự kiểm tra thường xuyên, chuẩn bị tiểu luận, kiểm tra giữa học
phần, thi kết thúc học phần, chuẩn bị khoá luận tốt nghiệp, nếu vi phạm quy chế,
học viên sẽ bị xử lý kỷ luật với từng học phần đã vi phạm.

20



2. Học viên đi thi hộ hoặc nhờ người khác thi hộ, đều bị kỷ luật ở mức đình chỉ
học tập một năm đối với trường hợp vi phạm lần thứ nhất và buộc thôi học đối với
trường hợp vi phạm lần thứ hai.
3. Trừ trường hợp như quy định tại khoản 2 của Điều này, tùy mức độ sai
phạm và khung xử lý kỷ luật đối với học viên và cán bộ coi thi vi phạm được thực
hiện theo các quy định của Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy do
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
CHƯƠNG VI
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 29. Hiệu lực
1. Quy định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký. Việc điều chỉnh bổ
sung các điều khoản của Quy định do Giám đốc quyết định.
2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề gì phát sinh hoặc vướng mắc, khó
khăn, các đơn vị phản ánh tới Giám đốc Học viện (thông qua Ban Quản lý đào tạo)
để điều chỉnh, bổ sung cho hợp lý.
Điều 30. Trách nhiệm thi hành quy định
Trưởng các đơn vị có liên quan, giảng viên, cán bộ viên chức, công chức và
toàn thể học viên hệ đại học chính quy học theo hệ thống tín chỉ chịu trách nhiệm
thi hành quy định này./.
GIÁM ĐỐC
Đã ký
Đoàn Minh Huấn

21



×