Tải bản đầy đủ (.doc) (17 trang)

SKKN Một số biện pháp trong chỉ đạo phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường Trung học cơ sở Sơn Vy

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (156.22 KB, 17 trang )

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thế giới hiện đại, mọi cuộc đua tranh về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
thực chất là đua tranh trí tuệ. Trí tuệ chính là cốt lõi của con người. Trên thế giới trong
mỗi quốc gia, mỗi khu vực không có trí tuệ thì không thể làm nên những giá trị vật
chất và tinh thần, trí tuệ là nền tảng của tri thức.
Bên cạnh trí tuệ có 4 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến năng lực khác của con
người: Tư chất được di truyền; qua hoạt động thực tiễn; rèn luyện của bản thân; có sự
giúp đỡ hay điều kiện hoàn cảnh tạo nên.
Như vậy, muốn phát hiện và bồi dưỡng tài năng phải dựa trên cơ sở khoa học,
thực hiện trên nguyên tắc công khai bình đẳng. Việc đào tạo bồi dưỡng chuyên sâu
trên cơ sở giáo dục toàn diện, cần chú ý để phát huy năng lực sở trường của giáo viên
để từ đó tìm và bồi dưỡng khả năng, tiềm năng của học sinh.
Tài năng là vốn quí của nước nhà. Tài năng sẽ có và đến nhờ năng khiếu song
có năng khiếu cũng không trở thành tài năng được nếu không có quá trình giáo dục,
bồi dưỡng một cách khoa học .
Vì vậy để thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ Việt nam trở thành con người
có tài có đức kế tục sự nghiệp cách mạng thì nhiệm vụ rất quan trọng của các thầy, cô
giáo là phải kịp thời phát hiện và có kế hoạch bồi dưỡng học sinh có năng khiếu. Hiện
nay Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến dân trí, nhân lực, nhân tài vì nguồn lực
con người là động lực phát triển của đất nước. Tương lai của sự phồn vinh của đất
nước tùy thuộc vào cả 3 mặt: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Không có gốc rễ thì không có cây cao bóng cả. Nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản
Việt nam Lê Khả Phiêu đã từng nói: "Về nhân tài, một mặt phải tìm được những cách
thích hợp để phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, đồng thời cũng cần lưu ý là nhân tài sẽ
có điều kiện xuất hiện trên một nền dân trí rộng và trên cơ sở việc tổ chức đào tạo
nhân lực tốt và nhân tài là người có trí tuệ sắc bén, những người có bàn tay vàng có
những kỹ năng đặc biệt". Nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ có tay nghề thành
thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục
1



tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghiệp hiện đại .
Trong những năm trước đây tuy đã có những cố gắng nhất định song việc phát
hiện tuyển chọn và bồi dưỡng các đội tuyển học sinh giỏi của trường THCS Sơn Vy
chưa bài bản, chưa khoa học, thậm trí có lúc phó mặc cho giáo viên. Từ đó kết quả
học sinh giỏi các cấp số lượng không đảm bảo, chất lượng giải còn thấp so với mặt
bằng chung của huyện. Sau khi tìm hiểu tôi đã nhận thấy việc phát hiện tuyển chọn có
tính chất quyết định trước khi bồi dưỡng học sinh có năng khiếu trở thành học sinh
giỏi. Từ đó nhận thức đầy đủ và sâu sắc về vai trò tầm quan trọng của nhiệm vụ phát
hiện và bồi dưỡng những học sinh có khả năng theo học bồi dưỡng các môn văn hóa.
Xuất phát từ những lý do trên, là người làm công tác quản lý một trường trung
học cơ sở tôi đã áp dụng sáng kiến kinh nghiệm "Một số biện pháp trong chỉ đạo
phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường Trung học cơ sở Sơn Vy". Trong
những năm qua công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của nhà trường đã đạt được những
thành tích đáng ghi nhận. Qua công tác quản lý bản thân cũng đã rút ra được một số
kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo cũng như kết quả được đánh giá từ chính đội ngũ
giáo viên bồi dưỡng các đội tuyển có được trong một số năm vừa qua ở trường Trung
học cơ sở Sơn Vy nhằm trao đổi với đồng nghiệp, từ đó tiếp tục làm tốt hơn nữa
công tác chỉ đạo phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi của trường.

2


PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THCS Sơn Vy
1. Đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội của xã Sơn Vy
Sơn Vy là xã đồng bằng xen lẫn đồi núi thấp có tổng diện tích tự nhiên là
650,4ha. Dân số 8860 người chia làm 18 khu dân cư. Một miền quê giầu truyền thống
văn hóa với nhiều di tích được xếp hạng, phong trào văn hóa phát triển, làng văn hóa,
khu dân cư văn hóa. Là xã có nhiều ngành nghề truyền thống: Trồng trọt, chăn nuôi,
nghề mộc, sơn đũa, ủ ấm, dệt, thêu...Là xã trọng điểm trong chiến lược phát triển kinh

tế của huyện Lâm Thao và tỉnh Phú Thọ.
1.2. Tình hình giáo dục của xã Sơn Vy
Sơn Vy là một vùng quê có truyền thống hiếu học, gần đây hàng năm tỷ lệ học
sinh đạt học sinh giỏi các cấp, học sinh đỗ Trung học phổ thông và đỗ vào các trường
Đại học, cao đẳng khá cao. Là xã vùng nông thôn có cả ba ngành học đạt chuẩn quốc
gia đầu tiên của Huyện Lâm Thao.
1.3. Thực trạng của công tác phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường trường
Trung học cơ sở Sơn Vy
1.3.1: Thuận lợi
Được sự chỉ đạo, quan tâm sâu sát và kịp thời của Chi bộ đảng, Ban Giám hiệu.
Nhà trường đã có những kế hoạch cụ thể và lâu dài cho công tác bồi dưỡng học sinh
giỏi.
Hiện nay trường đã có cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ việc dạy và học
tương đối đầy đủ, có thể đáp ứng được yêu cầu để việc dạy và học đạt kết quả tốt.
Đội ngũ giáo viên dạy các đội tuyển đa số có trình độ chuyên môn tương đối
vững vàng, một số đồng chí có nhiều kinh nghiệm trong phát hiện và bồi dưỡng học
sinh giỏi.
Một bộ phận học sinh có ý thức học tập tương đối tốt, có ý thức vươn lên để đạt
được thành tích như các anh, chị đã đạt giải trong những năm học trước.
Nhiều gia đình, các bậc cha mẹ học sinh đã nhận thức đầy đủ, toàn diện hơn về
việc phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi.
3


1.3.2. Khó khăn
1.3.2.1. Về phía giáo viên
Đa số giáo viên dạy bồi dưỡng vừa phải bảo đảm chất lượng đại trà, vừa phải
hoàn thành chỉ tiêu chất lượng mũi nhọn, một số đồng chí còn cả công tác kiêm
nhiệm. Do đó việc đầu tư thời gian, công sức cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
cũng có phần bị hạn chế.

Công tác tự nghiên cứu, tự bồi dưỡng để nâng cao chất lượng dạy học sinh giỏi
đòi hỏi nhiều thời gian, tâm huyết. Cùng với đó trách nhiệm lại nặng nề, áp lực công
việc lớn cũng là những khó khăn không nhỏ với các thầy cô giáo tham gia phát hiện
và bồi dưỡng học sinh giỏi.
Ngoài ra, không phải không có trường hợp giáo viên chưa thật mặn mà với
công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi vì nhiều lí do khác nhau.
Thời gian ôn luyện cho học sinh khá dài trong năm học nhưng nhà trường chưa
có điều kiện để hỗ trợ kinh phí cho giáo viên.
1.3.2.2. Về phía học sinh
Số học sinh có học lực giỏi ở trường Tiểu học Sơn Vy đã theo học ở trường
THCS Lâm thao mỗi năm trên dưới 30 em. Đây thực sự là khó khăn trong việc xây
dựng kế hoạch và xác định mục tiêu bồi dưỡng học sinh giỏi hàng năm của trường.
Một số học sinh đã được lựa chọn để bồi dưỡng nhưng chưa thật cố gắng nên
kết quả thi HSG chưa cao, thậm chí chưa đạt giải.
Học sinh Khối 8,9 luôn đứng trước sự lựa chọn giữa học chuyên sâu để thi
HSG và học để thi vào THPT.
1.3.3. Nguyên nhân
Công tác tuyển chọn học sinh khi bước vào đầu cấp không có nhiều sự lựa
chọn.
Do cơ chế trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi được coi là trách nhiệm của
giáo viên mà nhà trường vẫn chưa có cơ chế đãi ngộ.
Phụ huynh và các em không yên tâm học các môn không phải là môn thi THPT,
vì phải mất nhiều thời gian và ảnh hưởng đến kết quả học tập.
4


Cũn cú mụn do nhiu nguyờn nhõn cht lng hc sinh gii qua cỏc kỡ thi cha
n nh, thiu tớnh bn vng.
II. Mt s bin phỏp ch o phỏt hin v bi dng hc sinh gii.
Xuất phát từ thực trạng của nhà trờng nh đã núi ở trên, cùng với

những nguyên nhân làm hạn chế đến hiệu quả trong việc ch o
phỏt hin v bi dng hc sinh gii. Bng kinh nghim ca mỡnh tụi nờu ra một
số bin pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác ch o phỏt
hin v bi dng hc sinh gii.
1. Tiờu chun la chn hc sinh cú nng khiu
1.1. Thụng minh, trớ tu: L nhng hc sinh cú nng lc t duy tt mi vn
Cú hiu bit v khỏ thụng tu cỏc vn quan tõm.
Cú kh nng nh lõu, kh nng suy din, gii quyt x lý tỡnh hung linh hot
hiu qu cao.
1.2 Kh nng sỏng to
Luụn ch ng c lp trong t duy.
Cú kh nng t hc v t tỡm tũi.
Luụn cú phỏt hin mi m c ỏo.
1.3. Tinh thn say mờ ham hc
L nhng hc sinh cú chớnh kin, bit bo v chớnh kin.
Trung thc, im m v nhy cm.
Khiờm tn hc hi, say mờ v yờu thớch mụn hc.
Cú ý chớ vn lờn khng nh mỡnh.
2. T chc tuyn chn
Vic tuyn chn hc sinh nng khiu nờn tin hnh theo 4 bc sau:
Bc 1:
Cn c vo im v kt qu ca nm hc trc, nht l im qua cỏc k thi m
nh trng t chc ỏnh giỏ mt cỏch nghiờm tỳc. Tt nhiờn im s khụng phi l c
s v cn c ch yu cng khụng phi l iu kin quyt nh la chn hc sinh cú
5


năng khiếu nhưng nó vẫn là kết quả trực quan ban đầu để đánh giá và đưa các em vào
danh sách các đội dự tuyển.
Bước 2:

Xem xét kết quả của quá trình học tập ở nhà trường. Một học sinh liên tục cả
năm và nhiều năm đạt học sinh giỏi trong các kỳ thi thì đó chính là một căn cứ tin
cậy và nó cũng thể hiện đầy đủ những khả năng phẩm chất đáng quí của một học sinh
có năng khiếu. Thông tin từ giáo viên đã từng giảng dạy ở các lớp. Dựa vào thực tế
quá trình học tập bồi dưỡng, đây là những cơ sở thực tiễn có chiều sâu chính xác và
sác xuất cao. Vì qua đó các em được bộc lộ và thể hiện đầy đủ những khả năng của
mình.
Bước 3:
Tuyển chọn bằng cách trực tiếp phỏng vấn trao đổi đối với từng cá nhân học
sinh. Qua thực tế thì cách này mang lại hiệu quả khá cao bởi vì người dạy sẽ phát hiện
được những học trò thích và ham mê bộ môn của mình bởi trong quá trình học tập và
giảng dạy giữa thầy và trò bao giờ cũng có sự đồng cảm và ăn ý với nhau. (Cách đặt
câu hỏi có thể là: Bộ môn học trong nhà trường mà em yêu thích nhất? Vì sao? . Điều
mà em thấy lý thú và hấp dẫn ở bộ môn này? ... )
Bước 4:
Kiểm tra đánh giá sau thời gian bồi dưỡng và tổ chức điều chỉnh thành lập đội
tuyển. Bước này được coi là bước cuối cùng trong khâu tuyển chọn.
Cuối mỗi năm học các lớp đội tuyển được kiểm tra khảo sát chất lượng bằng
một bài thi chuẩn bị cho các đội tuyển của năm học tiếp theo.
Như vậy, cả 4 bước này cần được thực hiện đồng bộ. Kế hoạch tuyển chọn học
sinh phải được phát hiện và chọn ngay từ khi vào học lớp 6, đó là những em có thiên
hướng về các lĩnh vực.
3. Tiến hành bồi dưỡng
3.1. Công tác tổ chức
Sau khi lựa chọn được học sinh, những giáo viên có kinh nghiệm thực hiện
giảng dạy theo qui định của nhà trường do Hiệu trưởng quyết định thành lập cho từng
6


khối, từng môn. Phân công giáo viên trực tiếp dạy ở các lớp, phân công một đồng chí

trong Ban giám hiệu trực tiếp phụ trách.
3.2. Điều kiện phục vụ cho công tác bồi dưỡng
Công tác xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và phòng thực hành. Không
chỉ phục vụ chất lượng đại trà mà còn có khả năng phục vụ cho việc bồi dưỡng học
sinh năng khiếu để các em có điều kiện nâng cao và vận dụng hiểu biết sáng tạo của
mình cho phần lí thuyết nhất là các môn thiên về thực hành.
Các điều kiện như tài liệu , sách giáo khoa, sách tham khảo và các điều kiện
khác phải đầy đủ nhằm phục vụ công tác bồi dưỡng.
Xây dựng thời khóa biểu bồi dưỡng hợp lý, khoa học theo từng thời điểm.
3.3. Lựa chọn giáo viên giảng dạy
Là khâu hết sức quan trọng quyết định chất lượng và hiệu quả các lớp đội tuyển
vì phải có thầy giỏi thì mới có trò giỏi. Chính vì vậy cần chú ý đến các tiêu chuẩn sau:
Phải là giáo viên có phẩm chất tốt.
Có trình độ, năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm vững vàng.
Phải có trách nhiệm cao nhiệt tình say mê với công việc, có kiến thức và hiểu
biết sâu rộng .
Có kinh nghiệm và phương pháp dạy phù hợp .
Giáo viên phải biết hướng cho các em động cơ thái độ học tập đúng đắn tạo
niềm say mê yêu thích và niềm hứng thú trong học tập.
Tóm lại: Người thầy giỏi là người thầy dạy cho các em biết cách học . Thầy
phải biết trò cần gì? Thiếu gì trong kiến thức và phương pháp học tập để biết cách
giúp các em lấp đầy lỗ hổng và thiếu kiến thức. Việc phát hiện bồi dưỡng học sinh có
năng khiếu có thể coi là một quá trình. Công tác bồi dưỡng phát hiện học sinh năng
khiếu phải được tiến hành đồng thời trong những tiết dạy đại trà: Thông qua hệ thống
câu hỏi, các bài tập ở những cấp độ khác nhau. Từ đó căn cứ vào năng lực từng em
mà giáo viên có những tác động sư phạm đến với các em: Quan tâm hơn đưa nhiều
nội dung học tập có yêu cầu cao để thêm các bài tập khó hơn. Sau đó phải dành thời
7



gian chấm và chữa bài một cách chi tiết tỉ mỉ, nên có những lời động viên khích lệ để
các em phát huy tốt hơn khả năng của mình.
4. Nội dung và phương pháp bồi dưỡng
4.1. Nội dung:
Việc bồi dưỡng học sinh năng khiếu phải dựa trên nền tảng vững chắc của chất
lượng đại trà. Thực hiện biên soạn tài liệu cho công tác bồi dưỡng học sinh năng
khiếu do những giáo viên đã có kinh nghiệm bồi dưỡng, tài liệu biên soạn cần đảm
bảo tính hệ thống, khoa học từ dễ đến khó và bao quát được chương trình mà cấp học
giới hạn.
Những học sinh năng khiếu có quyền được học tập và phát triển năng lực theo
sở trường của mình, các em sẽ được học những tài liệu giáo nâng cao, chuyên sâu
hơn. Quá trình học bao gồm cả quá trình tự học: Tự học là điều kiện tốt nhất, cực kỳ
quan trọng để phát triển tư duy độc lập và cao hơn nữa là tư duy phát hiện rồi đến tư
duy sáng tạo.
Năng lực tư duy và khả năng tự học của học sinh là những vấn đề cực kỳ quan
trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách sáng tạo của học sinh. Chính vì vậy
cả thầy và trò phải nhận thức rõ việc dạy và học có mục đích ở học chứ không phải có
mục đích ở dạy. Cho nên trong bồi dưỡng đội tuyển trước hết thầy giáo cần tạo cho
học sinh tinh thần tự giác trong tự học giúp học sinh đạt hiệu quả. qủa.
4.2. Phương pháp
4.2.1. Việc dạy của giáo viên
+ Trong việc bồi dưỡng học sinh năng khiếu cần tôn trọng nguyên tắc "dân
chủ" và "bình đẳng". Cần trang bị cho học sinh các tri thức kỹ năng nội dung như học
sinh bình thường. Muốn giảng dạy có hiệu quả thầy phải lấy hoạt động học của học
sinh làm trung tâm nên chú ý tới những đặc trưng cơ bản đó là:
Tính độc lập tự chủ
Tính tự giác và tính sáng tạo
Khả năng ý chí nghị lực của người học
8



+ Cần sử dụng các phương pháp tích cực cụ thể như:
Chú trọng rèn phương pháp tự học
Tăng cường học tập cá thể với học tập hợp tác
Kết hợp tổ chức nhiều các hoạt động học
+ Thầy dạy phải hiểu nhu cầu và nguyện vọng của người học chú ý cả những
đặc điểm tâm sinh lý, tư duy của người học để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư
duy độc lập, sáng tạo, khả năng tự giải quyết vấn đề và hướng đến những vấn đề cao
hơn .
+ Biết hướng dẫn tổ chức cho học sinh tự mình khám phá kiến thức mới và đặc
biệt là nắm vững phương pháp học tập bộ môn. Phân hóa mức độ giờ học theo đối
tượng, động cơ người học để có cách bồi dưỡng hợp lý .
+ Luyện cho các em thói quen khai thác đề ở nhiều góc độ, phương diện khác
nhau, biết đặt giả thiết và tìm được nhiều cách giải khác nhau .
+ Tất cả giáo viên tham gia dạy đội tuyển phải có khả năng soạn, dạy chuyên
đề chuyên sâu. Biên soạn chương trình, nội dung bồi dưỡng rõ ràng, cụ thể, chi tiết
cho từng mảng kiến thức.
4.2.2. Việc học của trò
+ Thực hiện và nắm kỹ nội dung và các thao tác của bộ môn dưới sự hướng dẫn
của giáo viên.
+ Tích cực chủ động sáng tạo trong quá trình học. Điều quan trọng là quá trình
tự học của trò. Tự học là điều kiện tốt nhất để phát triển tư duy độc lập và cao hơn
nữa là tư duy phát hiện rồi đến tư duy sáng tạo. Nếu học sinh có tư duy tốt thì sự hiểu
biết ngày càng thêm phong phú và vững chắc. Tư duy càng phong phú và càng sắc
sảo thì hiệu quả càng cao.
+ Vì vậy việc học trước hết là học tư duy và thầy dạy cũng cần dạy tư duy.
Thực tế giảng dạy bồi dưỡng học sinh năng khiếu đã minh chứng một quan điểm về
năng lực tự học tự sáng tạo có vai trò quyết định trong toàn bộ quá trình học tập của
học sinh. Tự học là phương tiện nhưng cũng là mục đích ý nghĩa tự giác trong phương
9



pháp học tập của học sinh cũng chính là sự biểu hiện về sự hình thành và phát triển
nhân cách sáng tạo tình yêu trong sáng và say mê của các em đối môn học của mình .
+ Trong quá trình cùng nhau hợp tác học tập học sinh có thể tự chấm và chữa
bài cho nhau để các em có được sự mạnh dạn và quyết tâm trong xử lý vấn đề và tình
huống và gây được không khí thoải mái thúc đẩy tính tích cực trong học tập, các em
sẽ học được cái hay cái được của bạn và biết cần tránh những nhược điểm mà các em
hay mắc phải.
5. Công tác thi đua khen thưởng
Cần có sự tham mưu với cấp ủy chính quyền địa phương, phối hợp với gia
đình, hội khuyến học các đoàn thể xã hội để nâng cao nhận thức vai trò của các tổ
chức này đối với nhiệm vụ đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho địa phương.
Tư vấn cho Ban đại diện CMHS làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục tạo nguồn
ủng hộ để hỗ trợ cho đội ngũ giáo viên dạy các đội tuyển HSG.
Tiết kiệm chi, dành quỹ khen thưởng xứng đáng cho những giáo viên và học
sinh đạt giải cao trong các kỳ thi. Tạo động lực và chuyển biến tích cực cho các kì thi
sau.
III. Hiệu quả của SKKN
1. Kết quả sau 5 năm áp dụng SKKN
1.1. Chất lượng đại trà
T/s
Năm học

Khá

TB

Yếu


Kém

học
sinh

2008-2009(Chưa
áp dụng SKKN)
2009-2010 (chưa
áp dụng SKKN)
2010-2011 (đã áp
dụng SKKN)
2011-2012 (đã áp
dụng SKKN)
2012-2013
(đã
áp dụng SKKN)

Giỏi
T/s %

T/s

%

T/s

%

T/s


%

Ts

%

465

55

11,3 175

36,1 192

39,6 61

12,6 2

0,4

456

48

10,5 207

45,4 186

40,8 15


3,3

2

0,4

430

57

13,3 193

44,9 173

40,2 7

1,6

0

0

412

79

19,2 210

51,0 119


28,9 4

0,9

0

0

381

60

15,8 189

49,6 125

32,9 6

1,5

0

0

10


2013-2014
(đã 391
áp dụng SKKN)

2014-2015
(đã 419
áp dụng SKKN)

74

18,9 181

46,3 130

33,3 6

1,5

0

0

84

20,0 205

48,9 124

29,6 6

1,4

0


0

1.2. Học sinh giỏi cấp Huyện

Năm học

TS Nhất

Nhì

Ba

KK

STT trong
huyện

2008-2009 (ChưaÁp dụng SKKN)

25

2

5

18

Xếp thứ 8/15

2009-2010 (chưa áp dụng SKKN)


31

1

1

10

19

Xếp thứ 9/15

2010-2011 (đã áp dụng SKKN)
2011-2012 (đã áp dụng SKKN)

81

7

24

12

38

Xếp thứ 6/15

92


19

25

12

36

Xếp thứ 2/15

2012-2013 (đã áp dụng SKKN)

59

1

5

15

38

Xếp thứ 3/15

2013-2014 (đã áp dụng SKKN)

67

2


14

21

30

Xếp thứ 3/15

2014-2015 (đã áp dụng SKKN)

63

6

13

19

25

Xếp thứ 2/15

TS Nhất
0
0

Nhì
0

Ba KK

0
0

0

0

0

0

0

3

0

0

3

0

2011-2012 (đã áp dụng SKKN)

15

0

2


4

9

2012-2013 (đã áp dụng SKKN)

6

2

4

2013-2014 (đã áp dụng SKKN)

6

1

5

2014-2015 (đã áp dụng SKKN)

8

2

6

1.3. Học sinh giỏi Tỉnh, Quốc gia.

Năm học
2008-2009 (Chưa áp dụng SKKN)
2009-2010 (chưa áp dụng SKKN)
2010-2011 (đã áp dụng SKKN)

2.Hiệu quả.
11

Quốc gia

1 HC Đồng

1 HC Đồng


2.1. Về học lực
Điều đáng phấn khởi sau khi áp dụng SKKN tỷ lệ học sinh đạt chất lượng đại
trà tăng, hiệu quả đào tạo được duy trì, giữ vững và tăng cao. Tỷ lệ học sinh đỗ vào
THPT (công lập) tăng cả về số lượng và chất lượng. Góp phần khẳng định vị thế vững
chắc nhà trường trong khối THCS của huyện. Đặc biệt tỷ lệ này đã mang lại niềm tin,
niềm phấn khởi cho cha mẹ học sinh và nhân dân Sơn Vy đồng thời đã được các cấp
quản lý đánh giá cao và ghi nhận.
2.2. Về học sinh giỏi cấp Huyện
Các đội tuyển học sinh giỏi có chất lượng hơn. Sự say mê trong học tâp đã
mang lại niềm vui cho nhiều học sinh đạt được giải cao qua các kỳ thi. Thực sự là
những tấm gương cho học sinh trong lớp, trong khối và trong trường ước muốn học
tập và có khát vọng vươn lên. Liên tục 4 năm liền học sinh giỏi của trường luôn đứng
trong tốp 3 trường dẫn đầu khối Trung học cơ sở Huyện Lâm Thao.
2.3. Về học sinh giỏi cấp Tỉnh và Quốc gia
Kết quả 5 năm học gần đây đã minh chứng cho sự cố gắng và nỗ lực vượt bậc

của thầy và trò trong công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi. Đặc biệt năm học
2011-2012 và năm học 2014-2015 nhà trường đã có 2 học sinh đạt giải Ba (Huy
chương Đồng) kỳ thi học sinh giỏi Quốc gia.

12


PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1.Kết luận
1.1. Về phát hiện và bồi dưỡng HSG:
Có thể khẳng định lại một lần nữa phát hiện tuyển chọn có tính chất quyết định
trong quá trình bồi dưỡng học sinh. Nếu như quá trình bồi dưỡng lại không tuân thủ
đầy đủ công tác tổ chức nắm vững nội dung, phương pháp bồi dưỡng thì không thể có
kết quả và càng không có kết quả cao.
Như chúng ta đã biết mỗi con người đều xuất thân và giáo dục trưởng thành
trong những môi trường và điều kiện hoàn toàn khác nhau. Mỗi con người bình
thường sinh ra trong gia đình bình thường đều có sẵn mầm mống tài năng vì mỗi con
người hình thành và phát triển đều chịu tác động qua lại của 3 yếu tố: Di truyền, môi
trường và tự thân.
Hiểu và nắm vững những cơ sở này sẽ giúp cho giáo viên có những hiểu biết về
tâm lý và nhu cầu học tập của người học để có những điều chỉnh hợp lý và quan trọng
hơn nữa có tính chất quyết định đó là những phương pháp bộ môn kết hợp nhuần
nhuyễn với yêu cầu nội dung cần đạt tới.
Thầy dạy sẽ chỉ là người hướng dẫn gợi mở, thiết kế, cố vấn trọng tài cho các
hoạt động tranh luận và tìm tòi phát hiện kiến thức của học sinh. Thầy dạy cần chú ý
đến những đặc điểm của học sinh:
Thái độ và động cơ học tập của học sinh; những chủ định chính kiến của học
sinh.
Phát huy tư duy cụ thể, trừu tượng của học sinh; những biểu hiện tâm lý tình
cảm của học sinh.

1.2. Ý nghĩa:
Kết quả nghiên cứu thực trạng và áp dụng các biện pháp phát hiện và bồi
dưỡng học sinh giỏi ở trường THCS Sơn Vy cho thấy:
Trong công tác bồi dưỡng học sinh năng khiếu để bồi dưỡng thành học sinh
13


giỏi khâu đầu tiên là khâu phát hiện và tuyển chọn học sinh, khâu này quan trọng
chẳng khác gì khâu “chọn giống của nhà nông".
Hãy luôn coi công tác bồi dưỡng học sinh có năng khiếu thành học sinh giỏi
phải tiến hành liên tục ở các khối lớp, bồi dưỡng ở mỗi khối lớp nào đó sẽ là phiến
diện và không thường xuyên liên tục. Vì tài năng không bao giờ có điểm dừng và
càng không thể có việc nghỉ giải lao.
CBQL, giáo viên và học sinh nhà trường đã có nhận thức đúng đắn về vai trò và tầm
quan trọng của công tác phát hiện và bồi dưỡng học có năng khiếu trở thành học sinh
giỏi. Những kết quả đó góp phần nâng cao vị thế, thương hiệu trường Trung học cơ sở
Sơn Vy.
1.3. Hướng phát triển của SKKN
SKKN này đã được trường THCS Sơn Vy áp dụng và đạt được những kết quả
thiết thực. SKKN này có thể áp dụng được với các trường THCS trong huyện Lâm
Thao có điều kiện tương tự. Trong thời gian tiếp theo tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu và bổ
sung thêm các biện pháp quản lý để phát triển SKKN có thể áp dụng được cho các
trường THCS.
1.4. Bài học kinh nghiệm
1. Đối với đội ngũ giáo viên tham gia bồi dưỡng
Phẩm chất, uy tín, năng lực của giáo viên có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình
học tập và rèn luyện của học sinh. Giáo viên là yếu tố hàng đầu đóng vai trò quyết
định trong việc bồi dưỡng năng lực học tập, truyền hứng thú, niềm say mê môn học
cho các em. Để dạy được học sinh có khả năng và phương pháp tự học thì bản thân
thầy cô cũng phải tự đào tạo, cố gắng hoàn thiện về năng lực chuyên môn, có am hiểu

về kiến thức chuyên sâu, có phương pháp truyền đạt khoa học, tâm huyết với công
việc, yêu thương học trò, giúp đỡ đồng nghiệp.
Để thực hiện được quá trình nêu trên rất cần một đội ngũ giáo viên ổn định,
thường xuyên được bồi dưỡng, việc tổ chức bồi dưỡng tại chỗ được coi là yếu tố quan
trọng nhất. Các hình thức có thể là:
14


- Mạnh dạn phân công dạy các đội tuyển thì giáo viên phải tự đọc, tự học để
đáp ứng nhiệm vụ đang đảm nhận; giáo viên tự soạn nội dung giảng dạy và bồi dưỡng
học sinh giỏi. Nội dung giảng dạy được tổng hợp, bổ sung từ nhiều nguồn tư liệu:
Sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, đề thi hàng năm của huyện, ngoài huyện, trong và
ngoài tỉnh.
- Bồi dưỡng qua giao lưu, học hỏi trong tổ chuyên môn trong trường, với tổ
chuyên môn ở các trường khác trong và ngoài địa bàn.
- Mời các chuyên gia có kinh nghiệm về bồi dưỡng đội ngũ, bồi dưỡng đội
tuyển. Phương châm giảng dạy là “Phải làm cho học sinh yêu thích môn học của
mình, truyền ngọn lửa yêu thích môn học thì mới có hiệu quả trong giảng dạy” vì vậy
trong các bài giảng bên cạnh việc cung cấp các kiến thức cần dạy cho học sinh như lối
sống, kỹ năng và những ứng dụng của kiến thức được học vào thực tế cuộc sống.
2. Công tác đánh giá, phát hiện học sinh năng khiếu.
Việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi là quá trình đầu tư nhiều công sức,
đòi hỏi năng lực và tâm huyết của các thầy cô giáo. Quá trình phát hiện và bồi dưỡng
học sinh giỏi giống như việc tìm ngọc trong đá. Ở đó các em giống như những viên đá
còn thô, phải được mài giũa thì đá mới thành ngọc, ngọc mới tinh và tỏa sáng. Điều
này cần có thời gian và sự đầu tư bài bản, lâu dài.
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần khơi gợi để học sinh tự khám phá,
bộc lộ cách tiếp cận vấn đề mới, từ đó GV đánh giá được tư chất và năng lực của học
sinh. Một số biểu hiện thường thấy ở những học sinh có tư chất thông minh là:
- Năng lực tư duy mô hình hóa, sơ đồ hóa các khái niệm, các mối quan hệ; kĩ

năng thao tác giải quyết vấn đề và sáng tạo cái mới; kĩ năng thực hành, tổ chức sắp
xếp công việc.
- Năng lực phản biện. Trước mỗi tình huống, học sinh có khả năng phản biện
hay không? Có biết thay đổi giả thiết, thay đổi hoàn cảnh để tạo ra tình huống mới
hay không?
- HS có tinh thần vượt khó và bản lĩnh trước tình huống khó khăn. Có khả năng
tìm tòi phương hướng giải quyết vấn đề khó, biết tự bổ sung kiến thức, phương tiện để
15


thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ. Có sự nhạy cảm đón bắt ý tưởng, biết lắng nghe,
có khả năng tiếp thu, chọn lọc, tổng hợp ý kiến từ những người xung quanh.
Từ những biểu hiện trên GV đưa ra phương pháp bồi dưỡng, cung cấp kiến
thức, tài liệu... để HS nhanh chóng tiếp cận.
3. Công tác giảng dạy, bồi dưỡng học sinh
Điều quan trọng nhất trong quá trình dạy học là làm cho học sinh yêu thích
môn học, “thổi lửa” khơi dậy, nuôi dưỡng lòng đam mê học tập, khát khao khám phá
của học sinh.
Giáo viên có thể giảng dạy theo các mảng kiến thức, kĩ năng; rèn cho học sinh
kĩ năng làm bài ở từng dạng, từng chủ đề. Sau khi trang bị cho học sinh kiến thức cơ
bản của bộ môn, giáo viên chú ý nhiều hơn đến việc dạy học sinh phương pháp tự
học. Cụ thể là:
- Giao nhiệm vụ, hướng dẫn học sinh tự đọc tài liệu …
- Tổ chức cho học sinh báo cáo theo chuyên đề, thảo luận, phản biện…
- Kiểm tra việc tự học, tự đọc tài liệu của học sinh; rút kinh nghiệm kịp thời.
- Sử dụng các thiết bị giảng dạy phù hợp; tăng cường thời gian thực hành.
- Đa dạng các hình thức đánh giá: Giáo viên đánh giá học sinh, học sinh đánh
giá nhau và học sinh tự đánh giá.
2. Kiến nghị
2.1. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo

- Tiếp tục tham mưu với UBND Huyện bố trí đủ giáo viên, đồng bộ về cơ cấu
cho các nhà trường.
- Tổ chức các kì thi học sinh giỏi thực sự nghiêm túc, khoa học, đổi mới hơn
nữa để đánh giá thực chất công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở các nhà trường.
- Tổ chức hội thảo, sinh hoạt chuyên môn các cấp thực sự đổi mới, đặc biệt là
gắn với các nội dung như: Cấu trúc đề thi, tổ chức chấm thi, đánh giá sau các kì thi...
- Phối hợp với Hội Khuyến học huyện tổ chức vinh danh cho giáo viên, học
sinh đạt thành tích cao trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp thật có ý nghĩa,
tạo được sức lan tỏa rộng rãi trong xã hội.
16


2.2. Đối với địa phương
Tạo điều kiện cho các nhà trường xây dựng nguồn hỗ trợ và khen thường giáo
viên, học sinh đạt thành tích cao trong công tác phát hiện, bồi dưỡng và đạt học sinh
giỏi qua các kì thi học sinh giỏi các cấp.
Kinh nghiệm này của tôi được áp dụng ở trường THCS Sơn Vy đã mang lại
hiệu quả rõ rệt. Với các trường THCS có điều kiện như trường tôi vận dụng một cách
bài bản thì trong công tác phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp sẽ mang lại kết
quả tốt. Tôi mong được góp ý bổ sung để SKKN hoàn thiện hơn.
Xếp loại của HĐKH trường

Người viết

Nguyễn Bá An

Xếp loại của HĐKH ngành Giáo dục Huyện

17




×