LỜI NĨI ĐẦU
Trong xu thế tịan cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế được xem là một tất yếu khách
quan và trở thành vấn đề thời sự của tất cả các quốc gia trên thế giới, Chúng ta không thể
không tham gia vào sân chơi rộng lớn này. Từ ngày 11/01/2007, Việt Nam đã trở thành
thành viên đầy đủ của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), cam kết thực hiện đầy đủ các
chuẩn mực quốc tế của WTO đó chính là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
(General Agreement on Trade and Tariff – GATT) trong đó có Hiệp định thực hiện điều
VII Hiệp định chung về thuế quan và thương mại về xác định trị giá hải quan (được gọi tắt
là Hiệp định trị giá GATT), tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế mang đến cho Việt Nam
nhiều cơ hội nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế trong nước tiến kịp với các nước trong khu
vực. Bên cạnh đó, trong bối cảnh phải nhanh chóng thực hiện các hiệp định thương mại
quốc tế và trong khu vực khiến các chính sách thương mại phải thực thi trở nên phức tạp
hơn trong đó các mục tiêu đặt ra cho ngành hải quan thì vơ cùng đa dạng và thay dổi liên
tục nên nhiệm vụ đối với ngành hải quan ngày càng trở nên khó khăn hơn. Hải quan cũng
có vai trị trong việc cải thiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua đảm bảo
tính thống nhất của các thủ tục hải quan áp dụng cho các lọai hàng hóa khác nhau, tại các
vùng lãnh thổ khác nhau cũng như đảm bảo giải phóng hàng nhanh. Ngòai ra, cũng cần
phải tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về xác định trị giá. Vì vậy Hiệp định trị giá Hải quan
là một trong những Hiệp định mang tính chất bắt buộc khi là thành viên của WTO.
Việc thực hiện hệ thống xác định trị giá tính thuế theo Hiệp định trị giá GATT đã
tạo ra bước ngoặt cho hệ thống xác định trị giá tính thuế, tạo điều kiện điều kiện mở rộng
thị trường xuất khẩu cho hàng hố Việt Nam, góp phần tăng cường thu hút vốn đầu tư
nước ngoài, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá trong nước.
1
Đối với nhiệm vụ chính trị của Ngành Hải quan, trị giá tính thuế là một khâu trong
q trình thực thi nhiệm vụ đó, nó khơng chỉ hỗ trợ nâng cao chất lượng quản lý sự tuân
thủ pháp luật về xác định trị giá hải quan của doanh nghiệp, vừa giúp doanh nghiệp và cơ
quan Hải quan tiết kiệm những chi phí quản lý, tăng cường bình đẳng và tạo thuận lợi cho
thương mại phát triển.
Với tư cách là một “người gác cửa nền kinh tế”, Hải quan Việt Nam nói chung và
Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, là lực lượng đầu tiên phải đối mặt với
những thay đổi của môi trường làm việc, lưu lượng hàng hoá ra vào các cửa khẩu ngày
càng tăng làm cho áp lực công việc đối với từng khâu nghiệp vụ quản lý ngày càng trở nên
căng thẳng, việc thực hiện Hiệp định trị giá GATT/WTO trong bối cảnh nền kinh tế đang
phát triển; hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, minh bạch thống nhất; hệ thống thơng tin cịn
hạn chế; hoạt động thanh toán, các quy định về kế toán chưa được kiểm soát chặt chẽ,
thanh toán bằng tiền mặt còn phổ biến; ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận doanh
nghiệp cịn thấp; trong khi đó, lực lượng cán bộ công chức Hải quan tuyển dụng mới hàng
năm tăng khơng đáng kể, trình độ cán bộ cơng chức cịn chưa đồng đều, tư duy theo kiểu
xưa cũ, khơng thích thay đổi. Điều đó đã đặt ra nhiều khó khăn và thách thức rất lớn đối
với cơ quan Hải quan.
Để Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh vừa phải tuân thủ chuẩn mực quốc tế về xác
định trị giá hải quan vừa thực hiện vai trò quản lý của hải quan nên tơi chọn đề tài “Quy
trình tham vấn, xác định trị giá hải quan với hàng nhập khẩu tại Cục Hải quan
thành phố Hồ Chí Minh” nhằm hồn thiện hơn cơng tác kiểm tra, tham vấn, xác định trị
giá tính thuế tại Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh.
2
CHƯƠNG I CỞ SỞ LÝ LUẬN
I. Giới thiệu Cục Hải Quan Tp. Hồ Chí Minh:
Cục Hải quan Tp. Hồ Chí Minh là cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực Hải
quan trực thuộc Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính. Cục Hải quan Tp. Hồ Chí Minh có tư
cách pháp nhân, có con dấu riêng, hoạt động theo pháp luật.
Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh (tiền thân là Cục Hải quan Miền Nam Việt
Nam, thuộc Tổng nha Ngoại Thương) được thành lập theo Nghị định số: 09/QĐ do Chủ
tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hịa Miền Nam Việt Nam Huỳnh Tấn Phát ký
ngày 11 tháng 7 năm 1975, với các chức năng, nhiệm vụ: giám sát, quản lý mọi hàng hóa,
hành lý và phương tiện vận tải xuất nhập cảng, nhằm đảm bảo thực hiện đúng chính sách
ngoại thương, chính sách ngoại hối, góp phần thực hiện đường lối ngoại giao và bảo vệ
chính trị an ninh của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, Nghị định còn quy định: Cục Hải
quan Miền Nam là cơ quan sự nghiệp đặc biệt, nửa vũ trang.
Trụ sở Cục Hải quan Tp. Hồ Chí Minh đặt tại:
Số 2 Hàm Nghi, phường Bến Nghé, quận 1, Tp. Hồ Chí Minh.
Điện thoại: 84—8-38291422
Fax:
84 - 8- 38290912
Cơ cấu tổ chức: Tính đến ngày 30/6/2009, Cục Hải quan Tp. Hố Chí Minh hiện có
tổng cộng 1902 CBCC (1811 biên chế; 91 HĐLĐ68). Cơ cấu tổ chức bộ máy Cục Hải
quan Tp. Hồ Chí Minh như sau:
• Cục trưởng, phụ trách chung.
• 05 Phó Cục trưởng.
• 07 đơn vị tham mưu cấp phịng.
• 13 chi cục hải quan
3
• 11 Chi cục Hải quan trực tiếp làm thủ tục XNK.
II. PHỊNG TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ
Q trình hình thành và phát triển của Phịng Trị giá tính thuế:
1. Giai đọan 1 : Từ năm 1994 – 1998:
Trong giai đoạn này chính sách Kinh tế đối ngoại của của Việt Nam thực hiện đa
phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế quốc tế, chuyển sang quan hệ mua bán hàng
hóa với các nước thuộc khối tư bản chủ nghĩa. Trong những năm đầu thập niên này do thị
trường mới, việc mua bán giữa người mua và người bán chưa có mối quan hệ thân thiết,
thường là mua đứt bán đọan, bên cạnh đó trong giai đọan này chỉ có khỏang gần 300
doanh nghiệp làm thủ tục xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan TP. HCM và chủ yếu là các
doanh nghiệp Nhà nước.
Dần dần qua thời gian các bạn hàng đã tạo cho nhau sự tin cậy, việc thanh tốn
khơng cịn sự ràng buộc chặt chẽ như trước đây, các phương thức thanh tốn được cả hai
phía người mua và người bán hàng hóa tạo cho nhau các điều kiện thuận lợi, thơng thống
và cũng từ đây việc khai báo của một số doanh nghiệp thiếu trung thực, giá giảm từ 30%40% thậm chí có những loại hàng hóa giảm 60 – 70%, điều này tạo ra sự cạnh tranh không
lành mạnh giữa các doanh nghiệp họat động kinh doanh xuất nhập khẩu.
Trước tình hình gian lận thương mại qua giá diễn ra khó kiểm sốt nếu khơng có
một lực lượng chun trách đảm nhiệm, vì vậy ngày 12/9/1994 Phòng Giá – Thuế Cục Hải
quan TP. HCM được chính thức thành lập.
Đồng chí Đỗ Đình Thực Phó cục trưởng được phân công phụ trách và chỉ đạo trực
tiếp. Đây là Phòng Giá – Thuế đầu tiên của Ngành Hải quan .
4
Với chức năng nhiệm vụ được giao là xây dựng giá tính thuế đối với tất cả các
hàng hóa chưa có trong bảng giá tối thiểu của Bộ Tài chính, kiểm tra việc thực hiện cơng
tác áp giá tính thuế tại các chi cục, báo cáo Tổng cục Hải quan các trường hợp giá thấp
trên 10% để Tổng cục Hải quan xem xét chỉ đạo thực hiện thống nhất trong tồn Ngành.
Với biên chế ban đầu 17 cơng chức, gồm 02 lãnh đạo Phịng, 04 cán bộ đội và 11
cơng chức chia làm hai đội công tác,
+ Đội 1- Đội xây dựng giá tính thuế : gồm 01đội trưởng; 02 đội phó và 8 cơng chức.
+ Đội 2 - Đội Xác định mã số thuế suất gồm 01 đội phó và 03 cơng chức, đội này
khơng có đội trưởng mà do đồng chí Phó trưởng phịng phụ trách trực tiếp.
Kết quả đạt được : Về Giá tính thuế :
+ Xây dựng giá tính thuế cho gần 15.000 mặt hàng, xác định mã số hàng hóa cho
trên 2000 trường hợp khó chi cục không xác định được hoặc xác định chưa chuẩn xác,
thuế tăng do điều chỉnh giá và xác định mã số thuế suất trên 300 tỷ VNĐ.
Các Bảng giá đã ngăn chặn một cách hữu hiệu việc gian lận thương mại qua giá
tính thuế, bình qn mỗi năm số điều chỉnh về giá tính thuế tăng thu cho ngân sách Nhà
nước hàng trăm tỷ VNĐ, con số này chỉ tính trên số tờ khai nhập khẩu ban đầu cịn các lần
tiếp theo doanh nghiệp đã tự điều chỉnh theo các Bảng giá kiểm tra đã ban hành thì khơng
thể tính được.
Về xác định mã số hàng hóa :
Đây là một khâu nghiệp vụ khó, về nguyên tắc mỗi hàng hóa nhập khẩu chỉ có một
mã số hàng hóa nhất định, tuy nhiên trong giai đoạn này chưa có một văn bản pháp quy
nào quy định cụ thể cho việc phân loại hàng hóa dẫn tới việc xác định mã số hàng hóa
khơng thống nhất. Trong năm 1995 - 1998 đã tập hợp báo cáo Bộ cho sửa đổi bổ sung
tăng thuế một số mặt hàng như: Kẹo gum trần từ 0% lên 30%, dầu gội đầu Nizoral từ 0%
lên 20% và giảm thuế suất mặt hàng lá chắn chống bạo lọan từ 40% xuống 20% . Các đề
5
nghị này đã được Bộ tài chính chấp nhận và ban hành các biểu thuế sửa đổi bổ sung, riêng
mặt hàng nhôm mạ hợp kim nhôm kẽm tại biểu thuế chưa rõ do đó việc xếp mã số được
xếp vào nhóm “tơn đã phủ mạ tráng kẽm”, thuế suất thuế NK 15%. Căn cứ vào các
nguyên tắc của công ước HS, Phòng đã báo cáo Cục tập hợp báo cáo Tổng cục Hải quan
và được Tổng cục Hải quan chấp nhận, riêng mặt hàng này đã tăng thu cho ngân sách 21
tỷ VNĐ, sau này tại Quyết định 659A Bộ Tài chính cho điều chỉnh tăng thuế suất lên 20%.
2. Giai đọan 2 từ năm 2003 đến nay :
Năm 1998 Phòng giá thuế được sát nhập với Phòng kiểm tra thu (nay là Phòng
Nghiệp vụ), bộ phận giá thuế chỉ làm nhiệm vụ kiểm tra báo cáo mà không thực hiện việc
xây dựng giá tính thuế nữa.
Song, trước yêu cầu hội nhập, cũng như tình hình gian lận thương mại qua giá diễn
biến phức tạp, một số doanh nghiệp lợi dụng các kẽ hở của chính sách để khai báo giảm
giá các mặt hàng nhập khẩu, vào tháng 01/2003 Mảng nghiệp vụ Giá – Thuế trực thuộc
Phòng nghiệp vụ được hình thành, (đây là tiền thân của Phịng Trị Giá tính thuế sau này).
Với nhiệm vụ được giao tương tự nhiệm vụ của Phòng Giá – Thuế trước đây, mảng
gồm 07 cơng chức, bằng các kinh nghiệm của mình tích lũy trong q trình cơng tác xây
dựng giá và xác định mã số thuế, công chức mảng nghiệp vụ giá – thuế lại tập trung cao độ
giải quyết với các cơng việc khó khăn, phức tạp mà lãnh đạo cục tin tưởng giao phó, chỉ
trong vịng 04 tháng đã xây dựng trình lãnh đạo cục ký ban hành 29 Quyết định về giá cho
hơn 2000 mặt hàng NK, tạo điều kiện thuận lợi cho các chi cục đối chiếu, so sánh để áp
giá tính thuế, ngăn chặn một cách hữu hiệu gian lận thương mại qua giá tính thuế.
Do tính chất đặc thù của nghiệp vụ Giá – Thuế, để công tác tham mưu chủ động,
nâng cao năng lực công chức làm giá và hiệu quả cao trong công tác điều hành, quản lý.
Căn cứ Quyết định Số 36/QĐ-BTC ngày 17/3/2006 về việc thành lập Phịng Trị giá
tính thuế tại 08 Cục HQ Tỉnh, Thành phố, ngày 03/6/2003 Cục trưởng Cục HQTP ký
6
Quyết định số 1251/HQTP-TCCB tách Mảng nghiệp vụ Giá - Thuế của Phòng nghiệp vụ
ra khỏi Phòng Nghiệp vụ để thành lập Phịng Trị giá tính thuế với biên chế ban đầu 20
cơng chức, 02 Phó trưởng phịng (trong đó có 01 Phó trưởng phịng phụ trách, đến tháng
7/2003 bổ nhiệm Trưởng phịng và 01 phó trưởng phịng được điều chuyển cơng tác khác),
do tính chất của cơng việc, Phịng khơng có đội cơng tác mà được chia làm 05 nhóm
nghiệp vụ khác nhau.
Phịng có chức năng tham mưu cho lãnh đạo Cục chỉ đạo thực hiện thống nhất
công tác giá trong tồn Cục, trực tiếp xây dựng giá tính thuế các mặt hàng chưa có trong
Bảng giá kiểm tra và giá tối thiểu, thực hiện chứng minh tính trung thực khách quan của
giá hợp đồng nhập khẩu, đây cũng là bước đệm cho việc thực hiện Hiệp định Trị giá
GATT vào 29/12/2003.
Qua từng giai đọan phát triển, cho đến ngày nay Phịng Trị giá tính thuế hiện có 25
cơng chức, trong đó có 01 đồng chí Trưởng phịng và 02 Phó Trưởng phịng, 05 nhóm
cơng tác, do đồng chí Phạm văn Bút Phó cục trưởng được phân cơng phụ trách chỉ đạo
trực tiếp. Với sự đồn kết nhất trí cao trong đơn vị, Phòng đã tạo được sự tin tưởng và sự
tín nhiệm trong tập thể lãnh đạo Cục và các đơn vị trực thuộc Cục Hải quan thành phố, do
đó đã có 05 cơng chức của Phịng được đề bạt bổ nhiệm vào cương vị lãnh đạo từ đội phó
phụ trách đến Trưởng phịng, hiện có 05 cơng chức dự nguồn từ đội phó đến Trưởng
phịng, một số cơng chức của phịng ln chuyển xuống các đơn vị là lực lượng nịng cốt
cho cơng tác tham vấn xác định trị giá tại các chi cục.
Thành tích đạt được:
- Từ tháng 01/2003 – 12/2006 đã ra Quyết định xây dựng giá cho trên 13.000 mặt
hàng điều chỉnh tăng thu trên 276 tỷ VNĐ. Qua công tác kiểm tra nghiệp vụ giá tính thuế
tại các chi cục đã phát hiện truy thu thuế trên 1. 023 tỷ VNĐ.
7
- Với sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ cơng chức Phịng Trị giá tính thuế, tập thể
Phịng từ năm 2003 đến nay đã được Tặng 04 Bằng khen, do Ủy ban Nhân dân thành phố
Hồ Chí Minh, Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan tặng, chi bộ được công nhận là chi bộ
cơ sở trong sạch vững mạnh. Có 01 cơng chức của Phịng được tặng Bằng khen của Chính
phủ, 01 cơng chức được cơng nhận là chiến sỹ thi đua Ngành Tài chính, 13 lượt cơng chức
đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở.
Với phương châm “ Thuận lợi, tận tụy, chính xác” Phịng Trị giá tính thuế ln là
người bạn đồng hành của doanh nghiệp trong hướng dẫn xác định trị giá tính thuế theo
đúng quy định của pháp luật hiện hành, thực hiện cơng khai hóa, minh bạch hóa cơng tác
xác định trị giá, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, góp phần cùng
các đơn vị trực thuộc Cục Hải quan thành phố phấn đấu đạt danh hiệu Anh hùng lao động
trong thời kỳ đổi mới.
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ
1. Nội dung các phương pháp xác định trị giá tính thuế theo GATT :
1.1. Phương pháp trị giá giao dịch của hàng nhập khẩu
Trị giá hải quan của hàng hoá nhập khẩu phải là trị giá giao dịch, đó là giá thực tế
đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho hàng hoá khi hàng hoá được bán để xuất khẩu
đến nước nhập khẩu, có tính đến các khoản được điều chỉnh theo:
Trị giá
Hải quan
=
Trị giá giao
dịch
Giá thực tế đã thanh
=
toán hoặc /và sẽ
phải thanh toán
+/-
Các khoản
điều chỉnh
a. Các điều kiện áp dụng phương pháp:
Phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá giao dịch đối với hàng hoá nhập
khẩu chỉ được áp dụng nếu thoả mãn các điều kiện:
8
(a) người mua không bị hạn chế về chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng hoá, ngoại trừ
các hạn chế sau:
(b) hoạt động bán hàng, hay giá cả, không phụ thuộc vào một số điều kiện mà từ đó
người ta khơng thể xác định được trị giá của những hàng hoá cần được xác định trị
giá;
(c) sau khi tiếp tục bán lại, chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng nhập khẩu, người nhập
khẩu không phải chuyển bất cứ một khoản tiền nào từ doanh thu mà họ đạt được,
dù là trực tiếp hay gián tiếp, cho người bán, trừ phi khoản đó thuộc khoản điều
chỉnh phù hợp với các quy định; và
(d) người mua và người bán khơng có quan hệ đặc biệt với nhau, hoặc trong trường
hợp người mua và người bán có quan hệ đặc biệt thì trị giá giao dịch được chấp
nhận là trị giá hải quan trong trường hợp mối quan hệ đặc biệt không ảnh hưởng
đến giá.
Với các quy định trên đây, trị giá giao dịch đề cập đến nhiều thuật ngữ cần được
hiểu và vận dụng một cách thống nhất và chính xác, ví dụ để quyết định sử dụng trị giá
giao dịch của hàng nhập khẩu là trị giá tính thuế thì cần phải như thế nào là giao dịch bán
hàng để xuất khẩu sang nước nhập khẩu, như thế nào là giá thực tế đã hay sẽ phải thanh
tóan, những điều kiện làm ảnh hưởng quyền định đọat hay sử dụng hàng hóa sau khi nhập
khẩu, như thế nào thì được xem là có mối quan hệ đặc biệt giữa người mua và người,
trong trường hợp có mối quan hệ đặc biệt thì việc chứng minh mối quan hệ đó có ảnh
hưởng đến giá giao dịch như thế nào,…
Bên cạnh đó, để tạo sự công bằng, khách quan torng việc sử dụng trị giá giao dịch,
Hiệp định trị giá GATT/WTO cho phép người nhập khẩu quyền được giải thích và xuất
trình các chứng từ chứng minh trị giá kê khai phản ánh đúng trị giá thực tế đã hay sẽ phải
thanh tóan và mối quan hệ đặc biệt (nếu có) khơng làm ảnh hưởng đến giá cả giao dịch.
9
Mặc dù việc xác định trị giá tính thuế là trị giá giao dịch đòi hỏi đáp ứng nhiều điều
kiện ràng buộc nhưng thực tế việc sử dụng trị giá giao dịch vẫn chiếm xấp xĩ 90% thương
vụ nhập khẩu ở các nước áp dụng hệ thống xác định trị giá tính thuế theo GATT. Điều này
phần nào phản ánh được tính phổ biến và tương đối phù hợp với tính hình thương mại
quốc tế ngày nay của phương pháp trị giá giao dịch.
b. Các khoản điều chỉnh:
* Nguyên tắc điều chỉnh.
- Đối với các khoản phải cộng, chỉ điều chỉnh khi có các điều kiện sau:
+ Các khoản này do người mua thanh tốn và chưa được tính trong giá thực tế đã
trả hay sẽ phải trả.
+ Khoản phải cộng phải liên quan trực tiếp đến hàng hoá nhập khẩu.
+ Trường hợp lơ hàng nhập khẩu có các khoản phải cộng nhưng khơng có các số
liệu khách quan để xác định trị giá tính thuế thì khơng xác định theo trị giá giao dịch và
phải chuyển sang phương pháp tiếp theo.
- Đối với các khoản được trừ, chỉ điều chỉnh khi có các số liệu, chứng từ hợp pháp,
hợp lệ để tách khỏi giá bán và có sẵn tại thời điểm xác định trị giá tính thuế.
* Các khoản phải cộng:
- Tiền hoa hồng và phí mơi giới, trừ hoa hồng mua hàng. Trường hợp các chi phí
này bao gồm các khoản thuế phải nộp ở Việt Nam thì khơng phải cộng các khoản thuế đó
vào trị giá tính thuế của hàng hố nhập khẩu.
- Chi phí bao bì được coi là đồng nhất với hàng hoá nhập khẩu, bao gồm: giá mua
bao bì, các chi phí khác liên quan đến việc mua bán và vận tải bao bì đến nơi đóng gói,
bảo quản hàng hố.
Các loại container, thùng chứa, giá đỡ được sử dụng như một phương tiện để đóng
gói phục vụ chun chở hàng hố, và sử dụng nhiều lần thì khơng được coi là bao bì gắn
10
liền với hàng hố nên khơng phải là khoản phải cộng về chi phí bao bì gắn liền với hàng
hố.
- Chi phí đóng gói hàng hố
- Trị giá của hàng hoá, dịch vụ do người mua cung cấp cung cấp miễn phí hoặc
giảm giá, được chuyển trực tiếp hoặc gián tiếp cho người sản xuất hoặc người bán hàng,
để sản xuất và bán hàng hoá xuất khẩu đến Việt Nam (gọi tắt là trị giá của khoản trợ giúp,
được xác định và phân bổ các khoản trợ giúp được thực hiện theo đúng quy định của
Thông tư 40/2008/TT-BTC ngày 21/5/2008 của Bộ Tài chính).
- Tiền bản quyền, phí giấy phép
- Các khoản tiền mà người nhập khẩu phải trả từ số tiền thu được sau khi bán lại,
định đoạt, sử dụng hàng hoá nhập khẩu được chuyển cho người bán dưới mọi hình thức.
- Chi phí vận chuyển và mọi chi phí khác có liên quan trực tiếp đến vận chuyển
hàng nhập khẩu đến địa điểm nhập khẩu, như: chi phí bốc, dỡ, xếp và chuyển hàng, phụ
phí tàu già, chi phí thuê các loại container, thùng chứa, giá đỡ được sử dụng như một
phương tiện để đóng gói phục vụ chuyên chở hàng hoá, và sử dụng nhiều lần. Trị giá của
khoản điều chỉnh này được xác định trên cơ sở hợp đồng vận chuyển hoặc các chứng từ,
tài liệu liên quan đến vận chuyển hàng hố.
Trường hợp lơ hàng có nhiều loại hàng hố khác nhau nhưng chứng từ vận chuyển
không ghi chi tiết cho từng loại hàng hố thì người khai hải quan tự phân bổ các chi phí
này cho từng loại hàng hố bằng cách sử dụng các phương pháp phân chia theo thứ tự ưu
tiên sau đây:
- Phân bổ trên cơ sở biểu giá vận chuyển của người vận chuyển hàng hoá;
- Phân bổ theo trọng lượng hoặc thể tích của hàng hố;
- Phân bổ theo tỷ lệ trị giá mua của từng loại hàng hố trên tổng trị giá lơ hàng.
11
Trường hợp giá mua chưa bao gồm chi phí vận chuyển nhưng người mua khơng có
chứng từ, hoặc chứng từ này khơng hợp pháp, hợp lệ thì khơng được áp dụng phương
pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá giao dịch.
- Chi phí bảo hiểm hàng hố đến địa điểm nhập khẩu.
Trường hợp người nhập khẩu không mua bảo hiểm cho hàng hố thì khơng phải
cộng thêm chi phí này vào trị giá tính thuế.
Phí bảo hiểm mua cho cả lơ hàng gồm nhiều loại hàng hố khác nhau, nhưng chưa
được ghi chi tiết cho từng loại hàng hóa, thì phân bổ theo trị giá của từng loại hàng hố.
Các chi phí vận chuyển và phí bảo hiểm nêu trên nếu đã bao gồm thuế giá trị gia
tăng phải nộp ở Việt Nam thì khơng phải cộng khoản thuế này vào trị giá tính thuế.
* Các khoản được trừ:
Nếu các khoản sau đây đã nằm trong trị giá giao dịch và có các số liệu khách quan
dựa trên các tài liệu, chứng từ hợp pháp, hợp lệ có sẵn tại thời điểm xác định trị giá tính
thuế thì được trừ ra khi xác định trị giá tính thuế:
- Chi phí cho những hoạt động phát sinh sau khi nhập khẩu hàng hố, bao gồm các
chi phí về xây dựng, kiến trúc, lắp đặt, bảo dưỡng hoặc trợ giúp kỹ thuật, tư vấn kỹ thuật,
chi phí giám sát và các chi phí tương tự.
- Chi phí vận chuyển, bảo hiểm trong nội địa Việt Nam. Trường hợp các chi phí này
liên quan đến nhiều loại hàng hố khác nhau thì phải phân bổ cho hàng hố cần xác định
trị giá tính thuế theo nguyên tắc nêu tại điểm g và h khoản 2 mục này.
- Các khoản thuế, phí, lệ phí phải nộp ở Việt Nam đã nằm trong giá mua hàng nhập
khẩu. Trường hợp các khoản phí, lệ phí liên quan đến nhiều loại hàng hố khác nhau mà
không xác định trực tiếp được cho từng loại hàng hố thì phân bổ theo tỷ lệ trị giá mua của
từng loại hàng hố trên tổng trị giá lơ hàng.
12
- Các chi phí do người mua chịu, liên quan đến tiếp thị hàng hố nhập khẩu, bao
gồm:
+ Chi phí nghiên cứu, điều tra thị trường về sản phẩm sắp nhập khẩu;
+ Chi phí quảng cáo nhãn hiệu, thương hiệu hàng nhập khẩu;
+ Chi phí liên quan đến việc trưng bày, giới thiệu sản phẩm mới nhập khẩu;
+ Chi phí tham gia hội chợ, triển lãm thương mại về sản phẩm mới;
+ Chi phí kiểm tra số lượng, chất lượng hàng trước khi nhập khẩu. Trường hợp các
chi phí này là thoả thuận giữa người mua, người bán và là một phần trong giá thực tế đã
thanh toán hay sẽ phải thanh toán do người mua trả cho người bán thì sẽ khơng được trừ ra
khỏi trị giá giao dịch.
+ Chi phí mở L/C để thanh tốn cho lơ hàng nhập khẩu, nếu chi phí này do người
mua trả cho ngân hàng đại diện cho người mua thực hiện việc thanh toán tiền hàng.
- Tiền lãi phải trả liên quan đến việc trả tiền mua hàng hoá nhập khẩu, với điều kiện:
+ Tiền lãi phải trả phải được thể hiện dưới dạng văn bản và được phân biệt ra khỏi
giá đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán;
+ Trong trường hợp được yêu cầu, người mua chứng minh được là trị giá khai báo
chính là giá đã thanh tốn hay sẽ phải thanh toán và lãi suất phải trả phù hợp với lãi suất tín
dụng thơng thường áp dụng tại thời điểm và tại nước mà thoả thuận tài chính được thực hiện.
1.2 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt :
Nguyên tắc của phương pháp này là khi không thể xác định trị giá giao dịch thực tế
của hàng hóa nhập khẩu, trị giá hải quan được xác định trên cơ sở trị giá giao dịch đã được
xác định trước đó của một lọai hàng hóa nhập khẩu giống hệt hàng hóa nhập khẩu đang
được định giá.
1.3. Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự:
13
Nếu khơng thể xác định được trị giá tính thuế theo phương pháp trị giá giao dịch
(Phương pháp 1) hay phương pháp trị giá giao dịch của hàng giống hệt (Phương pháp 2),
thì trị giá Hải quan nhằm mục đích tính thuế của hàng hố nhập khẩu phải là trị giá giao
dịch của hàng tương tự bán để xuất khẩu đến Việt Nam vào cùng thời điểm hay cùng kỳ
với lô hàng đang được xác định trị giá.
Về cơ bản Phương pháp 2 và Phương pháp 3 giống nhau trong cách tiếp cận để xác
định trị giá Hải quan, điểm khác biệt chủ yếu của hai phương pháp là :
- Chỉ áp dụng Phương pháp 3 khi không đủ điều kiện áp dụng Phương pháp 2 ;
- Khác nhau về « định nghĩa » hàng giống hệt và hàng tương tự.
Trong đó :
(a) “hàng hố giống hệt” là những hàng hố giống nhau về mọi khía cạnh, kể cả
các đặc tính vật lý, chất lượng và danh tiếng uy tín. Những khác biệt nhỏ bên
ngồi khơng ảnh hưởng đến đánh giá hàng hoá là hàng hoá giống hệt, trừ khi
chúng thoả mãn theo định nghĩa hàng hoá giống hệt.
(b) “hàng hố tương tự” là những hàng hố, dù khơng giống nhau về mọi khía
cạnh, nhưng có các đặc trưng giống nhau, và được làm từ các nguyên vật liệu
cấu thành giống nhau, như thế làm cho những hàng hoá này thực hiện được các
chức năng tương tự và có thể hoán đổi cho nhau trong giao dịch thương mại.
Chất lượng của hàng hố, danh tiếng uy tín hàng hố và sự hiện diện của nhãn
hiệu thương mại là những yếu tố nên được xem xét trong quá trình đánh giá
hàng hố đó có phải là mặt hàng tương tự hay không.
1.4. Phương pháp trị giá khấu trừ:
Nếu không thể xác định được trị giá hải quan cho hàng hoá nhập khẩu theo phương
pháp trị giá giao dịch, trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt, trị giá giao dịch
của hàng hóa nhập khẩu tương tự, thì trị giá hải quan được xác định theo phương pháp trị
14
giá khấu trừ hoặc, trừ trường hợp, theo yêu cầu của người nhập khẩu, thứ tự áp dụng
phương pháp trị giá khấu trừ và phương pháp tính tóan được hốn đổi.
Nếu hàng nhập khẩu, hàng nhập khẩu giống hệt hay hàng nhập khẩu tương tự được
bán tại nước nhập khẩu ở điều kiện như khi hàng hoá được nhập khẩu, thì theo các quy
định tại Điều này, trị giá hải quan của hàng nhập khẩu được xác định trên cơ sở đơn giá,
mà tại mức giá đó, hàng nhập khẩu, hàng nhập khẩu giống hệt hay hàng nhập khẩu tương
tự được bán cho người mua khơng có quan hệ đặc biệt với người bán hàng hố đó, với số
lượng tổng cộng lớn nhất, vào cùng thời điểm hay cùng kỳ nhập khẩu hàng hoá đang được
xác định trị giá, sau khi đã được khấu trừ đi các khoản sau:
(i)
các khoản hoa hồng thường trả hoặc thoả thuận sẽ trả hay các khoản bổ
sung thường trả để bù đắp khoản lợi nhuận và các chi phí chung liên
quan đến các giao dịch bán hàng tại nước nhập khẩu hàng hoá cùng
phẩm cấp hay cùng chủng loại;
(ii) các chi phí thơng thường về vận tải và bảo hiểm và các chi phí có liên
quan phát sinh trong phạm vi của nước nhập khẩu;
(iii) các chi phí nêu tại Khoản 2 Điều 8, tuỳ trường hợp cụ thể; và
(iv) thuế hải quan và các loại thuế nội địa khác phải nộp ở nước nhập khẩu
về hoạt động nhập khẩu hay bán hàng hoá đó.
Phương pháp trị giá khấu trừ được xác định trên cơ sở đơn giá bán trên thị trường
nội địa của hàng nhập khẩu đang được xác định giá hoặc của hàng nhập khẩu giống hệt
hay tương tự sau khi trự mọi khỏan chi phí chung và lợi nhuận, thuế nhập khẩu, thuế khác,
phí vận tải và bảo hiểm trong nội địa, chi phí lắp ráp hoặc xử lý gia cơng thêm và các chi
phí phát sinh khác trong lãnh thổ nước nhập khẩu.
1.5. Phương pháp trị giá tính tóan :
15
Trị giá hải quan của hàng nhập khẩu theo quy định của Điều khoản này được xác
định căn cứ vào trị giá tính tốn. Trị giá tính tốn bao gồm tổng các khoản sau:
(a) giá thành hay trị giá của nguyên vật liệu, giá thành của quá trình sản xuất
hoặc của các q trình gia cơng khác được sử dụng vào sản xuất hàng
nhập khẩu;
(b) khoản lợi nhuận và các chi phí chung tương đương với hai khoản này
thường phát sinh trong giao dịch bán hàng cùng phẩm cấp hay cùng
chủng loại với hàng hoá đang được xác định trị giá; những hàng hố đó
cùng được sản xuất ở nước xuất khẩu để xuất khẩu tới nước nhập khẩu;
(c) giá thành hoặc giá trị của các khoản điều chỉnh không bắt buộc, theo quy
định tại Khoản 2 Điều 8, do Nước thành viên lựa chọn.
1.6. Phương pháp suy luận:
Nếu không thể xác định được trị giá hải quan của hàng nhập khẩu theo các quy
định tại những Điều từ 1 đến 6, trị giá hải quan nên được xác định sử dụng các phương
pháp hợp lý nhất quán với các nguyên tắc và quy định chung của Hiệp định thực hiện
Điều VII Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (GATT 1994) và trên cơ sở
các dữ liệu hiện có của nước nhập khẩu.
Khơng xác định trị giá hải quan theo các quy định tại phương pháp này trên cơ sở:
− giá bán của hàng hoá, được sản xuất ở nước nhập khẩu, được giao dịch bán tại
thị trường nội địa nước đó;
− hệ thống xác định trị giá cho phép chấp nhận sử dụng trị giá cao hơn, trong
trường hợp có từ hai trị giá trở lên để lựa chọn, làm trị giá hải quan;
− giá hàng hoá trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu;
− chi phí sản xuất, ngoại trừ trị giá tính tốn của hàng hoá được xác định đối với
hàng hoá giống hệt hay tương tự;
16
− giá bán của hàng hoá xuất khẩu sang một nước khác với nước nhập khẩu;
− trị giá hải quan tối thiểu; hoặc
− trị giá áp đặt hoặc giả định.
Nếu người nhập khẩu yêu cầu, người nhập khẩu sẽ được thông báo bằng văn bản
về trị giá hải quan được xác định theo các quy định và về phương pháp được sử dụng để
xác định trị giá.
2. Quy định về việc kiểm tra xác định trị giá tính thuế tại cấp Cục: (Quyết định
1636/QĐ-TCHQ)
Nhiệm vụ cụ thể phải thực hiện của cấp Cục như sau (Phịng Trị giá tính thuế):
a) Kiểm tra công tác quản lý giá tại các Chi cục trực thuộc:
Hàng ngày, phịng Trị giá tính thuế (đối với đơn vị có phịng Trị giá tính thuế) hoặc
phịng Nghiệp vụ (đối với các đơn vị chưa có phịng Trị giá tính thuế) phải tiến hành rà
sốt các dữ liệu giá có trong cơ sở dữ liệu giá do các Chi cục gửi về qua chương trình
GTT22, trong đó ưu tiên kiểm tra trong thời gian sớm nhất những lô hàng thuộc danh mục
quản lý rủi ro do Tổng cục quy định hoặc những mặt hàng trọng điểm do Cục trưởng
quyết định. Việc kiểm tra được thực hiện trên chương trình GTT22 hoặc theo chương trình
kiểm tra do cấp Cục tổ chức, cụ thể: So sánh đối chiếu việc kiểm tra, phân loại và đề xuất
tham vấn đối với các lô hàng nhập khẩu của Chi cục theo cơ sở dữ liệu có sẵn tại thời điểm
kiểm tra. Nếu việc kiểm tra phát hiện các Chi cục thực hiện chưa đúng quy định thì có văn
bản chấn chỉnh và khắc phục ngay, đối với các trường hợp thuộc đối tượng tham vấn
nhưng do Chi cục xác định dấu hiệu nghi ngờ khơng đúng quy định thì phải tổ chức tham
vấn ngay nếu còn thời hạn tham vấn.
- So sánh, đối chiếu việc tham vấn và xác định trị giá của cấp Chi cục đối với các lô
hàng được phân cấp tham vấn và xác định trị giá theo quy định tại khoản 3, khoản 4 mục
II quy trình này. Nếu phát hiện các Chi cục xác định trị giá khơng đúng trình tự, ngun
17
tắc, các phương pháp xác định trị giá và cơ sở dữ liệu giá thì chỉ đạo, hướng dẫn các Chi
cục xác định lại trị giá theo đúng quy định.
- Kiểm tra thời điểm ra quyết định ấn định thuế so với thời điểm ra thông báo xác
định trị giá (đối với trường hợp tham vấn tại Chi cục) và thời điểm nhận được thông báo
xác định trị giá (đối với trường hợp tham vấn tại Cục).
- Kiểm tra việc cập nhật dữ liệu trên chương trình GTT22 tại các Chi cục có đầy
đủ. khơng thơng qua việc đối chiếu số liệu giữa chương trình GTT22 và chương trình số
liệu xuất nhập khẩu.
- Kiểm tra tính đầy đủ, kịp thời, chính xác của các Chi cục trong việc cập nhật các
dữ liệu có sẵn trên hồ sơ hải quan vào cơ sở dữ liệu giá.
b) Xử lý các lô hàng nghi vấn thuộc đối tượng tham vấn do Chi cục chuyển lên.
Phải nhanh chóng triển khai ngay việc tham vấn đối với các lô hàng thuộc đối
tượng tham vấn do Chi cục chuyển lên. Gửi giấy mời tham vấn theo mẫu 3 đính kèm quy
trình (giấy mời giải trình và thực hiện quyền tham vấn trị giá tính thuế) và thực hiện tham
vấn theo đúng hướng dẫn tại khoản 3 mục II quy trình này. Thực hiện lưu trữ đầy đủ hồ sơ
hải quan (bản phôtô) và các tài liệu liên quan đến quá trình tham vấn giá.
c) Xác định trị giá:
Đối với các trường hợp bác bỏ trị giá khai báo, phải xác định trị giá theo đúng trình
tự, nguyên tắc, các phương pháp xác định trị giá và cơ sở dữ liệu giá quy định tại khoản 4
mục II quy trình này, ra thơng báo xác định trị giá theo mẫu 4 đính kèm quy trình (thơng
báo về việc xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu), thông báo để doanh nghiệp biết và
thực hiện, đồng thời gửi ngay Chi cục trực thuộc nơi đăng ký tờ khai để ra quyết định ấn
định thuế theo quy định của Luật quản lý thuế.
d) Thu thập, cập nhật, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu giá
18
Hàng ngày, phải tổ chức thu thập, cập nhật, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu giá,
cụ thể:
- Tổ chức thu thập, cập nhật các nguồn thông tin ngoài hồ sơ nhập khẩu theo đúng
hướng dẫn tại quy chế xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu giá ban hành kèm theo
Quyết định số 1102/QĐ-BTC ngày 21/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
- Cập nhật kết quả kiểm tra trị giá như sau: Đối với các lô hàng do Chi cục kiểm tra
trị giá khai báo, phân loại lô hàng nghi vấn không đúng quy định, hoặc ra quyết định ấn
định thuế chậm so với thông báo xác định trị giá thì cập nhật kết quả chỉ đạo các Chi cục
tại mục "Nhập kết quả kiểm tra trị giá tại cấp Cục" với nội dung: "Yêu cầu Chi cục xác
định lại trị giá hoặc xác định lại dấu hiệu nghi vấn, hoặc ra quyết định ấn định thuế đúng
thời hạn quy định,..."
- Cập nhật kết quả tham vấn như sau: Nếu sau khi tham vấn nhưng khơng bác bỏ
được trị giá khai báo thì cập nhật vào chương trình GTT22 tại chức năng "Nhập kết quả
kiểm tra trị giá tại Cục" với nội dung "chấp nhận trị giá khai báo". Trường hợp bác bỏ
được trị giá khai báo và ra thông báo xác định trị giá thì cập nhật vào chương trình GTT22
tại chức năng "Nhập kết quả kiểm tra trị giá tại Cục" với nội dung "Xác định trị giá theo
thông báo số:.... mức giá là:..... USD/đơn vị tính".
- Cập nhật kết quả giải quyết khiếu nại của cấp Cục theo đúng hướng dẫn của
chương trình GTT22.
- Thực hiện kết xuất dữ liệu, nhận dữ liệu theo hướng dẫn của chương trình
GTT22.
e) Tổng hợp, phân tích cơ sở dữ liệu giá và cung cấp thơng tin hỗ trợ các Chi cục
thực hiện công tác kiểm tra, tham vấn và xác định trị giá.
Hàng ngày, trên cơ sở kết quả kiểm tra trên chương trình GTT22 về công tác kiểm
tra trị giá khai báo, tham vấn và xác định trị giá của các Chi cục, kết hợp với các thông tin
19
thu thập được từ các nguồn khác và tình hình thực tế nhập khẩu tại đơn vị để phân tích và
xử lý như sau:
- Kiến nghị Tổng cục những mặt hàng cần bổ sung hoặc đưa ra khỏi danh mục mặt
hàng quản lý rủi ro về giá trên cơ sở phân tích đánh giá khả năng gian lận thương mại của
từng mặt hàng theo hướng dẫn tại Thông tư số 40/2008/TT-BTC ngày 21/5/2008 của Bộ
Tài chính để Tổng cục xem xét, sửa đổi bổ sung danh mục này phù hợp với tình hình thực
tế theo từng giai đoạn.
- Đề xuất Tổng cục xây dựng bổ sung hoặc sửa đổi mức giá những mặt hàng thuộc
danh mục mặt hàng quản lý rủi ro về giá theo hướng dẫn tại quy chế xây dựng, quản lý, sử
dụng cơ sở dữ liệu giá ban hành kèm theo Quyết định số 1102/QĐ-BTC ngày 21/5/2008
của Bộ trưởng Bộ Tài chính để Tổng cục xem xét, ban hành bổ sung hoặc thay thế những
mức giá không cịn phù hợp.
- Đối với những mặt hàng khơng thuộc danh mục quản lý rủi ro về giá do Tổng cục
Hải quan quy định thì rà sốt những mặt hàng thường xuyên nhập khẩu tại địa phương, có
kim ngạch nhập khẩu lớn, thuế suất cao, có khả năng gian lận thương mại để tiến hành xây
dựng danh mục những mặt hàng trọng điểm cần tập trung quản lý tại địa phương và thực
hiện việc kiểm tra trị giá theo quy định tại Thông tư số 40/2008/TT-BTC ngày 21/5/2008
của Bộ Tài chính, đồng thời báo cáo về Tổng cục để nghiên cứu và bổ sung vào danh mục
quản lý rủi ro.
g) Thực hiện các nhiệm vụ khác
Thực hiện chế độ báo cáo về Tổng cục theo đúng mẫu và thời hạn báo cáo đồng
thời thực hiện các cơng việc khác có liên quan đến công tác giá trong phạm vi cấp Cục.
(Quyết định 1636/QĐ-TCHQ)
20
21
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG, THAM VẤN, XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ TÍNH
THUẾ TẠI CỤC HẢI QUAN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
I. Nguyên tắc và quy trình kiểm tra, tham vấn, xác định trị giá hải quan tại Cục Hải
quan thành phố Hồ Chí Minh (Tại Phịng Trị giá tính thuế):
Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh tn thủ quy trình kiểm tra, xác định giá
tính thuế và thực hiện theo các bước như sau:
- Tiếp nhận các hồ sơ do các Chi cục chuyển về đề nghị tham vấn giá tính thuế.
- Tiến hành tham vấn các trường hợp có nghi vấn. Sau khi tham vấn xong, ra thông
báo kết quả xác định giá tính thuế, chuyển hồ sơ về Chi cục để Chi cục ban hành thông
báo trị giá tính thuế cho doanh nghiệp. Những trường hợp khơng tham vấn Phịng Trị giá
tính thuế cũng thực hiện các bước như sau khi tham vấn
- Những trường hợp nghi vấn mà việc tham vấn khơng có kết quả thì tiến hành
chuyển bộ hồ sơ sang Phịng Kiểm tra sau thơng quan để kiểm tra
Nhiệm vụ cụ thể của từng bộ phận tại Chi cục và Cục Hải quan Thành phố cũng
như nội dung của từng công việc được quy định tại Quyết định số 1636/QĐ-TCHQ ngày
17/8/2009 của Tổng cục Hải quan.
II. Những khó khăn, bất cập trong cơng tác xác định trị giá :
Nhìn chung, cơng tác giá tính thuế tại Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh đã
đạt được một số thành quả, góp phần đáng kể vào việc chống gian lận thương mại qua giá,
hoàn thành chỉ tiêu thu thuế năm 2004 của đơn vị và của ngành Hải quan. Tuy nhiên, qua
một năm thực hiện, công tác này cũng bộc lộ một số hạn chế cần phải khắc phục. Cụ thể:
1. Cơ chế chính sách, luật pháp:
Cơ bản đã chuyển hoá được đầy đủ các nội dung của Hiệp định trị giá WTO vào
pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên vẫn còn những tồn tại, hạn chế :
22
- Khi ban hành hệ thống văn bản quy chính sách về giá tính thuế, chưa khảo sát
thực tế tại địa phương nên chưa chưa lường hết các tình huống xảy ra trong thực tế khi
triển khai thực hiện.
- Chưa cụ thể hoá tại các văn bản pháp quy một số nội dung có tính kỹ thuật cao
như: khoản giảm giá, chiết khấu….
- Các danh mục mặt hàng trong bảng giá kiểm tra chưa sát với tình hình thị trường
có nhiều biến động nhất là đối với một số mặt hàng mang tính khoa học kỹ thuật, thường
xuyên thay đổi.
2. Cơng tác xác định giá tính thuế, kiểm tra giá tính thuế:
2.1. Thực trạng:
Theo Quy trình kiểm tra, tham vấn, xác định trị giá tính thuế đang áp dụng, thì
cơng tác kiểm tra, tham vấn và xác định giá tính thuế hàng nhập khẩu được phân cấp như
sau:
- Cấp Chi cục: Đảm nhiệm, thực hiện toàn bộ việc kiểm tra trị giá khai báo, đánh
dấu nghi vấn, tổ chức tham vấn các trường hợp có nghi ngờ về giá thuộc mặt hàng trong
danh mục trọng điểm do Cục ban hành và các trường hợp nghi vấn về giá khác thì chuyển
Phịng Trị giá tính thuế tham vấn theo phân cấp tham vấn
- Cấp Cục: Phịng Trị giá tính thuế là đơn vị tham mưu giúp Cục trưởng trong việc
tổ chức kiểm tra, chỉ đạo, cung cấp, hỗ trợ thông tin và hướng dẫn các Chi cục thực hiện
công tác kiểm tra, tham vấn và xác định trị giá, tổ chức tham vấn đối với các trường hợp
do Chi cục chuyển đến.
2.2. Đánh giá công tác kiểm tra, tham vấn, xác định trị giá:
2.2.1. Cấp cục (Phịng Trị giá tính thuế)
a./ Kết quả:
* Trong năm 2005:
23
-
Tổng số tờ khai nhận từ các Chi cục do nghi ngờ giá thấp: 8.018 tờ khai
-
Tổng số tờ khai mời tham vấn: 2.700 tờ khai
-
Tổng số tờ khai bác bỏ trị giá giao dịch, điều chỉnh giá theo các phương pháp
khác: 1.684 tờ khai (chiếm 21% số tờ khai Chi cục gửi lên tham vấn và chiếm
62% số tờ khai đã mời tham vấn)
-
Thuế nhập khẩu tăng thu cho ngân sách:
64.193.016.220 đồng
* Trong năm 2006:
-
Tổng số tờ khai nhận từ các Chi cục do nghi ngờ giá thấp: 4.190 tờ khai
-
Tổng số tờ khai mời tham vấn: 1.518 tờ khai
-
Tổng số tờ khai bác bỏ trị giá giao dịch, điều chỉnh giá theo các phương pháp
khác: 956 tờ khai (chiếm 22,8% số tờ khai Chi cục gử1i lên tham vấn và
chiếm 62,9% số tờ khai đã mời tham vấn)
-
Thuế nhập khẩu tăng thu cho ngân sách:
52.218.309.012 đồng
* Trong năm 2007:
-
Tổng số tờ khai nhận từ các Chi cục do nghi ngờ giá thấp: 8.049 tờ khai
-
Tổng số tờ khai đã mời tham vấn: 7.256 tờ khai
-
Tổng số tờ khai bác bỏ trị giá giao dịch, điều chỉnh giá theo các phương pháp
khác: 2.992 tờ khai (chiếm 41% số tờ khai đã mời tham vấn)
-
Thuế nhập khẩu tăng thu cho ngân sách: 145.585.140.290 đồng
* Trong năm 2008 (tính đến 30/11/2008):
-
Tham vấn 9.741 tờ khai
-
Xác định lại trị giá tính thuế 5.265 tờ khai (chiếm 54% số tờ khai
đã mời tham vấn),
-
Tăng thu do xác định lại trị giá tính thuế 258.548.944.955 đồng
-
Chuyển 124 hồ sơ (chiếm 1.27% số tờ khai đã mời tham vấn) sang
Chi cục Kiểm tra sau thông quan để làm rõ những nghi vấn trong
quá trình kiểm tra.
* Trong năm 2009: (quý 3)
-
Tổng số tờ khai nhận từ các Chi cục do nghi ngờ giá thấp: 1.838 tờ khai
24
-
Tổng số tờ khai đã mời tham vấn: 1.439 tờ khai
-
Tổng số tờ khai bác bỏ trị giá giao dịch, điều chỉnh giá theo các phương pháp
khác: 749 tờ khai (chiếm 52% số tờ khai đã mời tham vấn)
-
Thuế nhập khẩu tăng thu cho ngân sách: 32.943.773.027 đồng
Qua kết quả các năm từ 2004 đến quý 3 năm 2009 cho thấy công tác tham vấn đạt
hiệu quả cao hơn so với cấp Chi cục, Số thu của Phòng Trị giá tính thuế các năm chiếm tỷ
lệ trên 60% đến 92% số tăng thu thuế do điều chỉnh giá.
b./ Tồn tại:
- Đội ngũ cán bộ cơng chức của Phịng chưa được đào tạo chuyên sâu, chịu ảnh
hưởng bởi các quy định về quản lý cán bộ, luân chuyển, bố trí cán bộ nên một số cán bộ
được đào tạo phải chuyển công tác khác.
- Công tác kiểm tra, chấn chỉnh các Chi cục chưa được thực hiện thường xuyên,
liên tục nên hiệu quả khơng cao.
- Việc kiểm tra cịn phụ thuộc vào sự chỉ đạo của Tổng cục, chưa chủ động phát
hiện các sai phạm tại Chi cục để hướng dẫn chỉ đạo kịp thời.
- Chưa tổ chức thu thập, cập nhật các nguồn thông tin khác để hỗ trợ các Chi cục
trong công tác kiểm tra trị giá khai báo, tham vấn và xác định trị giá.
c./ Nguyên nhân:
- Thiếu lực lượng cán bộ chuyên sâu về trị giá, am hiểu về trị giá GATT/WTO, có
kinh nghiệm thực tế để kiểm tra, phát hiện các sai sót tại Chi cục.
- Việc thu thập thông tin, dữ liệu giá chưa được tổ chức thường xuyên, chủ yếu chỉ
thu thập thông tin theo sự vụ, giải quyết vụ việc mà không xây dựng quy chế để tổ chức
thu thập thông tin tổng thể cho nhiều lọai mặt hàng, từ nhiều nguồn thông tin khác nhau
trên thị trường nội địa cũng như thông tin trên thị trường thế giới.
3. Công tác tổ chức, đào tạo:
25