Tải bản đầy đủ (.doc) (39 trang)

Sáng kiến kinh nghiệm “phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học ngữ văn”

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.58 MB, 39 trang )

Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

MỤC LỤC
Đề mục
Trang

A. Đặt vấn đề
I. Lý do chọn đề tài.

2
2

II. Mục đích nghiên cứu

3

III. Đối tượng nghiên cứu và khảo sát thực nghiệm

3

IV. Phương pháp nghiên cứu.

3

V. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu

4

B. Nội dung
I. Cơ sở lý luận của vấn đề
1. Thế nào là tích cực, chủ động trong học tập của học sinh ?


2. Những yêu cầu cơ bản đối với giáo viên và học sinh trong dạy
học phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.
II. Cơ sở thực tiễn của vấn đề
III. Các giải pháp đã thực hiện
1. Công tác chuẩn bị
1.1. Chuẩn bị của giáo viên
1.2. Chuẩn bị của học sinh
2. Tổ chức học sinh thảo luận nhóm
3. Tổ chức trò chơi học tập trong giờ học Văn
3.1. Trò chơi « Bình hoa Văn học »
3.2. Trò chơi « Chung sức »
4. Kết luận và đánh giá của giáo viên
IV. Hiệu quả áp dụng của đề tài
C. Kết luận và kiến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo.

4
4
4
4
6
7
7
7
9
12
16
17
20
33

34
34
38

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học là tâm hồn của một dân tộc, bởi văn học đã phản ánh những
1/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

suy nghĩ, tình cảm, thái độ và hiện thực cuộc sống của dân tộc ấy. Việc dạy
học văn chính là bồi dưỡng tâm hồn tình cảm cho con người qua các tác phẩm
văn chương. Qua các tác phẩm này, học sinh được tiếp xúc, được sống với
cuộc đời, với thế giới mà tác giả phản ánh trong tác phẩm.
Việc đón nhận những tình cảm, những suy nghĩ của nhà văn, đón nhận
những cuộc đời mà các em sẽ hòa mình vào để sống cùng nó như thế nào lại
phụ thuộc rất lớn vào việc giảng dạy của giáo viên. Nhưng dạy – học không
phải là hoạt động của riêng giáo viên mà là quá trình hoạt động có sự hợp tác
chủ động của cả học sinh. Để một bài giảng thành công thì không thể thiếu
được sự hợp tác của một trong hai phía (đặc biệt từ phía học sinh). Khi thực
hiện bài giảng, giáo viên phải khơi gợi được tính tích cực, chủ động của các
em để giúp các em lĩnh hội tri thức một cách tự nhiên và nhẹ nhàng, bởi chính
sự hứng thú ấy của các em trong bài học là niềm cảm hứng cho những ý tưởng
sáng tạo.
Một trong những xu hướng dạy học hiện nay là cố gắng biến những nội
dung trừu tượng thành những dấu hiệu trực quan nhằm giúp học sinh dễ hình
dung hơn kiến thức cơ bản của bài học, giảm tải quá trình lĩnh hội kiến thức.
Bộ môn Ngữ văn, với tính chất đặc thù là môn học mang tính hình tượng nghệ

thuật, học sinh nắm được bài thông qua đọc, hiểu và cảm nhận của tâm hồn,
của cảm xúc cá nhân. Vì vậy việc dùng các dấu hiệu trực quan vừa mang tính
cụ thể, vừa là cách để học sinh thị phạm, biến kiến thức khó hiểu, khó nhớ,
khó cảm nhận trở nên dễ dàng, đơn giản hơn. Nội dung bài học không chỉ
được các em nghe qua lời giảng của giáo viên mà còn được tận mắt nhìn, tận
tay làm bằng sự tư duy và sáng tạo của mình.
Trong thực tế, chương trình học ở các trường tuy đã được giảm tải
nhưng vẫn còn khá nặng nề với học sinh. Các em phải chịu nhiều áp lực của
yêu cầu tiếp nhận tri thức từ các môn học khác nhau. Trong môn Văn học,
nhiều lúc học sinh chỉ ngồi nghe giáo viên phân tích, bình giảng, lí luận dễ gây
nhàm chán nên không ít học sinh không có hứng thú học tập, thậm chí chán
học. Các em thích hoặc chạy theo những môn học thời thượng mà ít quan tâm
đến việc học Văn – bồi dưỡng tâm hồn. Thực tế giảng dạy ở các lớp học, tôi
thấy nhiều học sinh không hào hứng học Văn khiến cho giáo viên mất đi sự
hăng hái nhiệt tình trong giảng dạy khi không có sự đón nhận của học sinh.
Những tiết học như thế thực sự là những tiết học “chết”, không có hiệu quả.
Vì vậy để các em yêu thích môn Văn và đặc biệt để phát huy tính tích cực, chủ
động trong học tập là một vấn đề không dễ. Bài giảng của giáo viên thành
công hay không phụ thuộc phần lớn ở thái độ tiếp nhận của học sinh. Vậy vấn
đề đặt ra là chúng ta phải làm sao lôi cuốn được sự hợp tác của các em để các
2/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

em phát huy được tinh thần tích cực chủ động trong học tập.
Từ thực tế trên, tôi xin đưa ra sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính
tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học Ngữ văn” .
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Việc chọn sáng kiến kinh nghiệm “Phát huy tính tích cực, chủ động

của học sinh trong dạy học Ngữ văn” nhằm mục đích thực hiện yêu cầu đổi
mới của ngành Giáo dục: “Phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất của
người học”; góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, chất lượng giáo dục toàn
diện cho học sinh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
XI đã xác định: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục”.
Bên cạnh đó, việc lựa chọn đề tài “Phát huy tính tích cực, chủ động
của học sinh trong dạy học Ngữ văn” để nghiên cứu nhằm mục đích đưa ra
những kinh nghiệm trao đổi với đồng nghiệp cùng chuyên môn khắc phục
lối truyền thụ một chiều, trau dồi năng lực chuyên môn. Rèn luyện tư duy
sáng tạo của người học, đưa ra những giải pháp, từng bước áp dụng
phương pháp tiên tiến, hiện đại vào quá trình dạy học, phát huy tính tự
giác chủ động sáng tạo của học sinh phù hợp hơn với đặc điểm của từng
lớp học, môn học. Đồng thời đem lại cho học sinh những bài học bổ ích, lí
thú, tạo cho các em niềm say mê với môn học và yêu thích văn chương.
Hi vọng, bằng nhiệt huyết của mỗi giáo viên, bằng lòng yêu nghề, tất cả
vì học sinh thân yêu cùng với sự nỗ lực, cố gắng từ phía học sinh chúng ta sẽ
từng bước nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường THCS.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT THỰC
NGHIỆM
- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 8,9
- Đối tượng khảo sát: Môn Ngữ văn 8, 9 THCS
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
- Phương pháp nghiên cứu phân tích tổng hợp tài liệu, tham khảo qua
sách báo và các thông tin có tính thời sự.
- Phương pháp thực hành, thực nghiệm qua những tiết Ngữ văn do bản
thân giảng dạy.
- Phương pháp điều tra qua những tiết dự giờ của bạn bè đồng nghiệp,
điều tra hứng thú và kết quả bộ môn Ngữ văn của học sinh .
V. PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2016 đến tháng 3/2017.

- Kế hoạch nghiên cứu:
+ Củng cố và tổng hợp kiến thức lý luận phương pháp dạy học phát huy
tính chủ động tích cực của học sinh trong dạy học Văn.
+ Tìm hiểu thực trạng của việc dạy và học Ngữ văn trong trường THCS.
3/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

+ Vận dụng vào thực tế giảng dạy.
+ Kết quả sáng kiến kinh nghiệm.

B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
1. Thế nào là tích cực chủ động trong học tập của học sinh?
Theo quan điểm đổi mới phương pháp giáo dục hiện nay học sinh vừa là
đối tượng vừa là chủ thể của hoạt động giáo dục. Từ trước đến nay, nhiều công
trình nghiên cứu giáo dục cho thấy kết quả giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào sự
hoạt động hưởng ứng tích cực, chủ động sáng tạo của từng học sinh cũng như
hoạt động tích cực của tập thể học sinh. Như vậy, tích cực, chủ động trong học
tập của học sinh là người học tích cực tìm ra các các biện pháp tối ưu để vận
dụng vào quá trình học tập. Không chỉ thế, người học phải luôn hứng thú, say
mê học tập, xem học tập là một nhiệm vụ phải hoàn thành.
2. Những yêu cầu cơ bản đối với giáo viên và học sinh trong dạy học
phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.
a. Đối với giáo viên.
Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh là
phương pháp dạy học mới, hiện đại, “lấy học sinh làm trung tâm”, tích cực hoá
hoạt động học tập của học sinh trong mọi mặt, mọi khâu của quá trình dạy
học; tìm mọi cách phát huy năng lực tự học, năng lực nghiên cứu sáng tạo của

học sinh. Tuy nhiên, đây không phải là phương pháp hạ thấp hay giảm nhẹ vai
trò của người giáo viên. Mà ngược lại, giáo viên phải được đào tạo chu đáo để
thích ứng với những nhiệm vụ đa dạng, giáo viên không đơn thuần là người
truyền đạt tri thức mà đã trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt
động độc lập hoặc theo nhóm để học sinh chiếm lĩnh tri thức mới, hình thành
kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình. Trên lớp, học sinh hoạt động là
chính, nhưng trước đó khi soạn bài, giáo viên phải đầu tư nhiều công sức và
thời gian mới có thể thực hiện được tiến trình bài giảng. Giáo viên với vai trò
là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm
tòi, khám phá của học sinh, khiến cho các hoạt động nhóm được hào hứng sôi
nổi. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành
nghề, biết ứng xử tinh tế, biết sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại, có thể
định hướng sự phát triển của học sinh nhưng cũng đảm bảo sự tự do của học
sinh trong các hoạt động.
Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh yêu
cầu có những phương tiện thiết bị dạy học thuận lợi cho học sinh thực hiện các
công tác độc lập hoặc theo nhóm. Hình thức tổ chức lớp học phải dễ dàng thay
4/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

đổi linh hoạt phù hợp với các đối tượng học sinh. Vì thế, người giáo viên cần
có sự suy nghĩ, thiết kế những hoạt động của học sinh trên cơ sở lựa chọn và
sử dụng thiết bị, phương pháp , các hình thức tổ chức dạy học một cách phù
hợp.
Môn Ngữ văn là môn Khoa học xã hội cho nên có những quan niệm,
những cảm nhận mang màu sắc cá nhân… Giáo viên tạo cơ hội cho các em
bày tỏ suy nghĩ của mình thông qua các tiết học, qua nhóm học tập, các em
hợp tác với nhau để trao đổi về vấn đề, cùng hướng tới nhiệm vụ mà thầy cô

đã giao. Nghĩa là các em đang phát huy tính tích cực chủ động của mình trong
học tập. Từ đó, giáo viên định hướng cho các em cách suy nghĩ, cách ứng
xử… để hình thành nhân cách.
b. Đối với học sinh
Trong dạy học phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh, người học
sinh không như trước kia chỉ là người tiếp nhận thông tin một chiều một cách
thụ động mà là người tiếp nhận thông tin một cách chủ động, tự tổ chức, tự
điều khiển quá trình học tập của mình. Dưới sự chỉ đạo của giáo viên, học sinh
phải dần dần có được những phẩm chất, năng lực, thói quen thích ứng với các
phương pháp học tập tích cực như: giác ngộ mục đích học tập, tự nguyện tham
gia các hoạt động học tập, có ý thức trách nhiệm về kết quả học tập của mình
cũng như kết quả chung của cả lớp. Tự biết tranh thủ học ở mọi nơi, mọi lúc,
bằng mọi cách để có những kĩ năng cần thiết.
Tóm lại, Bước sang thế kỉ XXI, phương pháp dạy học tích cực được coi
là nhân tố mới, có vai trò quan trọng trong việc cải thiện và thúc đẩy nhà
trường phát triển, gắn kết nhà trường hòa nhập với những phát triển của khoa
học và công nghệ, tạo nguồn nhân lực với phong cách mới, đem lại lợi ích cho
xã hội hiện đại. Trong phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động
của học sinh, người dạy, người học phải luôn có ý thức tạo ra mối quan hệ hợp
lí giữa dạy, học kiến thức và kĩ năng với việc dạy, học các phương pháp suy
nghĩ và hành động. Hiểu được ý nghĩa trên cùng với việc nắm các đặc trưng
của kĩ thuật dạy học theo phương pháp dạy học hợp tác – tích cực, người giáo
viên đã và sẽ góp một phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo
dục phổ thông.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Từ thực tế dạy – học môn Ngữ văn ở nhà trường nơi tôi đang công tác
và qua quá trình tìm hiểu ở một số trường bạn trên địa bàn tôi nhận thấy:
Nhiều giáo viên mặc dầu đã có ý thức đổi mới phương pháp dạy học
Văn một cách linh hoạt, sáng tạo, vận dụng vào hoạt động dạy – học có hiệu
quả, phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh. Nhưng đa số, việc

thực hiện chỉ mới mang tính chất hình thức, thử nghiệm chứ chưa thực sự đem
5/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

lại hiệu quả như mong muốn. Một số giáo viên vẫn còn thói quen dạy học theo
kiểu truyền thụ kiến thức một chiều: giáo viên giảng giải, học sinh lắng nghe,
ghi nhớ và biết nhắc lại đúng những điều mà giáo viên đã truyền đạt. Giáo
viên chủ động cung cấp kiến thức cho học sinh, áp đặt những kinh nghiệm,
hiểu biết, cách cảm, cách nghĩ của mình tới học sinh theo kiểu “chắt nước vào
chai” mà không chịu “thắp lửa” cho học sinh. Nhiều giáo viên chưa chú trọng
đến việc tiếp thu, vận dụng kiến thức của học sinh cũng như việc chỉ ra cho
học sinh hướng tích cực chủ động để thu nhận kiến thức. Do đó, có những giờ
dạy được giáo viên tiến hành như một giờ diễn thuyết. Điều này cũng do một
phần vì giáo viên sợ “cháy” giáo án bởi giáo viên hỏi nhưng học sinh không
trả lời được hoặc học sinh vẫn phát biểu nhưng chưa ra vấn đề, cho nên giáo
viên làm thay. Một số giáo viên dạy học theo kiểu nhồi nhét kiến thức, không
biết chọn lọc kiến thức trọng tâm để truyền đạt đến học sinh mà dạy dàn trải
không để học sinh trao đổi, trình bày ý kiến của mình. Bên cạnh đó cũng có
giáo viên đã xuất hiện tâm lí chán nản, buông xuôi, không có động lực để trau
dồi chuyên môn, tạo sức ỳ lớn trong tư duy đổi mới, cải tiến phương pháp
giảng dạy. Điều đó tạo tâm lí nhàm chán đối với người học, đôi khi còn khiến
các em trơ lì cảm xúc với văn chương.
Về phía học sinh, thực tế cho thấy vẫn còn những học sinh thích học
Văn, say mê Văn, có những bài viết hay, đầy sức thuyết phục. Tuy nhiên, điều
đáng lo ngại là các em tự bao giờ đã hình thành thói quen thụ động, quen
nghe, quen chép, ghi nhớ và tái hiện lại một cách máy móc, rập khuôn những
gì giáo viên đã giảng mà không có sự sáng tạo. Nhiều học sinh không biết
cách tự học, chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học, lười suy

nghĩ, học theo kiểu đối phó. Chỉ biết suy nghĩ diễn đạt bằng những ý vay
mượn, bằng những lời có sẵn, lẽ ra phải làm chủ tri thức thì lại trở thành nô lệ
của sách vở. Thói quen học tập thụ động, đối phó của học sinh là một rào cản
lớn đối với quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Mặt khác, học sinh thiếu
hứng thú đam mê, chưa có hào hứng và chưa quen bộc lộ những suy nghĩ,
tình cảm của mình trước tập thể, cho nên khi phải nói và viết, học sinh cảm
thấy khó khăn. Điều đó thể hiện ở chỗ khi làm bài học sinh thường thô tục hóa
văn chương, sai kiến thức dẫn đến chất lượng bộ môn giảm sút.
Tóm lại, hoạt động dạy và hoạt động học có tính độc lập tương đối
nhưng là hai mặt của một quá trình, người giáo viên truyền đạt kiến thức, kỹ
năng và hình thành nhân cách; học sinh làm chủ kiến thức kỹ năng theo chuẩn
kiến thức kỹ năng quy định ở các bậc học. Việc đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng phát huy tính chủ dộng, tích cực của học sinh là một giải pháp
quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng dạy học
6/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

môn Ngữ văn trong nhà trường THCS nói riêng.
III. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN
Để “phát huy tính tích, cực chủ động cho học sinh trong dạy học Ngữ
văn” thì giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian cho việc chuẩn bị kiến thức và
cách tổ chức tiết học của cả thầy và trò: thầy soạn giáo án, tư duy các câu hỏi
thảo luận cho phù hợp với từng đối tượng học sinh; trò chuẩn bị câu hỏi và trả
lời các câu hỏi mà thầy đưa ra… Sau hai năm nghiên cứu, từ kinh nghiệm thực
tế của bản thân, tôi xin trình bày một số giải pháp như sau:
- Giáo viên soạn bài theo hệ thống câu hỏi có sự phân loại đối tượng
học sinh phù hợp và hướng dẫn học sinh soạn bài theo câu hỏi.
- Tổ chức khơi gợi cho học sinh ý thức tự tìm ra kiến thức bài học thông

qua những hoạt động của chính mình.
- Tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm với các hình thức giao
nhiệm vụ một cách có hiệu quả.
- Tổ chức trò chơi học tập trong giờ học Văn.
- Có kết luận đánh giá kết quả làm việc của học sinh hợp lí.
Những giải pháp này được thể hiện qua các việc làm cụ thể của tôi như
sau:
1. Công tác chuẩn bị
1.1. Chuẩn bị của giáo viên:
a. Soạn giáo án:
Việc chuẩn bị quan trọng nhất của giáo viên khi lên lớp là soạn giáo án
bởi nó định hướng cho cách lên lớp, tổ chức dạy học. Khi soạn bài, giáo viên
nên chú ý giới thiệu bài mới hay cách tiếp cận bài giảng phải luôn luôn mới,
hay và hấp dẫn học sinh ngay từ tiết học bắt đầu tránh lối mòn quen thuộc
khiến cho học sinh cảm thấy nhàm chán.
Bài soạn có sự đầu tư của giáo viên về cách nêu câu hỏi, phân loại câu
hỏi cho học sinh theo từng đối tượng phù hợp với trình độ nhận thức để kích
thích và lôi cuốn được tất cả các em tham gia vào bài giảng của thầy, chủ
động trình bày ý kiến suy nghĩ của mình.
Ví dụ:
- Với đối tượng học sinh trung bình, yếu sẽ giao cho các em hệ thống
câu hỏi phát hiện, nhận biết.
- Học sinh khá là hệ thống câu hỏi phân tích, đánh giá ở mức độ vừa
phải.
- Học sinh giỏi là hệ thống câu hỏi cảm thụ, bình giảng, nhận xét ở mức
độ cao hơn.
7/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”


Như vậy, khi thực hiện quá trình dạy học giáo viên sẽ giúp học sinh phát
huy tốt tính tích cực, chủ động của mình, tránh đưa câu hỏi khó đối với học
sinh yếu, nếu không các em sẽ chán nản, sợ học.
Bài soạn còn cần có sự đầu tư của giáo viên về cách tổ chức cho học
sinh hoạt động theo nhóm. Nghĩa là giáo viên phải lên được kế hoạch hoạt
động của tiết học cho học sinh. Để tổ chức các nhóm hoạt động có hiệu quả,
giáo viên phải chuẩn bị chu đáo những câu hỏi cho các nhóm trong giáo án để
tránh tình trạng quên hoặc nhầm lẫn nhiệm vụ giữa các nhóm (làm cho việc
phân loại câu hỏi theo đối tượng học sinh không thực hiện được và khiến cho
học sinh có cảm giác phần chuẩn bị bài của mình là không quan trọng). Đã nêu
nhiệm vụ cho các nhóm thì giáo viên phải có khâu kiểm tra đánh giá để gây sự
hứng thú cho các em.
b. Chia nhóm học sinh để thảo luận:
Việc chia nhóm cho học sinh thảo luận cũng có nhiều quan điểm khác
nhau. Có người cho rằng thảo luận nhóm chỉ là hình thức, khiến lớp mất trật
tự. Có người lại thấy việc chia nhóm thì rất nhiều học sinh sẽ ỷ lại bạn bè,
không suy nghĩ, chẳng cần tham gia mà cuối cùng vẫn được điểm hoặc giáo
viên sẽ không quan tâm hết được đến các đối tượng học sinh.
Những quan điểm, ý kiến trên không phải là không chính xác nếu giáo
viên không có sự chuẩn bị kĩ lưỡng trong bài soạn, trong việc hướng dẫn học
sinh chuẩn bị bài và đặc biệt là cách chia nhóm học sinh. Chia nhóm theo tiêu
chí nào thì giáo viên cũng cần quan tâm theo từng mục tiêu của bài học. Cách
chia nhóm không cố định mà linh hoạt theo mục tiêu của từng bài, theo tính
chất của từng câu hỏi.
+ Với hoạt động thảo luận trên lớp, ta có thể thành lập nhóm bằng cách
các em ngồi cùng bàn gần nhau, áp dụng cho những câu hỏi, những tình huống
cần giải quyết nhanh trong khoảng thời gian ngắn 2 - 3 phút (Đây là kiểu nhóm
được dùng nhiều nhất, thích hợp cho việc thực hiện những bài tập trong thời
gian ngắn). Những em ngồi cạnh nhau đã có sự hiểu biết lẫn nhau nên không e

ngại khi nói lên ý kiến riêng của mình (nhưng nếu giáo viên không chú ý các
em sẽ lợi dụng cơ hội này để nói chuyện, ảnh hưởng đến chất lượng công
việc).
+ Với những hoạt động như vẽ tranh minh họa hay biên kịch các chi tiết
tự sự thành tiểu phẩm thì nên thành lập nhóm theo sự ngẫu nhiên, hay nhóm
hỗn hợp hoặc nhóm của các em có cùng sở thích, hoặc theo giới tính, có thể
gần nhà nhau… để các em có môi trường hoạt động luôn mới, có sự thay đổi.
Sự mới lạ hay thân thiện cũng là nguồn cảm hứng cho những cảm nhận và
8/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

sáng tạo văn chương.
Hoạt động nhóm là môi trường thuận lợi để học sinh cùng nhau bàn bạc
những vấn đề ý nghĩa của văn bản đang học. Đây là biện pháp tích cực để giáo
viên khai thác theo những hướng khác nhau trong việc cảm nhận nét đẹp văn
chương của học sinh và phát huy được tính tích cực chủ động trong học tập.
Việc chia nhóm cũng là cơ hội cho giáo viên phát hiện vốn sống, đặc
điểm tâm lí và khả năng tiếp nhận văn chương của từng em theo cách riêng
phù hợp. cho nên việc chia nhóm cũng tùy từng lớp, tùy từng kiểu bài, tùy
từng đối tượng học sinh mà có cách chia cho phù hợp.
Nhìn chung việc dạy học theo nhóm, giáo viên trở thành người hướng
dẫn, tổ chức, giúp các em tự giác, tích cực, chủ động trong học tập.
Sau khi thành lập nhóm thì việc tiếp theo của giáo viên là phải phân
công nhóm trưởng, thư kí … Nhiệm vụ này các thành viên trong nhóm đều lần
lượt phải làm, giúp các em phải cố gắng, có ý thức tập thể.
1.2. Chuẩn bị của học sinh:
a. Chuẩn bị trước tiết học:
* Để chuẩn bị cho hoạt động trước tiết học, ta áp dụng cho những bài có

tính mở đầu cũng là tạo tâm thế hứng thú cho học sinh học tập cho học sinh
với một phần hay một mảng văn học mới như văn học lãng mạn, văn học hiện
thực hay văn học cách mạng … (trong chương trình lớp 8) ta nên giao cho các
nhóm học sinh nhiệm vụ như sau :
- Tìm hiểu thế nào là Văn học hiện thực phê phán?
- Văn học hiện thực phê phán ra đời trong hoàn cảnh nào? Nội dung
chủ yếu của dòng văn học này là gì?
- Tìm đọc những tác phẩm của dòng văn học này: Tắt đèn, Lão Hạc,
Bước đường cùng, Chí Phèo…
Hoặc khi dạy sang các tác phẩm văn học lãng mạn:
- Tìm hiểu khái niệm “lãng mạn”, khái niệm về “Thơ mới”.
- Nội dung phản ánh của Văn học lãng mạn có gì khác với văn học hiện
thực.
- Bút pháp nghệ thuật trong Thơ mới có gì khác với thơ cũ.
- Sưu tầm những tác giả, tác phẩm tiêu biểu của dòng văn học này…
Với những câu hỏi trước tiết học như thế này, giáo viên nên cho học
sinh chuẩn bị trong một thời gian khoảng 1 tuần để các em có thời gian tìm
hiểu, sưu tầm.
Nhiệm vụ của các nhóm trước tiết học là phải tìm hiểu khái niệm về
“Văn học lãng mạn”, các nhóm sẽ cùng trao đổi, thảo luận để tìm ra cách hiểu
9/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

đúng của cụm từ này. Sưu tầm tranh ảnh và các tác phẩm của các tác giả cùng
trào lưu lãng mạn có thể các em còn nhầm lẫn với các nhà văn, nhà thơ thuộc
các trào lưu khác cùng thời như văn học hiện thực phê phán, văn học cách
mạng (nhất là từ khi cải cách sách giáo khoa thì bài “Khái quát về văn học Việt
Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945” không được đưa vào

chương trình, các em càng không hiểu trong giai đoạn này có nhiều trào lưu
văn học cùng song song tồn tại). Nhưng nếu giáo viên chỉ rõ cho các em trong
quá trình thảo luận sẽ làm các em có ấn tượng sâu sắc về vấn đề (đặc biệt là
đối tượng học sinh giỏi).
Trong Văn học lãng mạn có phong trào “Thơ mới” và “Tự lực văn
đoàn”. Để các em làm quen với khái niệm về văn học lãng mạn, Thơ mới ở bài
đầu tiên thì các em sẽ hiểu sâu sắc nội dung chương trình học hơn, sẽ hứng thú
chủ động hơn trong các tiết học tiếp theo, luôn sẵn sàng tâm thế tiếp nhận các
vấn đề mới ở các tiết học sau và kể cả khi chuyển sang các tác phẩm thuộc các
trào lưu văn học khác. Tâm trạng này của các em khiến cho bài giảng của thầy
thành công hơn rất nhiều.
Để trả lời các câu hỏi dạng như trên, giáo viên phải hướng dẫn học sinh
tra cứu tài liệu, sách tham khảo hay qua mạng internet … Có như vậy học sinh
mới hào hứng tham gia. Ví dụ khi tìm hiểu về khái niệm văn học hiện thực phê
phán, học sinh sẽ hiểu “ Văn học hiện thực là phản ánh hiện thực xã hội tức
là phản ánh sự kiện, kinh nghiệm, tư tưởng, tình cảm của con người trong xã
hội”; Văn học hiện thực phê phán (giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945)
là văn học hướng ngòi bút vào hiện thực cuộc sống xã hội Việt Nam: Phơi bày
thực trạng bất công thối nát của xã hội và phản ánh tình cảnh thống khổ của
quần chúng nhân dân bị áp bức. Tuy nhiên các tác giả chưa tìm thấy con
đường đấu tranh để thoát khỏi cuộc sống cực khổ cho các nhân vật của
mình”. Học sinh tìm đọc các tác phẩm sẽ thấy rõ được các vấn đề trên trong
nội dung của mỗi tác phẩm ấy.
Còn với câu hỏi về hoàn cảnh ra đời của dòng văn học này, giáo viên
hướng dẫn học sinh tìm đọc về “Đặc điểm của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ
XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945”, học sinh sẽ thấy rõ sự ra đời song
song tồn tại của 3 trào lưu văn học: Văn học hiện thực phê phán, Văn học lãng
mạn, Văn học cách mạng. Mỗi dòng văn học có nội dung khác nhau và có
khuynh hướng tư tưởng riêng nhưng đều có đóng góp đáng kể và làm phong
phú thêm nền văn học nước nhà.

Như vậy, học sinh đã phần nào định hướng cho tất cả các văn bản thuộc
3 trào lưu văn học trên trong chương trình lớp 8, học sinh sẽ có hứng thú tìm
10/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

hiểu nội dung các văn bản này để thấy được sự khác nhau của các dòng văn
học. Đồng thời các em lại hiểu rất sâu sắc về các tác phẩm văn học Việt Nam
trong thời kì này.
b. Chuẩn bị trong tiết học:
Nếu như cho học sinh thảo luận trước tiết học sẵn sàng một tâm thế tốt
cho việc bắt đầu một bài học mới, một đơn vị kiến thức mới thì việc thảo luận
trong tiết học lại là việc vô cùng quan trọng để phát huy tính tích cực, chủ
động của các em. Làm tốt được vấn đề này các em sẽ có được sự cảm nhận
thật sự sâu sắc về những nét đẹp của văn chương trong mỗi văn bản nghệ thuật
từ đó hình thành nên nhân cách của các em.
Để chuẩn bị cho hoạt động nhóm trong tiết học thì không cần giao
nhiệm vụ trước cho học sinh trong thời gian dài như trên mà chỉ yêu cầu các
em soạn bài trước khi đến lớp như các môn học khác. Nhưng giáo viên lại phải
chuẩn bị kĩ trong giáo án của mình vì đây là phần quan trọng giúp các em nắm
được nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Cho học sinh thảo luận phần nào,
mục nào phải là câu hỏi có tính then chốt của vấn đề, để khi thảo luận xong
cũng là lúc học sinh nắm được điều quan trong nhất của bài học. Ví dụ: Khi
dạy bài thơ “Ông đồ” của nhà thơ Vũ Đình Liên (SGK Ngữ văn 8 –tập II),
ngoài yêu cầu soạn bài theo hệ thống câu hỏi trong SGK, có thể đưa ra hệ
thống câu hỏi để các em hoạt động theo nhóm như sau:
- Ông đồ là ai? Việc vẽ câu đối của ông đồ có ý nghĩa như thế nào đối
với đời sống của nhân dân Việt Nam xưa trong mỗi dịp Tết đến xuân về?
- Hình ảnh ông đồ ở khổ thơ 3,4 có điểm gì khác so với hình ảnh ông đồ

ở khổ thơ 1,2 ? Tại sao lại có sự khác nhau đó?
- “Những người muôn năm cũ” là ai? Nỗi niềm của tác giả được thể
hiện như thế nào qua bài thơ?
- Chỉ rõ tác dụng của biện pháp nghệ thuật được sử dụng và phân tích
cái hay của các câu thơ sau:
+ Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu
+ Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay…
Các em sẽ soạn bài theo hệ thống câu hỏi như vậy, câu nào khó các em sẽ trao
đổi thảo luận trong nhóm nhằm hiểu rõ vấn đề. Khi đến lớp, các em sẽ tích cực
tham gia vào bài giảng của thầy cô một cách chủ động, sáng tạo.
c. Chuẩn bị khi tiết học kết thúc:
* Để chuẩn bị cho hoạt động nhóm khi tiết học đã kết thúc, giáo viên
11/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

cũng phải chuẩn bị kĩ trong giáo án của mình, tránh tình trạng nêu câu hỏi tùy
hứng, lấp chỗ trống khi thời gian tiết học còn thừa, vì đây chính là phần củng
cố kiến thức bài học tạo được ấn tượng sâu đậm của các em về bài học. Đó là
những hoạt động như:
- Vẽ tranh minh họa về những hình ảnh thơ mà em yêu thích.
- Viết lời bình cho bức tranh được minh họa trong văn bản.
- Hình thành các tiểu phẩm cho hoạt động ngoại khóa (Các nhóm tự
biên kịch, diễn xuất theo sự cảm nhận của các thành viên trong nhóm. Sau đó
giáo viên tổ chức thi để chọn ra những tiểu phẩm hay để tham dự trong các tiết
sinh hoạt hoặc hoạt động ngoài giờ lên lớp…)
- Tập ngâm thơ, bình thơ theo khả năng của cá nhân học sinh

- Hát những bài thơ đã được phổ nhạc theo tình cảm cảm xúc của
mình sau khi học xong bài thơ đó (Bài “Mùa xuân nho nhỏ” – Thanh Hải,
“Viếng lăng Bác” – Viễn Phương – SGK Ngữ văn 9- Tập II)
- Tổ chức các trò chơi Văn học.
Có được những hoạt động như vậy, những cảm nhận của các em về các
tác phẩm văn chương sẽ rất sâu đậm trong kí ức của các em. Hơn nữa, các em
sẽ phát huy tối đa tính tích cực, chủ động của mình trong mỗi bài học; các em
cũng sẽ tự tin hơn, sẽ gắn bó với nhau hơn trong các hoạt động. Đó cũng là
nhân tố quan trọng khiến các em có hứng thú khi đến lớp (yêu trường, yêu lớp,
quí mến thầy cô, có tâm thế tốt khi bước vào các tiết học).
2. Tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm.
Sau khi chuẩn bị giáo án chu đáo, chia nhóm phù hợp với mục tiêu bài
học và đối tượng học sinh thì công việc tiếp theo là cách tổ chức cho học sinh
thảo luận.
Để cuộc thảo luận có hiệu quả tốt giáo viên không thể không chú ý tới
cách sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh. Những câu hỏi thảo luận nhanh trong giờ
thì ta thành lập nhóm nhỏ : bàn trước bàn sau quay lại với nhau (từ 4 - 8 em),
với hình thức nhóm này ta không cần sắp xếp lại chỗ ngồi. Nhưng có những
bài nhiều vấn đề cần trao đổi trong nhóm lớn thì ta có thể xếp lại chỗ ngồi cho
học sinh theo bàn tròn hoặc chữ U…Nếu vấn đề thảo luận cần thành lập nhóm
theo sự ngẫu nhiên, hay nhóm hỗn hợp hoặc nhóm của các em có cùng sở
thích, hoặc theo giới tính… thì giáo viên phải có sự phân công từ trước để khi
vào vấn đề thảo luận các em cứ thế hợp vào thành nhóm và trao đổi luôn
(tránh tình trạng nhốn nháo, mất thời gian). Môn Ngữ văn có những bài tập
yêu cầu học sinh trình bày quan điểm ý kiến riêng về vấn đề được bàn, nếu các
em có năng lực cảm nhận nhưng không mạnh dạn, e dè, ngại nói trước bạn bè
12/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”


dẫn đến tình trạng tự hạn chế khả năng trình bày miệng của mình thì giáo viên
cần động viên,giúp đỡ các em vượt qua chính mình, không sợ sai, sợ thiếu,
hòa nhập với không khí chung để bộc lộ ý kiến của mình, tạo nên sự tranh cãi
gây hứng thú cho các em. Lúc này giáo viên như một trọng tài, vừa tìm ra
những ý kiến hay sát hợp với bài học, vừa động viên hướng dẫn gợi mở cho
các em trao đổi vào trọng tâm vấn đề của bài học.
Đối với những câu hỏi cần phải giải quyết đầu tiết học (những câu hỏi
mà học sinh chuẩn bị trước 1 tuần), giáo viên nên cho các nhóm cử nhóm
trưởng trình bày sự hiểu biết của cả nhóm về vấn đề. Sau khi các nhóm trình
bày hết, giáo viên để cho các em nhận xét, đánh giá ý kiến của nhau rồi đưa ra
kết luận cuối cùng về kết quả làm việc của từng nhóm. Sau đó cụ thể hóa các
vấn đề trong bài học mới.
Nếu là câu hỏi sưu tầm văn thơ hoặc chân dung các tác giả văn học cùng
thời nên cho các nhóm dán vào bảng phụ treo sẵn trên tường, các nhóm có
những nhận xét, đánh giá trước khi thầy cô vào lớp để khi tiết học bắt đầu các
em cùng thầy cô có những nhận xét cuối cùng về kết quả làm việc của các
nhóm.Ví dụ : Ở bài “Ông đồ”, sau khi tìm hiểu bức tranh rất đẹp về hình ảnh
ông đồ ngồi viết câu đối Tết giữa sắc hoa đào ngày xuân, giữa cái tươi mới rực
rỡ của mực tàu, giấy đỏ, giữa những lời khen tấm tắc của sự ngưỡng mộ cùng
không khí ấm áp của mùa xuân, nhiều học sinh đang say sưa với những nét
đẹp của bức tranh thì ít em nhận ra hình ảnh đẹp ấy chỉ là cách khơi gợi cảm
xúc cho những hình ảnh tiếp theo của bài thơ mà thôi (bức tranh càng đẹp bao
nhiêu thì tình cảnh của ông đồ càng thảm thương bấy nhiêu). Cho nên yêu cầu
các nhóm thảo luận câu: Nhưng ngay trong bức tranh ông đồ tươi sáng rực rỡ
ấy đã có nét biểu hiện của sự suy tàn đang đến, hãy tìm những chi tiết ấy? để
các em cùng nhau tìm ra chi tiết có tính chất then chốt của bài học, là cơ sở
dẫn dắt các em đến với những mục tiếp theo của bài học, giúp cho bài học liền
mạch và lô gic.
Hoặc trong văn bản “ Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải ( SGK Ngữ

văn 9 - Tập II), sau khi tìm hiểu bức tranh xuân tươi đẹp, tràn đầy sức sống
của thiên nhiên đất trời, của đất nước cách mạng, giáo viên sẽ dẫn dắt bằng
những câu hỏi thảo luận để hướng dẫn học sinh phân tích và cảm nhận được
vấn đề chính của tác phẩm:
- Từ cảm xúc ngây ngất trước vẻ đẹp mùa xuân của thiên nhiên đất
trời, của đất nước cách mạng nhà thơ có ước nguyện gì ?
- Em có nhận xét gì về ước nguyện đó của nhà thơ ?
+ Tại sao nhà thơ lại muốn làm con chim hót, một cành hoa, một nốt
13/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

nhạc trầm? (Đó là hình ảnh đẹp, tự nhiên của thiên nhiên) => Ước nguyện
thật đẹp và tự nhiên.
+ Tại sao nhà thơ lại muốn làm nốt nhạc trầm xao xuyến? (Nhà thơ
không muốn là nốt nhạc cao để vượt lên, để khẳng định mình mà chỉ là một
nốt trầm khiêm tốn nhưng lại không thể thiếu được trong một bản hòa ca và
chính nốt trầm ấy lại làm lòng người xao xuyến => Ước nguyện thật khiêm
tốn nhưng lại phải là những gì tinh túy có ích cho cuộc đời… Đó là hình ảnh
“mùa xuân nho nhỏ”- mùa xuân trong lòng người, thể hiện chủ đề tư tưởng
của bài thơ.
Hoặc trong bài “Ngắm trăng” – Hồ Chí Minh ( Trích “ Nhật kí trong
tù”), ta có thể đưa ra các câu hỏi thảo luận nhanh khoảng 3 – 4 phút như sau :
- Hoàn cảnh ngắm trăng của Bác Hồ có khác gì so với người xưa?
Cảm xúc của Bác về vẻ đẹp của thiên nhiên có thua kém người xưa không ?
- Nghệ thuật đối trong 2 câu thơ của bản phiên âm có tác dụng gì ?(thể
hiện sự gắn bó quấn quýt giữa người tù với vầng trăng tự do…)
- Tại sao nói bài thơ là cuộc vượt ngục tinh thần ngoạn mục của người
tù cách mạng ?

- Hãy chứng minh rằng : Bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa chất tình
của người nghệ sĩ và tinh thần thép của người chiến sĩ ?...
Với hoạt động thảo luận trong khoảng thời gian như vậy, các em sẽ cùng
nhau hội ý để tìm ra nội dung nghệ thuật của văn bản một cách chủ động mà
không hề có sự áp đặt, gò bó của giáo viên.
Trong quá trình thảo luận, các em thư kí phải ghi chép vắn tắt những ý
kiến cơ bản của các bạn trong nhóm vào giấy hoặc bảng phụ, sau thời gian ấn
định các em sẽ trình bày kết quả thảo luận của nhóm hoặc treo bảng phụ để
các nhóm so sánh, nhận xét kết quả, với nhóm bạn. Giáo viên cần chú ý khi
gọi các nhóm trình bày có thể gọi bất kì một thành viên nào trong nhóm mà
không nhất thiết là nhóm trưởng hay thư kí, có như vậy các em mới chủ động,
tích cực tham gia vào hoạt động nhóm của mình. Sau đó thầy cô mới đưa ra
đáp án và mỗi em sẽ rút ra những kết luận cần thiết cho bài học của mình.
Trong mỗi bài giảng về tác phẩm văn chương, những câu hỏi thảo luận
như vậy không mất nhiều thời gian, song lại thu hút được sự quan tâm của hâu
hết các em và được các em hào hứng tham gia sôi nổi, chứng tỏ ta đã phát huy
được tinh tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học. Các em tiếp nhận
kiến thức hoàn toàn chủ động bằng chính tư duy và hoạt động của mình, hơn
nữa ở các em lại có sự học hỏi lẫn nhau, dám thể hiện, trình bày suy nghĩ của
mình khi thầy cô yêu cầu.
14/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

Khi kết thúc tiết học, một lần nữa các em lại cùng nhau củng cố kiến
thức bằng sự trao đổi, thảo luận để cùng thể hiện những hình ảnh mà các em
cảm nhận được sau mỗi bài học như vẽ tranh minh họa, ca hát, ngâm thơ, bình
thơ… Điều này cũng chính là sự tích hợp giữa môn Ngữ văn với môn Mĩ
thuật, Âm nhạc… Các em đã được học vẽ, đã hiểu được ý nghĩa của các mảng

màu sáng - tối, bố cục của một bức tranh, gam màu chủ đạo của tranh… Sau
mỗi bài giảng Ngữ văn, tôi yêu cầu từng nhóm vẽ những bức tranh minh họa
cho tác phẩm (nêu tác phẩm đã có tranh minh họa thì vẽ những cảnh khác và
so sánh hiệu quả nghệ thuật của bức tranh em vẽ với bức tranh trong SGK). Và
kết quả thật bất ngờ: Các em cùng nhau thảo luận về việc sắp xếp bố cục, hình
ảnh trọng tâm, hình ảnh phụ họa và đặc biệt sôi nổi là cách chọn màu sắc cho
bức tranh của nhóm mình. Có những em thường ngày học rất yếu, lười học,
không ghi chép bài thì lại rất sôi nổi tích cực trong việc vẽ tranh, thậm chí có
em vẽ rất đẹp thể hiện rõ chủ đề của tác phẩm đã học. Ví dụ: Văn bản “Ông
đồ”, có 3 bức tranh cho các em thể hiện:
+ Bức tranh đầu tiên phải thể hiện được sự rực rỡ bởi sắc màu tươi sáng,
đậm nét, hình ảnh ông đồ là trung tâm của cảnh, ngồi viết câu đối trong sắc đỏ
của giấy, sắc đen nhánh của mực tàu, sắc hồng tươi của hoa đào và vây quanh
ông là những người thuê viết với những nét mặt rạng rỡ, ngưỡng mộ.
+ Bức tranh thứ hai thì màu sắc nhạt nhòa hơn bởi có mưa giăng, lá
rụng, giấy phai màu vây phủ quanh ông đồ. Trên hè phố chỉ có một mình ông
đồ ngồi lặng lẽ, đơn côi khi dòng người vẫn tấp nập trên đường nhưng chẳng
ai thèm để ý đến sự có mặt của ông.
+ Đến bức tranh thứ ba thì hình ảnh ông đồ - nhân vật trung tâm lại mất
hẳn, khiến bức tranh bị trống vắng, bức tranh chỉ còn lại duy nhất hình ảnh lặp
lại, đó là hoa đào.
Hoặc trong văn bản “Cảnh ngày xuân” – trích “Truyện Kiều” – Nguyễn
Du (SGK Ngữ văn 9 –TậpII), chỉ với 4 câu thơ đầu các em đã phác họa ra bức
tranh xuân đẹp đẽ, tinh khôi theo cách riêng của mình:
+ Đó là hình ảnh một đồng cỏ xanh tươi trải dài đến tận chân trời với
màu chủ đạo là màu xanh non của cỏ, bên cạnh đó là màu xanh của bầu trời.
Một cành hoa lê điểm xuyết chỉ một vài bông hoa lê trắng nhưng lại nổi bật
trên nền cỏ xanh non. Trên bầu trời, phía xa xa một đàn én đang tung cánh
bay… chỉ với những gam màu xanh – trắng đơn giản nhưng các em đã thể
hiện một bức tranh xuân thật sống động có hồn từ sự cảm nhân thật tự nhiên

qua bức họa bằng ngôn ngữ của đại thi hào Nguyễn Du.
+ Hoặc có nhóm lại chọn thể hiện bức tranh qua 6 câu thơ cuối: Một
15/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

dòng suối nhỏ uốn lượn quanh co, một cây cầu bắc ngang cuối dòng, hai thiếu
nữ quần áo thướt tha đang bước đi ngập ngừng, thơ thẩn dưới ánh tà dương
như đang luyến tiếc điều gì…
Có thể những nét vẽ còn ngây thơ, chưa sắc nét nhưng rất sáng tạo đó
chính là sự cảm hiểu của các em từ bức họa ngôn ngữ để thể hiện ra bằng hình
ảnh, bằng cảm nhận của tâm hồn. Để hoàn thành một bức tranh như vậy các
em cần thời gian khoảng 1 tuần (nhưng có em nhờ năng khiếu hội họa có thể
hoàn thành bức tranh ngay tiết học sau đó).
Những bức tranh của các em nên được thầy cô thu vào thời gian thích
hợp (có thể vào các tiết bổ trợ), để cho các nhóm nhận xét lẫn nhau và thể hiện
lời bình cho bức tranh của mình thêm sâu sắc. Việc bình tranh như vậy cũng
có tác dụng củng cố bài học rất hiệu quả tạo cho các em có ấn tượng sâu sắc
về bài học. Việc cuối cùng là thầy cô kết luận, đánh giá công bằng và cho điểm
các nhóm .
3. Tổ chức trò chơi học tập trong giờ học Văn.
Có thể nói tổ chức các hoạt động “vui chơi” trong học tập là một trong
những biện pháp sẽ tạo cho các em sự hứng thú mong đợi đến giờ học, từ đó
các em yêu thích môn học và thích khám phá hơn. Vì vậy các em học tốt hơn,
giờ học có chất lượng hơn. Tuy nhiên giáo viên cần lưu ý sau cái vui phải là
bài học, học sinh phải nhận thức được bài học thể hiện trong trò chơi.
Tổ chức trò chơi trong giờ học phải qua hai bước:
Bước 1: Tổ chức trò chơi để học sinh củng cố kiến thức bài học, thành
thạo với các kỹ năng.

Bước 2: Rút ra bài học để các em nhận thức rõ bài học từ trò chơi.
Tuỳ theo nội dung từng bài mà giáo viên có thể thiết kế những trò chơi
một cách sáng tạo. Các trò chơi sẽ vì thế mà vô cùng phong phú, đa dạng.
Đồng thời người giáo viên phải căn cứ vào nội dung kiến thức, trình độ của
học sinh và điều kiện, hoàn cảnh để lựa chọn trò chơi vào dạy học môn Ngữ
văn lớp 8, 9 cho phù hợp.
Việc chuẩn bị và tiến hành trò chơi cụ thể như sau:
- Mục đích: Nhằm củng cố kiến thức, kỹ năng cụ thể gì và vào lúc nào?
- Giáo viên cần chuẩn bị đồ dùng và phương tiện cần thiết, có thể cho
học sinh chuẩn bị những đồ dùng tự làm.
- Cách tiến hành:
Trước khi chơi giáo viên cần phổ biến rõ:
+ Tên trò chơi
+ Cách chơi: Giáo viên giải thích cách chơi, trong đó giáo viên cần nêu
16/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

rõ nhữnh ai chơi trực tiếp, ai là cổ động viên, ai là người đánh giá (người đánh
giá có thể là giáo viên và các bạn trong nhóm, các bạn ở nhóm khác)
+ Thời gian và luật chơi: Giáo viên cần nói rõ luật chơi và thời gian chơi
trong bao lâu.
Kết thúc trò chơi, giáo viên cần nhận xét kết quả của trò chơi . Có thể
thưởng người thắng hoặc phạt người thua nhưng cần lưu ý tránh cho học sinh
cảm thấy tiêu cực khi tham gia trò chơi, nhận xét thái độ của người tham gia
và rút kinh nghiệm. Giáo viên cần hỏi xem học sinh đã học được gì qua trò
chơi hoặc tổng kết được những gì qua trò chơi.
Có thể nói, tổ chức trò chơi học tập là một trong những hình thức tổ
chức dạy học có ý nghĩa quan trọng, góp phần vào việc đổi mới phương pháp

giảng dạy môn ngữ văn ở trường THCS nói chung, nhằm phát huy tính tích
cực, chủ động, độc lập và sáng tạo của học sinh.
Sau đây tôi xin giới thiệu một số trò chơi mà tôi đã vận dụng trong
những tiết giảng của mình khi dạy học Ngữ văn 8,9 nhằm phát huy tính chủ
động, tích cực của học sinh:
3.1. Trò chơi “ Bình hoa văn học”
a. Mô tả trò chơi:
Để thực hiện được trò chơi này, giáo viên cần chuẩn bị hai bảng nhóm
và những bông hoa màu xanh và đỏ có thể dán dược lên bảng. Trên bảng giáo
viên vẽ phác hoạ 4 lọ hoa to (để lại một khoảng trống để học sinh dán hoa vào
bình).
Giáo viên tổ chức lớp thành hai đội chơi và một trưởng trò (Trưởng trò
có thể là giáo viên hoặc là học sinh). Trò chơi này rất thích hợp cho các dạng
bài tập chọn đáp án đúng – sai. Người trưởng trò sẽ đọc to câu hỏi. Các đội
chơi phải tập trung lắng nghe câu hỏi để nhanh chóng đưa ra câu trả lời. Mỗi
thành viên chơi chỉ được dán một lần, sau khi dán xong quay về xếp vào cuối
hàng, nếu còn câu hỏi thì sẽ được dán tiếp lần hai. Nếu là câu đúng phải nhanh
tay dán bông hoa màu đỏ lên bình hoa đúng, câu sai thì sẽ dán bông hoa màu
xanh lên bình hoa sai. Đội nào nhanh thì được quyền dán hoa. Đội chậm hơn
sẽ không được dán hoa. Cứ như vậy cho đến khi kết thúc trò chơi, đội nào có
nhiều số hoa đúng theo yêu cầu của bài tập trong bình là đội chiến thắng.
Ban giám khảo cho trò chơi này là giáo viên và học sinh cả lớp.

17/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

(Hình ảnh minh hoạ trò chơi “Bình hoa văn học”
b. Ví dụ minh hoạ:

Khi dạy tiết 97: “ Nước Đại Việt ta” của Nguyễn Trãi. Sau khi hướng
dẫn học sinh tìm hiểu văn bản xong, Giáo viên có thể vận dụng trò chơi “Bình
hoa văn học” để củng cố lại kiến thức toàn bài cho học sinh.
Trò chơi được tiến hành với những câu hỏi chọn đáp án Đúng – Sai, cụ
thể như sau:
Câu 1: “ Nước Đại việt ta” được sáng tác trong thời kì chống giặc Mông
– Nguyên.
Câu 2: Văn bản được trích trong “Bình Ngô đại cáo”
Câu 3: Văn bản được sáng tác theo thể Hịch.
Câu 4: Cốt lõi tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi trong văn bản là
“ yên dân”, “trừ bạo”, làm cho nhân dân được yên ổn, ấm no.
Câu 5: Nhân nghĩa theo Nguyễn Trãi là tìm người tài giúp nước.
Câu 6: Nguyễn Trãi đã khẳng định độc lập chủ quyền của dân tộc ta
trong văn bản bằng 3 yếu tố.
Câu 7: Nguyễn Trãi đã khẳng định độc lập chủ quyền của dân tộc ta
trong văn bản bằng 5 yếu tố.
18/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

Câu 8: Nước Đại việt ta là bản tuyên ngôn mở nước lần thứ 3 của dân tộc
ta.
Đáp án:
Câu 1:
Sai
Câu 5: Sai
Câu 2:
Đúng
Câu 6: Sai

Câu 3:
Sai
Câu 7: Đúng
Câu 4:
Đúng
Câu 8: Sai
Sau khi các đội chơi dán hoa xong, giáo viên có thể hỏi các thành viên
trong đội hoặc hỏi khán giả xem tại sao câu hỏi đó lại là hoa màu xanh.

( Hình ảnh minh hoạ- Đội chiến thắng- trò chơi “Bình hoa văn học”)
c. Một bài học có thể áp dụng trò chơi “Bình hoa văn học”:
- Lớp 8:
Tiết: 17. Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội (Bài tập 1,4)
Tiết: 23. Trợ từ, thán từ ( Bài tập 1)
Tiết: 27. Tình thái từ ( Bài tập 1)
Tiết: 40. Nói giảm nói tránh ( Bài tập 2)
Tiết: 85: Ngắm trăng, Đi đường
Tiết: 93,94: Hich tướng sĩ.
Tiết: 97. Nước Đại Việt ta.
- Lớp 9:
Tiết 1,2: Phong cách Hồ Chí Minh
19/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

Tiết 16,17: Chuyện người con gái Nam Xương.
Tiết 54,55: Đoàn thuyền đánh cá.
Tiết 70,71: Lặng lẽ SaPa
Tiết: 123,124: Nói với con


3.2. Trò chơi “Chung sức”
a. Mô tả trò chơi
Trò chơi diễn ra giữa hai đội, mỗi đội có khoảng 3 – 5 thành viên (tuỳ
theo số lượng câu hỏi của bài tập). Các thành viên trong nhóm vừa phải hoàn
thành phần chơi của mình lại vừa phải hợp sức để tạo nên chiến thắng của cả
đội chơi.
Cho học sinh thảo luận nhóm trong thời gian là 1 phút để định hướng
trước câu trả lời.
- Giáo viên chia bảng lớp làm 2 phần (mỗi phần là của một đội).
- Cho hai đội xếp thành hai hàng dọc, chơi dưới hình thức tiếp sức, khi
nghe tín hiệu bắt đàu trò chơi bạn đầu hàng sẽ lên viết trước. Học sinh thứ nhất
viết xong chuyền bút cho bạn đứng sau. Cứ lần lượt như vậy cho đến khi kết
thúc trò chơi.
- Thời gian chơi là 3 - 5 phút, đội nào có nhiều câu hỏi đúng và nhanh
hơn là đội thắng cuộc.
- Học sinh các nhóm còn lại vừa là cổ động viên vừa là ban giám khảo lại
vừa phải đối chiếu kết quả bài của mình.
Để tạo không khí tươi vui cho giờ học văn, giáo viên đặt tên cho từng đội
chơi theo tên của các tác giả trong chương trình.

(Hình ảnh minh hoạ trò chơi “ Chung sức” )
b. Ví dụ minh hoạ
20/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

Tiết: 67. Hành động nói - Bài tập 2. Chỉ ra các hành động nói và mục
đích của mỗi hành động nói trong những đoạn trích sau:

Phần a:
- Tiếng chó sủa vang các xóm.
- Bà lão láng giềng lại lật đật chạy sang:
- Bác trai đã khá rồi chứ? (1)
- Cảm ơn cụ, nhà cháu đã tỉnh táo như thường. Nhưng xem ý hãy còn lè
bề lệt bệt lắm.(2)
- Này, bảo bác ấy có trốn đi đậu thì trốn. Chứ cứ nằm đấy, chốc nữa họ
vào thúc sưu, không có họ lại đánh trói thì khổ. Người ốm rề rề như thế,
nếu lại phải một trận đòn, nuôi mấy tháng nữa cho hoàn hồn.(3)
- Vâng, cháu cũng đã nghĩ như cụ. Nhưng để cháo nguội, cháu cho nhà
cháu ăn lấy vài húp cái đã. Nhịn suông từ sáng hôm qua tới giờ còn gì.
(4)
- Thế thì phải giục ănh ấy ăn mau lên đi, kẻo nữa người ta sắp kéo vào
rồi đấy! (5)
Rồi bà lão lật đật trở về với vẻ mặt băn khoăn.
( Ngô Tất Tố - Tắt đèn)
Phần b.
- Lê Thận nâng gươm lên ngang đầu nói với Lê Lợi:
- Đây là trời có ý phó thác cho minh công làm việc lớn(1). Chúng tôi
nguyện đem xương thịt của mình theo minh công, cùng với thanh gươm
thần này để báo đền tổ quốc! (2)
( Sự tích Hồ Gươm)
Phần c.
- Hôm sau Lão Hạc sang nhà tôi. Vừa thấy tôi. Lão báo ngay:
- Cậu vàng đi đời rồi ông giáo ạ! (1)
- Cụ bán rồi?(2)
- Bán rồi! Họ vừa bắt xong. ..(3)
- Thế nó cho bắt à?(4)
Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước
mắt chảy ra. Cài đầu lão ngoẹo vè một bên và cái miệng móm mém của lão

mếu như con nít. Lão hu hu khóc…
- Khốn nạn … Ông giáo ơi!...Nó có biết gì đâu! Nó thấy tôi gọi thì chạy
nhay về, vẫy đuôi mừng. Tôi cho nó ăn cơm. Nó đang ăn thì thằng Mục
nấp trong nhà, ngay đằng sau nó, tóm lấy hai cẳng sau nó dốc ngược
lên.(5)
21/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

( Nam Cao – Lão Hạc)
Trước hết giáo viên cho học sinh đọc yêu cầu của bài. Để tạo diều kiện
thuận lợi khi chơi, rút gọn được thời gian, giáo viên có thể trình chiếu bằng
slide, hoặc dùng bảng phụ đưa nội dung các đoạn trích lên để tất cả học sinh
tập trung quan sát. ( Giáo viên cho học sinh đánh số thứ tự từng hành động nói
để phần chơi các em không phải chép lại đề bài)
Sau khi học sinh đọc thông tin của bài tập giáo viên nêu tên trò chơi và
phổ biến luật chơi rồi tổ chức cho các em chơi trò chơi.
Đáp án tham khảo:
Phần a.
Hành động nói
Mục đích
1 - Hỏi
Thăm hỏi
2 - Trình bày
Thông báo
3 - Điều khiển
Cầu khiến
4 - Trình bày
Thuyết phục

5 - Trình bày
Tỏ sự đồng ý
6 - Trình bày
Giải thích
7 - Điều khiển
Khuyên, giục
Phần b.
Hành động nói
1 - Nêu ý kiến
2 - Hứa hẹn

Mục đích
Tỏ rõ “ Trời thuận ý người”
Thề nguyền, tỏ sự quyết tâm

Phần c.
Hành động nói

Mục đích
1 - Báo tin
Tìm sự cảm thông, giải toả day dứt…
2 - Hỏi
Xác nhận một sự thật “ Cụ bán rồi”
3 - Hỏi
Ngạc nhiên
4 - Bộc lộ cảm xúc
Dãy bài sự day dứt, dày vò…
5 - Kể
Giải toả sự đau đớn, dằn vặt của Lão
Hạc vì đã lừa một con chó

c. Một số bài học có thể áp dụng trò chơi:
Trò chơi này thích hợp với các dạng bài tập phát hiện, hoặc tìm từ, đặt
câu… Trong chương trình Ngữ văn 8, một số bài có thể áp dụng trò chơi này
là:
Tiết: 43 Câu ghép ( Bài tập 1,2)
Tiết: 50. Dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm ( Bài tập 1,2)
Tiết: 53. Dấu ngoặc kép ( Bài tập 1)
Tiết: 79. Câu nghi vấn ( tiết 2) ( Bài tập 1,2)
22/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

Tiết: 82. Câu cầu khiến ( Bài tập 2)
Tiết: 95. Hành động nói ( tiết 1) ( Bài tập 1)…
Như vậy, vẫn nhằm mục đích giúp học sinh hoàn thiện bài nhưng khi
tổ chức trò chơi như trên, người giáo viên đã phát huy được tính tích cực, chủ
động của học sinh bởi học sinh được hoạt động nhiều hơn: vừa được nói, vừa
được viết, vừa được cổ vũ reo hò, vừa được nhận xét, đánh giá. Từ đó đó tạo
được niềm hứng thú, say mê học tập bộ môn ở các em.
Ngoài các trò chơi trên, trong các giờ học giáo viên có thể áp dụng một
số trò chơi khác như: Ai nhanh hơn ?, Đối mặt, Cùng làm nhà văn, Ô cửa bí
mật … Trong phạm vi một sáng kiến kinh nghiệm có nhiều giới hạn, tôi chỉ
xin đưa ra hai hình thức tổ chức hoạt động vui chơi trong giờ học Ngữ văn
nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh như trên để đồng nghiệp
cùng tham khảo và áp dụng.
Với những giải pháp nêu trên, tôi đã vận dụng vào quá trình dạy học ở
nhà trường nơi tôi đang công và thấy rất rõ hiệu quả của nó. Dưới đây tôi xin
minh họa bằng một giáo án cụ thể. Đây là một bài thơ mở đầu cho phần văn
học lãng mạn Việt Nam giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám

1945 (trong SGK Ngữ văn 8 – Tập 2):

Tiết 65: ÔNG ĐỒ
- Vũ Đình Liên A. MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1. Về kiến thức:
Giúp học sinh nắm được:
- Sự đổi thay trong đời sống xã hội và sự tiếc nuối của nhà thơ đối với
những giá trị văn hoá cổ truyền của dân tộc đang dần bị mai một.
- Lối viết bình dị mà gợi cảm của nhà thơ trong bài thơ.
2. Kỹ năng :
- Đọc, hiểu, phân tích một văn bản thơ (Biểu cảm).
- Biết vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết một vấn đề. Tích hợp
với tập làm văn…
- Rèn kĩ năng cảm thụ phân tích bài thơ..
3. Thái độ :
- Học sinh hiện nay kiến thức về lịch sử rất mờ nhạt, còn học môn
23/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

Văn thì cảm xúc khô khan, qua việc dạy học của dự án thì học sinh sẽ dần thay
đổi quan điểm, thấy hứng thú, yêu thích môn Văn và môn Lịch sử hơn.
- Có ý thức giữ gìn và phát huy những nét văn hóa cổ truyền của dân tộc
- Cẩn thận, trung thực, hợp tác trong các hoạt động.
B. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH:
- GV: SGK, SGV và các tài liệu khác, câu hỏi chuẩn bị cho các nhóm
(yêu cầu chuẩn bị trước 1 tuần)
1. Tìm hiểu nghĩa của các từ Hán Việt sau: Lãng mạn- và khái niệm Lãng
mạn trong văn chương, , khái niệm về “Thơ mới”

2. Nội dung phản ánh của Văn học lãng mạn có gì khác với văn học hiện
thực.
3. Bút pháp nghệ thuật trong Thơ mới có gì khác với thơ cũ.
4. Sưu tầm những tác giả, tác phẩm tiêu biểu của dòng văn học này.
- HS: Chuẩn bị theo hướng dẫn.
C. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC
1. Ổn định tổ chức.
2. Kiểm tra sự chuẩn bị của các nhóm
(Yêu cầu các nhóm trưởng trình bày ngắn gọn kết quả sưu tầm, thảo
luận của nhóm mình).
* Nhóm 1: Thế nào là “lãng mạn”, “Văn học lãng mạn”? Nội dung
phản ánh của “Văn học lãng mạn” có gì khác với “Văn học hiện thực ?
* Nhóm 2: Em hiểu “Thơ mới” là gì? Bút pháp nghệ thuật trong ‘Thơ
mới” có gì khác với” thơ cũ”?
* Nhóm 3: Kể tên những tác giả, tác phẩm tiêu biểu của phong trào
“Thơ mới”.
3. Bài mới: Giáo viên giới thiệu bài bằng câu hỏi thảo luận:
CH: Em hãy quan sát bức tranh sau và nêu hiểu biết của mình về hình
ảnh nhân vật trong bức tranh?

HS thảo luận – GV đánh giá kết luận và giới thiệu vào bài
24/38


Sáng kiến kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy- học Ngữ văn”

Hoạt động của thầy
Hoạt động 1: Hướng dẫn đọc
- tìm hiểu chung (8’)
- GV chiếu chân dung Vũ Đình

Liên.
? Em hãy giới thiệu vài nét cơ
bản về tác giả và tác phẩm
(hoàn cảnh sáng tác, thể loại,
phương thức biểu đạt)?

Hoạt động của trò

Nội dung cần đạt
I. Đọc, tìm hiểu
chung
1. Tác giả (1913 1996)

- HS trình bày kết
quả thực hiện
nhiệm vụ đã được
giao
- HS nhóm khác
nhận xét, bổ sung.

- Là nhà thơ, nhà
nghiên cứu, dịch
thuật và giảng dạy
văn học.
- Là một trong những
nhà thơ thuộc lớp đầu
tiên của phong trào
Thơ mới.
- Thơ ông thường
mang nặng lòng

thương người và niềm
hoài cổ.

Giáo viên hướng dẫn học sinh
đọc văn bản:
+ Giọng chậm, ngắt nhịp 2/3
hoặc 3/2
+ Chú ý giọng vui, phấn khởi
ở khổ 1,2
+ Giọng chậm, buồn, xúc
động ở khổ 3,4
+ Khổ cuối: giọng càng chậm,
buồn, bâng khuâng.
- Giáo viên đọc mẫu, gọi học
sinh đọc, họa sinh khác nhận
xét.
- Giải thích từ khó: ông đồ,
nghiên mực
? Theo em, bài thơ này nên
chia làm mấy phần, giới hạn
và nội dung của mỗi phần là
gì?

2. Bài thơ Ông đồ
- Hoàn cảnh sáng tác:
+ Năm 1936
+ Nền Hán học và
chữ nho mất vị thế
quan trọng, các nhà
nho trở nên lạc bước

trong thời đại mới.
- Thể thơ: năm chữ
- Phương thức biểu
đạt: biểu cảm, có yếu
tố tự sự, miêu tả.

Học sinh tìm bố
cục bài thơ và khái
quát nội dung từng
phần.

GV khẳng định: Bài thơ có vị
trí rất quan trọng trong sự
nghiệp sáng tác của tác giả và
chính nó làm nên tên tuổi của
25/38

- Bố cục:
+ Khổ 1,2,3,4: Hình
ảnh ông đồ trong dòng
hồi tưởng của nhà thơ
+ Khổ 5: cảm xúc của
tác giả trong hiện tại


×