Tải bản đầy đủ (.doc) (67 trang)

SKKN Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường THPT Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.81 MB, 67 trang )

MỤC LỤC
Trang


PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay đời sống kinh tế xã hội có nhiều thay đổi, thanh niên, học sinh đang
trải qua nhiều biến động tích cực lẫn tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường và sự
bùng nổ thông tin, với nhiều thông tin thiếu lành mạnh đang tác động mạnh đến đời
sống làm cho thế hệ trẻ có nhiều biểu hiện nhận thức lệch lạc và sống xa rời các giá
trị đạo đức truyền thống, tình trạng bạo lực học đường, thanh thiếu niên hư, trộm
cắp, cướp giật ngày càng gia tăng. Có nhiều nguyên nhân khách quan như tác động
của mặt trái của kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập quốc tế, nhưng theo các
chuyên gia giáo dục, nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu kỹ năng sống (KNS).
Các em chưa được dạy cách đương đầu với những khó khăn của cuộc sống đã bị lôi
cuốn vào lối sống thực dụng, đua đòi, không đủ bản lĩnh nói “không” với cái xấu.
Các em không được dạy để hiểu về giá trị của cuộc sống và những KNS. Thực tiễn
này khiến các nhà giáo dục và những người tâm huyết với sự nghiệp giáo dục đặc
biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ, trong đó có học sinh
trung học phổ thông. Vấn đề trung tâm liên quan đến việc giáo dục kĩ năng sống
cho thế hệ trẻ là thế hệ trẻ ngày nay thường phải đương đầu với những rủi ro đe dọa
sức khỏe và hạn chế cơ hội học tập. Do đó, nếu chỉ có thông tin không đủ bảo vệ họ
tránh được những rủi ro này. Giáo dục kĩ năng sống hoặc giáo dục dựa trên tiếp cận
kĩ năng sống có thể cung cấp cho các em các kĩ năng để giải quyết được các vấn đề
nảy sinh từ các tình huống thách thức trong cuộc sống. Mặt khác, kĩ năng sống là
một thành phần quan trọng trong nhân cách con người trong xã hội hiện đại. Muốn
thành công và sống có chất lượng trong xã hội hiện đại, con người phải có kĩ năng
sống. Kĩ năng sống vừa mang tính xã hội vừa mang tính cá nhân. Giáo dục kĩ năng
sống trở thành mục tiêu và là một nhiệm vụ trong giáo dục nhân cách toàn diện.
Ở bậc THPT chưa có chương trình giáo dục kỹ năng sống độc lập, việc giáo
dục KNS cho học sinh chủ yếu được thực hiện trên cơ sở giáo dục tích hợp qua các


môn học, qua hoạt động ngoài giờ lên lớp, qua các hoạt động tập thể, ngoại khoá,
qua tích hợp trong giảng dạy một số môn học có ưu thế như môn học Giáo dục
công dân, Ngữ văn, Sinh học, Công nghệ…
Từ thực trạng trên, căn cứ Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/7/2008;
Thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT ngày 28/02/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
ban hành về “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, hướng dẫn Số:
463/BGDĐT-GDTX ngày 28 tháng 01 năm 2015 của Bộ GD&ĐT V/v hướng dẫn
triển khai thực hiện giáo dục kỹ năng sống tại các cơ sở GDMN,GDPT và GDTX;
Công văn Số: 1008/SGDĐT-PCHSSV ngày 04 tháng 03 năm 2015 Sở GD&ĐT V/v
1


thực hiện giáo dục kỹ năng sống tại các cơ sở GDMN, GDPT, GDTX đưa giáo dục
KNS và quản lý hoạt động giáo dục KNS và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
chính khóa trong các trường phổ thông. Để đạt được mục tiêu của giáo dục đào tạo
theo Luật giáo dục và Nghị Quyết số 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng thì
việc rèn luyện KNS cho học sinh và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong
trường THPT là một trong những nội dung thiết thực để nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện, chú trọng việc bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công
dân. Bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI mà thực chất là cách tiếp cận kỹ năng
sống trong giáo dục đã được quán triệt trong đổi mới mục tiêu, nội dung và phương
pháp giáo dục phổ thông ở Việt Nam. Vì vậy chất lượng giáo dục KNS phụ thuộc
vào nhận thức của các nhà quản lý, của đội ngũ giáo viên của các nhà trường.
Xuất phát từ những lí do nêu trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt
động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường THPT Bảo Lộc, tỉnh Lâm
Đồng”.
2. Phạm vi nghiên cứu:
2.1. Về nội dung nghiên cứu
Do điều kiện về thời gian và khả năng có hạn, đề tài tập trung nghiên cứu các
biện pháp quản lý giáo dục KNS cho học sinh ở trường THPT Bảo Lộc, tỉnh Lâm

Đồng.
2.2. Về địa bàn nghiên cứu
Các nghiên cứu được triển khai tại trường THPT Bảo Lộc, thành phố Bảo
Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
3. Thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu trong hai năm học, từ 2014-2015 đến 2015-2016.
PHẦN II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
1.1. Kỹ năng sống
Có nhiều cách tiếp cận khái niệm kỹ năng sống (KNS). Tuy nhiên, có thể tiếp
cận khái niệm KNS qua 4 trụ cột của giáo dục theo UNESCO: Học để biết
(Learning to Know), học để khẳng định bản thân (Learning to Be), học để chung
sống (Learning to Live Together) và học để làm việc (Learning to Do).
Tiếp cận theo 4 trụ cột trên thì KNS có thể hiểu là kỹ năng học tập, kỹ năng
làm chủ bản thân, kỹ năng thích ứng và hòa nhập với cuộc sống, kỹ năng làm việc.

3


Tuy nhiên, kỹ năng sống (Life Skills) có thể hiểu là khả năng làm chủ bản
thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác, với xã hội và
khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống.
Có thể nói kỹ năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức
thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh.
Theo UNICEF: “KNS là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì) và thái
độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào hay tin tưởng vào giá trị nào) thành hành
động (làm gì và làm như thế nào)”.
Ở Việt Nam khái niệm KNS được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng hơn, đó
là:
+ Khả năng thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng

ngày.
+ Khả năng được biểu hiện thông qua hành vi, thói quen làm cho cá nhân
thích ứng và giải quyết có hiệu quả các tình huống phong phú, đa dạng trong cuộc
sống hàng ngày.
+ Khả năng đáp ứng, thích nghi với cuộc sống giúp họ tham gia các hoạt động
và giải quyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống.
Từ những quan niệm trên cho thấy các quốc gia đều dựa trên quan niệm về
KNS của các tổ chức quốc tế nhưng có tính khác biệt do phụ thuộc vào điều kiện
chính trị, kinh tế, văn hóa của từng quốc gia. Một số quốc gia coi trọng các kỹ năng
như: kỹ năng tư duy, kỹ năng thích ứng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác và cạnh
tranh; một số nước lại chú trọng đến các kỹ năng: phòng chống HIV/AIDS, kỹ
năng xóa đói, giảm nghèo, kỹ năng xóa đói, giảm nghèo đa chiều …
1.2. Giáo dục kỹ năng sống
Theo UNICEF hay UNESCO cho rằng giáo dục KNS không phải là một lĩnh
vực hay môn học nhưng nó được áp dụng lồng vào trong những kiến thức, kỹ năng
quan trọng trong quá trình phát triển của cá nhân và học tập suốt đời.
Ở một số quốc gia giáo dục KNS cho học sinh được lồng ghép vào các môn
học, chủ đề, ngoại khoá.
Theo cách tiếp cận khái niệm KNS qua 4 trụ cột của giáo dục của UNESCO,
chúng ta cần tập trung rèn luyện cho học sinh phổ thông 2 nhóm KNS sau đây:
Nhóm kỹ năng trong học tập, làm việc, vui chơi giải trí:
- Các kỹ năng nghe, đọc, nói, viết, quan sát, đưa ra ý kiến chia sẻ trong
nhóm;
- Kỹ năng giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh chung;
4


- Kỹ năng làm việc theo nhóm;
- Các kỹ năng tư duy logic, sáng tạo, suy nghĩ nhiều chiều, các kỹ năng tư
duy xuyên môn như: phân tích, tổng hợp, so sánh v.v…

Nhóm kỹ năng giao tiếp, hòa nhập, ứng phó với các tình huống cuộc
sống:
- Biết chào hỏi lễ phép trong nhà trường, ở nhà và ở nơi công cộng;
- Kỹ năng kiểm soát tình cảm, kìm chế thói hư tật xấu, sở thích cá nhân;
- Biết phân biệt hành vi đúng - sai, phòng tránh tai nạn;
- Kỹ năng trình bày ý kiến, diễn đạt, thuyết trình trước đám đông;
- Kỹ năng ứng phó với tai nạn đuối nước;
- Kỹ năng sống còn là những kiến thức về giới tính, chống lại sự cám dỗ từ tệ
nạn xã hội, chống xâm phạm tình dục;
- Kỹ năng ứng phó với một tình huống bạo lực trong học sinh (khi tình trạng
bạo lực trong học sinh thường xảy ra);
- Kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu như động đất, sóng thần, bão lũ; kỹ
năng ứng phó với tai nạn như cháy, nổ...;…..
Nội dung giáo dục kỹ năng sống cụ thể của từng trường tùy thuộc tập quán,
điều kiện CSVC, sự nhận thức, năng lực của Hiệu trưởng và đội ngũ giáo viên nhà
trường để định hướng nội dung, chương trình giáo dục KNS theo hướng lồng ghép
trong các môn học, thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp và các hoạt động giáo
dục khác do nhà trường, địa phương tổ chức.
Giáo dục KNS có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của người học từ thói
quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thành những
hành vi mang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả; thông qua hoạt động giáo dục
KNS học sinh được rèn luyện năng lực tư duy qua đó chất lượng các môn học cũng
như chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường được nâng lên góp phần phát
triển bền vững cho xã hội.
1.3. Quản lý giáo dục kỹ năng sống
Quản lý giáo dục KNS là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới các đối
tượng quản lý nhằm đưa việc giáo dục KNS đạt được kết quả mong muốn một cách
hiệu quả nhất. Quản lý giáo dục KNS cho học sinh THPT không thể tách rời khỏi
các chức năng của quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường nó bao gồm
hàng loạt những hoạt động tiến hành lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực,

các tác động của nhà quản lý, của tập thể sư phạm, của các lực lượng giáo dục
5


trong và ngoài nhà trường theo kế hoạch chủ động và chương trình giáo dục nhằm
thay đổi nhận thức hay tạo ra hiệu quả giáo dục cần thiết.
1.4. Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
1.4.1 Đặc điểm học sinh THPT
Học sinh THPT còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ
lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn. Tuổi thanh niên được tính từ 15
đến 25 tuổi, được chia làm 2 thời kì:
+ Thời kì từ 15-18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên
+ Thời kì từ 18-25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinh
viên).
Tuổi thanh niên thể hiện tính chất phức tạp và nhiều mặt của hiện tượng, nó
được giới hạn ở hai mặt: sinh lí và tâm lý. Đây là vấn đề khó khăn và phức tạp vì
không phải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát triển tâm sinh lý cũng
trùng hợp với các thời kỳ trưởng thành về mặt xã hội. Sự trưởng thành về mặt thể
chất, nhân cách trí tuệ, năng lực lao động sẽ không trùng hợp với thời gian phát
triển của lứa tuổi. Chính vì vậy mà các nhà tâm lý học Macxit cho rằng: Khi nghiên
cứu tuổi thanh nên thì cần phải kết hợp với quan điểm của tâm lý học xã hội và
phải tính đến quy luật bên trong của sự phát triển lứa tuổi. Do sự phát triển của xã
hội nên sự phát triển của trẻ em ngày càng có sự gia tốc, trẻ em lớn nhanh hơn và
sự tăng trưởng đầy đủ diễn ra sớm hơn so với các thế hệ trước, nên tuổi dậy thì bắt
đầu và kết thúc sớm hơn khoảng 2 năm. Vì vậy, tuổi thanh niên cũng bắt đầu sớm
hơn. Nhưng việc phát triển tâm lý của tuổi thanh niên không chỉ phụ thuộc vào giới
hạn lứa tuổi, mà trước hết là do điều kiện xã hội (vị trí của thanh niên trong xã hội;
khối lượng tri thức, kỹ năng kỹ xảo mà họ nắm được và một loạt nhân tố khác…)
có ảnh hưởng đến sự phát triển lứa tuổi. Trong thời đại ngày nay, hoạt động lao
động và xã hội ngày càng phức tạp, thời gian học tập của các em kéo dài làm cho

sự trưởng thành thực sự về mặt xã hội càng đến chậm. Do đó có sự kéo dài của thời
kì tuổi thanh niên và giới hạn lứa tuổi mang tính không xác định (ở mặt này các em
được coi là người lớn, nhưng mặt khác thì lại không). Điều đó cho ta thấy rằng
thanh niên là một hiện tượng tâm lý xã hội.
Việc trang bị cho học sinh ở lứa tuổi THPT những KNS có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng, trang bị cho các em hành trang bước vào cuộc sống để sống tốt hơn,
thích ứng và giảm thiểu những tác hại gây ra trong tương lai cho chính bản thân các
em, cho đất nước và cho toàn cầu.
1.4.2. Vai trò, ý nghĩa của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
6


- KNS thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội: KNS chính là những nhịp cầu
giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, sẽ luôn
vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một
cách tích cực, phù hợp; KNS không những thúc đẩy sự phát triển cá nhân mà góp
phần thúc đẩy phát triển của xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề của xã hội và bảo
vệ quyền con người.
- Giáo dục KNS là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ: Vì thế hệ trẻ là chủ
nhân tương lai của đất nước, là những người sẽ quyết định sự phát triển của đất
nước, nếu không có KNS các em sẽ không thể thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản
thân, gia đình, cộng đồng và đất nước; Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình
thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá,
song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo,
kích động, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay,
thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu
cực, vì vậy việc giáo dục KNS cho thế hệ trẻ rất cần thiết, giúp các em rèn luyện
hành vi có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc; giúp các em
có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối
quan hệ tốt đẹp với gia đình bạn bè và mọi người; sống tích cực, chủ động, an toàn

và lành mạnh.
- Giáo dục KNS nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông:
Nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã
khẳng định mục tiêu là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục,
SGK nhằm nâng chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực
phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước phù hợp với thực tiễn truyền thống
Việt Nam, tiếp cận nền giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và
toàn thế giới.
Luật Giáo dục năm 2005 Điều 2 đã xác định mục tiêu của giáo dục phổ thông
là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe,
thẩm mỹ, nghề nghiệp; Trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Như vậy, mục tiêu của giáo
dục phổ thông đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức sang trang bị năng lực
hành động, năng lực thực tiễn và phát triển nhân cách cho các em.
1.4.3. Nội dung giáo dục kỹ năng sống
Trong chương trình giáo dục THPT hiện nay nội dung giáo dục KNS cho học
sinh chưa có khung chương trình thống nhất; nội dung dạy tùy thuộc tập quán, điều
7


kiện CSVC, sự nhận thức, năng lực của Hiệu trưởng và đội ngũ giáo viên nhà
trường để định hướng nội dung, chương trình giáo dục KNS theo hướng lồng ghép
trong các môn học, thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp và các hoạt động giáo
dục khác do nhà trường, địa phương tổ chức. Giáo dục KNS cho học sinh gồm giáo
dục các KNS cơ bản sau, cần thiết sau:
- Kỹ năng hợp tác và chia sẻ.
- Kỹ năng giao tiếp và ứng xử:
- Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân:
- Kỹ năng thể hiện sự tự tin trước đám đông:

- Kỹ năng đánh giá người khác: Là khả năng có thể hình dung và đặt mình
vào hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác qua đó
chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc, tình cảm, hoàn cảnh cũng như nhu cầu của họ.
- Kỹ năng tự phục vụ bản thân: Là khả năng con người hiểu rõ về bản thân
mình, các điều kiện đã có để đáp ứng nhu cầu cần thiết cho bản thân mình một cách
hiệu quả nhất.
- Kỹ năng đối diện và ứng phó khó khăn trong cuộc sống: Là khả năng con
người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như một phần tất
yếu của cuộc sống, là khả nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân chính,
hậu quả của căng thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực
khi gặp khó khăn. Có thể hạn chế những tình huống căng thẳng bằng cách sống và
làm việc điều độ có kế hoạch, thường xuyên tập luyện thể dục thể thao, sống vui vẻ
chan hòa, tránh gây mâu thuẫn không cần thiết với mọi người xung quanh, không
đặt ra cho mình những mục tiêu quá cao so với điều kiện và khả năng của bản thân.
- Kỹ năng định hướng mục tiêu cuộc đời: Là khả năng con người biết đề ra
mục tiêu cho bản thân trong cuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện được
mục tiêu đó.
- Kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả: Là khả năng con người biết sắp xếp
các công việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc chính,
trọng tâm trong một thời gian nhất định đạt hiệu quả cao nhất.
Kỹ năng này cần thiết cho việc giải quyết vấn đề, lập kế hoạch, đặt mục tiêu
và đạt được mục tiêu đó; đồng thời giúp con người tránh được căng thẳng do áp lực
công việc.
Quản lý thời gian hiệu quả là một trong những kỹ năng quan trọng trong nhóm
kỹ năng làm chủ bản thân. Quản lý thời gian tốt góp phần quan trọng vào sự thành
công của cá nhân và của nhóm.
8


- Kỹ năng điều chỉnh và quản lý cảm xúc: Là khả năng con người nhận thức

rõ cảm xúc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm
xúc đối với bản thân và đối với người khác thế nào đồng thời biết cách điều chỉnh
và thể hiện cảm xúc một cách phù hợp.
Như vậy, nội dung giáo dục KNS cho học sinh THPT chủ yếu tập trung vào
các kỹ năng tâm lý xã hội là những kỹ năng được vận dụng trong những tình huống
cụ thể nhằm trang bị cho các em kiến thức, kỹ năng sống hòa nhập với gia đình,
trong tập thể và ngoài xã hội, giúp các em có bản lĩnh đối mặt, tháo gỡ những khó
khăn trong học tập, trong cuộc sống hàng ngày, biết quan tâm, chia sẻ với mọi
người xung quanh, biết điều chỉnh cảm xúc cá nhân, phục vụ bản thân, quan tâm
giúp đỡ người khác ... vì vậy giáo viên cần có những hiểu biết về tâm lứa tuổi, đặc
thù vùng miền để lựa chọn nội dung giáo dục KNS cho các em hiệu quả nhất góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường, gắn việc học với thực
tiễn.
1.4.4. Phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục KNS cho học sinh THPT
Kỹ năng sống cho học sinh chỉ có thể được hình thành thông qua các hoạt
động học tập cũng như các hoạt động giáo dục khác trong và ngoài nhà trường
bằng các phương pháp, hình thức như dạy học tích hợp hoặc dạy học theo chủ đề
cụ thể của các môn học như Giáo dục công dân, Ngữ văn, Sinh học, Công nghệ,
lồng ghép trong các hoạt động ngoại khoá, sinh hoạt tập thể để người học hiểu về
KNS đó và vận dụng giải quyết các tình huống.
Ngoài ra, việc giáo dục KNS không chỉ thực hiện trong nhà trường, qua các
môn học chính khóa, qua các hoạt động giáo dục trong nhà trường mà còn phải
được thực hiện kết hợp với nhiều cách khác như:
+ Trong sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội;
+ Bằng nhiều hoạt động trải nghiệm đa dạng, phong phú như: hoạt động văn
hóa, nghệ thuật; hoạt động xã hội, hoạt động ngoại khóa; hoạt động tiếp cận khoa
học-kĩ thuật; hoạt động tham quan, dã ngoại;
+ Qua các hoạt động Đoàn, Hội chứng tỏ hiệu quả trong thời gian qua như:
Chương trình “Học làm người có ích”, “ Thứ bảy xanh”, “Chung tay bảo vệ trái
đất, bảo vệ môi trường”, “Một ngày để sống - Sống có niềm tin”, Chương trình

“Một ngày để sống - Sống biết tiết kiệm”, Chương trình “Vượt qua nỗi sợ hãi”,
Chương trình “Học kì quân đội”, “Câu lạc bộ tình nguyện”, “Lá lành đùm lá
rách”… .
1.4.1. Quản lý xây dựng kế hoạch giáo dục KNS
9


Để xây dựng kế hoạch giáo dục KNS được tốt Hiệu trưởng cần phải dựa trên
tình hình thực tế của nhà trường về: học sinh, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất,
điều kiện của nhà trường, điều kiện thục tế của địa phương … để định ra nội dung,
yêu cầu, biện pháp giáo dục KNS phù hợp nhất, đạt kết quả cao nhất có thể.
Kế hoạch giáo dục KNS có thể tách riêng hoặc nằm trong kế hoạch tổng thể
của nhà trường được xây dựng theo năm học có tính pháp quy được cơ quan quản
lý cấp trên trực tiếp phê duyệt. Kế hoạch phải mang tính cụ thể, xác định được mục
tiêu cần đạt, dự kiến nguồn lực thực hiện, phân bố thời gian hợp lý, đề ra các biện
pháp có tính khả thi để thực hiện.
Quản lý xây dựng kế hoạch giáo dục KNS cho học sinh bao gồm: Quản lý xây
dựng kế hoạch hoạt động thường xuyên, kế hoạch hoạt động theo chủ điểm, kế
hoạch bồi dưỡng đội ngũ giáo viên phụ trách, giảng dạy giáo dục KNS, kế hoạch
đầu tư cơ sở vật chất cũng như các điều kiện thực hiện, kế hoạch phối hợp với các
lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả
hoạt động giáo dục KNS.
Để hoạt động giáo dục KNS đạt hiệu quả nhà trường cần xây dựng phương
hướng chỉ đạo theo một kế hoạch thống nhất nhằm động viên và phát huy tối đa
khả năng của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để tạo nên sức
mạnh tổng thể trong hoạt động giáo dục giáo dục KNS.
1.4.2. Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động giáo dục KNS
Quản lý việc tổ chức hoạt động giáo dục KNS trước tiên là quản lý bộ máy
nhân sự tham gia giáo dục KNS trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục KNS
tạo nên sức mạnh của tập thể, phân phối, sắp xếp các nguồn lực tham gia một cách

khoa học, hợp lý nhất. Để thực hiện tốt chức năng quản lý này đòi hỏi Hiệu trưởng
phải hình thành được bộ máy nhân sự tham gia giáo dục KNS cho học sinh trong
nhà trường bao gồm: Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, GVCN, giáo viên bộ môn,
Đoàn TN và các nhân viên trong nhà trường; phân công nhiệm vụ rõ ràng cho các
thành viên trong bộ máy nhân sự. Xây dựng bộ máy nhân sự có năng lực giáo dục
KNS cho học sinh ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục KNS cả về lý
thuyết lẫn thực hành. Đội ngũ phải là những thầy cô giáo yêu nghề, tâm huyết với
việc rèn luyện nhân cách và kỹ năng cho các em, là những người có kinh nghiệm
thực tế, có vốn kiến thức nhất định về KNS, có khả năng hợp tác với các em học
sinh, lắng nghe và biết chia sẻ với các em; có kiến thức về đặc điểm tâm sinh lý của
học sinh do đó cần có sự chỉ đạo của Hiệu trưởng để khuyến khích, động viên, lựa
chọn được đội ngũ giáo viên tâm huyết với nhiệm vụ giáo dục KNS.
10


Để quản lý, chỉ đạo hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trong trường THPT
đạt hiệu quả cần quản lý, chỉ đạo các lực lượng giáo dục KNS cho học sinh, cụ thể
như sau:
- Quản lý GVCN lớp trong giáo dục KNS cho học sinh: Đối với bậc THPT,
GVCN có thể giúp các học sinh không chỉ nắm vững, nắm chắc nội dung kiến thức
môn học của mình mà còn nhận thức được vai trò, hình thành các thái độ, hành vi
ứng xử và kỹ năng hành động, kỹ năng xử lý các tình huống trong cuộc sống.
- Quản lý giáo viên bộ môn trong giáo dục KNS cho học sinh: Giáo viên bộ
môn có vai trò quan trọng, thông qua việc dạy học tích hợp kiến thức về KNS vào
nội dung môn học trong tiết học chính khóa hoặc ngoài giờ lên lớp, các hoạt động
ngoại khóa để nâng cao nhận thức, hình thành thái độ, hành vi ứng xử, rèn luyện kỹ
năng và hành động cụ thể.
- GVCN: là lực lượng quan trọng tham gia hoạt động giáo dục KNS cho học
sinh. Để đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp thực thi tốt nhiệm vụ của mình, Hiệu
trưởng cần phải chỉ đạo GVCN căn cứ kế hoạch tổng thể của nhà trường xây dựng

kế hoạch chủ nhiệm và tổ chức hoạt động cho học sinh, quản lý phát huy hiệu quả
giờ sinh hoạt của lớp, nhất là hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, đôn đốc, kiểm
tra đánh giá thi đua, đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh qua đó nâng cao chất
lượng giáo dục KNS cho các em.
- Quản lý hoạt động của Đoàn TN: bán sát nhiệm vụ năm học, nhu cầu cần
thiết về KNS của học sinh, Hiệu trưởng chỉ đạo BCH Đoàn trường xây dựng kế
hoạch hoạt động Đoàn, kế hoạch ngoại khóa, các nội dung sinh hoạt tập thể ...
thông qua các hoạt động đó giáo dục KNS cho học sinh phù hợp với đặc điểm lứa
tuổi, điều kiện của nhà trường, của địa phương và xu hướng phát triển của xã hội.
- Quản lý công tác phối hợp các lực lượng giáo dục khác: Để tạo nên sức
mạnh tổng thể trong công tác giáo dục KNS cho học sinh, nhà trường cần huy động
các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tham gia vào quá trình giáo dục
như Ban đại diện cha mẹ học sinh, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương nơi
học sinh cư trú, các cơ quan đoàn thể trên địa bàn như công an, y tế, Đoàn thanh
niên, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội chữ thập đỏ, nhà thiếu nhi ... Để công
tác giáo dục KNS cho học sinh nhà trường đạt hiệu quả cao nhà trường cần tạo
dựng sự chung tay ủng hộ và tham gia của các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà
trường.
1.4.3. Chỉ đạo thực hiện giáo dục KNS
* Chỉ đạo thực hiện mục tiêu giáo dục KNS
11


Để thực hiện đạt hiệu quả công tác giáo dục KNS cho học sinh Hiệu trưởng
phải quản lý, chỉ đạo thực hiện mục tiêu của giáo dục KNS là chuyển kiến thức,
thái độ và giá trị thành thao tác, hành động và thực hiện thành thục các thao tác,
hành động đó trong cuộc sống thực tế theo xu hướng tích cực mang tính chất xây
dựng. Muốn vậy, người Hiệu trưởng phải đảm bảo việc chỉ đạo thực hiện tuân thủ
một số nguyên tắc sau:
+ Giáo dục KNS phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh và hoàn cảnh

cá nhân học sinh.
+ Giáo dục theo nguyên tắc tập thể.
+ Giáo dục học sinh qua thực tiễn sinh động của xã hội.
* Chỉ đạo giáo dục KNS thông qua các môn văn hóa cơ bản:
Bằng nhiều hình thức và các biện pháp khác nhau Hiệu trưởng cần làm cho tập
thể nhà trường nhận thức được giáo dục KNS cho học sinh là công tác cấp thiết cần
tiến hành thường xuyên, liên tục, mọi lúc, mọi nơi. Một giờ dạy trên lớp không chỉ
đơn thuần là truyền thụ kiến thức cho học sinh mà còn rèn các thao tác, kỹ năng
học tập, ứng xử và giáo dục cho học sinh những hành vi, thái độ, tình cảm, nhân
sinh quan, thế giới quan, nhận thức, hành vi đúng đắn. Tuy nhiên Hiệu trưởng cần
chỉ đạo cho giáo viên tránh giáo dục KNS một cách đơn giản, lý thuyết, gượng ép
hoặc đơn điệu … vì như vậy sẽ mất đi tác dụng giáo dục và bản thân KNS phải là
hoạt động bổ sung cho các em học sinh về kiến thức và năng lực, nhất là năng lực
hành động cần thiết để các em có thể hoạt động độc lập và giúp cho các em tránh
được những khó khăn trong thực tiễn.
* Chỉ đạo giáo dục KNS thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp:
Các hoạt động lao động, ngoại khóa, giáo dục NGLL, hoạt động tập thể là
những hoạt động có nhiều thuận lợi để giáo dục, rèn luyện cho học sinh các KNS
thực tế có tác dụng trực tiếp đến việc giáo dục tư tưởng, giáo dục nhận thức, thái
độ, hành vi cho học sinh. Thông qua những hoạt động này rèn luyện cho các em
những thao tác, kỹ năng, thói quen, hành vi tốt. Vì vậy người Hiệu trưởng phải có
kế hoạch cụ thể, cân đối để tổ chức hiệu quả các hoạt động này.
* Chỉ đạo xây dựng môi trường giáo dục tốt để giáo dục KNS cho học
sinh:
Một trong các yếu tố góp phần hết sức quan trọng trong việc giáo dục học sinh
đó là cảnh quan sư phạm, dù trong hoàn cảnh nào Hiệu trưởng cũng cần tổ chức,
sắp xếp tu sửa cơ sở vật chất, cảnh quan trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn có
tính giáo dục đối với học sinh. Ngoài cảnh vật Hiệu trưởng cần chỉ đạo để tạo ra
12



bầu không khí giáo dục trong toàn trường và ở mỗi lớp học hình thành một phong
cách sinh hoạt của nhà trường biểu hiện ở những nề nếp tốt như: trật tự, vệ sinh,
ngăn nắp, nghiêm túc, thân thiện, đoàn kết, tự giác, tự nguyện. Có dư luận tập thể
tốt, ủng hộ cái tốt, cái tiến bộ, phê phán cái sai, lạc hậu; có phong trào thi đua sôi
nổi, đúng thực chất và có mối quan hệ tốt giữa các thành viên trong nhà trường
như: giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò và giữa các trò với nhau.
* Chỉ đạo phối hợp các lực lượng để giáo dục KNS:
Nhà trường cần phối hợp với các lực lượng nhằm tạo mối quan hệ gắn kết
giữa nhà trường, gia đình và xã hội để thống nhất quan điểm, nội dung, phương
pháp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội; huy động mọi nguồn lực của
cộng đồng chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường
giáo dục lành mạnh, góp phần xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường đáp ứng yêu
cầu đổi mới giáo dục.
1.4.4. Quản lý công tác kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục KNS
Để đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục KNS nhà quản lý
cần phải bám sát mục tiêu đề ra, sử dụng các hình thức đánh giá phù hợp và tuân
theo một quy trình đánh giá khoa học, cụ thể:
- Về loại hình đánh giá: thực hiện chương trình giáo dục KNS theo cách phân
loại chủ thể đánh giá, đó là tự đánh giá và đánh giá từ bên ngoài.
Tự đánh giá: Là hoạt động của chủ thể đánh giá đối với chính bản thân mình,
tổ chức của mình trên cơ sở đối chiếu với hệ chuẩn được xác định từ trước. Hoạt
động tự đánh giá giúp chủ thể nhận thức rõ về bản thân, về tổ chức của mình, giúp
tự khắc phục điểm yếu, điều chỉnh các hoạt động theo chuẩn. Tự đánh giá cũng
giúp chủ thể có tinh thần trách nhiệm hơn đối với công việc của bản thân và nhờ
vậy hoạt động của tổ chức có chất lượng và hiệu quả hơn.
Đánh giá từ bên ngoài: Được tiến hành bởi các cơ quan cấp trên hoặc từ một
tổ chức đánh giá độc lập trên cơ sở một bộ chuẩn đã được xác định từ trước. Với
việc đánh giá độc lập trên cơ sở một bộ chuẩn được xác định từ trước, việc đánh giá

việc thực hiện chương trình giáo dục KNS có thể sử dụng đánh giá của CMHS, các
lực lượng cán bộ chính quyền địa phương, BGH đánh giá giáo viên chủ nhiệm, giáo
viên bộ môn và ngược lại. Kết quả đánh giá được sử dụng để điều chỉnh hoạt động
của nhà trường về thực hiện chương trình giáo dục KNS.
- Về đối tượng đánh giá: tiến hành kiểm tra đánh giá hoạt động của các lực
lượng giáo dục thực hiện chương trình giáo dục KNS cho học sinh.
- Về nội dung đánh giá: Thực hiện đánh giá các nội dung từ việc lập kế hoạch
thực hiện chương trình giáo dục KNS đến nội dung các hoạt động, sự chuẩn bị cơ
13


sở vật chất, cách thức tiến hành hoạt động, đánh giá kết quả giáo dục KNS cho học
sinh ...
- Về phương pháp đánh giá: Sử dụng cả 2 phương pháp đánh giá định lượng
và đánh giá định tính. Đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục
KNS cho HS thông qua phương pháp điều tra, phương pháp quan sát, phương pháp
phỏng vấn ... kết quả đánh giá được lượng hóa qua các bảng thống kê, tỷ lệ phần
trăm, biểu đồ ...
Kiểm tra là xem xét quá trình hoạt động hệ thống, những kết quả đạt được và
đánh giá phù hợp so với kế hoạch đã được phê duyệt và mục tiêu cơ bản. Quá trình
này gồm 3 bước cơ bản sau:
+ Xây dựng tiêu chí kiểm tra đánh giá.
+ Kiểm tra đánh giá việc thực hiện và kết quả đạt được trên cơ sở so sánh với
các tiêu chí đề ra.
+ Thông báo kết quả kiểm tra đánh giá (kết quả này được lưu lại làm căn cứ
pháp lý để biểu dương, động viên khen thưởng kịp thời).
Trong công tác kiểm tra đánh giá giáo dục KNS cần chú ý tới sự kiểm tra
đánh giá của các lực lượng sau: kiểm tra đánh giá của Ban giám hiệu nhà trường
trên phương diện tổng quát; kiểm tra đánh giá của giáo viên chủ nhiệm, BCH Đoàn
TN trong từng hoạt động cụ thể; học sinh tự kiểm tra đánh giá.

1.4.5. Đặc điểm, tình hình giáo dục của trường THPT Bảo Lộc
Trong những năm qua, trường THPT Bảo Lộc đã xây dựng kế hoạch, từng
bước thực hiện các mục tiêu phấn đấu về xây dựng cơ sở vật chất trường lớp, đầu
tư thiết bị trường học; xây dựng, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
quản lý, giáo viên, nhân viên đạt vượt chuẩn; xây dựng nền nếp, kỷ cương trường
học; duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chất lượng giáo viên dạy
giỏi, học sinh giỏi;… Song song với việc nâng cao chất lượng chuyên môn, trường
THPT Bảo Lộc đã chú trọng đến công tác giáo dục pháp luật, nâng cao tư tưởng
nhận thức, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, công
nhân viên; giáo dục KNS, giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục truyền thống cho
học sinh. Cụ thể:
* Chi bộ: Gồm 32 đảng viên.
* Tình hình đội ngũ:
- Tổng số CB, GV, NV: 92 người, trong đó CBQL và GV 83 người, nhân
viên: 9 người.
14


- BGH: 03 người (01 hiệu trưởng; 01 hiệu phó chuyên môn; 1 hiệu phó phụ
trách CSVC, hướng nghiệp, thi đua khen thưởng; khảo thí & KĐCL, NGLL).
- Trình độ thạc sĩ: 7 người; Đại học: 76 người; Cao đẳng: 0; Trung cấp: 05
người; Chưa qua đào tạo: 03 người ( 02 bảo vệ, 1 lao công).
- Đội ngũ cán bộ, giáo viên có năng lực sư phạm cao, xếp loại chuẩn giáo
viên xuất sắc và khá chiếm tỉ lệ hơn 90%.
* Tình hình CSVC:
- Nhà trường đã tiến hành nâng cấp cải tạo nhiều hạng mục phục vụ thiết
thực cho nhu cầu dạy - học với quan điểm đặt lợi ích của người học lên hàng đầu,
lắp đặt thêm nhiều máy chiếu trong các lớp học, trang bị bàn ghế mới cho 2 phòng
máy vi tính, cải tạo nhà xe, phòng truyền thống, cổng sắt các dãy phòng học, mái
che hành lang, khu văn phòng, hệ thống sân chơi bãi tập, ….

* Tình hình học sinh:
- Tổng số học sinh năm học 2015 - 2016 là: 1308/34 lớp . Trong đó : Khối 10
gồm 12 lớp với 466 HS; Khối 11gồm 11 lớp với 468 HS; Khối 12 gồm 11 lớp với
424 HS.
- Tình trạng học sinh học lệch có xu hướng tăng, nhất là khi kỳ thi THPT
Quốc gia cho phép học sinh chọn môn đăng ký dự thi thứ 4 ngoài 3 môn bắt buộc
Toán, Văn, Anh.
* Những thuận lợi và khó khăn của nhà trường:
- Thuận lợi:
+ Luôn được sự quan tâm của sở GD&ĐT Lâm Đồng. Được sự quan tâm của
Đảng, chính quyền và nhân dân thành phố Bảo Lộc. Đây là điều kiện tiên quyết để
nhà trường hoàn thành nhiệm vụ.
+ Nhà trường có đội ngũ cán bộ, giáo viên cốt cán có năng lực sư phạm cao
và rất tâm huyết với sự nghiệp giáo dục của nhà trường. Đây là điều kiện cơ sở để
nhà trường thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của mình.
+ Học sinh ngoan, đa số có ý thức học tập và kỷ luật tốt.
+ Các tổ chức xã hội, các nhà hảo tâm, cha mẹ học sinh quan tâm ủng hộ
nhiệt tình đến các hoạt động của trường.
- Khó khăn:
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học đã cũ, hư hỏng nhiều, hệ thống bàn ghế cũ,
chưa đạt chuẩn còn nhiều, hệ thống máy vi tính, máy chiếu hết hạn sử dụng nhiều.
Khu văn phòng xây dựng đã lâu năm xuống cấp.
* Chất lượng giáo dục
15


- Về học lực
Năm học

TS

HS

2014-2015

1503

2015-2016

1308

Giỏi
SL

TL

165
165

Khá
SL

Trung bình

Yếu

TL

SL

TL


SL

TL

12.6
8

823 63.2
6

304

23.3
7

9

0.69

12.6
1

851

11

0.84

65.0

6

281

21.4
8

- Về hạnh kiểm được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Năm học

Số
HS

Tốt
SL

TL

Khá
SL

TL

Trung
bình

Yếu

SL


TL

SL

TL

2014-2015

1503

937

72.02

358 27.52

6

0.46

0

0.00

2015-2016

1308

950


72.63

349 26.68

9

0.69

0

0.0

- Chất lượng giáo dục mũi nhọn
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của trường THPT Bảo Lộc luôn được chú
trọng và quan tâm, luôn nằm trong tốp cao của toàn tỉnh cả về số lượng và chất
lượng, sau đây là bảng thống kê kết quả học sinh giỏi trong các năm học qua:
Năm học

Số lượng học sinh giỏi
Tổng số HS
Giỏi
Cấp trường
Cấp tỉnh
Cấp quốc gia

2014-2015

96

55


38

3

2015-2016

107

59

75

2

2. Thực trạng quản lý giáo dục KNS cho học sinh ở trường THPT Bảo
Lộc trong thời gian qua
Hoạt động giáo dục KNS cho học sinh đã được Hiệu trưởng quan tâm bằng
những việc thiết thực như: tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho CBQL, GV, NV, Bí thư
Đoàn thanh niên của nhà trường; tổ chức chỉ đạo bằng văn bản đến các tổ chuyên
môn, các đoàn thể, GVCN về việc lồng ghép giáo dục KNS cho học sinh thông qua
dạy học các môn cơ bản, thông qua giáo dục ngoài giờ lên lớp, thông quan hoạt
động ngoại khóa, lao động, sinh hoạt tập thể ....
Nhà trường trên cơ sở định hướng đã nhận thức được tầm quan trọng, sự cần
thiết phải có KNS của các em học sinh, nhất là trong thời kỳ hội nhập, bùng nổ về
công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật, sự khai thác tài nguyên thiên nhiên, khai
16


thác rừng, hoạt động công nghiệp, sinh hoạt thải ra khí thải, chất thải bừa bãi như

hiện nay. Nhà trường đã chủ động trong xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ có
nội dung giáo dục KNS cho học sinh, chỉ đạo các lực lượng giáo dục trong nhà
trường tổ chức giáo dục KNS cho các em.
2.1. Đánh giá phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục KNS cho học sinh
THPT Bảo Lộc
- Trên thực tế trường THPT Bảo Lộc đã vận dụng giáo dục KNS cho học sinh
thông qua các hình thức lồng ghép trong hoạt động NGLL, hoạt động ngoại khóa;
tích hợp trong giảng dạy các môn văn hóa cơ bản như: môn Vật lý, môn Sinh học,
môn Địa lý, môn Công nghệ... để có được nhận định đúng nhất tác giả đã tiến hành
khảo sát trên 80 CBQL và GV của các nhà trường, kết quả như sau:
Mức độ thực hiện
TT

Hình thức tổ chức

Thường
xuyên

Thỉnh
thoảng

Không
thực hiện

SL

TL

SL


TL

SL

TL

1

Thông qua hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp.

44

61.
1

28

38.
9

0

0.0

2

Thông qua việc học tập các môn
văn hóa cơ bản.


42

58.
3

30

41.
7

0

0.0

3

Thông qua hoạt động ngoại khóa

35

48.
6

37

51.
4

0


0.0

4

Thông qua sinh hoạt tập thể

29

40.
3

39

54.
2

4

5.5

5

Thông qua sinh hoạt lớp

26

36.
1

39


54.
2

7

9.7

6

Thông qua các hoạt động Đoàn

26

36.
1

39

54.
2

7

9.7

7

Thông qua hoạt động lao động


21

29.
2

44

61.
1

7

9.7

8

Xây dựng môi trường giáo dục
tốt để giáo dục KNS cho học
sinh.

32

44.
4

34

47.
2


6

8.4

9

Phối hợp các tổ chức trong nhà

24

33.

41

57.

7

9.7
17


trường giáo dục KNS cho học
sinh.
10

Phối hợp giữa nhà trường, gia
đình, xã hội để giáo dục KNS
cho học sinh.


3

0

30.
6

22

42

58.
3

8

11.1

Qua bảng trên cho thấy các hình thức tổ chức giáo dục KNS trong nhà trường
được chọn phổ biến nhất là: giáo dục KNS thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp (61.1%), thông qua việc học tập các môn văn hoá cơ bản (58.3%), qua hoạt
động ngoại khóa (48.6%). Các hình thức tổ chức khác trong thời gian qua chưa
được nhà trường chú trong nên khảo sát tỷ lệ chọn thỉnh thoảng và không thực hiện
chiếm tỷ lệ cao, trên 60%.
2.2. Đánh giá việc lập kế hoạch giáo dục KNS cho học sinh trường THPT
Bảo Lộc
Để đánh giá thực trạng về việc xây dựng kế hoạch giáo dục KNS của Hiệu
trưởng trường THPT Bảo Lộc, tác giả khảo sát 72 người, trong đó: 3 CBQL, 69
giáo viên của trường, kết quả thu được như sau:
Mức độ thực hiện

Lập kế hoạch

Tốt

Bình
thường

Chưa tốt

SL

TL

SL

TL

SL

TL

Lập kế hoạch giáo dục KNS cho học
sinh theo năm học, tháng, tuần.

24

33.
3

42


58.
3

6

8.4

Lồng ghép mục tiêu giáo dục KNS cho
HS trong kế hoạch thực hiện nhiệm vụ
của nhà trường.

31

43.
1

38

52.
8

3

4.1

Lập kế hoạch phân công nhiệm vụ cụ
thể cho các lực lượng về giáo dục KNS
cho học sinh.


17

23.
6

43

59.
7

12

16.
7

Lập kế hoạch đầu tư mua sắm cơ sở vật
chất tổ chức giáo dục KNS cho học
sinh.

18

25.
0

42

58.
3

12


16.
7

Kết quả điều tra ở bảng 2.13 cho thấy việc quản lý xây dựng kế hoạch giáo
dục KNS cho học sinh của Hiệu trưởng chưa được quan tâm, hầu hết CBQL, GV
tham gia khảo sát đánh giá ở mức bình thường chiếm đến 57.3%, tỷ lệ đánh giá
18


chưa tốt chiếm tỷ lệ cao (11,5%) do kế hoạch giáo dục KNS cho học sinh của nhà
trường chủ yếu là lồng ghép trong kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học của nhà
trường; việc phân công nhiệm vụ cho các lực lượng giáo dục KNS trong nhà trường
có đề cập nhưng không cụ thể có 23.6% CBQL, GV tham gia khảo đánh giá thực
hiện tốt còn 76.4% đánh giá bình thường và chưa tốt; việc đầu tư kinh phí mua sắm
cơ sở vật chất là để đáp ứng nhu cầu dạy học nói chung chưa có kế hoạch mua sắm
thiết bị dành cho hoạt động giáo dục KNS, với nội dung này có tới 75.0% đánh giá
thực hiện chưa tốt và đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả
giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường chưa cao.
2.3. Đánh giá việc tổ chức bộ máy điều hành hoạt động giáo dục KNS cho
học sinh trường THPT Bảo Lộc
Qua nghiên cứu thực tế, có thể khẳng định trường THPT Bảo Lộc đã thành lập
được bộ máy nhân sự tham gia giáo dục KNS cho học sinh, đây cũng chính là bộ
máy nhân sự tham gia vào các hoạt động giáo dục toàn diện trong các nhà trường
gồm: Hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng, Bí thư đoàn thanh niên, GVCN lớp, GV bộ
môn và nhân viên.
Thông qua phiếu khảo sát, tác giả tìm hiểu thực trạng sự phân công nhiệm vụ
cụ thể của Hiệu trưởng cho các lực lượng tham gia giáo dục KNS trong nhà trường,
việc ban hành các văn bản chỉ đạo, quy định chức năng nhiệm vụ, hướng dẫn thực
hiện nhiệm vụ giáo dục KNS của BGH như thế nào, kết quả thu được như sau:

Mức độ thực hiện
TT

Tổ chức thực hiện

Tốt

Bình
thường

Chưa
tốt
SL TL

SL

TL

SL TL

1

Thành lập Ban chỉ đạo giáo dục
KNS

21

29.
2


45

62.
5

6

8.3

2

Quy định chức năng nhiệm vụ cho
từng thành viên trong Ban chỉ đạo.

24

33.
3

42

58.
4

6

8.3

3


Xây dựng quy chế phối hợp trong
giáo dục giáo dục KNS cho HS.

24

33.
3

37

51.
4

11

15.
3

4

Ban hành văn bản hướng dẫn về
giáo dục giáo dục KNS cho HS.

24

33.
3

40


55.
6

8

11.1

Qua bảng trên có thể thấy rằng việc thành lập ban chỉ đạo, quy định chức năng
nhiệm vụ cho từng thành viên trong ban chỉ đạo, ban hành văn bản hướng dẫn và
19


xây dựng quy chế phối hợp trong giáo dục KNS cho học sinh của trường THPT
Bảo Lộc chưa được quan tâm, đa số ý kiến đánh giá ở mức độ bình thường, chiếm
trên 50.0% và CBQL, GV đánh giá chưa tốt ở tất cả các mặt vẫn còn cao, chiếm
hơn 10%.
Để làm rõ hơn mức độ phân công nhiệm vụ cho các lực lượng tham gia giáo
dục KNS trong nhà trường, tác giả khảo sát thực tế cho kết quả như sau:
Mức độ phân công
TT

Lực lượng tham gia
giáo dục KNS

Cụ thể

Chưa cụ
thể

Chưa phân

công

SL

TL

SL

TL

SL

TL

1

Hiệu trưởng

29

24.2

79

65.8

12

10.0


2

Phó hiệu trưởng

51

42.5

58

48.3

11

9.2

3

Bí thư Đoàn trường

27

22.5

78

65.0

15


12.5

4

Giáo viên chủ nhiệm lớp

30

25.0

84

70.0

6

5.0

5

Giáo viên bộ môn

39

32.5

66

55.0


15

12.5

6

Nhân viên

33

27.5

53

44.2

34

28.3

Qua kết quả bảng trên cho thấy lực lượng tham gia giáo dục KNS nhà trường
chủ yếu tập trung vào hầu hết ý kiến được hỏi cho rằng việc phân công nhiệm vụ là
chưa cụ thể hoặc chưa phân công; đối với nhân viên tỷ lệ đánh giá chưa phân công
chiếm cao có 28,3%. Điều đó cho thấy hoạt động giáo dục KNS cho học sinh của
nhà trường trong thời gian qua chưa được Hiệu trưởng quan tâm đến phân công
nhiệm vụ cụ thể cho các lực lượng tham gia hoạt động này trong nhà trường.
Mức độ phân công nhiệm vụ cho các lực lượng giáo dục KNS cho học sinh
của nhà trường được thể hiện qua biểu đồ sau:

20



2.4. Đánh giá việc chỉ đạo thực hiện giáo dục KNS cho học sinh ở trường
THPT Bảo Lộc
Để đánh giá thực trạng chỉ đạo hoạt động giáo dục KNS cho học sinh, thông
qua phiếu khảo sát với các đối tượng CBQL, GVCN, giáo viên bộ môn, bí thư đoàn
thanh niên và phỏng vấn trực tiếp một số giáo viên, kết quả thu được như sau:
Mức độ thực hiện
TT

Nội dung

Tốt

Bình
thường

Chưa tốt

SL

TL

SL

TL

SL

TL


Chỉ đạo giáo dục KNS thông qua
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp

31

43.
1

40

55.
6

1

1.3

Chỉ đạo giáo dục KNS thông qua
việc học tập các môn văn hóa cơ
bản.

31

43.
1

38


52.
8

3

4.1

3

Chỉ đạo giáo dục KNS thông qua
hoạt động ngoại khóa.

25

34.
7

47

65.
3

0

0.0

4

Chỉ đạo giáo dục KNS thông qua
sinh hoạt tập thể.


30

41.
7

40

55.
6

2

2.7

5

Chỉ đạo giáo dục KNS thông qua

20

27.

48

66.

4

5.5


1

2

21


sinh hoạt lớp.

8

7

6

Chỉ đạo giáo dục KNS thông qua
các hoạt động Đoàn.

25

34.
7

40

55.
6

7


9.7

7

Chỉ đạo giáo dục KNS thông qua
hoạt động lao động.

24

33.
3

38

52.
8

10

13.
9

8

Xây dựng môi trường giáo dục tốt
để giáo dục KNS cho học sinh.

24


33.
3

40

55.
6

8

11.1

Phối hợp các tổ chức trong nhà
trường giáo dục KNS cho học sinh.

27

37.
5

34

47.
2

11

15.
3


Phối hợp giữa nhà trường, gia
đình, xã hội để giáo dục KNS cho
học sinh.

23

31.
9

34

47.
2

15

20.
9

9
10

Bảng trên cho thấy các nội dung chỉ đạo giáo dục KNS cho học sinh của Hiệu
trưởng, được đánh giá ở mức độ tốt đạt tỷ lệ thấp chỉ chiếm từ 27.8% đến 43,1%;
Có 3 nội dung được đánh giá tốt với tỷ lệ khá thấp là: chỉ đạo giáo dục KNS cho
học sinh thông qua sinh hoạt lớp (27.8%), thông qua sự phối hợp giữa nhà trường,
gia đình và xã hội (31.9%), qua hoạt động lao động, thông qua xây dựng môi
trường giáo dục tốt (33.3%).
Qua kết quả khảo sát của giáo viên cho thấy mỗi nội dung có những khó khăn
nhất định là nguyên nhân dẫn đến công tác giáo dục KNS cho học sinh chưa hiệu

quả.
2.5. Đánh giá việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục KNS cho học
sinh ở trường THPT Bảo Lộc
Để đánh giá thực trạng công tác kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục KNS nói
chung và KNS cho học sinh của Hiệu trưởng trường THPT Bảo Lộc, thông qua
phiếu khảo sát kết quả thu được như sau:
TT

NỘI DUNG

SỐ LƯỢNG

TỶ LỆ (%)

1

Kiểm tra đánh giá việc giáo dục KNS cho
học sinh thường xuyên, hiệu quả.

13

18.1

2

Có kiểm tra đánh giá việc giáo dục KNS
cho học sinh nhưng chưa thường xuyên.

47


65.3

3

Nhà trường không kiểm tra đánh giá việc
giáo dục KNS cho học sinh.

12

16.6
22


Bảng trên cho thấy công tác giáo dục KNS cho học sinh của các nhà trường
được đa số CBQL, GV đánh giá có kiểm tra nhưng chưa thường xuyên (65.3%); có
16.6% ý kiến đánh giá của CBQL, GV cho rằng nhà trường không kiểm tra và chỉ
18.1% đánh giá việc kiểm tra công tác giáo dục KNS cho học sinh là thường xuyên,
hiệu quả.
Tỉ lệ đánh giá này thể hiện qua biểu đồ sau:

2.6. Đánh giá chung về quản lý giáo dục KNS cho học sinh của Hiệu
trưởng trường THPT Bảo Lộc trong thời gian qua
Căn cứ các văn bản chỉ đạo của Sở GD&ĐT Lâm Đồng, trường THPT Bảo
Lộc đã xây dựng kế hoạch giáo dục KNS cho học sinh cho học sinh trong kế hoạch
thực hiện nhiệm vụ từng năm học của nhà trường và đã đạt được những kết quả
nhất định.
* Mặt mạnh
- Nhà trường đã xây dựng kế hoạch giáo dục rèn KNS cho học sinh lồng ghép
trong kế hoạch thực hiện nhiệm vụ từng năm học.
- Đã thực hiện chỉ đạo chuyên môn hướng dẫn giáo viên soạn bài tích hợp,

lồng ghép nội dung giáo dục KNS cho học sinh vào các môn học trong giờ học
chính khóa.
- Giáo viên chủ nhiệm đã quan tâm, thường xuyên phối hợp với cha mẹ học
sinh trong việc giáo dục KNS cho các em.

23


- Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động ngoại khóa ngoài trời, thăm các
Viện sinh học Tây Nguyên, Viện hạt nhân Đà Lạt, Viện Hải Dương học Nha Trang,
Rừng quốc gia Cát Tiên, Bảo tàng lịch sử, công trình thuỷ điện, ... giúp học sinh
liên hệ thực tế, trải nghiệm, từ đó hình thành nhận thức, thái độ, hành vi.
* Hạn chế
- Một số bộ cán bộ quản lý và giáo viên nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan
trọng của việc tổ chức các hoạt động giáo dục KNS cho học sinh, chưa bố trí lượng
thời gian hợp lý cho việc tổ chức hoạt động giáo dục KNS.
- Việc tổ chức các hoạt động chủ yếu là giao trách nhiệm cho Bí thư Đoàn
thanh niên nên việc xây dựng kế hoạch, lựa chọn nội dung, hình thức tổ chức chưa
có sự đầu tư, chuẩn bị kĩ lưỡng, chưa phát huy được sự tham gia, phối hợp của các
thành viên trong nhà trường.
- BGH nhà trường đưa nội dung chương trình giáo dục KNS cho học sinh chưa
phù hợp, thiếu sáng tạo; chương trình hoạt động còn sơ sài.
- Công tác phối hợp của các tổ chức đoàn thể, các lực lượng trong và ngoài
nhà trường chưa hiệu quả; chưa phát huy được sức mạnh của các lực lượng giáo
dục KNS.
Từ những hạn chế, tồn tại nêu trên, dẫn đến công tác hiệu quả giáo dục KNS
cho học sinh của trường THPT Bảo Lộc còn hạn chế. Điều này đòi hỏi cơ quan
quản lý nhà nước về giáo dục là Sở GD&ĐT Lâm Đồng và Hiệu trưởng trường
THPT Bảo Lộc tiếp tục nghiên cứu, tìm ra các biện pháp khắc phục và áp dụng các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc giáo dục KNS cho học sinh, góp phần nâng

cao chất lượng giáo dục toàn diện của các nhà trường và của toàn ngành.
* Nguyên nhân của mặt mạnh
- Về phía Sở GD&ĐT Lâm Đồng đã làm tốt một số nội dung như sau: Chỉ đạo
các trường THPT thực hiện việc giáo dục KNS sát sao, kịp thời, có kế hoạch.
- Về phía các nhà trường:
+ Chỉ đạo bộ phận chuyên môn, tổ chức Đoàn thanh niên xây dựng các
chương trình giáo dục KNS cho học sinh trong từng học kỳ, từng đợt thi đua.
+ Chỉ đạo các tổ chuyên môn, đội ngũ cán bộ, giáo viên lồng ghép các nội
dung giáo dục KNS trong các môn học cơ bản.
* Nguyên nhân của hạn chế:
- Chưa có khung chương trình chung về giáo dục KNS cho học sinh THPT
trong toàn ngành; chưa có thời lượng nhất định dành cho các hoạt động giáo dục
KNS.
24


- Việc sử dụng nguồn tài liệu về giáo dục KNS cho học sinh của giáo viên còn
hạn chế; giáo viên chưa tích cực tham khảo, nghiên cứu do đó nội dung giáo dục
KNS còn nghèo nàn, hình thức tổ chức chưa phong phú, chưa hấp dẫn... nên chưa
hút được sự tham gia tích cực của học sinh.
- Việc huy động sự phối hợp của lực lượng ngoài nhà trường chưa hiệu quả;
chưa phát huy được sức mạnh của các tổ chức đoàn thể địa phương.
- Công tác kiểm tra, đánh giá chưa cụ thể; chưa có tiêu chí chấm điểm, khen
thưởng về công tác giáo dục KNS.
- Một bộ phận cán bộ, giáo viên, cha mẹ học sinh nhận thức chưa đầy đủ về
tầm quan trọng của việc tổ chức các hoạt động giáo dục KNS cho học sinh.
3. Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THPT
Bảo Lộc
3.1 Biện pháp 1: Tăng cường các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận
thức cho CBQL, GV, nhân viên trong trường về hoạt động giáo dục KNS cho

HS ở trường THPT Bảo Lộc
* Mục tiêu
- Giúp học sinh ý thức được hoạt động giáo dục KNS là hoạt động thiết thực
đáp ứng tốt nhu cầu của bản thân học sinh và nhu cầu của xã hội. Từ đó học sinh
mới tự nguyện chấp nhận yêu cầu của thầy cô giáo để lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ
năng, trang bị cho bản thân thông qua nhận thức, hành vi, hành động, việc làm từ
đó xây dựng kế hoạch hành động với môi trường, với cuộc sống hiện tại và tương
lai.
- Giúp các lực lượng giáo dục KNS hiểu rõ vì sao cần phải thực hiện giáo dục
KNS cho học sinh và rèn luyện cho các em hình thành các kỹ năng sống của chính
mình nhằm thích ứng với cuộc sống trong hiện tại và tương lai.
* Nội dung và cách thức thực hiện
Giáo dục phổ thông được đổi mới theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội
hóa tiếp cận với khu vực, với thế giới theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh,
nâng cao năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, tính tập thể, tư duy độc lập, kỹ năng
thực hành, vận dụng thực tiễn, kỹ năng sống ... Những nội dung phong phú đó
không thể chuyển tải hết trong thời lượng của các tiết học văn hoá trên lớp mà phải
thông qua các hoạt động ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp và các sinh hoạt
tập thể khác với các hình thức tổ chức đa dạng, phong phú.
Nhà trường cần làm tốt công tác tuyên truyền, tổ chức bồi dưỡng thường
xuyên nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, học sinh,
25


×