PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN THANH XUÂN
MÃ SKKN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 7 TIẾP CẬN
ĐỊNH LÍ HÌNH HỌC
Môn: Toán
Cấp học: THCS
Tài liệu kèm theo: Đĩa CD
NĂM HỌC: 2015 – 2016
MỤC LỤC
PHN TH NHT
T VN
Trong hệ thống các môn học đợc đa vào ging dy ở trờng
THCS, môn Toán cú vai trò hết sức quan trọng, bởi lẽ qua học toán
học sinh sẽ đợc phát triển t duy sáng tạo, linh hoạt, d thích ứng với
mọi hoàn cảnh. Học tốt môn Toán sẽ giúp học sinh học tốt các môn
học khác. c bit, khi hc nh lớ hỡnh hc, vic suy lun v chng minh nh
lớ, vic vn dng nh lớ ó hc vo bi tp giỳp cỏc em hc sinh rốn kh nng t
duy rt tt.
lp 6, cỏc em hc sinh mi ch c hc mt s khỏi nim m u hỡnh
hc phng. Lờn lp 7, cỏc em mi c tip cn nh lớ hỡnh hc. Chớnh vỡ vy,
nhiu hc sinh thy mụn hỡnh khú v thy s hc hỡnh. iu ny có thể xuất
phát từ những lý do khách quan và chủ quan nh học sinh cha nắm
đợc phơng pháp học tập, giáo viên còn ôm đồm kiến thức trong
giảng dạy, khó khăn về một cơ sở lý luận trong việc dạy học bộ
môn vv Học toán đồng nghĩa với giải toán, trong học tập muốn
làm đợc bài tập ngoài việc có một phơng pháp suy luận đúng n
đòi hỏi học sinh phải có vốn kiến thức sn có từ các công thức, các
quy tắc, định nghĩa, khái niệm, định lý
Dạy một định lớ nh thế nào? Điều này cng đã đợc nhiều
nhà nghiên cứu giáo dục đề cập, song khi thực hiện còn tuỳ thuộc
vào điều kiện cụ thể của học sinh và của giáo viên, c bit vi
hc sinh lp 7, cỏc em mi c tip cn nh lớ hỡnh hc. Bng cỏch no giỳp
hc sinh nm chc nh lớ, bit suy lun v chng minh nh lớ hỡnh hc, bit vn
dng nh lớ vo bi tp l vn tụi thy bn khon. Chớnh vỡ vy, việc thử
nghiệm các nội dung giảng dạy không chỉ nhằm rút kinh nghiệm
cho bản thân mà còn làm cơ sở thực tin để cùng đồng nghiệp
bàn luận nhằm xây dựng những phơng án giảng dạy thích hợp.
Vi SKKN Hng dn hc sinh lp 7 tip cn nh lớ hỡnh hc tôi
xin phép giới thiệu điều mình đã thực hiện nhm giỳp cỏc em hc
sinh lp 7 hc nh lớ hỡnh hc tt hn.
2
PHN TH HAI
GII QUYT VN
1)
C s lớ lun v thc tin
a)
C s lớ lun.
+ Định lớ đóng vai trò nh một bài toán tổng quát, qua việc
học định lý học sinh sẽ đợc cung cấp những vốn kiến thức cơ
bản của bộ môn.
+ Học định lớ là cơ hội rất thuận lợi giỳp học sinh phỏt trin kh
năng suy luận và chứng minh, góp phần phát triển năng lực trí
tuệ, đây là một điều không thể thiếu khi học toán.
+ Học sinh bậc học THCS là đối tợng thích tìm hiểu, khám
phá, thích thể hiện mình, chính vì vậy quá trình thực hiện của
giáo viên có thêm một số thuận lợi.
b)
C s thc tin.
+ Khác với các môn học khác nh vật lý, sinh học thì một
định lớ ở môn toán không phải qua thực nghiệm mà qua các bớc
suy luận chính xác. Nhng vì lý do s phạm một số định lớ ở lớp 7
đợc thừa nhận mà không qua chứng minh, nếu giỏo viờn không lu ý
học sinh sẽ nghi ng tớnh chính xác của môn toán.
+ Hc sinh lớp 7 bớc đầu c tiếp cận định lớ, học sinh cha
thấy đợc sự cần thiết phải chứng minh chặt chẽ và suy luận
chính xác khi hc nh lớ. Chớnh vỡ vy, việc đa một định lớ mi cho
học sinh tip cn trong tit hc l rt quan trng, ngi giỏo viờn cn
ging giỳp cho học sinh thấy rõ mục đích, ý nghĩa của việc học
một định lớ.
+ Do chơng trình và sách giáo khoa mới đòi hỏi trong một
tiết học học sinh phải tiếp thu một lợng kiến thức rộng, việc vận
dụng kin thc để làm nhiều bài tập trên lớp là một điều cần thiết,
do đó trong quá trình dạy một định lớ giáo viên không có điều
kiện để đi sâu vào định lớ.
2) Thc trng vn :
Vi kinh nghim ging dy mụn toỏn lp 7 qua cỏc nm tụi nhn thy:
+ Nắm nội dung định lớ và mối liên hệ giữa chúng là vấn
đề khó khăn đối với khụng ớt hc sinh, học sinh cha nhận ra đợc vn
ca bài toán cho và yờu cu cần giải quyết.
+ Không nắm chc các định lớ đã học, học trớc quên sau,
chớnh vỡ vy k năng vận dụng định lớ vào các hoạt động giải toán
cha thc s c tt.
3
+ Đối với học sinh môn hình học thờng đợc đánh giá là khó
hơn đại số, mặt khác định lớ thờng tập trung ở hình học do đó
vấn đề khó lại thêm khó đối với cả thầy và trò.
+ Khi giải quyết một bài toán cụ thể học sinh thiếu sự sáng
tạo, không biết cách tìm ra hớng giải quyết vì các em thiếu kỹ
năng giải quyết vấn đề.
3) Cỏc bin phỏp ó tin hnh:
3.1. Giỏo viờn cn nm vng các con đờng dạy học định
lớ:
Việc dạy và học các định lớ có thể thực hiện bằng con đờng
suy diễn hoặc bằng khâu suy đoán, ta có thể minh hoạ hai con
đờng đó nh sau:
Đối với mi định lớ cụ thể, việc đi theo con đờng nào không
phải là tuỳ tiện mà theo nội dung định lớ và điều kiện cụ thể về
học sinh. Việc phát hiện định lớ có thể đợc tiến hành theo nhiều
cách: Vẽ hình, đo đạc, gấp hình, tính toán đơn giản (dới sự hớng
dẫn của giáo viên).
Ví dụ: + Khi dạy định li Pitago (Toán 7 tập 1).
Sách giáo khoa đã dẫn dắt bằng hai phép sau :
Đo đạc: Hãy vẽ tam giác
vuông có các cạnh góc vuông
bằng 3 cm và 4 cm. Đo độ dài
cạnh huyền?
Và ghép hình.
4
5
+ Khi dạy định lý về tính chất ba đờng trung tuyến của
tam giác (Toán7 tập 2) học sinh phải qua hai bớc thực hành
Thực hành 1: Xác định ba trung tuyến bằng cách gấp hình
Thực hành 2: Kẻ 3 trung tuyến trên giấy kẻ ôrô
Và hoạt động tính toán tỉ số
+ Khi dạy bài tổng ba góc của một tam giác: Để có đợc
Tổng ba góc của một tam giác bằng 180 0 học sinh phải thực
hiện 2 hoạt động để phát hịên định lớ thông qua 2 bài tập nh
sau:
. Vẽ hai tam giác bất kỳ, dùng thớc đo góc đo ba góc của
tam giác rồi tính tổng số đo ba góc của tam giác. Có nhận xét
gì về kết quả trên?
.Thực hành: Cắt một
tấm bìa
hình tam giác ABC.
Cắt rời góc B ra rồi đặt nó kề
với góc A, cắt rời góc C ra rồi
đặt nó kề với góc A (nh hình
vẽ bên).
Hãy nêu dự đoán về tổng
số đo ba góc A, B, C của tam
giác?
3.2. Dạy học chứng minh định lớ:
Năng lực chứng minh định lớ là vn mà mi giáo viên cần
phải nghĩ đến và có ý thức rèn luyện cho học sinh khi dạy định
lớ. Muốn làm đợc điều này ngời giáo viên cn phi xỏc nh rừ cỏc bc:
Bc 1: Gợi động cơ chứng minh: Đối với môn toán nói
chung, dạy một định lớ nói riêng, trớc khi bắt tay vào chứng minh
một định lớ điều không thể thiếu đó là tạo động cơ chứng
minh, bởi lẽ nếu có động cơ chứng minh sẽ giúp học sinh phát huy
6
tính tích cực tự giác trong hoạt động, tạo sự thuận lợi trong tiếp
thu định lớ.
Muốn tạo động cơ chứng minh giáo viên cần lật ngợc vấn
đề, xét tính tơng tự, giải quyết một mâu thun của bài toán
hoặc xuất phát từ một nhu cầu của xã hội Khi tạo động cơ giáo
viên cần dành cho học sinh thời gian thích đáng, tạo điều kiện
để các em suy nghĩ thảo luận với nhau theo nhóm (2 - 3 em), các
em có thể tự tranh luận với nhau hoặc tranh luận trực tiếp với
giáo viên về một vấn đề cần giải quyết, một ý tởng mới.
ở lớp 7, thời gian đầu khi mới học định lớ học sinh cha thấy
rõ sự cần thiết phải chứng minh một mệnh đề toán học, các em
thờng băn khoăn không biết vì sao phải mất công chứng minh
bởi lẽ sau một vài phép đo đạc, một vài ví dụ học sinh đã suy
đoán ra đợc một kết luận và các em vội xem đó là đúng (tức là
một định lớ). Nh vậy để khắc phục tình trạng này ngời giáo viên
cần tận dụng những cơ hội khác nhau để cho học sinh nhận rõ
những điều thấy hiển nhiên nh vậy chẳng qua là chỉ ở trên một
hình vẽ, nếu thử thì cng chỉ đúng trên nhiều hình vẽ mà số
lần thử là hữu hạn mà thôi, giáo viên phải cho học sinh biết rằng
định lớ thì phải đúng trên vô số trờng hợp, chính vì vậy bắt
buộc chúng ta phải chứng minh định lớ.
Minh hoạ:
Trong phần có thể em cha biết: Khoảng một ngàn năm trớc
Công nguyên, ngời Ai cập đã biết căng dây gồm các đoạn có độ
dài 3, 4, 5 (đơn vị) để tạo ra một góc vuông. Vì thế, tam giác
có độ dài 3, 4, 5 đơn vị đợc gọi là tam giác Ai cập
Từ đây GV đặt vấn đề: Liệu điều này có đúng với mọi
trờng hợp
a:b:c =3:4:5?
Hình thành động cơ ở học sinh chứng minh đúng với
mọi trờng hợp.
Khi đa ra một định lớ với các ví dụ suy đoán giáo viên cần
làm cho các em tránh sự kết luận vội do biểu hiện từ ví dụ hoặc
7
từ hình vẽ. Những ví dụ hoặc hình vẽ không phù hợp sẽ làm cho
học sinh cha nhận ra sự cần thiết phải chứng minh.
Ví dụ: Khi dạy định lớ về góc ngoài của tam giác Mỗi góc
ngoài của tam giác lớn hơn góc trong không kề với nó
Hình 1
Hình 2
Với hình 1 ở trên cho ta ba góc A, B, C đều nhọn tức góc
ngoài ACx tù, thì học sinh có thể cho rằng chẳng cần phải chứng
minh vì góc tù bao giờ cũng lớn hơn góc nhọn A và B. Nhng nếu
vẽ hình mà góc ngoài ACx nhọn (hình 2) thì việc góc ngoài ACx
lớn hơn góc A và B không còn là điều hiển nhiên nữa.
Bc 2: Rèn luyện cho học sinh những hoạt động thành
phần trong chứng minh
Rèn luyện những hoạt động thành phần nh phân tích,
tổng hợp, so sánh, khái quát trong chứng minh là điều cần
thiết đối với học sinh và cần đợc coi trọng đối với ngời thầy khi
giảng dạy bởi lẽ đó là các hoạt động có tác dụng mỗ xẻ bài toán,
nó có tác dụng rèn luyện t duy của học sinh, đặc biệt có tác dụng
sâu sắc đối với đối tợng học sinh bị hỏng kiến thức (những kiến
thức đơn giản vẫn không nắm), đây là những đối tợng tồn
đọng lại do hệ quả của bệnh thành tích trong giáo dục.
Bc 3: Truyền thụ những tri thức phơng pháp:
Mặc dù ở mức độ lớp 7 chúng ta không yêu cầu học sinh biết
một định nghĩa chính xác về định lớ song giáo viên cần cho
học sinh hiểu rằng: Một định lớ (toán học) đợc khẳng định là
đúng bằng suy luận chứ không phải bằng thực nghiệm. Cái đúng
ở đây đợc hiểu là đúng bằng suy luận. Trong một hệ tiên đề
8
nào đó, xuất phát từ các tiên đề (đợc coi là đúng) ta suy ra các
định lớ. Vì thế có thể hiểu: Một định lớ là một khẳng định
đợc suy ra từ những khẳng định đợc coi là đúng
Phải cho học sinh thấy rằng dù định lớ đợc đa về dạng
Nếuthì... hay không thì chúng cũng luôn tồn tại hai phần là
giả thiết và kết luận. Việc có đợc một kết luận đúng phải là sự
gắn kết bằng phép suy luận logic của giả thiết, giả thiết nói ở
đây không chỉ là giả thiết nằm trong định lớ mà còn là những
khẳng định đợc coi là đúng khác.
Thông thờng khi chứng minh, xuất phát từ điều đã cho để
đi đến kết luận đúng ta thờng dùng những quy tắc kết luận
logic. Tất nhiên quy tắc này không đợc giới thiệu tờng minh cho
học sinh, nh quy tắc sau:
Quy tắc này đợc hiểu là nếu A suy ra B mà A đúng thì B
đúng
Ví dụ:
Vy hai gúc k cnh ỏy l gúc B = gúc C
Trong tam giác cân,
hai góc kề cạnh đáy
bằng nhau
Tam giác ABC là tam
giác cân với cạnh đáy
BC
9
Ngoài ra việc hình thành những phơng pháp suy luận
cho học sinh cũng hết sức cần thiết, chúng thờng là phơng
pháp suy xuôi, suy ngợc hoặc là phản chứng. Hình thành
những k năng này đợc thực hiện thông qua sự hớng dẫn của
giáo viên khi giảng dạy
Có thể hiểu phép suy xuôi nh sau (thờng gọi phân tích
đi xuống):
A0
A1
A2
...
B
Bớc 1
Bớc 2
Bớc 3
Bớc n
Trong đó A0 , A1, là những khẳng định đợc coi là đúng,
còn B là kết luận.
Sau đây là phép suy ngợc (thờng gọi là phép phân tích
đi lên):
B
An
...
A1.
A
Bớc 1
Bớc 2
Bớc n
Trong đó B là kết luận, An là điều phải chứng minh để có
B, A là khẳng định đợc coi là đúng.
Ví dụ:
Chứng minh định lý góc ngoài của tam giác Mỗi góc
ngoài của tam giác bằng tổng hai góc trong không kề với nó
A + B + C = 1800
A0
0
C = 180 ( A + B)
Hay :
A1
Mặt khác: C = 1800 ACx
A2
ACx = ( A + B)
Suy ra:
B
Nếu bài toán trên thực hiện theo phép suy xuôi thì với
phép suy ngợc bài toán sẽ nh sau:
Muèn chøng minh
∠ ACx
= ( ∠A +
∠ B)
0
∠ B)
B
Ta ph¶i chøng minh
∠C
= 180
– ( ∠A +
A1
= 1800 – ∠ ACx
∠ A + ∠ B + ∠ C = 1800
∠ ACx + ∠ C = 1800
∠C
Tøc lµ ph¶i chøng minh
A0
Nh vậy thực chất của phép suy xuôi là phép chứng minh,
còn phép suy ngợc có tính chất tìm đoán.
Trong quá trình dạy học chứng minh định lớ, ta cng cần
truyền thụ cho học sinh những tri thức phơng pháp về chiến lợc
chứng minh (có tính chất tìm đoán) theo con đờng tập luyện
những hoạt động ăn khớp với những tri thức này. Chiến lợc này
kết tinh lại ở học sinh nh một bộ phận kinh nghiệm mà họ tích
luỹ đợc trong quá trình học các chứng minh định lớ, cũng nh
giải các bài toán chứng minh. Đơng nhiên, sự kết tinh này không
nên để din ra một cách tự phát mà cần phải thực hiện một
cách có chủ định, có ý thức của thy giáo. Chng hạn, thầy luôn
luôn lặp đi lặp lại một cách có dụng ý những chỉ dãn hoặc
câu hỏi nh:
Giả thiết nói gì? giả thiết còn có thể biến đổi nh thế
nào?
Hãy vẽ một hình theo dữ kiện của bài toán. Những khã
năng có thể xy ra
Từ giả thiết suy ra đợc điều gì? Những định lớ nào có
giả thiết giống hoặc gần giống với giả thiết này?
Kết luận nói gì ? Điều đó còn có thể phát biểu nh thế
nào?
Những định lớ nào có kết luận giống hoặc gần giống với
kết luận của bài toán?
Bc 4: Giỏo viờn phân bậc hoạt động chứng minh:
Trong dạy học với từng định lớ giáo viên cần phân bậc hoạt
động chứng minh một cách đúng t tởng chủ đạo sao cho sự
điều khiển quá trình học tập đạt yêu cầu và vừa sức đối với
học sinh. Có thể phân bậc hoạt động học tập của học sinh khi
chứng minh một định lớ nh sau:
- Công nhận định lớ, có minh hoạ để hiểu ý nghĩa của
định lớ nhng không chứng minh.
- Định lớ có chứng minh, yêu cầu học sinh hiểu chứng minh
nhng không yêu cầu học sinh nhớ chứng minh.
- Định lớ có yêu cầu học sinh chứng minh lại.
Cần lu ý rằng mức độ khó khăn của một hoạt động chứng
minh không chỉ phụ thuộc cách phân bậc trên mà còn quan hệ
với từng nội dung bài toán. Hiểu chứng minh ở một bài toán khó
có thể khó khăn hơn là độc lập chứng minh ở một bài toán dễ.
3.3. Dạy học cng cố định lớ:
Một bớc không thể thiếu khi dạy một định lớ đó là củng cố
định lớ. Ta cần giúp học sinh củng có kiến thức bằng cách cho
họ luyện tập những hoạt động sau:
Nhận dạng và thể hiện khái niệm:
Nhận dạng là xem xét một tình huống cho trớc có ăn khớp
với định lớ vừa học không?
Thể hiện là tạo ra tình huống phù hợp với định lớ cho trớc.
Ta có thể minh hoạ bằng 2 ví dụ sau:
Ví dụ 1: Nhận dạng định lớ (Bài tập 32 trang 94 - SGK
tập 1)
Trong các phát biểu sau, phát biểu nào din đạt đúng nội
dung của tiên đề Ơ-clit.
- Nếu qua điểm M nằm ngoài đờng thẳng a có hai đờng
thẳng song song với a thì chúng trùng nhau.
- Cho điểm M nằm ngoài đờng thẳng a. Đờng thẳng đi
qua M và song song với đờng thẳng a là duy nhất.
- Có duy nhất một đờng thẳng song song với một đờng
thẳng cho trớc
- Qua điểm M nằm ngoài đờng thẳng a có ít nhất một
đờng thẳng song song với a
Ví dụ 2. Thể hiện định lớ (Bài tập 24 trang 66 SGK tập
2)
Cho hình vẽ trên, hãy điền
trong các khẳng định sau:
a) MG = MG
b)
GR = MR
GR = MG
Hoạt động ngôn ngữ:
Về mặt ngôn ngữ lôgic, cần
số thích hợp vào chổ trống
NS = NG
NS = GS
NG = GS
chú trọng phân tích cấu trúc
lôgic cũng nh phân tích nội dung định lớ, khuyến khích học
sinh thay đổi hình thức phát biểu định lớ nhằm phát triển
năng lực diễn đạt độc lập ý nghĩ của mình.
Ví dụ: Từ định lớ về góc ngoài của tam giác Mỗi góc
ngoài của tam bằng tổng hai góc trong không kề với nó. Ta có
thể phát biểu lại nh sau:
Góc ngoài của tam giác và tổng hai góc trong không kề với
nó có số đo bằng nhau
Hoặc: Tổng số đo hai góc trong của tam giác bằng số đo
góc ngoài không kề với nó.
* Các hoạt động cũng cố khác:
Cùng với các hoạt động trên còn tập luyện cho học sinh
những hoạt động củng cố khác nh đặc biệt hoá, khái quát hoá,
hệ thống hoá và vận dụng những định lý trong giải
toán,
đặc biệt là trong chứng minh toán học.
Trong việc dạy học các định lớ toán học, cũng nh dạy học
các khái niệm, cần phải làm cho học sinh hiểu và nắm vững
một hệ thống kiến thức. Sau mi phần, cần tiến hành hệ thống
hoá các định lớ, chú ý nêu rõ mối liên hệ giữa chúng
Mối liên hệ giữa các định lớ có thể là mối liên hệ chung
riêng: một định lớ có thể là trờng hợp mở rộng hay đặc biệt
của một định lớ đã biết nào đó. Chẳng hạn, từ định lớ Tổng
ba góc của tam giác bằng 1800 ta có thể suy ra định lớ sau:
Trong một tam giác vuông, hai góc nhọn phụ nhau
Tóm lại, khi thực hiện dạy định lớ chúng ta cần thực hiện
những điều đã đợc nói ở trên, song không phải với định lớ no
cng thể hiện đủ các bớc đã nghiên cứu, việc nên nhấn mạnh
phần nào trong một định lớ cụ thể còn tuỳ thuộc vào nhiều
hoàn cảnh và điều kiện khác nhau, điều đó tuỳ thuộc vào sự
nhìn nhận, phát hiện của mỗi giáo viờn.
4. Hiu qu sỏng kin kinh nghim:
Nm hc 2015 2016, khi áp dụng những quan điểm của
mình vào bài giảng, tôi thấy rằng học sinh đã có sự hào hứng
hơn trong học tập bởi lẽ giáo viên đã khơi gợi đợc nhu cầu nhận
thức, đồng thời làm cho các em cảm thấy mình có thể giải
quyết đợc vấn đề ny sinh nếu nh có sự cố gắng, trớc vấn đề
mới tụi luôn làm cho các em có niềm tin, tin tởng của bản thân
bằng những sự khích lệ, động viên và kèm theo những câu
hỏi gợi ý. Khi hc sinh gp khú khn khi suy ngh trỡnh by li gii bi
toỏn, tụi luôn bên cạnh các em để hỗ trợ lúc cần thiết nhất, vỡ vy
các em luôn cảm thấy yên tâm vì đợc giúp đ trên cơ sở bản
thân luôn cố gắng nỗ lực để giải quyết bài toán trớc mắt.
Bằng sự điều khiển của giáo viên các em đã bị cuốn hút vào
bài học, các em đã say sa khám phá định lớ mi v vn dng nh lớ
vo bi tp.
Qua quá trình học định lớ các em đợc cung cấp vốn kiến
thức cần thiết để vận dụng vào làm toán. Ngoài ra ở các em
đã hình thành một thói quen suy luận lôgic, trớc mỗi bài toán
các em đã có thói quen giải quyết một cách khoa học, cách din
đạt bài toán trở nên chặt ch hơn. Quan trng hơn cả là sự
chuyển biến cả về số lợng lẫn chất lợng. Đáng mừng nhất đối với
cả thầy lẫn trò đó là niềm tin của các em đối với môn toán tăng
lên, các em không còn coi môn toán là một điều xa lạ nữa, nó
trở nên thân thiện hơn đối với các em, học toán từ đó trở
thành nhu cầu đối với nhiều em. Chính vì vậy, các bài kiểm
tra 15 phút và 45 phút thờng bài sau có kết quả tốt hơn bài trớc. Có thể minh hoạ kết quả của SKKN này bằng chất lợng khảo
sát trớc và sau khi áp dụng nh sau:
Trc khi ỏp dng SKKN
Xp loi
S lng
%
Sau khi ỏp dng SKKN
Xp loi
S lng
%
Kộm
Yu
Trung bỡnh
Khỏ, gii
0/43
5/43
14/43
24/43
0
11,6
32,6
55,8
Kộm
Yu
Trung bỡnh
Khỏ, gii
0/43
1/43
12/43
30/43
0
2,3
27,9
69,8
5. Bi hc kinh nghim:
5.1. Đối với giáo viên:
- Khi dạy một định lớ, ngời thầy phải xác định rõ vai trò,
vị trí của định lớ đó đối với bài học, mở rộng ra đối với chơng; mối liên hệ của chúng với các nội dung kiến thức khác.
- Nội dung định lớ khó hay dễ, đòi hỏi các em tiếp thu ở
mức độ nào, các em phải chứng minh đợc định lớ, hiểu cách
chứng minh định lớ hay công nhận định lớ.
- Trong định lớ điều gì cần nhấn mạnh, kh năng điều
gì học sinh sẽ bị hiểu nhầm, cần phải lờng trớc những sai lầm
của học sinh.
- Vì lý do s phạm, nhiều định lớ đợc công nhận do đó
giáo viên phải khẳng định tính chính xác của định lớ bằng
câu nói sau ny các em sẽ chứng minh đợc định lớ trờn.
- Lấy học sinh làm trung tâm, coi học sinh là chủ thể
trong hoạt động nhận thức. Trong khi dạy toán nói chung, dạy
định lý nói riêng, thầy giáo luôn tận dụng hết kinh nghiệm có
sẳn của các em, khai thác hết kinh nghiệm đó, tối đa hoá sự
tham gia của ngời học, tối thiểu hoá sự áp đặt can thiệp của
ngời dạy. Muốn làm đợc điều này ngời thầy phải tạo sự hứng
thú cho các em bằng cách tổ chức học tập với phơng pháp phù
hợp, kịp thời động viên hoặc khéo léo nhắc nhở học sinh
trong những tình huống khác nhau.
- Tận dụng tất cả thời gian trong một tiết dạy bằng các phơng tiện dạy học nh bảng phụ, máy chiếu để có cơ hội đi
sâu nghiên cứu định lớ.
- Khi chọn bài tập cho học sinh thầy giáo phải chú ý tới các
dạng bài tập khác nhau nh: bài tập nhận dạng định lớ, bài tập
thể hiện định lớ, bài tập khắc sâu định lớ (thờng là dạng bài
phản ví dụ), bài tập vận dụng định lớ
5.2. Đối với học sinh:
- Coi định lớ nh một công cụ lao động, công cụ tốt, sắc
bén thì mới làm ra đợc sản phẩm, nắm chắc định lớ mới có
thể làm đợc bài tập.
- Học phải đi đôi với hành, việc phải làm bài tập vận dụng
không chỉ là mục đích của học toán mà thông qua bài tập học
sinh sẽ hiểu sâu sắc về định lớ.
- Tập trung suy nghĩ, phát biểu, ghi chép, tích cực thực
hiện việc học theo sự hớng dẫn của giáo viên.
PHN TH BA
KT LUN, KIN NGH.
Nói chung, về nguyên tắc dạy một định lớ ở lớp 7 cũng
giống nh ở lớp 8 và lớp 9. ở lớp 7, đây là một khái niệm hoàn
toàn mới, ban đầu học sinh không chỉ hiểu thế nào là định lớ
mà một loạt các khái nịêm khác liên quan cần nắm nh: thế nào
là suy lun lôgic, thế nào là căn cứ, thế nào là giả thiết, kết
luận Cho nên khi dạy định lớ ở lớp 7 đòi hỏi ngời thầy phải
hết sức chu đáo trong các bớc để các em nhanh chóng hình
thành thói quen, hình thành kỹ năng kỹ xảo cho bản thân.
Tôi nghĩ rằng, đối với môn toán cần có quan điểm là t
duy quan trọng hơn kiến thức, học cách giải quyết vấn đề
quan trong hơn tiếp thu vấn đề . Thông qua học định lớ
không những các em đợc cung cấp vốn kiến thức cần thiết mà
quan trọng hơn đó là hình thành thói quen suy nghĩ cách giải
quyết trớc một vấn đề ny sinh. Nh vậy dạy toán là phải dạy suy
nghĩ, dạy học sinh thành thạo các thao tác t duy: phân tích,
tổng hợp, đặc biệt hoá, tơng tự trong đó phân tích và
tổng hợp là nền tảng. Phải cung cấp cho học sinh những tri
thức về phơng pháp để hoc sinh có thể tìm tòi, tự mình phát
hiện và phát triển vấn đề, dự đoán đợc kết quả, tìm đựoc hớng giải quyết cho một bài toán.
Khi thực hiện bản SKKN này tôi có một mong muốn lấy
những điều mình đã làm và đã có kết quả tốt đợc giới thiệu
với đồng nghiệp để các bạn tham khảo đồng thời cùng bàn
luận thêm nhằm góp tiếng nói vào phong trào đổi mới phơng
pháp dạy và học. Vì thời gian ngn và năng lực có hạn, những
điều tôi vit ở trên chắc chắn s khụng trỏnh khi thiu sút, rt mong
nhn c s úng gúp ý kin ca cỏc bn ng nghip.
Tôi xin chân thành cảm ơn!