Câu 2: Hàng hóa sức lao động
Hàng hoá sức lao động
*
Sức lao động
- Khái niệm sức lao động: Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ
những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người
đang sống, và được người đó đem ra sử dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử
dụng nào đó.
* Điều kiện biến sức lao động thành hàng hoá:
+ Thứ nhất, người lao động phải được tự do về thân thể của mình, phải có khả
năng chi phối sức lao động ấy và chỉ bán sức lao động trong một thời gian nhất
định.
+ Thứ hai, người lao động không còn tư liệu sản xuất cần thiết để tự mình thực
hiện lao động và cũng không có của cải gì khác, muốn sống chỉ còn cách bán
sức lao động cho người khác sử dụng.
=> Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện núi trờn tất yếu biến sức lao động thành
hàng hóa. Sức lao động biến thành hàng hoỏ là điều kiện quyết định để tiền biến
thành tư bản.
* Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động
Giống như hàng hoá khác, hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính: Giá
trị và giá trị sử dụng.
- Giá trị của hàng hoá sức lao động do số lượng lao động xã hội cần thiết để
sản xuất và tái sản xuất ra nó quyết định. Giá trị của sức lao động được quy về
giá trị của toàn bộ tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức
lao động quyết định, để duy trì đời sống của công nhân làm thuê và gia đình họ.
+ Giá trị hàng hoá sức lao động khác với hàng hoá thông thường ở chỗ nó bao
hàm cả yếu tố tinh thần và yếu tố lịch sử, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của
từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được của mỗi
nước.
+ Giá trị hàng hoá sức lao động do những bộ phận sau hợp thành:
Một là giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để
tái sản xuất sức lao động, duy trì nòi giống công nhân
Hai là, phí tổn đào tạo công nhân
Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái
công nhân.
- Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu
dùng sức lao động, tức là quá trình tiêu dùng sức lao động của người công nhân.
Quá trình đó là quá trình sản xuất ra một loạt hàng hoá nào đó; đồng thời là quá
trình tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân sức lao động. Phần lớn hơn
đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt. Đó chính là đặc điểm
riêng của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động. Đặc điểm này là chìa khoá
để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của chủ nghĩa tư bản.
Câu 3: Quy luật Giá trị thặng dư
+ Quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là quy luật giá trị
thặng dư.
+ Quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản bởi vì
nó quy định bản chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, chi phối mọi mặt đời
sống kinh tế của xã hội tư bản. Không có sản xuất giá trị thặng dư thì không có
chủ nghĩa tư bản. Theo C. Mác, chế tạo ra giá trị thặng dư, đó là quy luật tuyệt
đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ở đâu có sản xuất giá trị thặng
dư thì ở đó có chủ nghĩa tư bản: ngược lại, ở đâu có chủ nghĩa tư bản thì ở đó có
sản xuất giá trị thặng dư. Chính vì vậy, Lênin gọi quy luật giá trị thặng dư là quy
luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản.
+ Nội dung của quy luật này là sản xuất nhiều và ngày càng nhiều hơn giá trị
thặng dư bằng cách tăng cường bóc lột công nhân làm thuê.
+ Sản xuất nhiều và ngày càng nhiều giá trị thặng dư là mục đích, là động lực
thường xuyên của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, là nhân tố đảm bảo sự tồn tại,
thúc đẩy sự vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản; đồng thời nó làm cho
mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất
yếu chủ nghĩa tư bản bằng một xã hội cao hơn.
Quy luật giá trị thặng dư là nguồn gốc của mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản:
mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp
công nhân
+ Quy luật giá trị thặng dư đứng đằng sau cạnh tranh tư bản chủ nghĩa. Với mục
đích là thu được ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dư, các nhà tư bản cạnh tranh
với nhau, tiêu diệt lẫn nhau để có được quy mô giá trị thặng dư lớn hơn, tỉ suất
giá trị thặng dư cao hơn.
+ Để sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng dư, các nhà tư bản ra sức áp dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật, cải tiến sản xuất. Từ đó thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển mạnh mẽ, nền sản xuất có tính chất xã hội hoá ngày càng cao, mâu
thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản
chủ nghĩa ngày càng gay gắt.
Câu 4: Chủ nghĩa tư bản độc quyền, mối quan hệ giữa độc quyền và cạnh
tranh?
1/ Chủ nghĩa tư bản độc quyền
2/ Quan hệ giữa độc quyền và cạnh tranh
Độc quyền sinh ra từ cạnh tranh tự do, đối lập với cạnh tranh tự do. Nhưng sự
xuất hiện của độc quyền không thủ tiêu được cạnh tranh, trái lại nó còn làm cho
cạnh tranh trở nên đa dạng, gay gắt và có sức phá hoại to lớn hơn. Trong giai
đoạn đế quốc chủ nghĩa, không chỉ tồn tại sự cạnh tranh giữa những người sản
xuất nhỏ, giữa những nhà tư bản vừa và nhỏ như trong giai đoạn chủ nghĩa tư
bản tự do cạnh tranh, mà còn có thêm các loại cạnh tranh sau:
Một là, cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với các xí nghiệp ngoài độc
quyền. Các tổ chức độc quyền tìm mọi cách chèn ép, chi phối, thôn tính các xí
nghiệp ngoài độc quyền bằng nhiều biện pháp như: độc chiếm nguồn nguyên
liệu, nguồn nhân công, phương tiện vận tải, tín dụng, hạ giá có hệ thống... để
đánh bại đối thủ.
Hai là, cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với nhau. Loại cạnh tranh này có
nhiều hình thức: cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền trong một ngành, kết
thúc bằng một sự thoả hiệp hoặc bằng sự phá sản của một bên cạnh tranh; cạnh
tranh giữa các tổ chức độc quyền khác ngành có liên quan với nhau về nguồn
nguyên liệu, kỹ thuật...
Ba là, cạnh tranh trong nội bộ các tổ chức độc quyền. Những nhà tư bản tham
gia cácten, xanhđica cạnh tranh với nhau để giành thị trường tiêu thụ có lợi hoặc
giành tỷ lệ sản xuất cao hơn. Các thành viên của tờrớt và côngxoócxiom cạnh
tranh với nhau để chiếm cổ phiếu khống chế, từ đó chiếm địa vị lãnh đạo và
phân chia lợi nhuận có lợi hơn.
Câu 5: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Điều kiện khách quan quy
định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Liên hệ với GCCN Việt Nam?
a)Khái niệm giai cấp công nhân ( giai cấp vô sản )
“Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển
cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát
triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao; là lực lượng
lao động cơ bản trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản
xuất ra của cải vật chất và cải tạo quan hệ xã hội, là lực lượng chủ yếu của tiến
trình lịch sử quá độ từ CNTB lên CNXH.
b) Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo quần chúng nhân dân lao
động đấu tranh xóa bỏ chế độ áp bức bóc lột và xây dựng xã hội mới-xã hội chủ
nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân phải trải qua 2 bước:
-Bước 1 : giành lấy chính quyền nhà nước và xác lập chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất.
-Bước 2 : lãnh đạo nhân dân tiến hành xây dựng xã hội mới XHCN đó là một
quá trình lịch sử lâu dài và đầy khó khăn.
c) Những điều kiện khách quan qui định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân
Địa vị kinh tế- xã hội của giai cấp công nhân trong xã hội tư bản
Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử thế giới là do địa vị kinh tế - xã hội qui
định. Địa vị đó được thể hiện ở những điểm sau đây:
- Giai cấp công nhân là giai cấp ra đời ,tồn tại và phát triển gắn liền với
nền sản xuất đại công nghiệp là sản phẩm của nền đại công nghiệp, nên họ là
lực lượng sản xuất tiên tiến, có trình độ xã hội hóa cao, là nhân tố quyết định
trong việc thủ tiêu quan hệ sản xuất TBCN và đại diện cho xu hướng phát triển
của xã hội loài người.
- Trong xã hội tư bản, giai cấp công nhân không có hoặc có rất ít tư liệu
sản xuất phải đi làm thuê cho giai cấp tư sản và bị bóc lột giá trị thặng dư, vì
vậy mà họ trở thành giai cấp trực tiếp đối kháng với giai cấp tư sản. Từ sự đối
kháng đó đã bùng lên những phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống
lại giai cấp tư sản bóc lột để giải phóng mình và toàn nhân loại, trong cuộc đấu
tranh đó họ không mất gì ngoài mất xiềng xích và được cả thế giới về mình.
- Giai cấp công nhân có những lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích của
quần chúng nhân dân lao động nên họ có thể tập hợp lãnh đạo đông đảo quần
chúng nhân dân đi theo mình để làm cách mạng. Chứng tỏ giai cấp công nhân
hiện đại là lực lượng xã hội có tính năng động lịch sử, có khả năng đấu tranh tự
giải phóng mình và toàn nhân loại ra khỏi áp bức, bóc lột, bất công.
Những đặc điểm chính trị - xã hội của giai cấp công nhân
- Giai cấp công nhân là giai cấp tiên phong cách mạng.
- Giai cấp công nhân là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để nhất.
- Giai cấp công nhân là giai cấp có tính tổ chức và kỉ luật cao nhất.
- Giai cấp công nhân là giai cấp có bản chất quốc tế.
Tóm lại, từ sự phân tích địa vị kinh tế - xã hội và những đặc điểm chính trị xã
hội của giai cấp công nhân, chủ nghĩa Mác – Lênin đã phát hiện ra rằng giai cấp
công nhân là giai cấp có sứ mệnh lịch sử. Đó là một việc làm hết sức khách
quan và khoa học.
Liên hệ:
Giai cấp công nhân Việt Nam có các đặc điểm cơ bản, chung nhất của giai cấp
công nhân thế giới, nhưng có những đặc điểm riêng do hoàn cảnh lịch sử cụ thể
của Việt Nam tạo ra; đó là:
- Là sản phẩm của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp cuối thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX.
- Đại đa số xuất thân từ nông dân nghèo, ra đô thị, đồn điền, xưởng máy nhỏ...
làm thuê cho chủ tư sản xâm lược. Trình độ khoa học kĩ thuật, tay nghề và mức
sống còn thấp, vì chưa có nền công nghiệp hiện đại. Chịu ảnh hưởng tư tưởng
của người sản xuất nhỏ, tiểu nông.
- Ra đời trước cả giai cấp tư sản Việt Nam . Có truyền thống lao động cần cù,
yêu nước nồng nàn, gắn bó mật thiết với dân tộc, nhất là nông dân và các tầng
lớp lao động.
- Sớm được giác ngộ cách mạng và sớm có Đảng tiên phong do Hồ Chí Minh người đưa Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và Đông Dương - sáng lập và
rèn luyện. Giai cấp công nhân sớm trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt
Nam từ khi có Đảng của nó. Hơn 70 năm qua, giai cấp công nhân và nhân dân
Việt Nam đã thu được nhiều thắng lợi to lớn trong cách mạng giải phóng dân
tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Trong công cuộc đổi mới hiện nay, tuy đã đạt được nhiều thành tựu to lớn,
song giai cấp công nhân Việt Nam vẫn còn nhiều mặt hạn chế: đặc biệt là về
trình độ văn hoá cơ bản, khoa học công nghệ và tay nghề; giác ngộ chính trị và
mức sống tuy có khá hơn sau những năm đổi mới có kết quả, nhưng nhìn chung
cũng còn hạn chế, chưa tương xứng với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa cần phải thực hiện một số giải
pháp sau đây:
- Xây dựng và hoàn thiện một hệ thống chính sách xã hội đối với giai cấp công
nhân theo hướng bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng, chất
lượng như chính sách về việc làm, tiền lương, đào tạo, bảo hiểm xã hội.
- Chú trọng và yêu cầu ngày càng cao với đội ngũ công nhân khu vực kinh tế
Nhà nước để tạo cơ sở làm tốt vai trò chủ đạo thực sự của kinh tế Nhà nước và
cùng kinh tế tập thể làm nền tảng vững vàng cho toàn bộ nền kinh tế cả nước.
- Công nghiệp hoá đi đôi với hiện đại hoá một cách phù hợp, hiệu quả để nước
ta thành nước công nghiệp hiện đại, phát triển nhanh và bền vững; đặc biệt áp
dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất.
- Từ chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lí đến chuyển giao khoa học công nghệ
hiện đại hợp lí mà có căn cứ đào tạo, đào tạo lại giai cấp công nhân một cách
khoa học, hiệu quả thiết thực; từ đó tạo việc làm, tăng thu nhập cho giai cấp
công nhân.
- Đổi mới hệ thống chính trị ở các doanh nghiệp có công nhân nhằm vừa bảo vệ
đúng đắn lợi ích của công nhân, vừa giáo dục, tổ chức đào tạo và yêu cầu ngày
càng cao với giai cấp công nhân trong sản xuất kinh doanh, hoạt động chính trị xã hội ngay trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Câu 6: Nội dung cơ bản của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa. Liên hệ thực tiễn ở
Việt Nam?
a)
Khái niệm
Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là nền văn hoá được xây dựng và phát triển
trên nền tảng hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản lãnh
đạo nhằm thỏa mãn nhu cầu không ngừng tăng lên về đời sống văn hóa tinh
thần của nhân dân, đưa nhân dân lao động thực sự trở thành chủ thể sáng tạo
và hưởng thụ văn hóa.
b)
Đặc trưng
-
Thứ nhất, Chủ nghĩa Mác-Lênin giữ vai trò chủ đạo và là nền tảng tư
tưởng, quyết định phương hướng phát triển nội dung của nền văn hóa
xã hội chủ nghĩa.
-
Thứ hai, là nền văn hóa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu
sắc thể hiện mục đích và động lực nội tại của quá trình xây dựng xã
hội mới và nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa.
-
Thứ ba, là nền văn hóa được hình thành, phát triển một cách tự giác,
dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua chính Đảng Cộng
sản, có sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
c) Liên hệ: Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc
* Nền văn hóa tiên tiến
Nền VH tiên tiến có thể được cụ thể hoá bằng những khiá cạnh cơ bản sau :
+ Tiên tiến về trình độ học vấn, về dân trình độ KH và công nghệ;
+ Tiên tiến về tư tưởng, đạo đức, tinh thần, tình cảm lối sống;
+ Tiên tiến còn là sự kết hợp giữa hiện đại và truyền thống cả về hình thức
và nội dung.
+ Nền VH tiên tiến VN là sự kết hợp truyền thống dân tộc với CN Mác-Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh.
* Nét đậm đà bản sắc dân tộc
Bản sắc VH dân tộc VN bao gồm sự thống nhất trong tính đa dạng và phong
phú của nền VH VN tức là bao gồm các sắc thái và các giá trị VH của các dân
tộc anh em trên đất nước VN, của các vùng, các địa phương trong nước.
Việt Nam gồm 54 dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ, mỗi dân tộc một sắc
thái riêng, cho nên văn hóa Việt Nam là một sự thống nhất trong đa dạng.
Khái quát về các lĩnh vực văn hóa chủ yếu:
Phong tục tập quán
Việt Nam là đất nước của lễ hội quanh năm, nhất là vào mùa xuân. Các tết
chính là tết Nguyên đán, tết Rằm tháng Giêng, tết Hàn thực, tết Đoan ngọ, tết
Rằm tháng Bảy, tết Trung thu, tết Ông táo...
Mỗi vùng thường có lễ hội riêng, quan trọng nhất là các lễ hội nông nghiệp (cầu
mưa, xuống đồng, cơm mới...), các lễ hội nghề nghiệp (đúc đồng, rèn, pháo, đua
ghe...).
Ngoài ra là các lễ hội kỉ niệm các bậc anh hùng có công với nước, các lễ hội
tôn giáo và văn hóa (hội chùa). Lễ hội có 2 phần, phần lễ mang ý nghĩa cầu xin
và tạ ơn và phần hội là sinh hoạt văn hóa cộng đồng gồm nhiều trò chơi, cuộc
thi dân gian.
Tín ngưỡng và tôn giáo
Ở Việt Nam, đó là tín ngưỡng đa thần và coi trọng nữ thần, lại thờ cả động vật
và thực vật.
Trong tín ngưỡng sùng bái con người, phổ biến nhất là tục thờ cúng tổ tiên, gần
như trở thành một thứ tôn giáo của người Việt Nam (trong Nam bộ gọi là Đạo
Ông Bà).
Ngôn ngữ
Chữ quốc ngữ là công cụ văn hóa quan trọng ra đời từ thế kỉ 19 đóng vai trò
quan trọng trong nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc.
Đặc điểm của tiếng Việt: đơn âm nhưng vốn từ cụ thể, phong phú, giầu âm sắc
hình ảnh, lối diễn đạt cân xứng, nhịp nhàng, sống động, dễ chuyển đổi, thiên về
biểu trưng, biểu cảm, rất thuận lợi cho sáng tạo văn học nghệ thuật. Tự điển
tiếng Việt xuất bản năm 1997 gồm 38410 mục từ.
Văn học
Phát triển song song, tác động qua lại sâu sắc: Văn học Việt Nam xuất hiện
khá sớm, có hai thành phần là văn học dân gian và văn học viết.
Văn học Việt Nam hiện đại phát triển từ lãng mạn đến hiện thực, từ âm hưởng
chủ nghĩa anh hùng trong chiến tranh đang chuyển sang mở rộng ra toàn diện
cuộc sống, đi vào đời thường, tìm kiếm các giá trị đích thực của con người.
Nghệ thuật:
Việt Nam có khoảng 50 nhạc cụ dân tộc, trong đó bộ gõ là phổ biến nhất, đa
dạng nhất và có nguồn gốc lâu đời nhất (trống đồng, cồng chiêng, đàn đá, đàn tơ
rưng...). Bộ hơi phổ biến là sáo, khèn, còn bộ dây độc đáo nhất có đàn bầu và
đàn đáy.
Tranh dân gian: Tranh dân gian gồm hai loại, tranh Tết và tranh Thờ.
Kiến trúc
Kiến trúc dân gian: bao gồm kiến trúc gỗ, kiến trúc gạch đá, kiến trúc tre nứa
lá khá phổ biến ở khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam.
Có thể điểm tên một số di tích về kiến trúc gỗ như Chùa Một Cột, chùa Dâu,
chùa Keo, chùa Bút Tháp những ngôi nhà cổ tại các thành phố lớn, nhất là tại
Hà Nội, Hội An và Huế...
Kiến trúc gạch đá: tiêu biểu được lưu giữ đến ngày nay là tháp chùa, cổng
thành, tường thành (cổng thành nhà Hồ, cổng thành Hà Nội…), tam quan
chùa đền (tam quan Văn Miếu, tam quan Trấn Vũ, cửa Hiển Nhân), Cột
cờ Hà Nội, cửa Ngọ Môn Huế...
Câu 7: Đặc trưng của nhà nước XHCN; đặc trưng của nền dân chủ XHCN;
những nguyên tắc cơ bản của việc giải quyết vấn đề tôn giáo trong CNXH
1/ Đặc trưng của nhà nước XHCN
a)Khái
niệm
“Nhà
nước
xã
hội
chủ
nghĩa”
- Nhà nước XHCN là tổ chức mà thông qua đó, dảng của giai cấp công nhân
thực hiện vai trò lãnh đạo của mình đối vơi toàn xã hội, là một tổ chức chính trị
thuộc kiến trúc thượng tầng dựa trên cơ sở kinh tế của CNXH, đó là một nhà
nước kiểu mới, thay thế nhà nước tư sản nhờ kết quả của cuộc CMXHCN, là
hình thức chuyên chính vô sản được thực hiện trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
b) Đặc trưng của nhà nước XHCN
- Khác với các hình thức nhà nước đã từng có trong lịch sử, nhà nước XHCN là
một kiểu nhà nước đặc biệt .Đó là kiểu nhà nước có những đặc trưng cơ bản
sau:
+ Một là nhà nước XHCN là công cụ cơ bản để thực hiện quyền lực của
nhân dân lao động, đặt dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản.
+Hai là nhà nước XHCN có đặc trưng về nguyên tắc khác hẳn với nhà
nước tư sản. Cũng là một công cụ chuyên chính giai cấp, nhưng vì lợi ích của
tất cả những người lao động tức là tuyệt đại đa số nhân dân, nhà nước chuyên
chính vô sản thực hiện sự trấn áp những kẻ chống đối, phá hoại sự nghiệp cách
mạng
XHCN.
+ Ba là: trong khi nhấn mạnh sự cần thiết của bạo lực và trấn áp, các nhà
kinh điển của chủ nghĩa Mac vẫn xem mặt tổ chức, xây dựng là đặc trưng cơ
bản của nhà nước XHCN, của chuyên chính vô sản.
+ Bốn là : Nhà nước XHCN nằm trong nền dân chủ XHCN và theo
LêNin con đường vận động phát triển của nó là: Ngày càng hoàn thiện các hình
thức đại diện nhân dân, mở rộng dân chủ nhằm lôi cuốn đông đảo quần chúng
nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
+ Năm là nhà nước XHCN là kiểu nhà nước xã hội đặc biệt “nhà nước
không còn nguyên nghĩa” là “nửa nhà nước”. Sau khi những cơ sở kinh tế xã
hội cho sự tồn tại của nhà nước mất đi thì nhà nước cũng không còn, nhà nước”
tự tiêu vong” đây cũng là một đặc trưng nối bật của nhà nước vô sản.
2/ Đặc trưng của nền dân chủ XHCN
a) Khái niệm về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa:
- Dân chủ theo chủ nghĩa chung là quyền lực thuộc về nhân dân hoặc chính
quyền thuộc về nhân dân. Hồ Chí Minh nói: “ Dân chủ là dân là chủ”.
- Dân chủ XHCN là hình thức chính trị phổ thông của nhà nước XHCN, là đặc
trưng bản chất của XHCN, là quy luật hình thành và tự hoàn thiện của hệ thống
chính trị XHCN. Việc nhà nước XHCN ra đời với tư cách là công cụ của chuyên
chính vô sản thì việc ra đời của nhà nước XHCN đồng thời cũng là sự ra đời của
một nền dân chủ kiểu mới trong lịch sử đó là nền dân chủ XHCN.
Theo chủ nghĩa Mac-Lenin thì chuyên chính vô sản và dân chủ XHCN cơ bản
thống nhất vì vậy từ Đại hội VII Đảng ta thống nhất gọi chuyên chính vô sản là
nền dân chủ XHCN.
b) Những đặc trưng cơ bản của nền dân chủ XHCN
+ Một là , dân chủ XHCN đảm bảo mọi quyền lực thuộc về dân, nhà nước là
thiết chế chủ yếu thực thi dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua
chính đảng của nó. Điều đó cho thấy nền dân chủ XHCN vừa có bản chất giai
cấp công nhân vừa có tính nhân dân rộng rãi, và tính dân tộc sâu sắc.
+ Hai là, dân chủ XHCN có cơ sở kinh tế là quan hệ sản xuất XHCN đảm bảo
dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu và sự thống nhất về những
lợi ích cơ bản giữa các giai tầng, cá nhân trong xã hội làm cho mọi người đều có
quyền tự chủ, bình đẳng trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế.Vì vậy, dân
chủ trong kinh tế có ý nghĩa cơ bản.
+ Ba là, trong nền dân chủ XHCN tất cả các tổ chức chính trị xã hội , các đoàn
thể và mọi công dân đều được tham gia vào công việc nhà nước và được bầu cử,
ứng cử, đề cử vào cơ quan nhà nước các cấp.
+ Bốn là, nền dân chủ XHCN cần có và phải có những điều kiện tồn tại với tư
cách là một nền dân chủ rộng rãi nhất trong lịch sử nhưng vẫn là nền dân chủ
mang tính giai cấp công nhân.
3/ Các nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo
a) Khái niệm:
Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo, lệch
lạc hiện thực khách quan, qua sự phản ánh của tôn giáo sức mạnh tự phát trong
tự nhiên và xã hội đều trở nên thần bí.
b. Các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin trong việc giải quyết vấn đề
tôn giáo.
Việc giải quyết vấn đề tôn giáo trong quá trình xây dựng CNXH phải đúng như
tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của
Đảng ta là: Không "tuyên chiến" với tôn giáo mà tôn trọng quyền tự do tín
ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng của nhân dân. Khi giải quyết những vấn
đề nảy sinh từ tôn giáo phải hết sức thận trọng, tỉ mỉ và chuẩn xác, vừa đòi hỏi
giữ vững nguyên tắc, đồng thời phải mềm dẻo, linh hoạt và cần dựa trên quan
điểm sau:
- Một là, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo trong đời sống
xã hội phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội mới; là yêu
cầu quan trọng của sự nghiệp xây dựng CNXH.
- Hai là, cần phát huy những nhân tố tích cực của tôn giáo, đăc biệt là giá trị đạo
đức, chủ nghĩa nhân đạo và tinh thần yêu nước.Tôn trọng và đảm bảo quyền tự
do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của công dân. Công dân có tôn
giáo hay không có tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, đều có quyền lợi và
nghĩa vụ như nhau. Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tự do tín ngưỡng của
công dân.
- Ba là, thực hiện đoàn kết giữa những người theo tôn giáo với những người
không theo tôn giáo, đoàn kết các tôn giáo hợp pháp, chân chính. Đoàn kết toàn
dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghiêm cấm mọi hành vi chia rẽ dân tộc
vì lý do tín ngưỡng tôn giáo.
- Bốn là, phân biệt rõ hai mặt chính trị và tư tưởng trong việc giải quyết vấn đề
tôn giáo.