Tải bản đầy đủ (.pdf) (112 trang)

Quyền tự do dịch chuyển của người lao động trong quá trình việt nam tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.42 MB, 112 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NINH THỊ TÚ

QUYÒN Tù DO DÞCH CHUYÓN CñA NG¦êI LAO §éNG
TRONG QU¸ TR×NH VIÖT NAM THAM GIA
CéNG §åNG KINH TÕ ASEAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NINH THỊ TÚ

QUYÒN Tù DO DÞCH CHUYÓN CñA NG¦êI LAO §éNG
TRONG QU¸ TR×NH VIÖT NAM THAM GIA
CéNG §åNG KINH TÕ ASEAN
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. CHU HỒNG THANH

HÀ NỘI - 2017



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 7 tháng 7 năm 2017
Tác giả luận văn

Ninh Thị Tú


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TỰ
DO DỊCH CHUYỂN CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG ........................ 5
1.1.

Những vấn đề chung về quyền tự do dịch chuyển của ngƣời
lao động ............................................................................................. 5

1.1.1.

Khái niệm, đặc điểm và các hình thức dịch chuyển của người

lao động.............................................................................................. 5

1.1.2.

Khái niệm, đặc điểm quyền tự do dịch chuyển của người lao động .... 12

1.1.3.

Nội dung quyền tự do dịch chuyển của người lao động.................. 23

1.1.4.

Giới hạn quyền tự do dịch chuyển của người lao động................... 30

1.1.5.

Các biện pháp pháp lý đảm bảo quyền tự do dịch chuyển của
người lao động ................................................................................. 32

1.2.

Các văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến quyền tự do
dịch chuyển của ngƣời lao động ................................................... 35

1.3.

Vai trò, ý nghĩa quyền tự do dịch chuyển của ngƣời lao động ..... 39

Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 42
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO QUYỀN TỰ DO DỊCH

CHUYỂN CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH
VIỆT NAM THAM GIA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN ....... 43
2.1.

Tổng quan về Cộng đồng kinh tế ASEAN ................................... 43

2.2.

Thực trạng pháp luật về quyền tự do dịch chuyển của ngƣời
lao động trong quá trình Việt Nam tham gia Cộng đồng Kinh
tế ASEAN ........................................................................................ 45


2.2.1.

Các văn kiện của ASEAN về đảm bảo quyền của người lao
động di trú ........................................................................................ 46

2.2.2.

Các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về công nhận trình độ tay
nghề của NLĐ trong khối ASEAN (gọi là các MRA) .................... 52

2.3.

Thực tiễn đảm bảo thực hiện quyền tự do dịch chuyển của
ngƣời lao động trong quá trình Việt Nam tham gia Cộng
đồng Kinh tế ASEAN .................................................................... 60

2.3.1.


Thực tiễn các quy định pháp lý của VN đảm bảo quyền tự do
dịch chuyển của người lao động ...................................................... 60

2.3.2.

Thực tiễn thực thi quyền tự do dịch chuyển từ phía người lao động.... 68

2.4.

Đánh giá chung về những tồn tại, nguyên nhân của những
tồn tại trong việc đảm bảo và thực thi quyền tự do dịch
chuyển của ngƣời lao động trong quá trình Việt Nam tham
gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN; một số vấn đề đặt ra ............... 72

Kết luận chƣơng 2 ......................................................................................... 76
Chƣơng 3: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐẢM
BẢO QUYỀN TỰ DO DỊCH CHUYỂN CỦA NGƢỜI LAO
ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH VIỆT NAM THAM GIA
CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN................................................ 77
3.1.

Quan điểm hoàn thiện pháp luật về quyền tự do dịch
chuyển của ngƣời lao động trong quá trình Việt Nam tham
gia cộng đồng Kinh tế ASEAN ..................................................... 77

3.2.

Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về quyền tự do dịch
chuyển của ngƣời lao động ........................................................... 82


3.3.

Phƣơng hƣớng hoàn thiện các quy định về quyền tự do dịch
chuyển của ngƣời lao động trong quá trình Việt Nam tham
gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN .................................................... 85

3.4.

Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và biện pháp bảo đảm
thực hiện quyền tự do dịch chuyển của ngƣời lao động trong
quá trình Việt Nam tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN .......... 87


3.4.1.

Giải pháp bảo đảm điều kiện dịch chuyển của người lao động....... 89

3.4.2.

Giải pháp bảo đảm quy trình dịch chuyển của người lao động
sang nước ngoài làm việc ................................................................ 91

3.4.3.

Nâng cao trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong quá trình dịch
chuyển của người lao động .............................................................. 91

Kết luận chƣơng 3 ......................................................................................... 99
KẾT LUẬN .................................................................................................. 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 102


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AEC:

Cộng đồng Kinh tế ASEAN

CP:

Chính phủ

ICCPR:

Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị

ILO:

Tổ chức Lao động Quốc tế

MNP:

Hiệp định ASEAN về di chuyển thể nhân

MRA:

Thỏa thuận tay nghề tương đương

NLĐ:


Người lao động

VN:

Việt Nam


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lý do về mặt lý luận: Theo pháp luật quốc tế và VN, NLĐ có các quyền
như quyền tự do đi lại, quyền lao động, lựa chọn việc làm, thành lập và gia
nhập công đoàn, quyền nghỉ ngơi, quyền về an sinh xã hội (kể cả quyền được
bảo hiểm xã hội), quyền tự do cư trú,... Tuy nhiên, chưa có quy định nào về
quyền tự do dịch chuyển gắn với việc làm và cũng chưa có nhiều nghiên cứu
liên quan đến tự do dịch chuyển lao động dưới góc độ tiếp cận về quyền. Do
vậy, đề tài nghiên cứu sẽ làm rõ nội hàm khái niệm "quyền tự do dịch chuyển
lao động" và làm sâu sắc các khái niệm có liên quan.
- Lý do về mặt thực tiễn: Cuối năm 2015, cộng đồng kinh tế ASEAN
chính thức hình thành, tạo ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế trong khu vực.
Một trong những cơ hội rõ nhất là sự tự do dịch chuyển của NLĐ. Tuy nhiên,
để có thể dịch chuyển, NLĐ cần đáp ứng nhiều yêu cầu cả về kiến thức
chuyên môn, tay nghề cũng như nhiều kỹ năng khác như giao tiếp, ngoại ngữ,
tin học, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng báo cáo, kỹ năng tìm hiểu và xử lý
thông tin... đồng thời phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về xuất - nhập
cảnh trong trường hợp dịch chuyển sang các nước trong khối ASEAN. Những
yêu cầu đó có thể là những rào cản ngăn NLĐ tự do dịch chuyển. Hiện nay,
đã có nhiều công trình nghiên cứu về AEC và về quyền của NLĐ nhưng chưa
có một công trình nào nghiên cứu về "quyền tự do dịch chuyển của NLĐ". Do
vậy, đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp đảm bảo quyền tự do dịch
chuyển của NLĐ trong quá trình VN tham gia AEC.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quyền tự do dịch chuyển của NLĐ
VN nhằm đề xuất giải pháp đảm bảo quyền tự do dịch chuyển của NLĐ trong

1


quá trình VN tham gia AEC, đảm bảo an sinh xã hội và thúc đẩy thực thi
quyền của NLĐ cũng như các tiêu chuẩn lao động quốc tế.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài cần nghiên cứu giải quyết các vấn đề:
- Phân tích, làm rõ cơ sở lý luận về quyền tự do dịch chuyển của NLĐ:
Một số khái niệm có liên quan, nội dung, đặc điểm quyền tự do dịch chuyển
của NLĐ; các biện pháp pháp lý đảm bảo quyền tự do dịch chuyển của NLĐ.
- Mô tả và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về quyền tự do dịch
chuyển lao động trong quá trình VN tham gia AEC; thực trạng đảm bảo
quyền tự do dịch chuyển của NLĐ trong quá trình VN tham gia AEC; chỉ ra
những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại và những vấn đề đặt ra.
- Quan điểm, sự cần thiết, phương hướng và các biện pháp hoàn thiện
pháp luật, đảm bảo, thúc đẩy quyền tự do dịch chuyển của NLĐ trong quá
trình VN tham gia AEC.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Quyền tự do dịch chuyển của NLĐ và các giải pháp đảm bảo quyền tự
do dịch chuyển cho NLĐ trong quá trình VN tham gia AEC.
4. Giả thuyết khoa học
Hiện nay, tuy vấn đề nhân quyền đã được Đảng, Nhà nước quan tâm và
cũng đã khá phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế. Cụ thể như trong
Hiến pháp 2013, các quyền con người và quyền cơ bản của công dân, được
quy định khá chi tiết. Tuy nhiên, vấn đề thực thi còn nhiều bất cập, nhất là đối

với NLĐ - đối tượng được coi là yếu thế trong quan hệ lao động. Tham gia
cộng đồng kinh tế ASEAN tạo cơ hội tự do dịch chuyển cho NLĐ. Tuy nhiên,
chưa có quy định cụ thể nào về quyền tự do dịch chuyển của NLĐ. Nếu xây
dựng được các giải pháp đảm bảo quyền tự do dịch chuyển của NLĐ cũng
như đưa ra được những bất cập thì trong thời gian tới, khi vấn đề dịch chuyển

2


lao động diễn ra mạnh mẽ thì NLĐ sẽ an tâm dịch chuyển đồng thời cũng tạo
thuận lợi cho Nhà nước trong vấn đề quản lý dịch chuyển lao động và góp
phần thúc đẩy thực thi quyền của NLĐ.
5. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quyền tự do dịch chuyển (nội khối ASEAN) của
NLĐ VN trong quá trình VN tham gia AEC.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến hiện nay như
phương pháp nghiên cứu lý luận, logic chung và phổ biến, phỏng vấn sâu đối
với chuyên gia,... Cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích tài liệu thống kê có sẵn: Các báo cáo về thực
thi và bảo đảm quyền con người; các báo cáo về dịch chuyển lao động.
- Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp các số liệu, tài liệu có sẵn để rút ra
những con số cụ thể, toàn diện về nội dung liên quan của đề tài.
- Phương pháp so sánh, lịch sử, thống kê.
7. Ý nghĩa của đề tài và đóng góp của Luận văn
- Ý nghĩa và đóng góp về lý luận
Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề về lý luận cơ
bản về quyền của NLĐ, quyền tự do dịch chuyển của NLĐ, đề tài hệ thống
hóa và góp phần làm rõ một số khái niệm và nội hàm các khái niệm: quyền,
quyền tự do, quyền của NLĐ di trú, tự do dịch chuyển, NLĐ, quyền tự do

dịch chuyển của NLĐ,.... Kết quả nghiên cứu đề tài đóng góp những tri thức
lý luận khoa học trong việc xây dựng hệ thống cơ sở khoa học về quyền tự do
dịch chuyển của NLĐ, góp phần nâng cao nhận thức khoa học về quyền tự do
dịch chuyển của NLĐ, thúc đẩy thực thi các quy định về quyền con người và
thực thi các tiêu chuẩn lao động quốc tế.

3


- Ý nghĩa và đóng góp về thực tiễn
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm chuyển biến nhận thức
của các tầng lớp xã hội, từ các nhà xây dựng và hoạch định chính sách, các
nhà quản lý, mỗi người dân về vị trí, vai trò của quyền con người thông qua
quyền tự do dịch chuyển của NLĐ; đồng thời cho thấy rõ trách nhiệm của
Nhà nước, xã hội và của mỗi lao động về sự cần thiết phải nâng cao hiểu biết
về quyền con người, đảm bảo thực thi quyền con người.
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp cơ sở và luận cứ khoa học
cho việc xây dựng, hoàn thiện chính sách phù hợp về đảm bảo quyền tự do
dịch chuyển của NLĐ.
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
nghiên cứu, giảng dạy ngành Luật, Kinh tế, các ngành có liên quan ở các
trường, học viện đào tạo bậc cao đẳng, đai học và sau đại học trong phạm vi
cả nước và làm tài liệu cho Tổng Liên đoàn Lao động VN trong bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ.
8. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được bố cục làm 03 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về quyền tự do dịch chuyển
của người lao động;
- Chương 2: Thực trạng đảm bảo quyền tự do dịch chuyển của người
lao động trong quá trình Việt Nam tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN;

- Chương 3: Quan điểm và các giải pháp cơ bản đảm bảo quyền tự do
dịch chuyển của người lao động trong quá trình Việt Nam tham gia Cộng
đồng kinh tế ASEAN.

4


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TỰ DO DỊCH
CHUYỂN CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG
1.1. Những vấn đề chung về quyền tự do dịch chuyển của ngƣời
lao động
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và các hình thức dịch chuyển của người
lao động
1.1.1.1. Khái niệm dịch chuyển lao động
Trong tiếng Anh, dịch chuyển lao động (di chuyển lao động), có những
cụm từ liên quan là Labour Mobility hoặc Labour Movement, được hiểu
chung nhất là NLĐ từ một công việc hoặc nơi làm việc chuyển sang làm một
công việc khác hoặc di chuyển đến một môi trường mới. Ðôi khi đề cập cụ
thể đến các dòng di chuyển lao động trên thị trường lao động. Liên quan đến
khái niệm dịch chuyển/di chuyển lao động, có khái niệm gốc là di dân. Ngoài
ra, còn một số quan điểm về dịch chuyển lao động như sau:
Theo Nguyễn Mạnh Tiến (2011) [48] "Di dân là hiện tượng di chuyển
của người dân theo lãnh thổ với những chuẩn mực về thời gian và không gian
nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú”. Khái niệm này nhằm đảm bảo sự
thống nhất về khảo sát, điều tra, can thiệp vào hiện tượng di dân.
Tác giả Brent Radcliff (2014) [47] đã đưa ra định nghĩa dịch chuyển lao
động, đề cập đến sự dễ dàng mà NLĐ có thể di chuyển giữa các ngành nghề
trong một nền kinh tế và giữa các nền kinh tế khác nhau. Dịch chuyển lao động
là một yếu tố quan trọng trong việc nghiên cứu kinh tế bởi vì nó phản ánh thực

trạng lao động - một trong những yếu tố quan trọng của sản xuất.
Từ cách tiếp cận của kinh tế học mới, Võ Thị Minh Lệ (2009) [18] cho
rằng di chuyển lao động quốc tế là khi các hộ gia đình quyết định gửi một

5


trong các thành viên của gia đình ra nước ngoài để kiếm thêm thu nhập. Mục
đích của sự di cư lao động nhằm tối thiểu hóa những rủi ro đối với thu nhập
gia đình và vượt qua những khó khăn về vốn đối với các hoạt động sản xuất
của gia đình đó.
Đào Thị Thu Trang (2011) [31] di chuyển lao động nội khối là việc
NLĐ ở các nước thành viên một khối kinh tế (có liên kết kinh tế chặt chẽ)
chuyển dịch sang nước khác trong cùng khối dưới tác động của cung - cầu
trên thị trường lao động chung, thể chế kinh tế và các cam kết hợp tác kinh
tế khu vực.
1.1.1.2. Đặc điểm và các hình thức dịch chuyển của người lao động
a. Đặc điểm dịch chuyển của người lao động (ra ngoài biên giới) [49]:
Thứ nhất, đa số lao động di chuyển từ các nước đang phát triển không
có nghề nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp
Lao động di chuyển từ các nước đang phát triển chủ yếu là lao động
phổ thông. Do không có chuyên môn nghề nghiệp nên lao động thường
tập trung vào những lĩnh vực như xây dựng, khai mỏ, nông nghiệp và giúp
việc gia đình...
Tuy nhiên, những nước tiếp nhận nguồn lao động này từ các nước đang
phát triển có thời hạn không dài (tạm thời ký trong khoảng thời gian từ 3-5
năm) nhằm mục đích tránh những hậu quả xã hội của nhóm lao động di cư
không nghề hoặc bán chuyên nghiệp để lại.
Thứ hai, lao động di chuyển tăng nhanh thể hiện ở mức tăng liên kết thị
trường lao động

Singapore phát triển kinh tế dựa vào chiến lược sử dụng lao động di cư
thông qua cơ chế quota và thu thuế. Từ những năm 1980 sự bùng nổ kinh tế
của Malaysia và Thái Lan dẫn tới việc thiếu hụt lao động ở các nước này. Do
đó, Malaysia và Thái Lan đã thực hiện chiến lược mở cửa đối với lao động di

6


cư từ các nước khác trong khu vực. ASEAN đang tập trung phát triển một thị
trường chung đối với việc di chuyển tự do NLĐ và xóa bỏ yêu cầu visa từ lao
động trong khu vực. Philippin là nước có số lao động di cư ra nước ngoài
nhiều nhất - đó là những chuyên gia và lao động có kỹ năng, chuyên môn - di
cư tới các nước khác nhau trên toàn thế giới.
Một số nhóm có chuyên môn, kỹ năng nhất định thì chỉ di cư tới một số
nước. Ví dụ, lao động giúp việc gia đình chủ yếu tập trung ở Hồng Công và
Saudi Arabia; lao động trong lĩnh vực nghệ thuật di cư tới Nhật Bản, Hàn
Quốc và các nước Đông Nam Á khác. Các chuyên gia công nghệ thông tin và
y tá di cư tới Mỹ và Anh. Rõ ràng, sự chuyên môn hóa thị trường lao động
làm tăng mối liên kết thị trường giữa các quốc gia trong khu vực.
Thứ ba, di cư lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và
dịch vụ diễn ra mạnh ở những nước có tốc độ tăng trưởng nhanh
Làn sóng di cư lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và
dịch vụ diễn ra mạnh nhất ở Trung Quốc, Campuchia và VN – những nước có
mức tăng trưởng kinh tế nhanh kể từ năm 1995. Khi Trung Quốc thực hiện
chính sách cải cách và mở cửa kinh tế (1978), đã có khoảng 130 triệu người
Trung Quốc di chuyển từ nông thôn lên thành phố để tìm kiếm việc làm (chưa
tính đến số di chuyển ra nước ngoài làm việc). Dòng di cư này, theo Liên hợp
quốc, là lớn nhất trên thế giới, đã tiếp sức cho mức độ tăng trưởng thần kỳ của
Trung Quốc, cải thiện điều kiện sống cho những NLĐ nghèo đói.
Thứ tư, đa số lực lượng lao động di cư là nữ

Hai thập kỷ gần đây di cư lao động nữ chiếm tỉ lệ ngày càng tăng. Theo
báo cáo của Action Aid, lực lượng di cư đang có xu hướng nữ hoá, 81% lao
động di cư từ Indonesia (năm 2004), 72% lao động di cư từ Philippines (năm
2006) và 60% lao động di cư từ VN (năm 2008) là lao động nữ. Do sự phát
triển của ngành chế tạo và dịch vụ cũng như nhu cầu giúp việc gia đình tăng

7


đã dẫn tới nữ hóa dòng lao động di cư của các nước đang phát triển. Di cư lao
động nữ thường tập trung nhiều ở Philippin và Inđônêsia.
Từ năm 1992 đến nay, di cư lao động nữ ở Philippin chiếm tới 60-80%
tổng số lao động di cư ra nước ngoài tìm việc làm. Phần lớn trong số họ làm
các công việc như dịch vụ chăm sóc sức khỏe và quét dọn trong gia đình với
mức lương thấp. Trong khi phụ nữ Philippin có xu hướng di cư tới khắp các
nước trên thế giới, thì phụ nữ Inđônêsia chủ yếu tới các nước vùng Vịnh và
Trung Đông để tìm việc làm. Đặc biệt di cư tới Tây Á chiếm hơn 93% lao
động di cư nữ của Inđônêsia. Sở dĩ nữ chiếm phần lớn trong dòng di cư lao
động là do thị trường nhập khẩu ngày càng được mở rộng cho lao động nữ.
Thị trường tiếp nhận lao động nữ nhiều nhất là Trung Đông, đặc biệt là Ả rập
Saudi và Kwait.
Thứ năm, di cư lao động bất hợp pháp gia tăng
Mạng lưới di cư bất hợp pháp ngày càng được lựa chọn do những kênh
nhập cư hợp pháp đang ngày càng bị thu hẹp. Các nước đang phát triển châu
Á đều có số lượng lao động di cư bất hợp pháp cao hơn NLĐ di cư hợp pháp.
Sở dĩ di cư bất hợp pháp tăng là do chính sách quản lý di cư thiếu chặt
chẽ và mong muốn của các chủ doanh nghiệp trong việc tìm kiếm và bóc lột
lao động dễ dàng. Di cư bất hợp pháp có thể thỏa mãn nhu cầu sử dụng lao
động hiệu quả, song không đảm bảo quyền lợi và điều kiện an toàn cho NLĐ.
Di cư bất hợp pháp từ các nước đang phát triển thường tập trung tới các quốc

gia có mức thu nhập cao hơn, môi trường sống ưa thích hơn như Bắc Mỹ, Tây
Âu, Pháp, Italia...
b. Các hình thức dịch chuyển lao động
Tác giả Brent Radcliff (2014) [47] trong “The Economics Of Labor
Mobility” chỉ ra có hai dòng dịch chuyển lao động chủ yếu là dịch chuyển
nghề nghiệp và dịch chuyển địa lý. Dịch chuyển nghề nghiệp là dịch chuyển

8


từ nghề này sang nghề khác, lĩnh vực hoạt động này sang lĩnh vực hoạt động
khác. Dịch chuyển theo địa lý là dịch chuyển từ nơi làm việc này sang nơi
làm việc khác (có thể là trong nước hoặc sang nước khác). Theo Brent, dịch
chuyển theo địa lý có ảnh hưởng quan trọng đến nền kinh tế một quốc gia,
nhất là trong bối cảnh hội nhập. Dịch chuyển lao động theo địa lý có những
ảnh hưởng đến vấn đề lao động của nền kinh tế, như nguồn cung lao động, tỷ
lệ thất nghiệp, mức lương, sự cạnh tranh, năng suất lao động.
Brent đề cao khía cạnh tăng năng suất lao động của dịch chuyển lao
động có kỹ năng. Ông cho rằng một dòng NLĐ dịch chuyển có thể tăng năng
suất lao động nếu họ mang kỹ năng chuyên môn đến nơi làm việc mới, mặc
dù họ có thể đẩy nhân viên hiện có, người kém năng suất hơn vào tình cảnh
thất nghiệp.
Từ giác độ kinh doanh, dịch chuyển lao động là dịch chuyển lực lượng
lao động để thu được lợi nhuận cao hơn cho lao động của họ trong việc làm,
trong khu vực, liên ngành, liên quốc gia, giữa các doanh nghiệp, cũng như
việc chuyển giao nơi làm việc. Dịch chuyển lao động là kết quả của việc
thương mại hóa lực lượng lao động, là một biểu hiện trực tiếp của việc theo
đuổi của lao động để tối đa hóa giá trị.
Nguyễn Mạnh Cường (2006) [5] và Lê Hồng Huyên (2011) [14] đã phân
tích các phương thức dịch chuyển lao động, đặc biệt nhấn mạnh đến phương

thức hiện diện thể nhân trong bối cảnh hội nhập (VN gia nhập WTO, gia nhập
AEC.…). Ngoài ra, tác giả cũng phân tích các dòng dịch chuyển lao động (i)
dòng dịch chuyển lao động có kỹ năng từ nước phát triển sang nước phát triển
(dịch chuyển ngang); (ii) dòng dịch chuyển lao động có kỹ năng từ nước đang
phát triển sang nước phát triển (dịch chuyển lên) và dòng dịch chuyển lao động
không có kỹ năng từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển.
Có một số nghiên cứu đưa ra các dòng dịch chuyển lao động, đó là:

9


(i) Dòng dịch chuyển lao động từ nông thôn, nơi ít đô thị hóa hơn sang
nơi có công nghiệp phát triển, sang vùng đô thị;
(ii) Dòng dịch chuyển lao động theo sự phát triển của thị trường lao
động, từ nơi có thu nhập thấp sang nơi có thu nhập cao; từ nơi điều kiện lao
động không tốt sang nơi có điều kiện thu nhập cao hơn. Dòng di lao động này
cũng bao gồm di chuyển từ nước kém phát triển sang nước phát triển hơn, với
kỳ vọng có công việc tốt hơn, thu nhập tốt hơn và điều kiện sống tốt hơn.
Các dòng di chuyền lao động này gắn với một số lý thuyết về di dân.
Có thể nêu ra một số lý thuyết sau:
Lý thuyết quá độ về di dân đã chỉ ra tầm quan trọng tương đối của các
hình thái di chuyển khác nhau tương ứng với trình độ phát triển của xã hội.
Lý thuyết này phân chia các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội cơ bản
tương ứng với qui mô di dân: Giai đoạn đầu của xã hội truyền thống, trong
đó qui mô di dân b ị hạn chế, diễn ra dưới hình thức nhỏ lẻ. Sau đó đến giai
đoạn chuyển tiếp của xã hội được đặc trưng bởi thời kỳ đầu công nghiệp hóa
và quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng là sự gia tăng nhanh về qui mô
di dân (đặc biệt là di dân nông thôn – đô thị) trong giai đoạn tiền công
nghiệp hóa. Sau đó, bước sang giai đoạn phát triển cao ở các xã hội hiện đại,
di dân ra đô thị đạt đến ngưỡng bão hòa. Dòng di dân này được thay thế bởi

quá trình phi đô thị hóa với sự mở rộng các hình thái di chuyển quốc tế và
đến các khu vực ngoại vi. Điều đáng lưu ý từ lý thuyết quá độ di dân là các
giai đoạn phát triển thường xuyên xen kẽ nhau, dẫn tới các hình thức và qui
mô di dân khác nhau có thể đồng thời xuất hiện cùng một khu vực, và trong
cùng một thời kỳ nhất định.
Lý thuyết của Ravestein [38]: đây là một trong những lý thuyết về di
dân sớm nhất trong trường phái cổ điển, được đưa ra vào cuối thế kỉ XIX.
Theo ông, di cư xảy ra sớm bởi sự khác biệt về trình độ phát triển, bởi tiến

10


trình công nghiệp hoá và phát triển thương mại giữa các khu vực của một
quốc gia. Mặt khác, sự di cư bị chi phối bởi khát vọng về một cuộc sống tốt
đẹp hơn. Những người sống ở khu vực kém phát triển hay nghèo khổ thường
có xu hướng chuyển đến những khu vực phát triển hơn. Theo Ravestein, tỉ lệ
người tham gia di cư có quan hệ thuận với khoảng cách giữa hai khu vực nơi
họ xuất phát và nơi họ đến. Ravestein đưa ra bảy quy luật động thái của dân
số, đó là (1) Di cư và khoảng cách; (2) Di cư theo các giai đoạn; (3) Dòng di
cư xuôi và ngược (4) Sự khác biệt giữa đô thị - nông thôn trong xu hướng di
cư; (5) Sự vượt trội của phụ nữ trong số người di cư khoảng cách ngắn, ngược
lại đối với việc di cư ở khoảng cách lớn (ví dụ từ quốc gia này tới quốc gia
khác) thì nam giới lại chiếm ưu thế; (6) Công nghệ và di cư (sự gia tăng các
phương tiện di chuyển và sự phát triển kỹ thuật trong sản xuất và thương mại
tác động đến gia tăng di cư; (7) Ưu thế của động cơ kinh tế.
Lý thuyết "hai khu vực" (Dual Sector) của Arthus Lewis [40] ra đời vào
những năm 50 của thế kỉ XX trong bối cảnh các nước trong thế giới thứ 3
bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, dẫn đến sự bùng nổ của làn sóng di cư
từ nông thôn ra các thành phố công nghiệp và các đô thị. Theo ông, lí do di cư
dân số từ nông thôn ra đô thị là: Thứ nhất, sự tăng trưởng kinh tế và sự mở

rộng của khu vực công nghiệp đặt ra đòi hỏi phải có thêm lực lượng lao động
đáp ứng. Sự tăng lên không ngừng của dân số trong khi đất đai không tăng đã
làm cho lao động nông nghiệp dư thừa. Số lao động dư thừa này có khuynh
hướng tìm kiếm các cơ hội làm việc tại các khu công nghiệp và thành phố, nơi
có nhu cầu tuyển dụng. Lewis coi đây là sự điều tiết có tính chất tự nhiên, là
sự cân bằng lao động giữa các khu vực, các ngành nghề. Thứ hai, do sự chênh
lệch về mức lương giữa nông thôn và đô thị. Sự di cư lao động này sẽ dừng
lại khi mức lương ở đô thị cân bằng với mức thu nhập của người dân ở nông
thôn. Từ quan điểm này người ta gọi lí thuyết của Lewis là mô hình cân bằng.

11


Lý thuyết của Lewis đã đặt nền móng cho lý thuyết mới có tên gọi là Mô hình
kinh tế đôi của Ranis và Fei ra đời vào thập kỉ 60 của thế kỷ XX.
Lý thuyết về "lực hút, lực đẩy" của Evertt S. Lee (1966) [39] đã tổng
kết một số yếu tố quyết định đến việc di cư của người dân từ nông thôn ra
thành thị. Ông chia thành hai nhóm yếu tố: (i) Nhóm yếu tố tiêu cực - nghèo
đói, sự thiếu thốn các cơ hội kinh tế, thiếu đất, mức sống thấp ở quê nhà; (ii)
Nhóm yếu tố tích cực - sự thịnh vượng, cơ hội, công việc làm ăn, mức sống
cao ở nơi đến… Trong hai nhóm yếu tố này, những yếu tố tiêu cực tác động
mạnh hơn buộc người ta phải rời nơi sinh sống của mình còn các yếu tố tích
cực phản ánh sự hấp dẫn của nơi đến.
Ngoài ra, Lee còn phân tích một số yếu tố khác ảnh hưởng đến việc di
dân. Đó là nhận thức, sự thông minh, hiểu biết của người di cư qua kinh
nghiệm bản thân hay qua các kênh thông tin đại chúng, qua bạn bè, họ hàng…
Đây là điều mà các lý thuyết trước đó ít đề cập tới. Việc di cư, theo Lee còn
phụ thuộc vào tính toán về thu nhập mong đợi trong thời gian nhất định hơn là
tính toán về khác biệt thu nhập giữa thành thị và nông thôn.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm quyền tự do dịch chuyển của người lao động

1.1.2.1. Khái niệm quyền tự do dịch chuyển của người lao động
a. Quyền con người
Khái niệm “Quyền” thông thường được hiểu là “cái mà luật pháp, xã
hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành…và khi
thiếu sẽ được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại” [19].
Quyền thường gắn với một chủ thể pháp luật. Luật pháp của các nước trên thế
giới đều quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là một chế định cơ
bản, giữ vị trí quan trọng trong Hiến pháp.
Theo Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc:
Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có
tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành

12


động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, tự do cơ bản
của con người [17].
Theo Tổ chức Ân xá quốc tế:
Nhân quyền là quyền cơ bản và quyền tự do mà tất cả mọi
người được hưởng không phân biệt quốc tịch, giới tính, nguồn gốc
quốc gia hay dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ hoặc trạng thái
khác. Nhân quyền bao gồm các quyền dân sự và chính trị, chẳng
hạn như quyền sống, tự do và tự do phát biểu và các quyền kinh tế
văn hóa xã hội bao gồm quyền tham gia vào nền văn hóa, quyền có
lương thực, quyền làm việc và nhận được một nền giáo dục... Nhân
quyền được bảo vệ và duy trì bởi luật pháp quốc tế và quốc gia và
các hiệp ước [6].
Ở VN, một số chuyên gia nghiên cứu đã đưa ra những “quan niệm” về
quyền con người là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan
của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa

thuận pháp lý quốc tế” [44].
Các tác giả của nhiều giáo trình viết về quyền con người đều có chung
nhận định: “Dù nhìn ở góc độ, cấp độ nào thì quyền con người cũng được
xác định là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ.
Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại chỉ
áp dụng với con người, cho tất cả mọi người. Nhờ có những chuẩn mực này,
mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới
có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một
con người”. Đảm bảo quyền con người nói chung và quyền của NLĐ nói
riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng Nhà nước
Pháp quyền ở VN [6].

13


b. Quyền của NLĐ
Quyền của người lao động được coi là một trong những quyền cơ bản
nhất trong phạm trù quyền con người mà các quốc gia đã ghi nhận trong các
văn bản pháp lý quốc tế nói chung và trong hệ thống pháp luật của từng nước
nói riêng. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vấn đề bảo đảm quyền lợi của người
lao động ngày càng được coi trọng trên cơ sở coi người lao động là trực tiếp
làm ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trong thương mại quốc tế nên họ phải là
người được hưởng lợi, được chia sẻ thành quả của quá trình này, họ phải được
bảo đảm các quyền, lợi ích và các điều kiện lao động cơ bản [41].
Quyền của NLĐ là vấn đề có ý nghĩa rất lớn cả về lý luận và thực tiễn
không chỉ đối với cá nhân con người, tập thể NLĐ, mà còn có vai trò quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước, dân tộc và
toàn nhân loại. Quyền của NLĐ là những quyền liên quan đến NLĐ và người
sử dụng lao động. Các quyền của NLĐ được ghi nhận trong các Điều ước
quốc tế như: Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền; Công ước quốc tế về

các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Công ước quốc tế về các quyền dân sự,
chính trị và các khuyến nghị của ILO.
Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 ghi nhận các quyền
về kinh tế, xã hội và văn hóa, trong đó ghi nhận rõ quyền lao động của con
người bao gồm: quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 22), quyền làm
việc, tự do chọn nghề và được trả lương ngang nhau cho những công việc như
nhau, được trả lương xứng đáng và hợp lý để bảo đảm cho một cuộc sống có
đầy đủ giá trị nhân phẩm, được thành lập hoặc gia nhập công đoàn (Điều 23),
quyền được nghỉ ngơi, giải trí (Điều 24).
Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966, quyền của
người lao động được quy định tại Điều 8: “1. Không ai bị bắt làm nô lệ; mọi
hình thức nô lệ và buôn bán nô lệ đều bị cấm; 2. Không ai bị bắt làm nô dịch;

14


3. Không ai bị yêu cầu phải lao động bắt buộc hoặc cưỡng bức”. Việt Nam gia
nhập Công ước này ngày 24/9/1982.
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 đã
cụ thể hóa các quyền của NLĐ, cụ thể là: Quyền làm việc (Điều 6); quyền
được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi như được trả
lương thỏa đáng và trả thù lao bằng nhau, quyền được hưởng những điều kiện
làm việc an toàn và vệ sinh, sự nghỉ ngơi, thời gian rảnh rỗi (Điều 7); quyền
được thành lập và gia nhập công đoàn, quyền được đình công (Điều 8); quyền
được hưởng an toàn xã hội, kể cả bảo hiểm xã hội (Điều 9).
Sau khi trở thành thành viên Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năm
1994 Việt Nam đã gia nhập nhiều công ước của tổ chức này. Năm 1998, ILO
thông qua Tuyên bố về các quyền cơ bản của người lao động tại nơi làm việc
gồm: (i) Quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động và
người sử dụng lao động (theo Công ước số 87 và số 98 của ILO); (ii) Xóa bỏ

lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc (theo Công ước số 29 và số 105 của
ILO); (iii) Cấm sử dụng lao động trẻ em, xóa bỏ các hình thức lao động trẻ
em tồi tệ nhất (theo Công ước số 138 và Công ước số 182 của ILO); (iii) Xóa
bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp (theo Công ước
số 100 và số 111 của ILO). Theo Tuyên bố năm 1998 của ILO thì các nước
thành viên ILO dù đã phê chuẩn hay chưa phê chuẩn các công ước cơ bản nêu
trên đều có nghĩa vụ tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện bốn tiêu chuẩn lao động
được đề cập trong các công ước đó.
Không chỉ được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc tế (tuyên
ngôn, công ước, khuyến nghị), quyền của NLĐ còn được cụ thể hóa và quy
định trong các văn bản pháp luật quốc gia như Hiến pháp, Bộ luật, Luật và
được thể hiện dưới hai khía cạnh là quyền và nghĩa vụ. Bởi để bảo đảm các
quyền của NLĐ, các quốc gia buộc phải ban hành các quy định về nghĩa vụ

15


thông qua việc ban hành các chính sách, chương trình để thúc đẩy việc thực
hiện các quyền của NLĐ, đồng thời phải đưa ra các quy định mang tính chế
tài xử lý khi các quyền này bị xâm phạm.
c. Quyền của NLĐ di trú
Nhận thấy tầm quan trọng và mức độ của hiện tượng nhập cư có liên
quan tới hàng triệu người và ảnh hưởng tới nhiều quốc gia trong cộng đồng
quốc tế; tác động của những làn sóng người lao động di trú đối với các quốc
gia và dân tộc liên quan và mong muốn thiết lập những tiêu chuẩn nhằm đóng
góp vào việc làm hài hòa thái độ của các nước qua việc chấp nhận những
nguyên tắc cơ bản liên quan đến việc đối xử với người lao động di trú và các
thành viên gia đình họ, năm 1990, Liên Hiệp quốc đã thông qua Công ước
bảo vệ người lao động di trú và thành viên gia đình của họ (ICRMW) [11].
Công ước ICRMW có hiệu lực từ 01/7/2003, hiện nay, Việt Nam chưa phải là

thành viên của Công ước này. Trên cơ sở những nguyên tắc được nêu trong
những văn kiện cơ bản của Liên Hợp quốc về quyền con người, Công ước
ICRMW cũng có quy định cụ thể về quyền của người lao động: Điều 11 (cấm
lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc), Điều 26 và Điều 40 (quyền lập hội và các
nghiệp đoàn tại quốc gia nơi có việc làm)...
Theo Khoản 1 Điều 2 công ước ICRMW, thuật ngữ Lao động di
trú (migrant worker) được hiểu là “là một người đã, đang và sẽ làm một công
việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân”.
Cũng theo công ước này, lao động di trú bao gồm 8 dạng, đó là: nhân
công vùng biển, nhân công theo mùa, người đi biển, nhân công làm việc ở
công trình trên biển, nhân công lưu động, nhân công theo dự án, nhân công
lao động chuyên dụng và nhân công tự chủ.
Do đó, bảo vệ quyền của lao động di trú là một vấn đề pháp lý nhằm
đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho những người đã đang và sẽ làm một

16


công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công
dân, nhằm tạo nên sự bình đẳng giữa những người này với công dân nước sở
tại mà họ đang làm việc.
Theo Công ước ICRMW, NLĐ di trú có các quyền sau đây: Quyền
sống (Điều 9) và được thừa nhận là thể nhân trước pháp luật (Điều 24);
Quyền tự do và an toàn cá nhân (không bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn
ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm, không bị bắt làm nô lệ hay nô dịch,
không bị cưỡng bức lao động, không bị tịch thu, hủy giấy tờ tùy thân hoặc
giấy phép lao động (Điều 10, 11, 16, 21).; Quyền được bảo vệ sự riêng tư
(Điều 14); Quyền sở hữu tài sản (điều 15); quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng,
tôn giáo, tự do ngôn luận (Điều 12, 13); Quyền tự do rời khỏi hoặc trở về bất
kỳ quốc gia nào, kể cả nước gốc (điều 8); quyền được chăm sóc y tế (điều

28); Các quyền trẻ em thuộc các gia đình lao động di trú (Điều 26, 30); Quyền
được tôn trọng và duy trì bản sắc văn hóa (điều 26); Quyền được gửi hoặc
mang theo số tiền kiếm được về nước (Điều 26); quyền không bị trục xuất tập
thể (Điều 22); Quyền nhận được sự hỗ trợ, bảo vệ của một cơ quan ngoại giao
hoặc lãnh sự của nước mình (Điều 23); Các quyền về xét xử công bằng trong
tố tụng hình sự (Điều 17, 18, 19); Quyền được đối xử bình đẳng như NLĐ
bản địa, bao gồm quyền được tham gia công đoàn và những hiệp hội khác,
quyền được hưởng an sinh xã hội (Điều 25, 27).
d. Quyền tự do dịch chuyển của NLĐ
* Tự do, quyền tự do:
Theo nhà triết học Locke (John Locke 1632-1704) “Tự do là khả
năng con người có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp
bất kỳ cản trở nào". Như vậy tự do ở đây chỉ là khả năng của con người. Còn
nhà triết học cận đại Hegel (G.W Friedrich Hegel 1770-1831) thì cho rằng:
“Tự do là cái tất yếu được nhận thức”. Như vậy, ở đây tự do không chỉ là

17


nhận thức mà cả ở hành động. Tuy nhiên, theo Hegel, muốn có tự do thì trước
hết phải nhận thức được cái tất yếu, cái quy luật. Người ta nhận thức được
quy luật đến đâu thì hành động tự do được bảo đảm đến đấy. Vi phạm quy
luật, tất yếu sẽ bị mất tự do. Tuy nhiên, loài người còn có giá trị khác, cao quý
không kém tự do, đó là ý thức về trách nhiệm của cá nhân với cộng đồng, với
dân tộc và gia đình. Phải chăng, đây mới là giá trị phân biệt loài người với
phần còn lại của thế giới.
Quan điểm về tự do của phương Tây có thể được tóm tắt như sau: tự do
được coi là quyền tự nhiên của con người, là không gian vốn có của mỗi con
người. Con người sinh ra đã có tự do, tự do như tài sản hay vốn tự có của mỗi
người. Tự do không phải là một loại quyền được trao tặng bởi bất kỳ ai, bất

kỳ lực lượng nào mà nó là tài sản tự nhiên của con người. Điều này có nghĩa
tự do không phải là không gian cho phép, không một nhà nước nào có quyền
ban phát tự do cho con người.
Trong luật quốc tế về quyền con người, không có quy định nào về
“quyền tự do” nói chung. Một số quyền con người gắn với khái niệm tự do
hình thành những quyền tự do cơ bản. Chỉ những quyền tự do cơ bản này mới
được pháp luật bảo hộ. Đồng thời, những quyền (tự do) này phải chịu một số
hạn chế của pháp luật. Trong “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính
trị” 1966, các quyền tự do về tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo; về tự do ngôn
luận, báo chí; về tự do cư trú, đi lại; Về tự do lập hội, hội họp được ghi nhận.
Đồng thời, Công ước này cũng khẳng định những quyền này có thể bị hạn chế
“để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội
hoặc các quyền và tự do của người khác” [34].
* Quyền tự do dịch chuyển của NLĐ
Trong các công ước quốc tế về quyền, không có quyền nào được nhắc
đến với tên gọi "quyền tự do dịch chuyển". Tuy nhiên, bằng cách mổ xẻ nghĩa

18


×