MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài.
Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm phát triển giáo dục – đào tạo. Trong
các văn kiện Đảng ta luôn khẳng định: Giáo dục – đào tạo cùng với khoa học
công nghệ được coi là quốc sách hàng đầu, là “tương lai của dân tộc”, “ Phát
triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện phát huy nguồn lực con
người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, phát triển kinh tế nhanh và bền
vững”.
Tình hình hiện nay, nền kinh tế của nước ta đang phát triển, vận động
theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà
nước, các quy luật kinh tế, sản xuất hàng hóa và dịch vụ, các quy luật xã hội,
các hiện tượng tâm lý ý thức... đang tác động mạnh mẽ đến họat động của
mỗi tổ chức, đến đời sống và sinh hoạt của mỗi người.
Thế giới ngày nay đang vận động và có những biến đổi căn bản. Xu
hướng toàn cầu hoá, quốc tế hoá, hợp tác hoá ngày càng cao. Tình hình chính
trị thế giới đang có nhiều biến động phức tạp, có những ảnh hưởng tiêu cực
không nhỏ đến tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống của thế hệ trẻ nói
chung, học sinh bậc học THPT nói riêng... Một bộ phận không nhỏ học sinh
THPT mất niềm tin, chất lượng học tập giảm sút, ảnh hưởng đến mục tiêu đào
tạo chung của nhà trường THPT.
Nền giáo dục mà Đảng và nhà nước ta xây dựng là nền giáo dục con
người toàn diện, đào tạo những con người trước hết có phẩm chất đạo đức tốt,
trong sạch, có lối sống lành mạnh... có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng...
GDCD luôn là môn học quan trọng trong chương trình giáo dục – đào tạo của
chương trình phổ thông, đặc biệt là chương trình THPT để thực hiện nhiệm
vụ đó.
1
Môn học giáo dục công dân là môn học trang bị cho học sinh những vốn
hiểu biết lý luận về đạo đức của con người, giáo dục học sinh sống tốt, sống
có văn hoá và tình yêu thương đối với con người với nhau. Nhưng thực trạng
giáo dục hiện nay đang báo động về tình trạng giảm sút trong chất lượng học
tập giáo dục nói chung và chất lượng môn giáo dục công dân nói riêng ở
trường phổ thông. Điều này có nguyên nhân từ việc học sinh còn quá coi nhẹ
việc học giáo dục công dân, chưa có phương pháp học tập hiệu quả, kỷ luật
học tập chưa tốt dẫn đến có những nhận thức sai lầm, lệch lạc về vị trí và vai
trò của môn học này...
Việc đánh giá một cách khoa học chất lượng học tập môn GDCD của
học sinh ở các trường THPT nước ta hiện nay, trên cơ sở đó đưa ra giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng học tập môn GDCD cho các trường THPT là yêu
cầu cấp bách của thực tiễn. Nhận thức được điều đó em đã chọn đề tài
“Nâng cao chất lượng học tập môn GDCD ở trường THPT Thạch Thành
II – Thanh Hóa” để nghiên cứu”.
II. Tình hình nghiên cứu.
Nâng cao chất lượng học tập môn GDCD ở các trường THPT đã được
đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả, tập thể.
- Đánh giá chất lượng và hiệu quả học tập môn GDCD của các trường
chuyên cấp THPT tại TPHCM do TS Nguyễn Kim Dung thực hiện năm
2007. Tác giả Kim Dung đã đi vào tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích chất
lượng và hiệu quả học tập môn GDCD ở các trường THPT ở địa bàn
TPHCM.
- Bài viết Nhìn nhận đúng về môn học Giáo dục công dân của tác giả
Phạm Việt Tuấn trên tờ báo điện tử Việt báo ngày 3/7/2007. Với bài viết này,
Phạm Việt Tuấn đã đưa ra cách nhìn nhận đúng đắn cả về vai trò, vị trí, cũng
như những quan điểm, quan niệm về môn GDCD.
- Bài viết Từng bước nâng cao chất lượng giảng dạy môn Giáo dục
công dân trong các trường học của tác giả Hải Âu trên báo điện tử của tỉnh
2
Ninh Bình đăng ngày 13/12/2009.Bài viết này với mục đích là đưa ra các biện
pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, từ đó nâng cao chất lượng học tập
của học sinh đối với môn GDCD
- Đề tài Một số phương pháp dạy học mới trong giảng dạy chương
trình Giáo dục công dân ở trường THPT của Th.s Hoàng Thị Nga ( ĐH
Vinh ) tiến hành nghiên cứu trong năm 2008. Ở đề tài này, Th.s Hoàng Thị
Nga đã tiến hành nghiên cứu một số phương pháp dạy học mới nhằm đạt
được hiệu quả trong hoạt động giảng dạy của người giáo viên đồng thời nâng
cao chất lượng học tập môn GDCD.
- Đề tài Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên giảng
dạy môn GDCD ở các trường THPT tỉnh Nghệ An do Th.s Nguyền Thị
Bình – Trường ĐH Vinh nghiên cứu trong năm 2008 cũng đã đưa ra các biện
pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của người giáo viên môn GDCD ở
bậc học THPT.
- Tại hội thảo “Đánh giá hiệu quả dạy học môn Giáo dục công dân”,
Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển nêu rõ: Chương trình môn GDCD
đã đảm bảo được sự cân đối, hài hoà giữa yêu cầu trang bị kiến thức với việc
rèn luyện kỹ năng và phát triển thái độ tích cực cho học sinh. Những lĩnh vực
kiến thức trong chương trình là cần thiết đối với học sinh THCS và THPT. Vị
trí, vai trò của môn GDCD được xác định trong chương trình về cơ bản là
đúng đắn.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu vào việc nghiên
cứu những vấn đề liên quan đến chất lượng học tập môn GDCD ở bậc học
THPT. Tuy nhiên, vấn đề thực trạng và giải pháp đưa ra để nâng cao chất
lượng học tập môn GDCD cả về lý luận và thực tiễn còn đang tồn tại nhiều
vấn đề, chính vì thế em đã lựa chọn vấn đề “Nâng cao chất lượng học tập
môn GDCD ở trường THPT Thạch Thành II – Thanh Hóa” làm đề tài
nghiên cứu của mình.
3
III. Mục đích nghiên cứu.
Đề tài tìm hiểu thực trạng chất lượng học tập môn giáo dục công dân, từ
đó đưa ra những biện pháp tác động phù hợp nhằm nâng cao chất lượng học
tập môn giáo dục công dân.
IV. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
1.
Khách thể nghiên cứu: Đó là học sinh trường THPT Thạch Thành
II-Thanh Hóa.
2.
Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng học tập môn GDCD ở trường
THPT Thạch Thành II – Thanh Hóa.
V. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Phân tích đặc điểm, vai trò của môn học GDCD trong chương trình
THPT.
- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng học tập môn GDCD của học
sinh THPT ( tiến hành khảo sát học sinh ở trường THPT Thạch Thành II –
Thanh Hóa ).
- Phát hiện những vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao chất lượng học tập
môn GDCD của học sinh trường THPT Thạch Thành II – Thanh Hóa.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn GDCD
cho học sinh trường THPT Thạch Thành II – Thanh Hóa
VI. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài đi vào nghiên cứu việc nâng cao chất lượng học tập môn GDCD
trong phạm vi ở trường THPT Thạch Thành II – Thanh Hóa.
VII. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp trừu tượng hóa.
- Phương pháp quan sát...
4
VIII. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
đề tài gồm 3 chương.
Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài.
1.1 Sự cần thiết của môn GDCD trong việc đào tạo con người phát
triển toàn diện.
1.1.1 GDCD là môn học không tách khỏi chương trình GD-ĐT ở
các cấp học.
1.1.2 GDCD là môn học có ý nghĩa quan trọng trong chương trình
THPT.
1.2
Tính đặc thù của môn GDCD trong các trường THPT
1.2.1 Đặc điểm môn GDCD.
1.2.2 Đặc điểm học sinh THPT.
1.2.3 Đặc điểm học sinh trường THPT Thạch thành II.
Chương II: Thực trạng chất lượng học tập môn GDCD của học sinh
trường THPT Thạch Thành II – Thanh Hóa.
2.1 Thực trạng chất lượng học tập môn GDCD của học sinh trường
THPT Thạch Thành II – Thanh Hóa.
2.1.1 Thực trạng nhận thức của học sinh trường THPT Thạch Thành
II về môn học GDCD.
2.1.2 Thực trạng về thái độ học tập của học sinh trường THPT
Thạch Thành II đối với môn học GDCD.
2.1.3 Kết quả học tập môn GDCD của học sinh trường THPT Thạch
Thành II.
2.2 Nguyên nhân của thực trạng chất lượng học tập môn GDCD của
học sinh trường THPT Thạch Thành II – Thanh Hóa.
2.2.1 Nguyên nhân chủ quan.
2.2.2 Nguyên nhân khách quan.
5
2.3 Những vấn đề đặt ra trong việc học tập môn GDCD của học
sinh trường THPT Thạch Thành II – Thanh Hóa.
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng học tập môn GDCD cho
học sinh trường THPT Thạch Thành II – Thanh Hóa.
3.1 Về phía nhà trường.
3.2 Về phía giáo viên giảng dạy môn GDCD.
3.2.1 Giáo viên phải không ngừng cải tiến phương pháp giảng dạy
môn GDCD.
3.2.2 Giáo viên phải đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá việc
học tập môn GDCD của học sinh.
3.3 Về phía học sinh.
3.3.1 Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc
học tập môn GDCD cho học sinh.
3.3.2 Đổi mới phương pháp học tập môn GDCD.
6
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI.
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA MÔN GDCD TRONG ĐÒ TẠO CON
NGƯỜI PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN.
1.1.1 GDCD là môn học không tách khỏi chương trình GD - ĐT ở
các cấp học.
GDCD là môn học giúp người học sinh hình thành, phát triển những
phẩm chất đạo đức của một con người. Nắm vững được điều đó, Bộ GD – ĐT
xác định, GDCD là môn học không tách khỏi chương trình học ở các cấp học.
Bậc tiểu học là bậc đầu tiên của giáo dục phổ thông. Bất kỳ mọi người dân
công tác, lao động ở bất kỳ lĩnh vực nào trong xã hội đều phải trải qua nhà
trường tiểu học. Lý luận và thực tiễn đều khẳng định rằng, nhũng dấu ấn của
trường tiểu học có một ảnh hưởng sâu sắc đến cả cuộc đời của học sinh.
Chính vì vậy việc giáo dục đạo đức phải được coi trọng và tiến hành ngay từ
bậc tiểu học. Quán triệt nội dung đó, ở bậc tiểu học chúng ta có môn học Đạo
đức thay cho tên gọi là môn GDCD. Môn học Đạo đức là một trong những
môn học bắt buộc, nó là môn học cơ bản trang bị cho học sinh các chuẩn mực
đạo đức đầu tiên, lối sống có trách nhiệm với các chủ thể khác cuộc sống và
cách sống có lý tưởng, từ đó các em biết cách vận dụng kiến thức đó hình
thành nên hành vi, chuẩn mực đạo đức.
Môn Đạo đức ở lớp 1 gồm 14 bài học, được thiết kế theo hướng xác
định quyền, trách nhiệm, bổn phận đối với học sinh. Bao gồm 14 chuẩn mực
hành vi đạo đức đơn giản, quen thuộc với học sinh theo năm mối quan hệ
trong cuộc sống như: quan hệ của học sinh với bản thân, quan hệ của học sinh
với gia đình, quan hệ của học sinh với nhà trường, quan hệ của học sinh với
cộng đồng xã hội, quan hệ của học sinh với môi trường thiên nhiên.Với môn
Đạo đức dành cho lớp 1, bước đầu đã kết hợp giữa giáo dục nhà trường và
giáo dục gia đình nhằm hình thành cho các em những hành vi đạo đức phù
7
hợp với lứa tuổi của các em. Hầu hết ở đây là những hành vi đạo đức còn đơn
giản, sơ khai nhưng lại rất cần phải có của một cá nhân sống trong một môi
trường xã hội.
Môn Đạo đức ở lớp 2 gồm 14 bài bắt buộc và 1 bài do địa phương tự
chọn sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của mình (về an toàn giao thông,
bảo vệ môi trường...) tương tự như lớp 1, nội dung chương trình lớp 2 cũng
phản ánh các mối quan hệ của học sinh với các mối quan hệ trong cuộc sống.
Nhưng chương trình đạo đức lớp 2 không chỉ giáo dục bổn phận, trách nhiệm
của học sinh đối với gia đình, nhà trường, xã hội, môi trường tự nhiên mà còn
giáo dục học sinh có trách nhiệm đối với chính bản thân, biết tự chăm sóc bản
thân, có trách nhiệm về các hành vi, việc làm của bản thân. Nội dung chương
trình đạo đức lớp 2 gần gũi với cuộc sống thực của học sinh. Các tranh ảnh,
truyện, tình huống, tấm gương...để dạy – học môn đạo đức lớp 2 được lấy từ
chính cuộc sống thực của học sinh, với các mối quan hệ gần gũi, quen thuộc
hàng ngày của các em.
Chương trình môn Đạo đức ở lớp 3 cũng bao gồm 14 bài phản ánh các
chuẩn mực đạo đức cần thiết, phù hợp với lứa tuổi trong các mối quan hệ của
các em với bản thân, gia đình, nhà trường, cộng đồng và môi trường tự nhiên.
Ở mỗi bài đạo đức đều phải thực hiện các nhiệm vụ và nội dung giáo dục đạo
đức cho học sinh như: giáo dục ý thức đạo đức; giáo dục thái độ, tình cảm
đạo đức; giáo dục hành vi, thói quen đạo đức...Các bài học này nhằm xây
dựng cho học sinh tính kiên trì, bền bỉ trong học tập, biết giúp đỡ và chăm sóc
những người thân, những người có hoàn cảnh khó khăn...Đó là những điều rất
cần thiết cho việc hình thành, phát triển nhân cách học sinh.
Chương trình môn Đạo đức lớp 4, 5 vẫn đảm bảo tính đồng tâm với
chương trình môn đạo đức lớp 1, 2, 3 nhưng có cung cấp thêm một số hành
vi, chuẩn mực cho học sinh như: Thói quen đúng giờ và không chỉ giúp đỡ
những người có hoàn cảnh khó khăn mà còn giúp đỡ những người gần gũi
xung quanh mình như: Thầy cô, bạn bè, hàng xóm...Chương trình môn Đạo
8
đức lớp 4, 5 còn cung cấp cho học sinh những điều cần thiết trong cuộc sống:
Bảo vệ các công trình công cộng, các di tích lịch sử văn hóa, cây trồng vật
nuôi.
Có thể nói, nội dung chương trình môn Đạo đức lớp 4, 5 cũng dựa trên
cơ sở của môn Đạo đức lớp 1, 2, 3 nhưng yêu cầu hành vi, chuẩn mực đạo
đức cần cung cấp cho các em có phần mở rộng hơn, sâu hơn, phù hợp với khả
năng nhận thức của từng lứa tuổi.
Do đó, nội dung của toàn bộ chương trình môn Đạo đức ở bậc tiểu học
đều mang tính kế thừa, đồng tâm trên nền tảng của năm điều Bác Hồ dạy
thiếu niên, nhi đồng.
Ở bậc học THCS, tên gọi môn học GDCD xuất hiện, có môn GDCD lớp
6, 7, 8, 9, với tổng cộng 75 bài học từ lớp 6 đến lớp 9. Môn GDCD ở bậc
THCS nhằm giáo dục cho học sinh các chuẩn mực về đạo đức và pháp luật
của người công dân, phù hợp với lứa tuổi. Trên cơ sở đó góp phần hình thành
những phẩm chất nhân cách của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay, phù hợp với xua thế phát triển của thời đại. Ngoài ra, bộ môn Giáo dục
công dân (GDCD) ở trường THCS có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì
nó không chỉ cung cấp cho người học những kiến thức về đạo đức và pháp
luật mà còn góp phần hoàn thiện nhân cách con người, giúp học sinh biết
phân biệt được lẽ phải, trái, biết tôn trọng bản thân và người khác, biết sống
trung thực, khiêm tốn, dũng cảm, biết yêu thương và vị tha. Đặc biệt, những
kiến thức của môn GDCD giúp các em hình thành những kỹ năng sống cơ
bản để vững vàng bước vào đời, ý thức tổ chức kỷ luật, có thái độ đúng đắn
trong việc nhận thức và chấp hành pháp luật.
Môn GDCD lớp 6 gồm 18 bài chia thành 2 phần: Các chuẩn mực đạo
đức (từ bài 1 đến bài 11) và các chuẩn mực pháp luật (từ bài 12 đến bài 18),
nhằm trang bị cho học sinh lớp 6 những kiến thức cơ bản về pháp luật và hình
thành nên các hành vi đạo đức phù hợp.
9
Môn GDCD lớp 7 bao gồm 18 bài học cũng chia thành 2 phần kiến thức
là phần chuẩn mực về đạo đức (từ bài 1 đến bài 12) và chuẩn mực về pháp
luật (từ bài 13 đến bài 18). Môn GDCD lớp 8 gồm 21 bài học. Nội dung phần
đạo đức được phân bố từ bài 1 đến bài 11, phần pháp luật từ bài 12 đến bài
21. Với nội dung như vậy môn GDCD 7, 8 nhằm bước đầu hình thành cho
học sinh những thói quen, hành vi phù hợp nhằm điều chỉnh hành vi của
mình; biết đấu tranh, phê phán những hành vi sai trái, bảo vệ, tôn trọng và
làm theo lẽ phải; giáo dục, bồi dưỡng cho học sinh thái độ, hành vi, cách ứng
xử sao cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức và quy phạm pháp luật nhằm đào
tạo nên những công dân có đủ đức, đủ tài đáp ứng cho công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa hiện nay của đất nước.
Môn GDCD lớp 9 gồm 18 bài học với phần nội dung kiến thức tiếp theo
mạch logic của môn GDCD lớp 8. Nội dung cũng chia thành 2 phần: Phần
đạo đức từ bài 1 đến bài 11, phần chuẩn mực pháp luật từ bài 12 đến bài 18.
Cũng như môn GDCD lớp 7, 8 môn GDCD lớp 9 nhằm cung cấp cho các em
những kiến thức về pháp luật, những chuẩn mực đạo đức phù hợp, từ đó có
cách ứng xử, hành vi đúng chuẩn mực đạo đức để buước vào một giai đoạn
mới của người học sinh – người công dân tương lai của đất nước.
Bước lên bậc học THPT, môn GDCD tiếp tục được đưa vào trong
chương trình giáo dục, là một trong số những môn học bắt buộc. Chương
trình môn GDCD được xây dựng dựa trên các môn khoa học cơ bản như:
Triết học, Đạo đức học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học,
Luật học, và các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Môn GDCD còn tích hợp nhiều nội dung
giáo dục xã hội cần thiết cho các công dân trẻ tuổi như: giáo dục quyền trẻ
em, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục văn hóa hòa bình, giáo dục môi trường,
giáo dục giới tính - sức khỏe sinh sản vị thành niên, giáo dục an toàn giao
thông, giáo dục phòng tránh ma túy, phòng tránh HIV/AIDS...
10
Nội dung môn GDCD hướng học sinh vươn tới những giá trị cơ bản của
người công dân Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Đó là những giá trị tốt đẹp của dân tộc trong sự hòa nhập với tinh hoa
văn hóa nhân loại, thể hiện sự thống nhất giữa tính truyền thống với tính hiện
đại.
Nhìn vào nội dung kiến thức mà môn Đạo đức và môn GDCD truyền tải
ta có thể thấy được rằng về mặt kiến thức có sự kế thừa, mang tính đồng tâm
ở từng bậc học, bậc học sau nội dung kiến thức cao hơn, đa dạng hơn và
“khó” hơn bậc học trước. Tương ứng với những lượng kiến thức đó là mục
tiêu trang bị, hình thành nên ở người học sinh những chuẩn mực đạo đức,
hành vi phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của môi trường sống.
1.1.2 GDCD là môn học có ý nghĩa quan trọng trong chương trình
THPT.
Giáo dục công dân là môn học rất cần thiết trong việc giáo dục ý thức,
đạo đức, hành vi của học sinh và góp phần quan trọng hình thành nhân cách
học sinh từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
Chính vì lý do môn học GDCD có một ý nghĩa quan trọng trong bất cứ
một chương trình của một bậc học nào cho nên nó là môn học không tách
khỏi chương trình GD – ĐT ở các cấp học. Ở bậc học THPT thì càng không
thể tách nó ra khỏi chương trình học tập của học sinh bởi đối với những học
sinh – những công dân – chủ nhân tương lai của đất nước thì môn học này lại
càng cần thiết hơn bao giờ hết. Môn học GDCD có những ý nghĩa quan trọng
như sau:
* Môn GDCD trong nhà trường THPT có tác dụng giúp học sinh có hiểu
biết về giá trị đạo đức, các quy định pháp luật căn bản, lối sống, trách nhiệm
của công dân trong việc thực hiện các chính sách pháp luật của Đảng, Nhà
nước, biết vận dụng kiến thức đã học để đánh giá các hiện tượng, sự kiện, lựa
chọn hành vi ứng xử phù hợp với các giá trị xã hội...
11
* Môn GDCD trong nhà trường phổ thông có nhiệm vụ trực tiếp giáo
dục cho các em học sinh lối sống, đạo đức và nhân cách...
* GDCD là môn học chủ chốt trong việc giáo dục cho học sinh ý thức và
hành vi của người công dân, góp phần hình thành và phát triển những phẩm chất
và năng lực cần thiết của người công dân trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã
hội - một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
* GDCD là môn học có vai trò quan trọng trong việc phát triển tâm lực một thành tố cơ bản của nhân cách và là nội lực của sự phát triển nhân cách của
học sinh. Do vậy, môn học này góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, đào tạo học sinh thành những người lao động mới đáp
ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phù hợp
với xu thế phát triển chung của thời đại.
* Chương trình bộ môn GDCD có ý nghĩa quan trọng trong việc hình
thành và phát triển nhân cách, thực hiện được mục tiêu giáo dục là đào tạo
con người phát triển toàn diện có đạo đức, trí tuệ, sức khỏe, thẩm mỹ, nghề
nghiệp và các kỹ năng cơ bản.
* Những giá trị đạo đức được xây dựng trong chương trình GDCD mang
tính đồng tâm và nâng cao, là sự kế thừa và phát huy những giá trị từ cấp tiểu
học đến trung học cơ sở và trung học phổ thông, góp phần đào tạo một thế hệ
công dân thích ứng với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa
đất nước.
Với những ý nghĩa như trên, Môn GDCD trong các trường THPT được
cấu trúc chương trình như sau:
Lớp 10, gồm hai phần:
Phần một: Công dân với việc hình thành TGQ, PPL khoa học. Phần này
gồm 16 tiết, 9 bài, mang tính “triết học phổ thông” với một số khái niệm,
phạm trù, nguyên lí, quy luật phục vụ trực tiếp cho việc hình thành cơ sở
ban đầu về TGQ, PPL khoa học cho học sinh. Với phần một này thì người
12
học sinh được trang bị những kiến thức cũng như những hành vi ứng xử phù
hợp với yêu cầu của xã hội, có quan điểm ủng hộ và làm theo cái mới tiến bộ,
tham gia tích cực và có trách nhiệm đối với các hoạt động cộng đồng.
Phần hai: Công dân với đạo đức: Phần này có vai trò quan trọng trong
việc trang bị cho học sinh những hiểu biết về các phạm trù cơ bản của Đạo
đức học và trách nhiệm đạo đức của công dân trong giai đoạn hiện nay. Gồm
11 tiết, 7 bài, đây cũng là phần tổng kết, khái quát lại những nội dung giáo
dục đạo đức mà học sinh đã được học ở Tiểu học và Trung học cơ sở. Với
phần học này thì người học sinh đã biết tự điều chỉnh, tự hoàn thiện bản thân
theo các yêu cầu đạo đức xã hội, hình thành nên những phẩm chất đạo đức cơ
bản của một người công dân cũng như của một người học sinh THPT.
Lớp 11, gồm hai phần:
Phần một: Công dân với kinh tế: Phần này gồm 13 tiết, 7 bài. Với phần
nội dung này thì người học sinh sẽ được trang bị những kiến thức để lí giải
một số vấn đề về phát triển kinh tế trong đời sống xã hội, nhận xét, đề xuất và
tham gia giải quyết những hiện tượng kinh tế gần gũi phù hợp với lứa tuổi, có
định hướng nghề nghiệp phù hợp với bản thân và yêu cầu phát triển của xã
hội, từ đó tin tưởng đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà
nước, tin tưởng khả năng của bản thân trong việc xây dựng kinh tế gia đình
góp phần phát triển kinh tế đất nước.
Phần hai: Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội: Phần này gồm 14
tiết, 8 bài. Học xong phần này, người học sinh sẽ biết vận dụng kiến thức để
phân biệt sự khác nhau về bản chất giữa Nhà nước XHCN với các nhà nước
trước kia, biết thực hiện các quyền dân chủ XHCN và tham gia tuyên truyền
các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, biết tìm hiểu, phân tích, đánh giá
một số vấn đề gần gũi trong đời sống chính trị - xã hội hiện nay, đồng thời có
ý thức đúng đắn về trách nhiệm công dân đối với việc xây dựng, bảo vệ Nhà
nước và chế độ XHCN, tin tưởng và thực hiện tốt đường lối, chủ trương và
chính sách của Đảng và Nhà nước.
13
Lớp 12: “Công dân với pháp luật”, gồm hai chủ đề lớn:
- Bản chất và vai trò của pháp luật đối với sự phát triển của công dân, đất
nước và nhân loại,
- Quyền và nghĩa vụ của công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã
hội.
Với hai phần nội dung như vậy, môn GDCD 12 nhằm từng bước hình
thành năng lực phân tích, đánh giá các sự kiện, tình huống pháp luật trong đời
sống thường ngày của bản thân, gia đình và xã hội; biết cách tìm hiểu, tiếp
cận các văn bản pháp luật đã được trang bị trong nhà trường để tự điều chỉnh
hành vi của bản thân trong các mối quan hệ xã hội mà học sinh tham gia hàng
ngày. Từ đó có thái độ tôn trọng, tin tưởng lẽ phải, sự công bằng, ý thức trách
nhiệm và tính tích cực của công dân trong việc xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN; tôn trọng và tự giác sống, học tập theo pháp luật, trước tiên là
tuân thủ các quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của học sinh trong
nhà trường, trong các hoạt động xã hội cũng như chủ động góp phần phòng
chống các biểu hiện vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội.
Như vậy ta có thể thấy được rằng, môn học GDCD có ý nghĩa vô cùng
quan trọng trong chương trình giáo dục THPT, luôn song hành với các môn
khoa học khác trong quá trình học tập của người học sinh. Nó không chỉ cung
cấp một lượng kiến thức cho người học sinh mà còn thông qua đó giáo dục
phẩm chất đạo đức, ý thức, hành vi, nhân cách cho người học sinh để các em
có thể hoàn thiện mình, chuẩn bị bước vào một thời kỳ mới trong cuộc đời và
thực hiện các nhiệm vụ mà xã hội giao cho.
1.2 TÍNH ĐẶC THÙ CỦA MÔN GDCD TRONG CÁC TRƯỜNG
THPT
1.2.1 Đặc điểm môn GDCD trong các trường THPT.
Môn GDCD là một môn khoa học xã hội, là tên gọi có tính quy ước, nó
phản ánh nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Các tri thức khoa học
trong môn GDCD là tri thức về triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã
14
hội khoa học, đạo đức học, pháp luật học, đường lối chính sách của Đảng
cộng sản Việt Nam dưới dạng phổ thông hóa. Các kiến thức đó được sắp xếp,
bố trí hợp lý, kết cấu chặt chẽ, logic, phù hợp với trình độ tâm lý học sinh
THPT. Môn GDCD cùng với các môn khoa học khác nó góp phần hình thành
và phát triển dần dần nhân cách, phẩm chất, năng lực của người học sinh.
Khác với các môn khoa học khác, môn GDCD góp phần đào tạo những người
lao động mới vừa có tri thức khoa học, vừa có đạo đức, vừa có năng lực hoạt
động thực tiễn, có phẩm chất chính trị tư tưởng, vừa có ý thức trách nhiệm
đối với cộng đồng, với gia đình, và đối với bản thân mình, nó gắn liền với
đường lối xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Macôren đã cho rằng: “Nhân cách của
con người phụ thuộc vào GDCD 80%”.
Đặc thù của môn GDCD là giáo dục phẩm chất chính trị, tư tưởng đạo
đức cho học sinh cùng với tất cả các môn học, các hình thức giáo dục do nhà
trường thực hiện. Song môn GDCD có nhiệm vụ hết sức quan trọng trong
việc giáo dục đó, nó có thể trực tiếp giáo dục cho học sinh những tri thức về
thế giới quan một cách tương đối có hệ thống, toàn diện; giúp cho các em
hiểu đúng quy luật phát triển tất yếu của tự nhiên, của xã hội, của tư duy; giúp
cho học sinh nhận thức đúng đắn của cá nhân và cộng đồng phải phù hợp với
quy luật khách quan của sự phát triển của lịch sử xã hội, biết sống trong điều
kiện cụ thể của bản thân, gia đình và xã hội, luôn có ý thức vươn tới những
cái đẹp. Trên cơ sở những tri thức đó, học sinh sẽ dần hình thành những quan
điểm mới, những khuynh hướng tư tưởng mới, động cơ, hoài bão, lòng tin và
hành vi tốt đẹp của con người. Đồng thời, qua tri thức của môn GDCD sẽ
hình thành từng bước phương pháp nhận thức, tư duy khoa học và phương
pháp hành động đúng quy luật khách quan, làm cơ sở để học tập, nhân thức
các tri thức khác. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, việc định hướng đúng đắn
suy nghĩ là hết sức quan trọng và do đó, việc định hướng đúng trong hành
động có vai trò hết sức quan trọng đối với mỗi cá nhân.
15
Nhiệm vụ cụ thể của môn GDCD tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển
của lịch sử loài người và đất nước ta. Trong giai đoạn hiện nay, môn GDCD
có các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Trang bị cho học sinh THPT một cách tương đối có hệ thống những tri
thức phổ thông cơ bản, thiết thực của triết học duy vật biện chứng, của lý luận
về chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, về nhà nước và pháp quyền, về đạo
đức và lối sống có đạo đức, những quan điểm về xây dựng đất nước ngày
càng giàu đẹp, văn minh, xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng
ấm no, hạnh phúc...
- Bước đầu giáo dục cho học sinh những quan điểm khoa học và cách
mạng, tư duy mới về thế giới và thời đại, về con người và cộng đồng, về các
quá trình xã hội diễn ra trên thế giới và trên đất nước ta; về cuộc đấu tranh
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội giữa cái tiến bộ và cái bảo thủ, lạc
hậu... từ đó hình thành niềm tin, có cơ sở khoa học về lý tưởng cao đẹp mà
con người luôn tới và sự tất thắng của cái Chân – Thiện – Mỹ.
- Bồi dưỡng cho học sinh bước đầu những phương pháp tư duy biện
chứng, biết phân tích và đánh giá các hiện tượng xã hội theo quan điểm khoa
học, tiến bộ; ủng hộ cái đúng, cái mới; tích cực đấu tranh chống cái sai, cái
cũ, cái lỗi thời, cái tiêu cực và lạc hậu; biết kế thừa những truyền thống tốt
đẹp vốn có của dân tộc.
- Từng bước hình thành ở học sinh thói quen và kỹ năng vận dụng những
tri thức đã học vào cuộc sống học tập, lao động và sinh hoạt; giúp họ định
hướng đúng đắn về chính trị, tư tưởng đạo đức trong các hoạt động xã hội,
trong hiện tại và trong tương lai.
Những nhiệm vụ cụ thể đã nêu trên của môn GDCD trong chương trình
THPT có quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau và đều được thực hiện
đồng bộ trong các giờ lên lớp. Trong quá trình giảng dạy, người giáo viên
phải thực hiện các nhiệm vụ đó, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không
16
tốt sẽ không thể góp phần trực tiếp và tích cực để đào tạo nhữung người công
dân tốt cho đất nước trong tương lai.
1.2.2 Đặc điểm học sinh THPT.
Bậc học THPT là bậc học cuối cùng để chuyển tiếp từ giáo dục – đào tạo
phổ thông sang giáo dục – đào tạo chuyên nghiệp. Các em học sinh là những
thanh niên, độ tuổi từ 15 đến 18. Chính vì thế, đặc điểm của học sinh THPT
sẽ khác với đặc điểm của học sinh bậc học tiểu học và THCS.
* Đặc điểm hoạt động học tập của học sinh THPT
- Khi đã bước vào bậc học THPT, việc học tập của người học sinh càng
chiếm vị trí quan trọng hơn bao giờ hết vì đây được xem là thời kỳ bước
ngoặt đối với việc lựa chọn nghề nghiệp của các em. Đồng thời, nó cũng có vị
trí quan trọng trong sự phát triển nhân cách của người học sinh. Chính và thế,
các em rất coi trọng việc học tập trong thời kỳ này.
- Học tập là hoạt động chủ đạo của người học sinh, nhưng bước vào tuổi
thanh thiếu niên việc học tập của các em có những thay đổi căn bản.
Việc học tập ở trường trung học phổ thông là một bước ngoặc quan
trọng trong đời sống của người học sinh. Ở các lớp dưới, người học sinh học
tập các hệ thống các sự kiện và hiện tượng, hiểu những mối quan hệ cụ thể và
đơn giản giữa các sự kiện và hiện tượng đó. Ở trường trung học phổ thông,
việc học tập của học sinh phức tạp hơn rất nhiều. Các em chuyển sang nghiên
cứu có hệ thống những cơ sở của các khoa học, học tập có phân môn… Mỗi
môn học gồm những khái niệm, những quy luật được sắp xếp thành một hệ
thống tương đối sâu sắc. Điều đó đòi hỏi các em phải tự giác và độc lập cao
trong hoạt động học tập của mình.
- Quan hệ giữa giáo viên và học sinh cũng khác trước. Học sinh được
học với nhiều giáo viên. Các giáo viên có cách dạy và yêu cầu khác nhau đối
với học sinh, có trình độ nghề nghiệp và phẩm chất, uy tín khác nhau. Quan
hệ giữa giáo viên và học sinh “xa cách” hơn so với bậc tiểu học và trung học
cơ sở. Sự thay đổi này tạo ra những khó khăn nhất định cho các em học sinh
17
nhưng nó cũng tạo điều kiện cho các em phát triển dần phương thức nhận
thức người khác, sự tự ý thức phát triển.
- Thái độ tự giác đối với học tập ở học sinh THPT cũng tăng lên rõ rệt. Ở
học sinh tiểu học, thái độ đối với môn học phụ thuộc vào thái độ của các em
đối với giáo viên và điểm số nhận được. Nhưng ở bậc học THPT, thái độ đối
với môn học do nội dung môn học và sự đòi hỏi phải mở rộng tầm hiểu biết
chi phối. Thái độ đối với môn học đã được phân hóa (môn “hay”, môn
“không hay” … ) Ở đa số học sinh, nội dung khái niệm “học tập” đã được mở
rộng ; ở nhiều em đã có yếu tố tự học, có hứng thú bền vững đối với môn học,
say mê học tập. Tuy nhiên, tính tò mò, ham hiểu biết nhiều có thể khiến hứng
thú của thiếu niên bị phân tán và không bền vững và có thể hình thành thái độ
dễ dãi, không nghiêm túc đối với các lĩnh vực khác trong cuộc sống.
* Đặc điểm sự phát triển trí tuệ của học sinh THPT.
- Tri giác: Học sinh đã có khả năng phân tích, tổng hợp các sự vật, hiện
tượng phức tạp hơn khi tri giác sự vật, hiện tượng. Khối lượng tri giác tăng
lên, tri giác trở nên có kế hoạch, có trình tự và hoàn thiện hơn.
- Trí nhớ: Trí nhớ của người học sinh THPT cũng được thay đổi về chất.
Đặc điểm cơ bản của trí nhớ ở lứa tuổi người học sinh THPT này là sự tăng
cường tính chất chủ định, năng lực ghi nhớ có chủ định được tăng lên rõ rệt,
cách thức ghi nhớ được cải tiến, hiệu suất ghi nhớ cũng được nâng cao hơn so
với học sinh bậc học trung học cơ sở.
Học sinh trung học phổ thông có rất nhiều tiến bộ trong việc ghi nhớ tài
liệu trừu tượng, từ ngữ. Các em có những kỹ năng tổ chức hoạt động tư duy,
biết tiến hành các thao tác như so sánh, hệ thống hóa, phân loại nhằm ghi nhớ
tài liệu. Kỹ năng nắm vững phương tiện ghi nhớ của học sinh THPT được
phát triển ở mức độ cao, các em bắt đầu biết sử dụng những phương pháp đặc
biệt để ghi nhớ và nhớ lại. Tốc độ ghi nhớ và khối lượng tài liệu được ghi nhớ
tăng lên nhiều. Ghi nhớ máy móc ngày càng nhường chỗ cho ghi nhớ logic,
ghi nhớ ý nghĩa. Hiệu quả của trí nhớ trở nên tốt hơn. Biểu hiện đó là các em
18
thường phản đối các yêu cầu của giáo viên bắt học thuộc lòng từng câu, từng
chữ có khuynh hướng muốn tái hiện bằng lời nói của mình.
- Tư duy: Hoạt động tư duy của học sinh trung học phổ thông có những
biến đổi cơ bản:
+ Tư duy nói chung và tư duy trừu tượng nói riêng phát triển mạnh là
một đặc điểm cơ bản của hoạt động tư duy ở học sinh THPT. Nhưng thành
phần của tư duy hình tượng - cụ thể vẫn được tiếp tục phát triển, nó vẫn giữ
vai trò quan trọng trong cấu trúc của tư duy của học sinh.
+ Các em học sinh THPT hiểu các dấu hiệu bản chất của đối tượng
nhưng không phải bao giờ cũng phân biệt được những dấu hiệu đó trong mọi
trường hợp. Khi nắm khái niệm các em có khi thu hẹp hoặc mở rộng khái
niệm không đúng mức.
+ Ở học sinh THPT, tính phê phán của tư duy cũng được phát triển, các
em biết lập luận giải quyết vấn đề một cách có căn cứ. Các em không dễ tin
như bậc học tiểu học hay trung học cơ sở, các em đã biết vận dụng lí luận vào
thực tiễn, biết lấy những điều quan sát được, những kinh nghiệm riêng của
mình để minh họa cho kiến thức đã đưa ra.
Ngoài ra, một đặc điểm quan trọng trong quan hệ với bạn bè cùng lứa
tuổi là sự xuất hiện những sắc thái mới trong quan hệ với bạn khác giới những cảm xúc giới tính..- Tự ý thức đã phát triển khiến các em nhanh chóng
nhận thức được những đặc điểm giới tính của mình. Các em đã bắt đầu quan
tâm lẫn nhau, ưa thích nhau, từ đó quan tâm đến vẻ bề ngoài của mình hơn so
với bậc học THCS.
Khác với học sinh lớp dưới, học sinh cuối cấp II và học sinh cấp III đứng
trước một thách thức khách quan của cuộc sống: phải chuẩn bị lựa chọn cho
mình một hướng đi sau khi tốt nghiệp phổ thông, phải xây dựng cho mình
một cuộc sống độc lập trong xã hội… Những thay đổi trong vị thế xã hội, sự
thách thức khách quan của cuộc sống dẫn đến làm xuất hiện ở lứa tuổi thanh
niên những nhu cầu về hiểu biết thế giới hiểu biết xã hội và các chuẩn mực
19
quan hệ người - người, hiểu mình và tự khẳng định mình trong xã hội...học
sinh THPT có sự chuẩn bị về tâm thế nên suy nghĩ của các em chín chắn hơn
khi quyết định kế hoạch đường đời của mình.
1.2.3 Đặc điểm học sinh trường THPT Thạch Thành II – Thanh Hóa.
Vài nét về trường THPT Thạch Thành II – Thanh Hóa.
- Lịch sử trường THPT Thạch Thành II – Thanh Hóa.
Trường THPT II được thành lập vào năm 1999 theo quyết định số
1845/1999/QĐ – UB, ngày 10/09/1999 của Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh. Là
một trường công lập, trường THPT Thạch Thành II – Thanh Hóa nằm trong
hệ thống các trường phổ thông, do Sở Giáo dục – Đào tạo Thanh Hóa quản
lý, chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ và tổ chức bộ máy quản lý.
Địa điểm của trường THPT Thạch Thành II đóng tại Khu 3, xã Thạch
Tân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Huyện Thạch Thành nằm ở phía
Tây Bắc của tỉnh Thanh Hóa, giáp với huyện Nho Quan của tỉnh Ninh Bình.
Là một huyện miền núi nên tình hình về kinh tế - xã hội của khu vực còn
chưa phát triển, đời sống của nhân dân trong huyện còn gặp nhiều khó khăn.
Học sinh của trường THPT Thạch Thành II – Thanh Hóa sinh sống chủ
yếu ở các xã lân cận địa điểm của trường, đó là các xã Thạch Tân, Thạch
Định, Thạch Bình, Thạch Long, Thành Trực, Thạch Sơn, Thạch Đồng, Thành
Vinh, Thạch Cẩm.
- Cơ sở vật chất của trường THPT Thạch Thành II:
Lúc thành lập, cơ sở vật chất của trường chỉ có 1 nhà hiệu bộ, 2 dãy lớp
học với 12 phòng học là nhà cấp 4. Cùng với quá trình hoạt động giáo dục
của trường, sau một thời gian, cơ sở vật chất của trường đã dần được hoàn
thiện nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh. Hiện nay nhà trường đã có
nhà hiệu bộ 2 tầng, 1 dãy nhà 3 tầng, 1 dãy nhà 1 tầng với 25 phòng học, 2
phòng thí nghiệm hóa – lý, ngoài ra còn có phòng học tin học, phòng học thể
dục trong nhà...
- Quá trình hoạt động, phát triển của trường THPT Thạch Thành II.
20
Năm học đầu tiên 1999 – 2000, trường có 10 lớp học với 523 với 16 giáo
viên đầy nhiệt tình và tâm huyết được chuyển đến từ trường THPT Thạch
Thành I. Trường đã thành lập các tổ chuyên môn, đoàn thể có cơ cấu tổ chức
của một trường THPT. Tỷ lệ học sinh đậu tốt nghiệp THPT trên 90 %.
Năm học 2000 – 2001, trường có 15 lớp học với số học sinh là 815. Số
giáo viên làm công tác quản lý và giảng dạy đã lên tới 30 người. Cơ cấu tổ
chức của trường đã ngày càng được hoàn thiện hơn, thực hiện các nhiệm vụ
giáo dục – đào tạo. Tỷ lệ học sinh đậu tốt nghiệp THPT là 92 %, đậu vào các
trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp là 4%...
Các năm học 2002 – 2003, 2003 – 2004, 2004 – 2005, Trường THPT
Thạch Thành II tiếp tục tuyển sinh vào lớp 10, số học sinh không ngừng tăng
lên, nhà trường cũng không ngừng xây dựng cơ sở vật chất, tổ chức để hoàn
thiện các chức năng giáo dục.
Năm học 2005 – 2006, trường có 32 lớp học với số học sinh là 1589 học
sinh. Tuy nhiên, trong thời gian này, lãnh đạo nhà trường có sự mâu thuẫn nội
bộ, ảnh hưởng đến thành tích của giáo viên và thành tích chung của toàn
trường. Về phía học sinh, tỷ lệ học sinh đậu tốt nghiệp đạt 99,3 %; học sinh
đậu vào các trường đại học, cao đẳng là 70 em (chiếm 4,3 %) ; học sinh đạt
giải trong kỳ thi học sinh giỏi toàn tỉnh các môn văn hóa là 37 em...
Năm học 2006 – 2007, trường THPT Thạch Thành II với tổng số lớp học
là 33, số học sinh là 1648 học sinh. Trường đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
của năm học được Giám đốc sở giáo dục và đào tạo Thanh Hóa tặng giấy
khen; 100% cán bộ, giáo viên xếp loại công chức từ khá đến xuất sắc, 6 đồng
chí đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp cơ sở. Công đoàn và đoàn TNCS Hồ
Chí Minh đều được tặng bằng khen của công đoàn tỉnh và tỉnh đoàn. Đó là
những nét thành tích chính về phía nhà trường. Về phía học sinh, tỷ lệ học
sinh đậu tốt nghiệp lần 1 đạt 36,3 %; học sinh đạt giải văn hóa trong kỳ thi
học sinh giỏi cấp tỉnh là 34 em; học sinh đậu vào các trường đại học, cao
đẳng là 101 em (chiếm 6,1 %)...
21
Năm học 2007 – 2008, trường có 33 lớp học với 1668 học sinh, 59 cán
bộ, giáo viên. Đoàn trường có 34 chi đoàn (33 chi đoàn học sinh, 1 chi đoàn
giáo viên); 100% giáo viên trực tiếp giảng dạy trong trường có trình độ Đại
học...Trong năm học này, trường THPT Thạch Thành II đã hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ của năm học và được Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa
tặng bằng khen, công đoàn nhà trường đạt công đoàn cơ sở vững mạnh xuất
sắc được tặng bằng khen của Liên đoàn lao động tỉnh, Đoàn trường hoàn
thành xuất sắc phong trào đoàn và công tác thanh niên được tỉnh đoàn tặng
bằng khen, 8 đồng chí đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp cơ sở được giám đốc
sở GD&ĐT tặng giấy khen.... Số học sinh đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi
cấp tỉnh các môn văn hóa là 32 em; tỷ lệ học sinh đậu tốt nghiệp lần 1 là
79,8%; số học sinh đậu vào các trường đại học, cao đẳng là 90 em (chiếm
5,4%).
Trong năm học 2008 – 2009, số lớp học là 33 với 1650 học sinh, 60 cán
bộ giáo viên nhiệt tình, có tâm huyết với nghề, có phẩm chất đạo đức, chính
trị vững vàng, đều tốt nghiệp đại học hệ chính quy trở lên...Về phía nhà
trường, trong năm học này đã đạt được những thành tích sau: Thành tích nổi
bật đặc biệt của tập thể sư phạm trường THPT Thạch Thành II là được nhận
được bằng khen cấp bộ do Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng bộ GD&ĐT ký
tặng; 9 đồng chí giáo viên đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp cơ sở; 5 đồng
chí có sáng kiến kinh nghiệm được hội đồng khoa học ngành, sở GD&ĐT
Thanh Hóa công nhận; Công đoàn và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đều được
tặng bằng khen vì thành tích đã đạt được...Về phía học sinh: tỷ lệ học sinh
đậu tốt nghiệp THPT lần 1 đạt 82,16%; số học sinh giỏi toàn diện là 8 em; số
học sinh đạt giải văn hóa trong kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh là 27 em; số học
sinh đậu vào các trường đại học, cao đẳng là 150 em (chiếm 9,09% )...
Với quy mô và số lượng học sinh ngày càng lớn, trong năm học 2009 –
2010 trường THPT Thạch Thành II đã phối hợp với Sở GD&ĐT tiến hành
tách trường, thành lập một ngôi trường THPT mới mang tên trường THPT
22
Thạch Thành IV thành công. Do vậy, trong năm học này về số lượng lớp học
và số lượng học sinh của trường cũng giảm đi (25 lớp học với 1150 học sinh).
Ngoài những thành tích đạt được về công tác chỉ đạo giáo dục, tập thể
cán bộ, giáo viên, học sinh trường THPT Thạch Thành II còn tham gia vào
các hoạt động văn hóa xã hội. Đây là những hoạt động được toàn trường coi
trọng nhằm tuyên truyền, kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc như: ngày
thành lập Đảng cộng sản Việt Nam 03/02, ngày quốc tế phụ nữ 08/03, ngày
giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 30/04, ngày quốc tế lao động
01/05, ngày quốc khánh 02/09, ngày nhà giáo Việt Nam 20/11...
Nhà trường còn chỉ đạo việc tham gia có hiệu quả các cuộc vận động
mang tính chất xã hội lớn như: mua tăm ủng hộ hội người mù huyện Thạch
Thành, mua sản phẩm của hội người tàn tật tỉnh Thanh Hóa, ủng hộ người
nghèo trên địa bàn huyện Thạch Thành, đóng góp ủng hộ đồng bào bị bão lụt
ở huyện Thạch Thành và trong địa bàn tỉnh Thanh Hóa...
Đặc điểm học sinh trường THPT Thạch Thành II – Thanh Hóa.
Là học sinh của bậc học THPT cho nên học sinh trường THPT Thạch
Thành II – Thanh Hóa cũng mang những đặc điểm chung của học sinh THPT
mà em đã nghiên cứu, trình bày ở phần trên. Ngoài những đặc điểm chung đó,
học sinh trường THPT Thạch Thành II – Thanh Hóa còn mang những đặc
điểm riêng, cụ thể của mình. Những đặc điểm riêng này do điều kiện kinh tế xã hội của địa phương quy định, hình thành nên.
Học sinh trường THPT Thạch Thành II hầu hết đều có hoàn cảnh xuất
thân từ nông thôn, cha mẹ của các em là những nông dân sản xuất, hoạt động
trong lĩnh vực nông nghiệp. Ngoài thời gian đi học, các em còn phải tham gia
lao động cùng với gia đình, cho nên thời gian dành cho việc học tập còn bị
hạn chế (điều này hoàn toàn ngược lại so với học sinh ở thành phố). Một số
cha mẹ học sinh vì xuất thân là nông dân nên tầm hiểu biết còn hạn chế,
không có hoặc chưa đưa ra được định hướng học tập phù hợp cho con cái của
mình.
23
Tuy là ngôi trường mới thành lập được hơn 10 năm nhưng học sinh
trường THPT Thạch Thành II luôn là ngôi trường có số học sinh đạt giải
trong các kỳ thi học sinh giỏi, hoặc đậu vào các trường đại học, cao đẳng
nhiều hơn so với 2 trường THPT khác trong địa bàn huyện (là trường THPT
Thạch Thành I và trường THPT Thạch Thành III) và một số trường THPT
khác trong địa bàn tỉnh. Điều này cho thấy, học sinh trường THPT Thạch
Thành II có truyền thống hiếu học, chăm chỉ, cần cù... học hỏi kiến thức mới,
các em có ý thức tự học rất cao. Đây là một đặc điểm rất quan trọng và cần
thiết cho hoạt động học tập của các em học sinh.
Việc nắm bắt khoa học công nghệ mới, ứng dụng nó vào trong hoạt động
học tập cũng được các em học sinh trường THPT Thạch Thành II quan tâm
(ứng dụng Internet vào hoạt động học tập...) nhưng do chưa có điều kiện vật
chất nên phần nào bị hạn chế, chưa được sử dụng rộng rãi...
Do điều kiện sống và học tập còn khó khăn nên học sinh trường THPT
Thạch Thành II – Thanh Hóa còn chưa có điều kiện để đầu tư tài liệu, máy
móc phục vụ cho việc học tập. Tài liệu học tập căn bản, chủ yếu của các em
chỉ là sách giáo khoa, còn tài liệu tham khảo hoặc các đồ dùng khác như máy
tính, máy vi tính... còn chưa có điều kiện để trang bị. Ngoài ra việc học thêm
ngoài giờ lên lớp của các em cũng bị hạn chế do không có thời gian (vì còn
phải tham gia lao động cùng gia đình) hoặc do không có tiền đóng phí học
thêm.
Học sinh trường THPT Thạch Thành II có tinh thần học tập rất nghiêm
túc, say mê. Các em luôn suy nghĩ rằng mình học không chỉ cho bản thân
mình mà còn học cho gia đình, nhà trường, học để lấy kiến thức xây dựng quê
hương mình thoát khỏi nghèo nàn vì Thạch Thành là một huyện miền núi của
tỉnh Thanh Hóa được xếp vào diện khó khăn. Đó là mục đích học tập chính
của các em học sinh trường THPT Thạch Thành II – Thanh Hóa.
Vì hoàn cảnh xuất thân của các em là từ nông thôn, cha mẹ làm nông
nghiệp cho nên sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của các em. Đa số học sinh trường
24
THPT Thạch Thành II đều nhút nhát, kém năng động trong hoạt động giao
tiếp với bạn bè và thầy cô trong cả môi trường trường học lẫn ngoài xã hội,
các em thường có xu hướng “tự thân vận động”. Hơn nữa, địa bàn trường
đóng ở một huyện miền núi, cơ sở vật chất cũng như điều kiện kinh tế - xã
hội còn chưa phát triển cho nên các em học sinh bị ảnh hưởng từ môi trường
đó, chưa có điều kiện để các em thể hiện khả năng cũng như ước muốn của
mình. Do đặc thù sống và học tập ở một huyện miền núi cho nên học sinh
trường THPT Thạch Thành II còn chưa phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn
tinh thần, tâm lý và sinh lý.
Trên đây là những đặc điểm căn bản của các em học sinh trường THPT
Thạch Thành II, những đặc điểm này tác động rất lớn đến việc học tập cũng
như kết quả học tập của các em.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP MÔN
GDCD CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH II –
THANH HÓA.
25