Tải bản đầy đủ (.doc) (18 trang)

Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục QP AN cho học sinh trường THPT triệu sơn 2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (118.77 KB, 18 trang )

A. MỞ ĐẦU
Giáo dục quốc phòng – an ninh cho học sinh ở trường THPT là nhiệm vụ hết
sức quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc gia, góp phần bồi dưỡng cho thế hệ
trẻ những kiến thức cơ bản về đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng ta và kỹ
năng quân sự để sẵn sàng tham gia lực lượng vũ trang khi cần thiết, đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. GDQP-AN cho học sinh là
nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trong chiến lược đào tạo con người mới XHCN,
nhằm giáo dục cho thế hệ trẻ nói chung, học sinh nói riêng lòng yêu nước, yêu
CNXH, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tập thể, tư duy và kiến thức quân sự,
chuẩn bị nhân lực và đào tạo nhân tài cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là một trong
những nội dung giáo dục toàn diện trong nhà trường, góp phần hình thành nhân
cách con người mới XHCN. Mặt khác, GDQP-AN còn trang bị kiến thức, ý thức
xây dựng bảo vệ Tổ quốc, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài cho đất nước.
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Qua nhiều năm giảng dạy môn Giáo dục quốc phòng – an ninh tại trường
THPT Triệu Sơn 2 theo phương pháp mới, bản thân tôi nhận thấy trong một tiết
dạy giáo viên phải chuyển tải nhiều kiến thức đồng thời phân chia thời gian học lý
thuyết cũng như thực hành phải hợp lý khoa học mới giải quyết được hết trọng tâm
nội dung bài dạy. Mặt khác không để học sinh học phần lí thuyết cũng như thực
hành một cách thờ ơ, xem thường và cũng tránh sự nhàm chán trong tập luyện đó
là yếu tố chủ quan, đòi hỏi giáo viên phải vận dụng phát huy tốt việc đổi mới
phương pháp giảng dạy. Mặt khác, đối với giáo viên giáo dục quốc phòng-an ninh ,
công việc giảng dạy phải gắn liền với nghiên cứu khoa học. Đây là con đường
ngắn nhất để không ngừng tích luỹ kiến thức, nâng cao trình độ, gọt sắc tư duy,
góp phần tìm ra những hình thức, biện pháp thích hợp truyền đạt tri thức tới người
học. Cần lưu ý rằng, để phục vụ đắc lực cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy,
hướng nghiên cứu của các giáo viên giáo dục quốc phòng-an ninh nên tập trung
trực tiếp vào nội dung kiến thức môn học hay những yếu tố tham gia vào quá trình
dạy và học như: Đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới nội dung chương trình
học tập...


2


Đổi mới phương pháp dạy và học, phương pháp kiểm tra, đánh giá: Giáo
viên cần phải đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hoá hơn nữa
quá trình học tập của học sinh, phải tạo ra được cơ chế buộc học sinh phải tham
khảo tài liệu, chủ động nắm bắt nội dung môn học, nhằm hiểu sâu hơn nữa kiến
thức. Đồng thời, cần cải tiến phương pháp học tập của học sinh, bởi hoạt động của
giáo viên trên lớp đã bao hàm hoạt động của học sinh; cũng như vậy, hoạt động
học của học sinh luôn chứa đựng vai trò giảng dạy của giáo viên. Để dự báo năng
lực học tập, tự giáo dục của học sinh, năng lực giảng dạy của giáo viên, từ đó điều
chỉnh, cải tiến phương pháp học tập của học sinh, phương pháp giảng dạy của thầy.
Có như vậy, chúng ta mới thực sự biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.
Qua đó tôi mạnh dạn viết sáng kiến kinh nghiệm “Một vài biện pháp nâng cao
chất lượng Giáo Dục Quốc Phòng – An Ninh cho học sinh trường THPT Triệu
Sơn 2.”. Do trình độ và năng lực còn nhiều hạn chế nên trong quá trình thực hiện
đề tài không tránh được những thiếu sót mong nhận được sự đóng góp của quý
thầy, cô để đề tài hoàn thiện hơn.
II. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chủ yếu là học sinh THPT và giáo viên bộ
môn GDQP – AN.

B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Thực hiện Chỉ thị 12-CT/TW ngày 03/5/2007 của Bộ Chính trị về Tăng cường
sự lãnh đạo của đảng đối với công tác GDQP-AN trong tình hình mới; Chỉ thị số
3


417/CT-TTg ngày 31/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ vế việc tăng cường chỉ

đạo, thực hiện công tác GDQP-AN năm 2010 và những năm tiếp theo; Nghị định
116/2007-NĐ-CP về GDQP-AN cùng nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác làm
cơ sở pháp lý để thực hiện nhiệm vụ GDQP-AN trong các trường THPT.
Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “giúp học sinh phát triển toàn diện về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực khả
năng, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp
tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc”; Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số
16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo cũng đã
nêu : “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù
hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp
học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”.
Năm học 2015-2016 Trường THPT Triệu Sơn 2 tiếp tục chỉ đạo triển khai
thực hiện cuộc vận động “Hai không” với bốn nội dung trọng tâm: Nói không với
tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích; nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo
và việc cho học sinh ngồi nhầm lớp. Gắn kết với việc triển khai tổ chức thực hiện
Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 07/6/2006 của Bộ Chính trị về cuộc vận động “Học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Để đạt được mục tiêu đề ra là đảm
bảo chất lượng giáo dục ổn định và phát triển vững chắc. Ngay từ đầu năm học
Trường THPT Triệu Sơn 2 đã chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền đến toàn thể
cán bộ, giáo viên, học sinh và các bậc phụ huynh hiểu rỏ mục đích, yêu cầu của
việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Hiện nay, nền giáo dục nước ta đang ở vào giai đoạn, mà việc đổi mới
phương pháp giảng dạy, đang là một vấn đề cấp bách được đặt ra. Phải khuyến
khích tự học phải vận dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng
cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo. Để thực hiện tốt chủ trương này thì cần phải
đào tạo khả năng tự học cho học sinh.

Giáo dục quốc phòng – an ninh, Trường THPT Triệu Sơn 2 là một trong
những đơn vị trong huyện có điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, điều kiện
4


sân bãi đáp ứng số lượng tiết học giáo dục quốc phòng – an ninh cho gần 1000 học
sinh. Tiết học giáo dục quốc phòng – an ninh chính khóa đã truyền thụ cho các em
học sinh những tri thức cơ bản của nền Giáo dục quốc phòng toàn dân, những hiểu
biết về tổ chức QĐND Việt Nam, về nhà trường quân đội, về lịch sử QĐND Việt
Nam, truyền thống đấu tranh dựng nước - giữ nước của dân tộc và Luật biên giới
Quốc gia. Đó là những kiến thức rất bổ ích, thiết thực với học sinh phổ thông trước
ngưỡng cửa cuộc đời. Học sinh còn được làm quen với tác phong quân đội qua các
bài học về điều lệnh, đội ngũ, các tư thế vận động cơ bản trong chiến đấu, băng bó,
cứu thương....làm quen với các phương tiện chiến đấu như ném lựu đạn, cách bắn
súng tiểu liên AK ... Qua học tập môn Giáo dục quốc phòng – an ninh đã giáo dục
cho học sinh lòng yêu nước - tự hào dân tộc, nâng cao tinh thần cảnh giác, chống
mọi âm mưu diễn biến hoà bình của kẻ thù.Toàn bộ chương trình học tập của từng
khối được xây dựng theo chương trình hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, đảm bảo dạy
đủ môn, đủ tiết, đúng phân phối chương trình. Vì vậy các tiết học giáo dục quốc
phòng – an ninh học sinh tham gia học đầy đủ tích cực sôi nổi và hào hứng.
Giáo dục quốc phòng – an ninh trong trường THPT là môn học chính khóa,
là bộ môn khoa học tổng hợp có phạm vi vô cùng rộng lớn và khá phức tạp, nên
không thể đơn giản, sơ sài mà nó phải được coi là một hệ thống chương trình và
phải được quán triệt trong tất cả các môn học trong mọi hoạt động của học sinh, ở
mọi lúc, mọi nơi, có vậy mới có thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng
hiện tại và tương lai.
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
2.1. Thuận lợi :
* Trường THPT Triệu Sơn 2 là một trường có bề dày kinh nghiệm trong dạy
học và đạt được nhiều kết quả cao trong giảng dạy nói chung và trong GDQP – AN

nói riêng nên vấn đề chuyên môn giảng dạy luôn được các cấp lãnh đạo quan tâm
sâu sát. Trường có một đội ngũ sư phạm hùng hậu đều đạt chuẩn và trên chuẩn về
kiến thức, có chuyên môn vững, nhiệt tình, tận tụy với công tác quản lý và giảng
dạy.

5


* Hội đồng sư phạm nhà trường về tuổi đời công tác được dàn trải qua nhiều
thế hệ, và luôn có sự đoàn kết gắn bó mật thiết với nhau.
* Đối với môn Giáo dục quốc phòng – An ninh. Nhà trường cùng các cấp lãnh
đạo luôn quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi. Đội ngũ giáo viên giáo dục quốc
phòng – an ninh đều được đào tạo vững về chuyên môn, nhiệt tình và tâm huyết
với môn học.
* Điều kiện sân bãi, phòng học, dụng cụ trang thiết bị cần thiết cho môn học
Giáo dục quốc phòng – an ninh tương đối đầy đủ.
* Nề nếp, kỷ cương của nhà trường đối với học sinh chặt chẽ qua từng cấp,
từng khâu nên đa phần các em chăm ngoan và có ý thức học tập tốt.
2.2. Khó khăn :
* Đội ngũ giáo viên giáo dục Quốc phòng – An ninh phần nhiều là giáo viên
được đào tạo từ chuyên ngành giáo dục thể chất. Đối với lĩnh vực Quốc phòng –
An ninh, tuy được đào qua lớp giáo viên giáo dục Quốc phòng và được tập huấn về
chuyên môn thường xuyên hàng năm, nhưng do đây là một lĩnh vực khá mới mẻ và
thời gian được lĩnh hội về chuyên môn có hạn nên ít nhiều đã gặp phải khó khăn
trong giảng dạy.
* Đối với học sinh : Do khách quan các em được sinh ra và lớn lên trong thời
bình và do yêu cầu về lượng kiến thức của các môn học, giờ học cộng thêm áp lực
từ phía không ít phụ huynh nên đã tác động ít nhiều đến suy nghĩ và việc xác định
nhiệm vụ học tập đối với bộ môn này. Và thật tai hại đối với một phận nhỏ học
sinh còn ngộ nhận và coi đây là môn học phụ dẫn đến ý thức học tập môn Giáo dục

quốc phòng – an ninh chưa cao.
* Tức thời tình trạng học sinh chưa trang bị đầy đủ sách giáo khoa về môn
giáo dục quốc phòng – an ninh cũng làm cho việc giảng dạy theo phương pháp mới
còn bị hạn chế nhất định.
* Dụng cụ, trang thiết bị cho môn học tương đối đầy đủ từ nguồn được Sở
giáo dục – đào tạo cấp và một số tự trang bị nhưng vẫn còn thiếu : Tranh ảnh giảng
dạy còn hạn chế ở một số nội dung. Để đạt được kết quả tốt qua nội dung ngắm
bắn giáo viên đã gặp khó khăn thực sự, nếu chỉ trang bị cho các em học sinh về lý
6


thuyết bắn, tư thế bắn, các yếu lĩnh của động tác bắn luyện tập rồi đưa vào máy bắn
tập, thì hiệu quả thực sự chưa cao trong khi luyện tập
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
3.1. Một vài kinh nghiệm nâng cao chất lượng Giáo Dục Quốc Phòng – An
Ninh:
3.1.1. Tuyển chọn Vận động viên thi đấu Hội thao GDQP-AN cấp tỉnh:
* Biện pháp thực hiện:
- Thời gian hội thao cấp Tỉnh thực hiện 2 năm/1lần, cấp trường tổ chức hằng
năm theo hướng dẫn năm học về GDQP-AN, sau khi đã có kết quả hội thao cấp
trường thì Tổ trưởng chuyên môn bắt đầu lập kế hoạch, phân công giáo viên chịu
trách nhiệm từng môn thi:
- Môn điều lệnh quan trọng nhất là chọn cho được một học sinh làm chỉ huy
phải có dáng dấp quân đội, tiếng hô to, rõ, mạnh dạn và dứt khoát. Sau đó phân
công trực tiếp cho em làm Tiểu đội trưởng của một tiểu đội trong lớp, giáo viên
nào hướng dẫn lớp đó sẽ bồi dưỡng trực tiếp cho em đó. Song song thì các giáo
viên còn lại cũng tự tìm kiếm một tiểu đội trưởng và huấn luyện cho em đó, rồi
cuối cùng chọn ra một tiểu đội trưởng tham gia Hội thao.
- Các môn còn lại sẽ chọn theo thành tích đạt được trong hội thao, số lượng
chọn thì gấp đôi để sau khi tập luyện sẽ chọn VĐV chính thức được hoàn hảo hơn.

Sau đó sẽ biên chế về các lớp, rồi giáo viên được phân công sẽ có kế hoạch tập
luyện ở những giờ ngoại khóa (theo quy định kế hoạch tập luyện hội thao cấp tỉnh).
3.1.2. Dụng cụ sân bãi:
* Giải pháp thực hiện:
Về sân bãi thì hằng năm nhà trường có kế hoạch tu bổ, đổ bồi thêm đất cát
vào, không để động vũ khi mưa to, đảm bảo sân bãi đúng qui cách. Trang bị thêm
súng tập, sách giáo khoa, tranh ảnh.
* Cụ thể:
Hiện tại nhà trường có tương đối đầy đủ dụng cụ, phương tiện trong dậy học
bộ môn như: 40 khẩu sung nhựa – AK47, 40 quả lựu đạn Φ1 và 1 khẩu súng
AK47, 2 khẩu CKC tháo lắp và các dụng cụ phương tiện phục vụ dạy học bộ môn.
3.1.3. Kết hợp Ban Giám Hiệu Nhà trường và các tổ chức đoàn thể trong nhà
trường tổ chức học tập pháp luật, mít tinh…:
7


* Giải pháp thực hiện:
Để đổi mới phương pháp và hình thức học tập bộ môn GDQP-AN cho học
sinh, nhân các ngày lễ lớn của đất nước, địa phương, Tổ trưởng chuyên môn đề
nghị Ban giám hiệu nhà trường tổ chức Giáo dục pháp luật, cho học sinh tham gia
mít tin, giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao; thi tìm hiểu ngày thành lập
Quân đội nhân dân Việt Nam; ngày thành lập Công An nhân dân, ngày thành lập
Tỉnh, thi về phòng chống ma túy, HIV… Qua đó đã nâng cao nhận thức, hiểu biết
về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, truyền thống
của quê hương, đất nước, nâng cao nhận thức về quốc phòng, an ninh cho học sinh.
3.1.4. Học theo phương pháp thảo luận nhóm:
* Giải pháp thực hiện:
Theo cách này, học sinh được tạo cơ hội tự đặt câu hỏi, thảo luận, trình bày
quan điểm, và thực hiện học hợp tác. Để có thể phát huy được những lợi ích của
việc học nhóm, giáo viên phải cung cấp nền tảng cho học sinh. Do đó, giáo viên

phải khơi gợi hứng thú học sinh bằng cách chọn những chủ đề thảo luận tương ứng
với trình độ của học sinh, hoặc đặt câu hỏi/ đưa ra vấn đề dẫn dắt học sinh đạt đến
mức độ tư duy sâu sắc hơn. Bên cạnh đó, quá trình cộng tác cũng phải được sắp
xếp để đảm bảo tất cả các thành viên trong nhóm tham gia một cách tích cực.
Chia lớp thành 4 nhóm, 10-11 thành viên/nhóm theo những tiêu chí như sau:
Mỗi nhóm đều có những cán sự lớp "cứng”, là những thủ lĩnh nhóm đầu tiên. Chia
các nhóm đồng đều theo tỷ lệ học lực: có bạn khá, có bạn chưa khá. Chia nhóm
đồng đều theo tỷ lệ rèn luyện, tương tự học lực. Tỷ lệ nam nữ tương đương với tỷ
lệ nam nữ của lớp. Xây dựng quy định cho nhóm. Với cách chia nhóm như thế này,
các nhóm đồng đều nhau nên dễ dàng hơn trong quản lý, đặc biệt, có một số cán sự
lớp ở mỗi nhóm là hạt nhân để phát triển nhóm. Tuy vậy, theo đánh giá khách quan
của các Thầy, Cô giáo, kỹ năng làm việc nhóm của học sinh hầu như là không có.
Tuy có được thầy cô giáo phổ biến nhưng không rõ ràng và đầy đủ vì còn hạn chế
nhiều về thời gian và trình độ. Đây là một "khâu” quan trọng nếu muốn làm tốt sự
thay đổi trong dạy và học. Nó cung cấp những kiến thức cơ bản về kỹ năng làm
việc, giao tiếp trong nhóm, là những viên gạch nền tảng đầu tiên để xây dựng nên
thành công của thảo luận nhóm.
Thủ lĩnh nhóm sẽ phải biết năng lực, thế mạnh của các thành viên. Nhận một
đề tài, phân chia theo cách: - Ai viết đề cương? Làm bảng phân công công việc.
Hầu hết là nhóm trưởng - Ai tìm tài liệu?- Ai xử lý tài liệu?- Ai viết bài?- Ai
8


phản biện lại bài viết, tài liệu của nhóm?- Ai chuẩn bị câu hỏi, phản biện nhóm
khác- Ai thư ký?
Chính sách thưởng phạt trong thảo luận. Thưởng cho những học sinh tham
gia sôi nổi, nhiệt tình bằng cách đặt câu hỏi hay. Thông thường, câu hỏi được đưa
lên cho nhóm trình bày và được chuyển cho giáo viên, giáo viên xem xét, chọn câu
hỏi hay, chuyển cho nhóm thảo luận trả lời. Người hỏi tranh luận trực tiếp với
người trả lời. Sau khi nghe câu trả lời, người đặt câu hỏi phải phản biện được, đúng

ở đâu, sai ở đâu, góp ý gì cho câu trả lời hoàn thiện. Như thế yêu cầu người hỏi
phải nắm vững câu hỏi, tham gia với tinh thần đóng góp, xây dựng tốt. Đây là một
mô hình tốt, rất đáng học tập, thu hút được học sinh.
3.1.5. Ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy học::
* Giải pháp thực hiện:
- Cần phải thống nhất về nhận thức và tư duy của đội ngũ giáo viên. Đây là
vấn đề tưởng chừng đơn giản nhưng khi thực hiện thì có một số ý kiến cho rằng,
soạn giáo án điện tử chỉ là chuyển giáo trình văn bản được sao từ file word sang
các slide rồi đem chiếu lên cho học sinh xem. Đây là một quan niệm nhầm lẫn mà
chúng ta cần loại bỏ. Vì để soạn được một giáo án điện tử đem lại hiệu quả cao cho
người học thì người thầy phải bỏ ra rất nhiều công sức và tâm huyết. Tôi muốn
nhấn mạnh là vất vả hơn nhiều khi dạy bằng phương pháp truyền thống.
- Ứng dụng công nghệ thông tin như sử dụng giáo án điện tử tuy còn hạn chế
về năng lực của cá nhân, song cung đã phát huy nhiều ưu điểm… chưa có một
chuẩn thống nhất, vì vậy còn những khiếm khuyết và dẫn đến có những ý kiến,
thậm chí cả phản đối dạy bằng giáo án điện tử. Tôi nghĩ rằng đổi mới ở lĩnh vực
nào cũng vậy thôi, bước đầu sẽ có những khó khăn, nhưng chúng ta mạnh dạn làm,
điều chỉnh dần dần và với các ý kiến đóng góp có tính xây dựng thì sẽ có kết quả
tốt.
3.1.6. Kinh nghiệm về chuẩn bị và giảng dạy bằng giáo án điện tử:
* Giải pháp thực hiện:
- Về thiết kế bài giảng:
Bài giảng điện tử cần được thiết kế sao cho có nội dung và hình thức trực
quan, sinh động và lôi cuốn; vì vậy, phải lồng ghép thêm các tư liệu hình ảnh, các
đoạn phim ngắn hay âm thanh có liên quan đến nội dung bài giảng; yếu tố thẩm mỹ
9


cũng cần được coi trọng trong việc thiết kế bài giảng điện tử sao cho có màu sắc,
hình thức đẹp nhưng không rối mắt do tạo quá nhiều hiệu ứng (chuyển trang, chạy

chữ…) làm cho học sinh mất tập trung vào nội dung chính của bài giảng và mất
thời gian vô ích.
Các công đoạn thường theo một qui trình sau:
Sau khi soạn nội dung (phần chữ cho các slide) cho bài giảng, chỉnh sửa và
thu gọn cho phù hợp với nội dung các tiết học trong giáo án điện tử. Theo kinh
nghiệm của tôi sẽ đưa lên slide những thông tin lẽ ra viết lên bảng (khi dạy bằng
phương pháp truyền thống), chủ yếu là các đề mục và một số nội dung tóm tắc hay
các trích dẫn… tuyệt đối không bê nguyên bài soạn vào slide. Và vì vậy, cũng xin
nói thêm là sử dụng giáo án điện tử nhưng vẫn phải có bài soạn…
Công việc đầu tiên khi thiết kế slide cho bài giảng điện tử là phải chọn màu
nền, phông chữ, kiểu chữ và cỡ chữ cho bài giảng. Đây là khâu khá quan trọng,
làm tốt khâu này sẽ giúp học sinh dù ngồi cuối lớp vẫn theo dõi được slide đồng
thời chữ không quá lớn, chiếm quá nhiều “đất” của mỗi slide; màu nền, màu chữ
cũng cần hài hòa sao cho đảm bảo độ tương phản nhưng không quá lòe loẹt hay ảm
đạm gây phản cảm. Do chưa có một chuẩn chung, do đó tôi phải thiết kế thử và
giảng thử nhiều lần trên lớp, lấy ý kiến giáo viên trong tổ và của học sinh để chọn
được một phương án phù hợp nhất. Nên cố gắng mô hình hóa nội dung bài giảng
thành các sơ đồ, mô hình, đồ thị để chuyển các slide. Công việc này chiếm mất
nhiều thời gian, công sức của giáo viên, nhưng bù lại việc truyền tải bài giảng đến
học sinh sẽ rất trực quan, sinh động, giúp học sinh hưng phấn hơn khi tiếp thu bài
giảng và do đó hiệu quả tiếp thu bài giảng sẽ cao hơn.
Việc thiết kế kết cấu bài giảng cũng như sự tiện lợi khi giảng cũng cần được
chú trọng. Tôi chọn giải pháp để tất cả các chương trình cùng một tệp Powerpoint
và sử dụng tính năng Huperlink của Powerpoint để liên kết giữa các chương trong
bài giảng và giửa các nội dung bài giảng với các tư liệu được sử dụng. Ví dụ: khi
giáo viên đang giảng ở trang danh mục các chương, có thể chuyển ngay đến
chương bất kỳ của bài giảng bằng cách nhắp chuột lên đầu mục chương đó trong
danh sách. Hay có thể sử dụng các nút chức năng để chuyển đến phần tư liệu và
quay về vị trí bài giảng ban đầu… Tóm lại, giáo viên có thể chuyển đến một vị trí
tùy ý trong bài giảng chỉ bằng một vài lần nhắp chuột mà không phải lần tìm mất

thời gian.
10


Các tư liệu sưu tầm được phải chọn lọc, phân loại, cắt ghép sao cho phù hợp
với mỗi tiết, mỗi chương trình bài giảng. Thời lượng của tư liệu, nhất là phim tư
liệu nên vừa đủ minh họa cho phần bài giảng tránh kéo dài không cần thiết làm
loãng thông tin và ảnh hưởng đến thời gian của tiết học. Các phim tư liệu có thời
lượng dài, bổ ích cho môn học được thu xếp cho học sinh xem vào một vài tiết học
riêng. Yêu cầu học sinh thu hoạch, liên hệ với bài giảng.
- Giáo viên trên lớp với giáo án điện tử:
Với việc dạy học bằng giáo án điện tử giáo viên sẽ hạn chế tối đa việc viết
bảng, thời gian, sức lực giáo viên tập trung cho bài giảng có sức lôi cuốn học sinh
hơn.Tuy nhiên, giáo án điên tử chỉ là sự trợ giúp, còn chất lượng bài giảng tốt hay
không phụ thuộc vào các yếu tố: Sự truyền đạt tri thức, trình độ của giáo viên và
thái độ của người học.
Trong quá trình ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn GDQPAN sẽ có rất nhiều phát kiến mới, giáo án điện tử bước đầu mang đến cho giáo
viên và người học những kết quả thiết thực.
3.1.7. Vai trò của đội ngũ cán sự môn học:
* Giải pháp thực hiện:
- Lựa chọn: có thể qua sự tín nhiệm của tập thể lớp nhưng cũng cần có sự
quan sát từng em học sinh. Có em có năng lực học tập tốt nhưng lại không có khả
năng điều hành lớp. Cũng có thể chọn những học sinh có sức học khá, ngoan về
hạnh kiểm biết diễn đạt mạch lạc một vấn đề hơn những học sinh khác trong cùng
lớp.
- Thiết kế công việc: người GV phải biết những công việc cần thiết trong kế
hoạch năm học, trong tháng và trong tuần để thiết kế cho tập thể lớp tham gia mà
trong đó đội ngũ Cán sự lớp theo dõi, điều hành dưới sự giám sát chặt chẽ của GV
- Bồi dưỡng: thường xuyên trao đổi và hướng dẫn cho các em theo từng
nhiệm vụ mà chúng ta đã phân công, không nên giao khoán cho các em mà có sự

trợ giúp; cũng không tham gia quá sâu để các em độc lập hoạt động và GV sẽ tư
vấn cho các em, giúp các em giải quyết các tình huống khó khăn.
- Kiểm tra, đánh giá: GV phải thật sự nhiệt tình và tâm huyết trong công tác,
thường xuyên theo dõi, động viên đội ngũ Cán sự lớp. Tuyên dương các em làm
tốt, uốn nắn những lệch lạc của các em nhưng không làm cho các em mất uy tín
trong tập thể lớp.
11


- Xây dựng đôi ngũ Cán sự lớp là việc làm không dễ nhưng chúng ta phải
làm vì GV ở các trường Trung học phổ thông không có thời gian để xử lí tất cả mọi
việc ở lớp hơn nữa sẽ không có thông tin và cũng không giải quyết kịp thời được
nếu đội ngũ Cán sự lớp không được rèn luyện một cách chu đáo và có kế hoạch cụ
thể.
- Việc sử dụng đội ngũ cán sự môn học là biện pháp đổi mới phương pháp
giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ học,
ý thức kỷ luật, từ đó hình thành phẩm chất đạo đức tốt, tạo tiền đề cho các em phát
triển trí tuệ và thể chất một cách toàn diện.
Tóm lại để dạy tốt theo phương pháp mới giáo viên Giáo Dục Quốc Phòng –
An Ninh chúng ta cần phải chú trọng đào tạo bồi dưỡng nâng cao đội ngũ cán sự
môn học một cách chu đáo, phát huy khả năng tự học cho học sinh, bằng cách phải
đưa ra tiêu chí phấn đấu có tính cạnh tranh, thi đua từng nhóm vào trong nội dung
chương trình học tập. Như vậy thì thời lượng của nội dung bài dạy chỉ chiếm
khoảng 1/3 thời lượng toàn bộ nội dung buổi học. Mặt khác giáo viên có đủ thời
gian để hướng dẫn sửa chữa động tác sai cho các học sinh yếu, kém. Tuy nhiên
việc chọn lựa cán sự phải tìm hiểu kỷ tham khảo ý kiến tập thể có tính nhiệm
không, khả năng nắm bắt động tác, vai trò quản lý...
3.2. Một vài giải pháp nâng cao chất lượng Giáo Dục Quốc Phòng – An Ninh:
3.2.1. Giảipháp 1:
Làm chuyển biến nhận thức của đội ngũ giáo viên. Bởi lẽ, họ là người trực

tiếp giáo dục, quán triệt và giao nhiệm vụ cho học sinh. Chính sự chuyển biến
trong nhận thức về công tác GDQP-AN của giáo viên có ảnh hưởng rất lớn tới
nhận thức của học sinh.
Nội dung giáo dục quán triệt tập trung vào đường lối, quan điểm của Đảng;
các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về công tác GDQP-AN trong giai
đoạn mới hiện nay, như: Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 3/5/2007 của Bộ chính trị về
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng, an ninh
trong tình hình mới, Nghị định số 116/2007/NĐ-CP ngày 10/7/2007 của Chính phủ
về GDQP-AN, các văn bản quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về
GDQP-AN… và những yêu cầu mà học sinh cần đạt được khi học tập tại nhà
trường.
3.2.2. Giải pháp 2:
12


Thường xuyên làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao chất
lượng cho đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy, đây là yếu tố cơ bản để nâng cao
chất lượng môn học GDQP-AN.
3.2.3. Giải pháp 3:
Thường xuyên đổi mới phương pháp, hình thức giảng dạy cho phù hợp với
từng đối tượng, tăng cường giáo dục truyền thống, lịch sử cho học sinh thông qua
bảo tàng cách mạng của trung ương, địa phương; thường xuyên cập nhật thông tin
để truyền đạt cho học sinh những tiêu chí mới về bảo vệ Tổ quốc.
3.2.4. Giải pháp 4:
Thường xuyên phối hợp giữa Sở Giáo dục và Đào tạo với Bộ CHQS, Hội
đồng GDQP-AN tỉnh, giữa các nhà trường với cơ quan quân sự địa phương để tạo
sự thống nhất, đồng bộ trong công tác chỉ đạo và bảo đảm đầy đủ cơ sở vật chất,
sách giáo khoa, tranh ảnh, mô hình học cụ phục vụ cho môn học; thường xuyên
làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra đánh giá kết quả môn học, hàng năm tổ chức
hội thi, hội thao, thực hiện tốt công tác sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm, kịp thời biểu

dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích trong giảng dạy, học tập
môn học GDQP-AN.
3.2.5. Giải pháp 5:
Thường xuyên quan tâm đầu tư ngân sách, đổi mới chế độ chính sách cho
giáo viên trực tiếp giảng dạy môn học GDQP-AN theo chế độ hiện hành, nhằm
động viên kịp thời, nâng cao tinh thần trách nhiệm cho giáo viên trong thực hiện
nhiệm vụ.
IV. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
* Qua thực tế những năm giảng dạy môn giáo dục quốc phòng – an ninh. Với
sự cố gắng nghiên cứu, trao dồi, học hỏi kinh nghiệm qua đồng nghiệp bản thân tôi
đã đúc kết được một số biện pháp cụ thể như trên và đã đưa vào áp dụng giảng dạy
cho các học sinh ba khối lớp 10, 11, 12 của trường Trung học phổ thông Triệu Sơn
2.
* So sánh với thực tế và sau khi tiến hành áp dụng một số kinh nghiệm và các
giải pháp của sáng kiến kinh nghiệm đã đạt được một số kết quả cụ thể như sau :
- Tiết học môn giáo dục quốc phòng – an ninh sinh động hơn.
- Học sinh phát huy được tính tự giác và tích cực hơn.
- Ý thức học tập, kỷ luật của học sinh được thể hiện ở mức độ cao hơn.
13


- Học sinh lĩnh hội được kiến thức nhanh và sâu rộng hơn.
* Kết quả đánh giá xếp loại cuối năm của môn giáo dục quốc phòng – an ninh
của từng năm học được nâng dần lên:
Xếp
loại

GIỎI

KHÁ


TB

YẾU-KÉM

2012-2013

9.15%

74.48%

14.25%

2.12%

2013-2014

11.35%

61.33%

26.17%

1.15%

2014-2015

11.58%

75.95%


12.47%

0%

2015 – 2016

13.84%

74.30%

10.58%

1.28%

Năm học

* Thành tích qua 2 lần hội thao giáo dục quốc phòng cấp tỉnh cũng được nâng
lên:
- Hội thao giáo dục quốc phòng tỉnh Thanh Hoá năm 2010 dành cho khối
trung học phổ thông, trường Trung học phổ thông đạt được thứ nhì toàn đoàn.
- Hội thao giáo dục quốc phòng tỉnh Thanh Hóa năm 2014 do Sở Giáo dục
đào tạo cùng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hoá tổ chức, trường Trung học phổ
thông Thanh Hoá đứng thứ 6 xếp thứ 3 toàn đoàn toàn đoàn trên tổng số trên 100
trường Trung học phổ thông trong toàn tỉnh tham gia hội thao.

C. KẾT LUẬN V À KIẾN NGHỊ
14



Như chúng ta đã biết: Đổi mới phương pháp dạy học nhằm giúp cho học
sinh tự tìm tòi sáng tạo và chiếm lĩnh tri thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên và hiệu
quả.
Ngoài những nội dung kiến thức nêu trên sẽ minh họa thêm cho học sinh
thấy rõ được ý nghĩa, mục đích một cách sâu sắc của một bài học GDQP-AN.
Qua quá trình giảng dạy, tôi vận dụng khai thác triệt để những kinh nghiệm
vốn có, kết quả cho thấy chất lượng bộ môn được nâng cao. Bên cạnh đó học sinh
thấy yêu thích học môn GDQP-AN và giờ dạy GDQP-AN thêm sinh động và hấp
dẫn.
Trong quá trình giảng dạy tôi đúc rút ra kinh nghiệm thực tiễn như đã trình
bày ở trên, với đề tài này chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót và hạn chế, rất mong sự
đóng góp ý kiến của lãnh đạo, của quý thầy cô giáo, các đồng nghiệp cũng như sự
chỉ đạo về chuyên môn của trường để bản thân được học hỏi thêm, mỗi ngày phát
huy tốt hơn giờ dạy GDQP-AN ở trường Trung Học Phổ Thông.
I. K ẾT LUẬN
Từ kết quả thu được tôi nhận thấy việc đổi mới phương pháp giáo dục trong
dạy học là rất cần thiết, đặc biệt đối với môn GDQP-AN. Việc đổi mới phương
pháp giáo dục nếu tận dụng tốt trong tiết dạy sẽ đem lại hiệu quả cao. Điều đó cho
thấy đổi mới phương pháp dạy học là một định hướng đúng đắn .
Việc đổi mới phương pháp giáo dục mà tôi đang trình bày giúp giáo viên gây
được hứng thú, suy ngẫm trong học sinh, hướng các em đến với nội dung của bài
học. Học sinh yêu thích bộ môn, hứng thú và tích cực học tập hơn, như vậy sẽ cho
kết quả cao hơn.
Biện pháp tuy có thể nói không mới gì lắm, nhưng với sự chủ động hướng
dẫn của giáo viên và sự tích cực của học sinh đã đem đến một kết quả khả quan
hơn trong quá trình học.
Dạy học nói chung và dạy học GDQP-AN nói riêng yêu cầu người giáo viên
phải biết linh hoạt sử dụng các phương pháp trong tiết dạy thì mới giúp cho học
sinh khắc sâu kiến thức một cách chủ động. Do đó yêu cầu người giáo viên phải có
nghệ thuật sư phạm và nắm được những nội dung cơ bản. Ngoài ra, để tạo hứng

thú và lôi cuốn học sinh đến với bộ môn GDQP-AN giáo viên cần phải có nhiệt
huyết trong quá trình giảng dạy, sưu tầm bổ sung tư liệu phục vụ cho việc dạy, tiếp
tục học hỏi kinh nghiệm và tìm cách truyền đạt để có được sự vững chắc trong kiến
thức, sự lôi cuốn trong phong cách nhằm lôi cuốn học sinh. Ngoài ra, hình thành
cho học sinh tính độc lập, sáng tạo và năng động để tiếp thu và lĩnh hội kiến thức
trong quá trình học.
II. Đ Ề XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ
15


- Đối với tổ:
Cần tăng cường tổ chức các giờ ngoại khóa, các chuyên đề GDQP-AN để
học sinh và giáo viên có thể thông qua đó thảo luận góp ý để có phương pháp dạy
tốt hơn bộ môn GDQP-AN. Đồng thời mỗi một thành viên trong tổ có thể có
những sáng kiến hoặc sáng tạo trong việc tự làm các đồ dùng trực quan dạy học
phù hợp với đối tượng học sinh của mình.
- Đối với trường:
Cần tạo điều kiện về phòng ốc, đèn chiếu để phục vụ giảng dạy. Tăng cường
hơn nữa trang thiết bị đồ dùng dạy học trong các tiết dạy GDQP-AN.
Cần mua các tư liệu GDQP-AN có liên quan trong chương trình học để giáo
viên và học sinh tham khảo nhằm bồi dưỡng thêm tri thức và tăng tính hiệu quả
của bộ môn.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đánh giá giờ dạy GDQP-AN.
- Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo:
Cần cung cấp thêm nữa các đồ dùng trực quan : như mô hình học cụ, tranh
ảnh ..... các băng đĩa, phim tài liệu nhằm phục vụ nhu cầu dạy - học của giáo viên,
học sinh ở trường trung học phổ thông.
T ài liệu môn gi áo GDQP- AN để giáo viên tham khảo
Tổ chức các đợt sinh hoạt cụm, sinh hoạt chuyên môn nhằm tìm các giải
pháp để nâng cao hiệu quả chất lượng bộ môn.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đánh giá giờ dạy GDQP-AN.
Tôi xin cam đoan sáng kiến kinh nghiệm này là của tôi.
Triệu Sơn ngày 25 tháng 05 năm 2016
Xác nhận của hiệu trưởng
Người thực hiện
(ký, họ tên)

Trịnh Thị Huế

16


SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 2

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT VÀI BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
QUỐC PHÒNG – AN NINH CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT
TRIỆU SƠN 2

Người thực hiện: Trịnh Thị Huế
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Quốc phòng - An ninh

THANH HÓA NĂM 2016
17



MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU................................................................................................2
I. Lý do chọn đề tài......................................................................................2
II Đối tượng nghiên cứu...............................................................................3
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.......................................4
I. Cơ sở lý luận.............................................................................................4
II. Thực trạng của vấn đề.............................................................................6
III. Giải pháp thực hiện................................................................................7
IV. Kết quả thực nghiệm............................................................................14
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................16
I. Kết luận..................................................................................................16
II. Đề xuất, kiến nghị.................................................................................17

18


19



×