LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta đang trong quá trình hội nhập, mở cửa nền kinh tế cho nên các
doanh nghiệp phải hoạt động trong một môi trường đầy biến động, với các đối thủ
cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt và những tiến bộ khoa học kỹ thuật luôn thay
đổi một cách chóng mặt. Do vậy, mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển bền
vững phải có những phương án sản xuất và chiến lược kinh doanh có hiệu quả,
đồng thời phải luôn quan tâm cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm. Để làm
được điều này, hệ thống thông tin trong doanh nghiệp đóng vai trò vô cùng quan
trọng. Thông tin và hệ thống thông tin là một phần không thể thiếu đối với mỗi
doanh nghiệp, làm tiền đề, làm cơ sở và là công cụ của quản trị, quá trình quản trị
kinh doanh trong quản trị doanh nghiệp. Hệ thống thông tin làm căn cứ quan trọng
để tổ chức ra quyết định kịp thời và hiệu quả.
Để làm rõ vai trò, ý nghĩa của hệ thống thông tin trong doanh nghiệp, em
chọn đề tài: “Phân tích thực trạng hệ thống thông tin tại công ty TNHH TM Sản
xuất Thủ Đô” làm tiểu luận môn học.
Tiểu luận này nhằm mục đích nghiên cứu, phân tích làm rõ về thực trạng hệ
thống thông tin của công ty TNHH TM Sản xuất Thủ Đô, những hạn chế, yếu kém
của hệ thống thông tin, đồng thời đề xuất một số giải pháp để khắc phục trong thời
gian tới, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
* Nội dung tiểu luận gồm các nội dung sau
I- Giới thiệu tổng quát về công ty
II- Cơ sở lý thuyết về hệ thống thông tin
III- Thực trạng hệ thống thông tin của công ty
IV-Giải pháp trong thời gian tới
2
Với kiến thức đã học tại nhà trường, đặc biệt là sự giảng dạy, giúp đỡ trách
nhiệm, nhiệt tình của Thầy giáo, Tiến sỹ Nguyễn Hoài Nam, em đã mạnh dạn chọn
đề tài này. Tuy nhiên do thời gian và khả năng còn hạn chế nên tiểu luận chắc chắn
còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của Thầy giáo để tiểu luận
của em hoàn thiện hơn.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Bùi Thị Hưng – Lớp Cao học Quản trị kinh doanh K6A- Trường Đại học Hải Phòng
3
NỘI DUNG
I- Giới thiệu tổng quát về công ty
Công ty TNHH TM sản xuất Thủ Đô là doanh nghiệp tư nhân được thành lập
ngày 29/12/2011 theo quyết định của UBND thành phố Hải Phòng. Địa chỉ: xã An
Thắng – huyện An Lão – thành phố Hải Phòng.
1. Ngành nghề kinh doanh:
Công ty TNHH TMSX Thủ đô, sản phẩm sản xuất là các sản phẩm nhựa, vải
tráng nhựa. Theo đặc điểm đối tượng phục vụ được phân chia như sau:
+ Đối với những sản phẩm phục vụ cho các nhà sản xuất, đặt in lô gô, làm
hàng khuyến mại, quảng cáo, cho tặng ... Đây là loại sản phẩm phục vụ cho ngành
sản xuất đặc thù, về mặt kỹ thuật. Các sản phẩm này thường có chu kỳ sống dài, ít
thay đổi mẫu mã nhưng có yêu cầu về độ chính xác cao.
+ Sản phẩm phục vụ người tiêu dùng: Khách hàng của công ty là người tiêu
dùng mua phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân ... những sản phẩm hàng hoá do công
ty sản xuất cung cấp cho người tiêu dùng khác nhau, cơ cấu sản phẩm khác nhau
với những yêu cầu sẽ khác nhau: về chi tiết đồng bộ, mẫu mã, màu sắc, chất liệu...
cho nên nó không những đòi hỏi về công nghệ, kỹ thuật sản xuất mà còn đòi hỏi
người làm công tác marketing, bán hàng phải có tính chuyên nghiệp rất cao am
hiểu đặc điểm của ngành hàng cũng như đối tượng phục vụ, đặc biệt là việc dự báo
nhu cầu thị trường là rất quan trọng.
+ Sản phẩm bao bì phục vụ cho ngành may mặc : Khách hàng của công ty
cũng là những đơn vị sản xuất như: may quần áo, chăn , ga , gối , đệm ... đối tượng
tiêu dùng của các nhà sản xuất may mặc là sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng
của con người cho nên có những yêu cầu về chất lượng bao bì trực tiếp tiếp xúc với
hàng hoá phải đảm bảo chỉ tiêu mẫu mă đẹp bền, không có phản ứng độc hại cho
Bùi Thị Hưng – Lớp Cao học Quản trị kinh doanh K6A- Trường Đại học Hải Phòng
4
người tiêu dùng thường xuyên lấy mẫu đi kiểm định tại các cơ quan có thẩm quyền
có chức năng giám định cấp phép và phải phù hợp với yêu cầu về các tiêu chuẩn
hoá, lý mà từng loại sản phẩm yêu cầu, mẫu mã luôn được cải tiến cho phù hợp với
thị hiếu tiêu dùng và phù hợp với yêu cầu của nhà sản xuất.
2.Lao động công ty:
Trình độ
Đại học
Cao đẳng
Trung cấp
Công nhân lành nghề
Tổng cộng
Số lượng (người)
10
3
2
150
165
Tỷ lệ %
6,06
1,82
1,21
90,91
100
II- Cơ sở lý thuyết về hệ thống thông tin
1.Hệ thống thông tin quản lý trong doanh nghiệp
Hệ thống thông tin quản lý có vai trò rất quan trọng đối với việc ra những
quyết định; là cơ sở để các nhà quản lý và doanh nghiệp có thể đưa ra những quyết
định chiến lược đúng đắn, đưa doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn và phát
triển. Nhưng lại có rất ít doanh nghiệp quan tâm đúng mức đến vấn đề tổ chức hệ
thống thông tin trong doanh nghiệp
Hệ thống thông tin quản lý là hệ thống cung cấp thông tin cho công tác quản
lý của tổ chức. Nó bao gồm con người, thiết bị và quy trình thu thập, phân tích,
đánh giá và phân phối những thông tin cần thiết, kịp thời, chính xác cho những
người soạn thảo các quyết định trong tổ chức
Cấu trúc hệ thống thông tin quản lý:Một hệ thống thông tin quản lý được
thiết kế cấu trúc tốt gồm bốn hệ thống con, đó là các hệ thống ghi chép nội bộ, hệ
thống tình báo, hệ thống nghiên cứu và hệ thống hỗ trợ quyết định
Bùi Thị Hưng – Lớp Cao học Quản trị kinh doanh K6A- Trường Đại học Hải Phòng
5
Hệ thống ghi chép nội bộ: Đảm bảo cung cấp những số liệu hiện thời, nhiều
tổ chức đã phát triển những hệ thống ghi chép nội bộ tiên tiến có sử dụng máy tính
để có thể cung cấp thông tin nhanh và đầy đủ hơn
Hệ thống tình báo: Cung cấp cho các nhà quản lý những thông tin hàng
ngày, tình hình đang diễn ra về những diễn biến của môi trường bên ngoài.
Hệ thống nghiên cứu thông tin: Thu thập những thông tin liên quan đến
một vấn đề cụ thể đặt ra trước tổ chức, đặc điểm của việc nghiên cứu thông tin tốt
là có phương pháp khoa học, sử dụng nhiều phương pháp, xây dựng mô hình,
lượng định tỷ lệ chi phí/lợi ích của giá trị của thông tin.
Hệ thống hỗ trợ quyết định: Gồm các phương pháp thống kê và các mô
hình quyết định để hỗ trợ các nhà quản lý ban hành các quyết định đúng đắn hơn
* Phân loại hệ thống thông tin quản lý
Một tổ chức có thể có nhiều cấp và mỗi cấp có thể cần có một hệ thống
thông tin quản lý riêng của mình. Một tổ chức điển hình có thể có 4 cấp là chiến
lược, chiến thuật, chuyên gia và tác nghiệp. Vì thế, trong một tổ chức có thể có 4 hệ
thống thông tin quản lý cho 4 cấp này. Các cấp có thể có những bộ phận chung.
2- Phân loại hệ thống thông tin kinh tế:
Có nhiều phương pháp phân loại thông tin kinh tế khác nhau trong đó có hai
phương pháp phân loại khá thông dụng. Phương pháp thứ nhất là phân loại theo
lĩnh vực hoạt động của thông tin kinh tế trong sản xuất và thông tin kinh tế trong
lĩnh vực quản lý. Phương pháp thứ hai là phân loại theo nội dung mà nó phản ánh
chẳng hạn như thông tin kế hoạch, thông tin đầu tư, thông tin về lao động, tiền
lương, thông tin về lợi nhuận của doanh nghiệp v.v…Mỗi dòng thông tin kinh tế
này phản ánh một lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp hay một tổ chức kinh tế.
Bùi Thị Hưng – Lớp Cao học Quản trị kinh doanh K6A- Trường Đại học Hải Phòng
6
Phương pháp phân loại thứ nhất có ưu điểm là phân định miền hoạt động của
các hệ thống thông tin nhưng chưa đề cập đến nội dung của các qui trình mà thông
tin hướng tới phục vụ. Phương pháp phân loại thứ hai dựa trên cơ sở nội dung mà
thông tin phục vụ. Theo phương pháp phân loại này người ta chia thành 4 hệ thống
thông tin:
* Hệ thống thông tin dự báo: Vấn đề dự báo có vai trò rất quan trọng trong
các hoạt động kinh tế xã hội nhất là các dự báo chiến lược dài hạn và trung hạn. Dự
báo là giai đoạn đi trước qui trình lập kế hoạch. Công tác dự báo cung cấp các
thông tin chính xác cho các nhà phân tích kinh tế và vạch ra các định hướng trong
tương lai. Hệ thống thông tin dự báo bao gồm các thông tin chính xác cho các nhà
phân tích kinh tế và vạch ra các định hướng trong tương lai. Hệ thống thông tin dự
báo bao gồm các thông tin liên quan đến sản xuất kinh doanh, đến tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian tương lai.
Nôị dung của hệ thống thông tin dự báo gồm dự báo dài hạn, dự báo trung
hạn, dự báo ngắn hạn về các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp như dự báo các
tiến bộ khoa học và công nghệ, dự báo về qui mô sản xuất, về nhu cầu của thị
trường, về mức độ cạnh tranh trên thị trường .v.v..Hệ thống thông tin dự báo có vai
trò ngày càng quan trọng trong hoạt động kinh tế thị trường.
* Hệ thống thông tin kế hoạch: Hệ thống thông tin kế hoạch bao gồm toàn
bộ các thông tin về công tác kế hoạch hoá của doanh nghiệp. Các kế hoạch được đề
cập đến ở ba mức độ: Kế hoạch hoá chiến lược, kế hoạch hoá trung hạn, kế hoạch
hoá cơ động. Hệ thống thông tin kế hoạch bao quát tất cả các lĩnh vực hoạt động
của doanh nghiệp gồm cả trong lĩnh vực quản lý.
* Hệ thống thông tin khoa học và công nghệ: Từ môi trường rộng lớn khoa
học kỹ thuật, hệ thống thông tin khoa học thu thập các thông tin liên quan đến sản
Bùi Thị Hưng – Lớp Cao học Quản trị kinh doanh K6A- Trường Đại học Hải Phòng
7
xuất kinh doanh, ứng dụng các thành quả mới nhất của khoa học và công nghệ để
phục vụ cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
* Hệ thống thông tin thực hiện: Hệ thống thông tin thực hiện sử dụng các
công cụ thống kê và kế toán để kiểm tra, đánh giá, phân tích các quá trình thực hiện
kế hoạch, tiến độ thực hiện kế hoạch theo thời gian.
Trên cơ sở các số liệu của hệ thống thông tin thực hiện, lãnh đạo của guồng
máy quản lý có thể điều chỉnh, bổ sung các kế hoạch sản xuất và kinh doanh của
doanh nghiệp.
Như vậy, phương pháp phân loại theo nội dung phục vụ của thông tin giúp
chúng ta định hướng rõ ràng mục đích của các dòng thông tin trong hệ thống quản
lý, trên cơ sở tiến hành phát triển, hoàn thiện một nội dung nào đó trong hệ thống
quản lý
3. Các vai trò cơ bản của hệ thống thông tin.
Hệ thống thông tin thực hiện ba vai trò quan trọng trong bất kỳ một tổ chức
nào, đó là :
- Hỗ trợ nghiệp vụ kinh doanh.
- Hỗ trợ việc ra quyết định của nhà quản lý.
- Hỗ trợ cho lợi thế cạnh tranh chiến lược.
Sự gia tăng giá trị của hệ thống thông tin: Tốc độ phát triển nhanh chóng
của môi trường kinh doanh hiện nay đã làm cho Hệ thống thông tin là thành phần
quan trọng giúp cho các doanh nghiệp duy trì đích ngắm để đạt được mục tiêu
trong kinh doanh. Công nghệ thông tin đã trở thành một tố chất không thể thiếu
trong nhiều mũi đột phá chiến lược mà các doanh nghiệp phải nắm bắt ngay từ đầu
để đáp ứng được thách thức của sự thay đổi. Chúng bao gồm việc nối mạng máy
tính, nối mạng các công ty thành viên, toàn cầu hóa, tổ chức lại quá trình kinh
Bùi Thị Hưng – Lớp Cao học Quản trị kinh doanh K6A- Trường Đại học Hải Phòng
8
doanh, và sử dụng công nghệ thông tin cho lợi thế cạnh tranh. Đó là một vài lý do
chính tại sao ngày nay các doanh nghiệp cần phải có hệ thống thông tin.
III/ Thực trạng hệ thống thông tin của doanh nghiệp
1. Cơ cấu tổ chức hoạt động của công ty thể hiện qua sơ đồ sau:
Hội đồng thành viên
Giám đốc
Nhà máy SX
Phòng
kinh
doanh
P.
CM
P.
CM
Phòng
quản lý
sản
xuất
P.
CM
Phòng thị trường
Phóng
quản lý
bộ
phận
bán
hàng
P.
CM
P.
CM
Bộ
phận
market
ing,
nghiên
cứu thị
trường
Văn phòng
Phòng
quản lý
khách
hàng
P.
CM
P.
CM
2.1 Trước khi sử dụng hệ thống thông tin.
Bùi Thị Hưng – Lớp Cao học Quản trị kinh doanh K6A- Trường Đại học Hải Phòng
Phòng
hành
chính
nhân
sự
P.
CM
Phòng
kế toán
tài
chính
P.
CM
P.
CM
9
Các bộ phận trong doanh nghiệp làm việc hết sức độc lập. Mỗi phòng ban
thực hiện các công việc theo chức năng của mình mà không có sự liên kết, gắn bó,
chia xẻ những thông tin hữu ích lẫn nhau.
Một ví dụ điển hình rằng khi Ban giám đốc cần một thông tin nào đó về một
khách hàng (hoặc một nhà cung cấp) thì phải tổng hợp mọi nguồn thông tin từ các
phòng ban nghiệp vụ do đó rất mất thời gian để đưa ra các quyết định.
Quy trình thực hiện công việc hàng ngày như sau :
- Phòng quản lý sản xuất tập hợp các báo cáo từ các bộ phận sản xuất trực
tiếp và báo cáo tình hình sản xuất các đơn hàng và số lượng nguyên vật liệu tồn
kho cho ban giám đốc.
- Phòng kinh doanh báo cáo các đơn hàng nhận được trong ngày và các đơn
đặt hàng nguyên vật liệu cho Ban giám đốc.
- Phòng kế toán tài vụ báo cáo tình hình thu hồi công nợ và những tồn đọng
trong công tác thu hồi công nợ cho ban giám đốc.
Ban giám đốc tổng hợp các báo cáo trên đây và ra các quyết định kinh
doanh, đồng thời truyền đạt lại cho các phòng ban nghiệp vụ.
Tất cả các hoạt động trên đều diễn ra tại văn phòng làm việc hoặc các phân
xưởng sản xuất.
2.2. Sau khi sử dụng hệ thống thông tin.
Sau khi áp dụng hệ thống thông tin, toàn bộ các phòng ban, bộ phận sản xuất
trong doanh nghiệp đều được nối mạng với nhau và được xử lý một cách nhanh
chóng và kịp thời để phục vụ công việc ra quyết định kinh doanh và điều hành sản
xuất.
Bùi Thị Hưng – Lớp Cao học Quản trị kinh doanh K6A- Trường Đại học Hải Phòng
10
Khi bộ phận kinh doanh nhận đơn hàng của một khách hàng A nào đó, lập
tức họ sẽ biết được rằng công nợ của doanh nghiệp đối với khách hàng đó như thế
nào? Lịch sử các lần giao hàng trước đây ra sao, các phản ánh của khách hàng (nếu
có) sẽ được cập nhật kịp thời, để biết rằng có nên nhận đơn hàng đó hay không?
Nếu nhận thì tiến trình xử lý đơn hàng đó như thế nào? Nguyên vật liệu trong kho
có còn đủ để sản xuất, nếu thiếu thì cần nhập từ đâu, số lượng bao nhiêu? Mối quan
hệ hiện nay giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp ra sao?
Nói tóm lại mọi việc diễn ra hết sức nhanh gọn thông qua hệ thống máy tính
nối mạng giữa các phòng ban nghiệp vụ trong doanh nghiệp và thông qua mạng kết
nối internet. Như vậy, giả sử giám đốc đi công tác nước ngoài thì các cán bộ dưới
quyền vẫn có thể báo cáo công việc hàng ngày đồng thời nhận sự chỉ đạo của giám
đốc thông qua website hoặc hộp thư điện tử.
2.3. Sự khác biệt giữa trước và sau khi áp dụng hệ thống thông tin.
Trước khi áp dụng hệ thống thông tin.
Hàng ngày giữa Ban giám đốc và các cán bộ dưới quyền ít ra là cũng có một
buổi giao ban gặp mặt, từ đó ban giám đốc ít nhiều cũng nắm được tình hình của
các nhân viên dưới quyền.
Tốc độ xử lý công việc chậm nhưng lại mang tính tập thể vì đã được bàn
luận kỹ lưỡng.
Sau khi áp dụng hệ thống thông tin.
Tốc độ xử lý công việc nhanh nhưng lại mang tính cá nhân bởi vì có sự phân
cấp trong quản lý và điều hành.
Giữa ban giám đốc và các cán bộ quản lý ít khi có dịp gặp gỡ nhau để nắm
bắt tâm tư, nguyện vọng của người lao động.
Bùi Thị Hưng – Lớp Cao học Quản trị kinh doanh K6A- Trường Đại học Hải Phòng
11
3. Đánh giá những ưu, khuyết điểm của hệ thống thông tin trong công ty:
3.1. Ưu điểm:
Thông tin được cung cấp đầy đủ kịp thời và chính xác hơn nhờ việc có thêm
nhiều công cụ để thu thập hay xử lý … thông tin nhờ đó chất lượng thông tin được
nâng lên một phần, đã giúp cho doanh nghiệp đề ra được những quyết định kịp
thời. Ngoài ra, các hoạt động thông tin đa dạng, phong phú đáp ứng được nhu cầu
về số lượng thông tin. Đối với doanh nghiệp nó làm cho nguồn cung cấp thông tin
đa dạng, dễ tiếp cận như hệ thống thông tin marketing từ các phương tiện thông tin
đại chúng, mạng internet, mạng liên ngành. Mặc dù tồn tại nhiều hệ thống thông tin
kinh tế khác nhau nhưng giữa các hệ thống này lại có mối quan hệ với nhau, do đó
đảm bảo sự lưu thông thông tin giữa chúng ở một mức độ nhất định. Điều này được
thể hiện hệ thống thông tin không chỉ khép kín trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp
mà đã mở rộng đầu mối quan hệ thực hiện trao đổi thông tin với các hệ thông bên
ngoài.Nhờ đó việc lưu chuyển của thông tin cũng trôi chảy hơn.
Trình độ của đội ngũ cán bộ làm việc trong các bộ phận của hệ thống thông
tin trong công ty có xu hướng được nâng cao, một số khâu của quá trình thông tin
đã được chuyên môn hoá cao. Không chỉ có trình độ của những người làm việc
trong hệ thống thông tin được nâng cao mà trình độ của các cán bộ quản lý về
thông tin cũng được nâng cao theo các cấp quản lý. Doanh nghiệp hiện nay cũng
quan tâm nhiều đến việc đào tạo thêm cho nhân viên của mình nâng cao trình độ về
công nghệ thông tin
Trình độ trang bị công nghệ thông tin phần nào đã được tiếp cận với công
nghệ hiện đại , tiên tiến. Cơ cấu của hệ thống đã và đang được hoàn thiện thể hiện ở
chỗ một số ngành có hạ tầng cơ sở khá hiện đại, thực hiện vi tính hoá và nối mạng
giữa các đầu mối thông tin quan trọng hoặc ở hầu hết các cấp, các bộ phận như hệ
Bùi Thị Hưng – Lớp Cao học Quản trị kinh doanh K6A- Trường Đại học Hải Phòng
12
thống thông tin kinh tế của ngành ngân hàng, hàng không, ngành bưu chính viễn
thông ….
3.2. Hạn chế: Mặc dù hệ thống thông tin của công ty đã đạt được nhiều tiến
bộ . Song nó vẫn tồn tại nhiều hạn chế gây ảnh hưởng khá lớn đến quá trình phát
triển của doanh nghiệp, thể hiện doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm nhiều đến
yếu tố thông tin và cho rằng không cần phải bỏ ra một khoản chi phí để có được
thông tin. Trong khi một trong những nguyên tắc quan trọng của thông tin nói
chung cũng như thông tin kinh tế nói riêng đó là tính kịp thời do sự biến động liên
tục của thị trường của xã hội, khi đó quyết định đưa ra trong thời điểm này chỉ phù
hợp với thời điểm trước và dễ dẫn đến sai lầm trong việc ra quyết định. Mặc dù đây
là một nguyên tắc rất quan trọng của thông tin song trong hầu hết các trường hợp
thì nguyên tắc này lại không được đảm bảo. Cụ thể, đó là việc phát hiện ra các vấn
đề còn chưa nhanh và không nhạy bén mang tính bị động. Nhiều khi vấn đề đã xảy
ra doanh nghiệp mới có thông tin về hoặc mới được những người làm công tác
thông tin chú ý đến .
Hạn chế tiếp theo của hệ thống thông tin kinh tế của doanh nghiệp là thuộc
về yếu tố con người. Phương tiện, thiết bị để thông tin và nắm bắt thông tin mặc dù
đã đa dạng hơn so với thời kỳ trước và còn được tiếp cận với công nghệ hiện đại
nhưng nguồn nhân lực làm nhiệm vụ thu thập, đánh giá, xử lý thông tin lại chưa tận
dụng đựơc những trang thiết bị này.Hạn chế của con ngưòi về mặt thông tin chủ
yếu do các nguyên nhân sau : Trình độ của nhân viên trong việc thu thập và xử lý
thông tin, nguyên nhân thuộc về đạo đức ,khả năng tiếp nhận thông tin.
Trong các nguyên nhân thì nguyên nhân chủ yếu là do trình độ chuyên môn
về những lĩnh vực cần thông tin của đội ngũ nhân lực này còn thấp.Vì vậy thông tin
thường tồn tại ở dạng thông tin thô chưa được xử lý hay xử lý nhưng không đáp
ứng được so với yêu cầu. Ngay cả việc phát hiện ra thông tin thô có lúc cũng là một
khó khăn vì thông tin tồn tại một cách vô hình nó chỉ được biểu hiện thông qua các
Bùi Thị Hưng – Lớp Cao học Quản trị kinh doanh K6A- Trường Đại học Hải Phòng
13
phương tiện của nó.Tuy nhiên đôi khi thông tin không được thể hiện rõ ràng cụ thể
nó có thể ẩn đi hoặc biểu hiện dưới một hình thái thông tin của sự việc hiện tượng
khác.
IV- Một số giải pháp trong thời gian tới
Doanh nghiệp cần phải đổi mới và hoàn thiện hệ thống thông tin của mình
gồm: đổi mới cơ cấu tổ chức hệ thống thông tin của doanh nghiệp, mở rộng hệ
thống thông tin kế toán của doanh nghiệp, kết hợp được các hệ thống thông tin (kế
toán, tác nghiệp, kế hoạch, marketing…) thành một hệ thống thông tin chung đồng
thời để phối hợp các bộ phận chức năng trong một tổ chức tiết kiệm được chi phí
cho hoạt động thông tin.
Một hệ thống thông tin hiện đại cũng là một yêu cầu quan trọng của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp cần quan tâm đến việc đầu tư vào trang thiết bị về thông tin
hiện đại hơn vì thông tin kinh tế là nguồn lực quan trọng của doanh nghiệp ,nó tạo
lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiêp trên thị trường.Công nghệ thông tin hiện đại
giúp doanh nghiệp nắm được thông tin thị trường nhanh hơn đảm bảo sự kết nối
của hệ thống thông tin doanh nghiệp và hệ thống thông tin thị trường.
Nâng cao chất lượng hoạt động thông tin góp phần tăng cường chất lượng hệ
thống thông tin vì thông tin chính là đầu vào của quá trình ra quyết định, vì vậy
chất lượng của các quyết định đưa ra phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng thông tin
mà chất lượng của các quyết định lại ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của hệ
thống thông tin.
Thực hiện phân cấp đúng đắn trong quản lý , sử dụng thông tin kinh tế.
Trong doanh nghiệp tồn tại nhiều cấp quản lý khác nhau. Mỗi cấp quản lý cần sử
dụng những thông tin riêng theo mục tiêu riêng đề ra cho từng cấp.Vì vậy việc
phân cấp thông tin theo từng cấp quản lý cũng là một yếu tố góp phần đưa thông tin
đến đúng với đối tuợng cần sử dụng chúng.
Bùi Thị Hưng – Lớp Cao học Quản trị kinh doanh K6A- Trường Đại học Hải Phòng
14
KẾT LUẬN
Trong điều kiện kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì
việc chớp cơ hội kinh doanh phụ thuộc rất lớn vào việc đưa ra các quyết định và
điều đó quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Tuy nhiên để đưa ra được những
quyết định đúng đắn thì nhà quản trị phải có thông tin, trên thực tế thông tin trong
và ngoài doanh nghiệp lại rất đa dạng, phong phú và vô cùng phức tạp, để lựa chọn
được những thông tin chuẩn xác là vô cùng khó khăn. Chính vì vậy, xây dựng được
một hệ thống thông tin có chất lượng trong mỗi doanh nghiệp phải được đặt lên
hàng đầu. Hệ thống thông tin giúp thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền thông tin kinh
tế trợ giúp các hoạt động ra quyết định trong tổ chức, doanh nghiệp, góp phần quan
trọng vào sự phát triển của doanh nghiệp.
Bùi Thị Hưng – Lớp Cao học Quản trị kinh doanh K6A- Trường Đại học Hải Phòng