MỤC LỤC
Trang 1…………………. Mục lục
Trang 2:…………………. Đặt vấn đề.
Trang 3:…………………. Các giải pháp cải tiến
Trang 6:…………………..Nội dung “Phương giải bài tập di truyền…”
Trang 19:………………… Kết luận và bài học kinh nghiệm.
Trang 21 ………………….Tài liệu tham khảo.
.
1
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong quá trình dạy học sinh học cũng như các bộ môn khác ở trường phổ thông,
nhiệm vụ quan trọng là pháp triển tư duy cho học sinh. Sinh học là môn khoa học thực
nghiệm và lý thuyết, vì thế bên cạnh việc nắm vững lý thuyết, người học còn phải biết
vận dụng linh hoạt sáng tạo kiến thức thu được thông qua hoạt động thực nghiệm, thực
hành, giải bài tập. Việc giải bài tập sinh học không những giúp rèn luyện kỹ năng vận
dụng, đào sâu, mở rộng kiến thức đã học mà còn có tác dụng phát triển năng lực tư duy
tích cực, độc lập sáng tạo, năng lực quan sát, rèn luyện kĩ năng sinh học cho học sinh,
giúp các em nâng cao hứng thú học tập. Chính vì thế, việc giải bài tập sinh học ở trường
phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong việc dạy và học sinh học, đặc biệt là việc sử
dụng hệ thống câu hỏi và bài tập có sử dụng phương pháp dạy học theo hướng dạy học
tích cực.
Do đó việc nghiên cứu hệ thống các câu hỏi và bài tập trong dạy học sinh học,
đặc biệt là các bài tập cần có kỹ năng lôgic nhằm giúp cho học sinh phát triển năng
nhận thức và tư duy, góp phần đào tạo con người theo định hướng đổi mới giáo dục của
Đảng là sự cần thiết.
Việc nghiên cứu các vấn đề về bài tập sinh học đã có nhiều tác giả quan tâm và
cũng có nhiều công trình được áp dụng ở các mức độ khác nhau, đề tài về di truyền
quần thể được nhắc đến nhưng chưa nhiều và có hệ thống.
Tôi xin được trình bày những suy nghĩ và việc làm của mình trong những năm
học qua với đề tài "Phương pháp giải bài tập di truyền quần thể dùng ôn thi học
sinh giỏi và THPT Quốc Gia ".
II.Mục đích yêu cầu và phạm vi áp dụng:
1.Mục đích yêu cầu :
-Nhằm giúp học sinh rèn luyện kĩ năng tư duy độc lập, kỹ năng tính toán suy luận lôgic.
-Giúp các em chủ động làm các bài tập, không chỉ đơn thuần là các bài tập thầy giáo ra
trên lớp, cho về nhà mà còn tự làm các bài tập ở các tài liệu, các đề thi đại học, cao
đẳng và đề thi học sinh giỏi các cấp.
- Rèn luyện phương pháp chuyên môn và kiến thức chuyên sâu cho bản thân giáo viên.
2
2.Phạm vi ứng dụng :
Bài tập di truyền quần thể là dạng bài tập hay, tương đối khó, đi sâu vào nghiên
cứu thì nó sẽ phức tạp hơn nhiều, đòi hỏi phải tư duy lôgic tính toán khá nhiều. Do vậy
nội dung đề tài chủ yếu dùng để ôn thi học sinh khá, giỏi trường THPT Lê Lợi thi học
sinh giỏi các cấp và ôn thi vào đại học, cao đẳng .
III. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn đề tài :
1. Đối tượng nghiên cứu :Dùng để dạy các em học sinh ôn thi Đại học,cao đẳng
và thi học sinh giỏi cấp Tỉnh, Quốc gia.
2.Giới hạn đề tài : Áp dụng dạy phần di truyền học quần thể quần thể cho việc
ôn thi Đại học,cao đẳng và thi học sinh giỏi cấp Tỉnh, Quốc gia.
3.Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu về phương pháp dạy và học của GS Trần Bá Hoành, Bài tập di truyền của
Vũ Đức Lưu…
- Nghiên cứu cấu trúc đề thi của các kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp Tỉnh, Quốc gia và đề
thi Đại học, cao đẳng .
PHẦN II. CÁC GIẢI PHÁP CẢI TIẾN
I. NỘI DUNG CẢI TIẾN
Đổi mới phương pháp dạy học không chỉ thuần tuý là sự đổi mới cục bộ về
phương pháp giảng dạy, mà phải hiểu đổi mới phương pháp dạy học là sự đổi mới kết
hợp lozic nhiều mặt, nhiều yếu tố thì mới tạo ra tính đồng bộ chung (đổi mới phương
pháp soạn - giảng, đổi mới ứng dụng công nghệ thông tin trong soạn - giảng, đổi mới
cách kiểm tra đánh giá, kể cả đổi mới phong cách sư phạm.....). Nhìn chung đổi mới vấn
đề gì thì cái đích cũng phải hướng tới mục tiêu là học sinh hiểu bài, học sinh chủ động
tham gia khai thác kiến thức và thể hiện khả năng của mình. Trước hết theo tôi nghĩ
phải làm cách nào đó thu hút được học sinh học tập và yêu thích bộ môn mình đang
giảng dạy. Làm được điều này sẽ là bước thành công đầu tiên trong quá trình đổi mới.
1. Cải tiến việc kiểm tra bài cũ
Theo tôi đổi mới phương pháp dạy học phải được bắt đầu cả từ việc đổi mới
phương pháp kiểm tra bài cũ (từ nội dung đến hình thức). Kiểm tra bài cũ nếu chỉ áp
dụng rập khuôn, đơn điệu thì sẽ không có tác dụng khuyến khích được việc học bài ở
nhà của học sinh. Tôi xin đưa ra một số giải pháp thay thế cách làm cũ trước đây bằng
những hình thức kiểm tra mới mà tôi đã áp dụng trong năm học qua.
3
1.1. Về nội dung kiểm tra bài cũ trong tiết học tập trung vào phần trọng tâm, đơn
giản, phù hợp với trình độ học sinh. Nhận xét cho điểm khách quan (không quá khắt
khe nhưng cũng không quá dễ dãi), làm sao cốt yếu là để động viên, khích lệ tinh thần
học tập của học sinh.
1.2. Để quản lý và khuyến khích việc học bài cũ của học sinh ở nhà, tôi đã tiến
hành thường xuyên phát đề cương về nhà làm những câu hỏi, bài tập xoáy sâu vào các
dạng bài tập di truyền quần thể. Thông báo với học sinh đó là các câu hỏi, bài tập kiểm
tra bài cũ vào buổi học hôm sau, học sinh thấy vậy sẽ cố gắng học thật tốt để hôm sau
xung phong lên bảng lấy điểm. Những học sinh khác ở dưới lớp giáo viên có thể kiểm
tra nhanh bài chuẩn bị ở nhà và cũng có thể đánh giá cho điểm.
1.3. Hoặc một hình thức khác để kiểm tra bài cũ: Phát trước câu hỏi kiểm tra bài
cũ cho các tổ về nhà chuẩn bị vào bảng phụ (nội dung ngắn gọn). Hôm sau đến lớp đưa
bảng phụ lên cho các tổ thảo luận để chấm điểm lẫn nhau, như vậy học sinh sẽ rất hăng
hái tìm tòi ra các nội dung kiến thức đúng sai để chấm điểm cho tổ khác. Học sinh thấy
mình được đánh giá người khác đồng thời lại bị người khác đánh giá nên về nhà học bài
rất kỹ. Ngoài ra có thể kiểm tra bài cũ bằng phương pháp dùng câu hỏi trắc nghiệm
khách quan qua sự hỗ trợ của máy chiếu....
2. Cải tiến nội dung bài dạy
Ở đây cải tiến nội dung bài học không phải là thay đổi nội dung của chương trình,
sách giáo khoa mà là sự chọn lọc nội dung cơ bản của bài học đồng thời thực tế hoá các
nội dung đó.
2.1. Giáo viên trước khi đến lớp phải chuẩn bị kĩ bài dạy. Đặc biệt nên tìm tòi các
bài tập có liên quan đến bài học để tạo ra hứng thú cho học sinh khi học, đồng thời giúp
học sinh dễ hiểu và nhớ bài nhanh hơn. Trong tiết học giáo viên nên cố gắng gắn lý
thuyết bài học với thực tế sinh động, việc làm này rất hấp dẫn học sinh, có khi chỉ cần
một liên hệ nhỏ mà học sinh đối chiếu với thực tế thấy đúng sẽ rất có tác dụng cho việc
hiểu và nhớ bài, còn hơn cứ thao thao nói suông hàng tràng kiến thức.
2.2. Nội dung bài dạy tôi thống nhất cần được tinh giản nhưng không cắt xén,
bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng. Nhấn mạnh trọng tâm, xoáy sâu những nội dung mấu
chốt. Tránh dạy dàn trải làm lu mờ trọng tâm, không nhất thiết phải dạy tất cả các đơn
vị kiến thức tại tiết học, có thể giao một số nội dung phù hợp với năng lực để học sinh
về nhà nghiên cứu, kiểm tra lại vào thời điểm thích hợp. Bài dạy chúng tôi thiết kế các
hoạt động theo hướng tinh giản, dễ hiểu, dễ nhớ tránh nặng nề về lý thuyết, dành nhiều
thời gian cho hoạt động luyện tập, rèn luyện kĩ năng của học sinh.
4
2.3. Tôi cũng xin lưu ý mỗi bài dạy ngoài nội dung kiến thức cần nghiên cứu thì
các hoạt động vào bài, chuyển tiếp cũng rất quan trọng, cần thiết. Chính các hoạt động
ấy tạo ra tính liên tục, sự lozic của bài học và chương học, sự kế thừa kiến thức từ phần
này sang phần kia, tạo nên sự mềm mại, uyển chuyển cho bài học tăng cường sức hấp
dẫn của bài học. Nhận thức rõ điều đó nên trong mỗi bài dạy tôi rất quan tâm đến hoạt
động này, xem đây là sự đổi mới bắt buộc.
3. Cải tiến phương pháp giảng dạy
3.1. Tuỳ từng nội dung kiến thức mà giáo viên phải chọn ra phương pháp dạy
học phù hợp chứ không phải loại bỏ hoàn toàn phương pháp dạy học truyền thống mà
kết hợp chúng với phương pháp dạy học mới. Ví dụ những phần kiến thức mới có tính
tách biệt, độc lập mà học sinh không thể suy luận được thì vẫn phải dùng phương pháp
dạy học thuyết trình nhưng kết hợp trình chiếu các mô phỏng ảo, chẳng hạn công thức
tổng quát…
3.2. Tăng cường tổ chức thảo luận nhóm, hợp tác nhóm nhỏ...phương pháp dạy
học này phù hợp với các nội dung kiến thức mới, có tính tổng quát nhưng có liên quan
đến phần bài học trước. Như vậy học sinh đưa ra các ý kiến thảo luận thấy mình được
làm chủ kiến thức, chính mình khám phá ra kiến thức mới. Chính giáo viên đã tìm cách
kích thích học sinh phát huy óc sáng tạo, sự say mê và hứng thú trong học tập bộ môn.
Học sinh là trung tâm giải quyết các vấn đề, thầy giáo chỉ là người hướng dẫn học sinh
giải quyết vấn đề.
3.3. Để thu hút, ràng buộc sự tập trung của học sinh trong giờ học cũng như
kiểm tra mức độ hiểu và nắm bài tại lớp, cuối mỗi buổi dạy giáo viên gọi học sinh bất
kỳ đứng lên nhắc lại một số vấn đề cơ bản của bài học, kiểm tra bài tập xem học sinh
vận dụng vào làm bài tập như thế nào?
3.4. Để học sinh có lòng yêu thích bộ môn Sinh học chúng tôi còn tổ chức các
tiết ôn tập có nội dung thiết thực vào thời gian gần các kỳ thi học kỳ hoặc cuối năm, để
thông qua đó cho học sinh ôn tập lại các kiến thức cơ bản.
II. NỘI DUNG “PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP DI TRUYỀN QUẦN THỂ”
A. ĐẠI CƯƠNG VỀ QUẦN THỂ
5
I. Định nghĩa: Quần thể là một tập hợp các cá thể cùng loài, cùng sống trong một
khoảng không gian xác định, vào một thời điểm xác định và có khả năng sinh ra
con cái để duy trì nòi giống.
II. Đặc trưng của quần thể
I.1. Quần thể giao phối ngẫu nhiên:
+ Các cá thể giao phối tự do và ngẫu nhiên với nhau.
+ Quần thể giao phối rất đa dạng về kiểu gen và kiểu hình.
+ Mỗi quần thể xác định được phân biệt với những quần thể khác cùng loài về vốn gen,
thể hiện ở tần số các alen, tần số các kiểu gen.
+ Tần số tương đối của các alen về một hoặc vài gen điển hình nào đó là dấu hiệu đặc
trưng cho sự phân bố các kiểu gen và kiểu hình trong quần thể đó.
I.2. Quần thể tự phối :
+ Quần thể tự phối ở thực vật là các quần thể thực vật tự thụ phấn. Ở động vật là các
quần thể động vật lưỡng tính tự thụ tinh.
+ Quần thể tự phối phân thành nhiều dòng thuần có kiểu gen khác nhau.
+ Sự chọn lọc trong dòng thuần thường không hiệu quả.
+ Tần số alen không thay đổi qua các thế hệ
+ Tần số kiểu gen thay đổi theo hướng giảm dần thể dị hợp và tăng dần thể đồng hợp.
+ Các quần thể tự phối đều giảm mức độ đa dạng di truyền.
B. BÀI TẬP VỀ DI TRUYỀN CỦA QUẦN THỂ GIAO PHỐI NGẪU NHIÊN
Dạng 1 :Bài tập xác định số kiểu gen và kiểu giao phối tối đa trong quần thể
giao phối ngẫu nhiên :
* Bài toán xác định số kiểu gen tối đa trong quần thể giao phối ngẫu nhiên :
Trường hợp 1: Các gen nằm trên NST thường, phân li độc lập:
Gọi r là số alen của một locut gen nào đó ta có:
Số kiểu gen tối đa trong quần thể:
r (r + 1)
.
2
Chú ý : với nhiều gen, các gen di truyền phân li độc lập thì số kiểu gen tối đa về
tất cả các locut gen đó là: tích số kiểu gen của từng locut gen riêng rẽ.
Ví dụ (Trích đề thi đại học năm 2008). Ở người gen quy định màu mắt có 2 alen (A và
a), gen quy định dạng tóc có 2 alen (B và b), gen quy định nhóm máu có 3 alen (IA, IB,
Io). Cho biết các gen nằm trên các cặp NST thường khác nhau. Số kiểu gen tối đa có thể
được tạo ra từ 3 gen nói trên ở trong quần thể người là
A. 54.
B. 24.
C. 10.
D. 64.
Giải
Số kiểu gen tối đa trong quần thể = [
2(2 + 1) 2(2 + 1) 3(3 + 1)
][
][
] = 54
2
2
2
6
Trường hợp 2 : Các gen nằm trên NST thường, liên kết gen (nhiều gen cùng nằm trên
1 NST): Gen I có r1 alen; gen II có r2 alen……gen n có rn cùng nằm trên 1 cặp NST → số
alen là r = r1 x r2….x rn . Số kiểu gen tối đa trong quần thể là
r (r + 1)
2
Trường hợp 3 : Các gen nằm trên NST giới tính X không có alen trên Y.
Xét một gen, có r alen nằm trên NST X không có alen tương ứng trên Y ta có số kiểu
gen:
- Trên giới XX =
r (r + 1)
(Vì cặp NST tương đồng nên giống như trên NST thường)
2
- Trên giới XY = r ( vì alen chỉ có trên X,không có trên Y)
Tổng số kiểu gen tối đa trong quần thể =
r (r + 1)
+ r
2
( Lưu ý trong trường hợp có nhiều gen cùng nằm trên NST X thì ta áp dụng số alen là r
= r1 x r2….x rn rồi mới áp dụng tính số kiểu gen trong quần thể ) .
Ví dụ (Trích đề thi đại học năm 2011). Trong quần thể của một loài thú, xét hai lôcut:
lôcut một có 3 alen là A1, A2, A3; lôcut hai có 2 alen là B và b. Cả hai lôcut đều nằm trên
đoạn không tương đồng của nhiễm sắc thể giới tính X và các alen của hai lôcut này liên
kết không hoàn toàn. Biết rằng không xảy ra đột biến, tính theo lí thuyết, số kiểu gen tối
đa về lôcut trên trong quần thể này là
A. 18.
B. 36.
C. 27.
D. 30.
Giải
Số alen trên NST X = 3 x 2 = 6 → Tổng số kiểu gen trong quần thể =
6(6 + 3)
= 27.
2
Trường hợp 4: Các gen nằm trên NST giới tính Y không có alen trên X.
-Nếu chỉ có gen nằm trên nhiễm sắc thể Y không có alen tương ứng nằm trên X.
Xét một gen, có r là số alen của một locut gen nào đó thì ta có số kiểu gen tối đa trong
quần thể là = r +1.
Trường hợp 5 : Các gen nằm trên vùng tương đồng của NST giới tính X và Y
Xét một gen, có r alen nằm trên vùng tương đồng của NST X và Y thì số kiểu gen tối đa
trong quần thể là:
- Giới XX: số kiểu gen
r (r + 1)
2
- Giới XY: số kiểu gen là r2 .
Tổng số kiểu gen trong quần thể là:
r (r + 1)
+ r2.
2
Ví dụ 1 ( Trích đề thi đại học năm 2012). Trong quần thể của một loài động vật lưỡng
bội, xét một lôcut có 3 alen nằm trên vùng tương đồng của nhiễm sắc thể giới tính X và
Y. Biết rằng không xảy ra đột biến, theo lí thuyết, số loại kiểu gen tối đa về lôcut trong
quần thể là
A. 9.
B. 12.
C. 6.
D. 15.
Giải
Áp dụng công thức : Tổng số kiểu gen trong quần thể là:
3(3 + 1)
+ 3x3 = 15 .
2
7
Ví dụ 2 ( Trích đề thi đại học năm 2013). Ở một loài động vật, xét hai lôcut gen trên
vùng tương đồng của nhiễm sắc thể giới tính X và Y, lôcut I có 2 alen, lôcut II có 3 alen.
Trên nhiễm sắc thể thường, xét lôcut III có 4 alen. Quá trình ngẫu phối có thể tạo ra
trong quần thể của loài này tối đa bao nhiêu loại kiểu gen về ba lôcut trên?
A. 570
B. 270
C. 210
D. 180
Giải: * Xét locus I và II:
Số loại NST X: 2 x 3 = 6
Số loại NST Y: 2 x 3 = 6
Số lại kiểu gen XX:
6(6 + 1)
= 21 , số loại kiểu gen XY = 6 x 6 = 36 (vì đối với giới XY
2
còn có sự hoán đổi giữa X và Y). Tổng số kiểu gen 2 lôcus là 21 + 36 = 57
4(4 + 1)
= 10
2
* Tổng số kiểu gen: 10 x 57 = 570 → Đáp án A
* Xét locus 4: Tổng số kiểu gen:
* Bài toán xác định số kiểu giao phối tối đa trong quần thể giao phối ngẫu nhiên :
Trường hợp 1: Các gen nằm trên NST thường không tính đến vai trò của bố và mẹ
trong các phép lai: Số kiểu giao phối tối đa trong quần thể là:
k (k + 1)
(trong đó k là số
2
kiểu gen).
Trường hợp 2: Các gen nằm trên NST thường có tính đến vai trò của bố và mẹ trong
các phép lai: Số kiểu giao phối tối đa trong quần thể là: k2 (trong đó k là số kiểu gen)
Trường hợp 3: Các gen nằm trên NST giới tính:
Số kiểu giao phối tối đa trong quần thể bằng tích số kiểu gen ở giới cái và số kiểu gen ở
giới đực.
Dạng 2 : Cách tính tần số tương đối của các alen của quần thể giao phối ngẫu nhiên.
Trường hợp 1 : Một gen có hai alen nằm trên NST thường
+ 2 alen trội, lặn không hoàn toàn
- Khi hai alen trong quần thể là đồng trội thì mỗi kiểu gen đều có kiểu hình khác
nhau, vì vậy có thể dựa vào số cá thể trong quần thể để tính tần số của mỗi kiểu gen
tương ứng.
- Nếu đề thi cho số lượng ba kiểu hình tương ứng với ba kiểu gen khác nhau là AA,
Aa, aa. Gọi N là toàn bộ cá thể của quần thể, x là số cá thể mang kiểu gen AA, y là số
cá thể mang kiểu gen Aa, z là số cá thể mang kiểu gen aa.
Thành phần quần thể đang xét : x AA + y Aa + z aa = 1 ( x + y + z = 1)
- Gọi p là tần số alen A, q là tần số alen a:
8
p=x+
y
;
2
q=z+
y
.
2
- Nếu đề thi cho cấu trúc di truyền là: p2 (AA) + 2pqAa + q2 aa = 1
Ta tính được:
p(A) = p2 +
2 pq
2 pq
; q(a) =q2 +
.
2
2
+ 2 alen trội, lặn hoàn toàn:
- Nếu đề thi cho số lượng hai kiểu hình trội và lặn, hoặc chỉ cho tỉ lệ kiểu hình mang
tính trạng lặn, ta phải căn cứ vào các cá thể mang tính trạng lặn để tính tần số các kiểu
gen. Gọi p là tần số alen A, q là tần số alen a, nếu quần thể có sự cân bằng kiểu gen thì
tần số kiểu gen aa là q2. Từ đó tính được q = q 2 và p = 1- q.
Trường hợp 2 : Gen nằm trên NST giới tính X (không có alen tương ứng trên Y)
hoặc gen năm trên NST Y không có alen trên NST X
1. Cơ sở lí luận:
Xét một gen có 2 alen là A và a nằm trên nhiễm sắc thể giới tính X (Y không mang gen
tương ứng), con đực là XY, con cái là XX thì trong quần thể sẽ hình thành 5 kiểu gen
là:XAXA, XAXa, XaXa, XAY, XaY.
Gọi p là tần số alen A, q là tần số alen a ( p + q = 1)
NST X phân bố không đồng đều: 2/3 ở cơ thể cái, 1/3 ở cơ thể đực.Cho nên, các alen
tương ứng trong quần thể cũng phân bố không đồng đều ở cơ thể đực và cái.
+ Cơ thể ♀: XAXA, XAXa, XaXa với tần số alen tương ứng là p2, 2pq, q2.
+ Cơ thể ♂: XAY, XaY có tần số tương ứng là p,q.
+ Tần số alen A ở cá thể ♀: p2 + pq; Tần số alen a ở cá thể ♀: pq + q2
+ Tần số alen A ở cá thể đực: p; Tần số alen a ở cá thể cái: q
Tần số chung của alen trong quần thể ở cả giới cái và đực là:
pA =
1
2
pA♂ + pA♀ =
3
3
(p♂ + 2p♀)/3 => qa = 1 - pA
+ Nếu giá trị p A♂ = pA♀ => thì quần thể đạt trạng thái cân bằng hoặc cân bằng sau
một thế hệ ngẫu phối.
+ Nếu pA♂╪ pA♀ => thì quần thể sẽ không đạt trạng thái cân bằng ngay ở thế hệ
thứ nhất, thứ hai mà phải qua nhiều thế hệ ngẫu phối mới đạt trạng thái cân bằng.
2. Các ví dụ :
2.1. Bài tập về sự cân bằng di truyền của quần thể với những gen nằm trên NST giới
tính trong trường hợp tần số alen trội và lặn giống nhau ở hai giới
9
Ở phần này có thể có những dạng bài tập
- Xác định tần số alen, tần số phân bố các kiểu gen trong quần thể.
- Xác định trạng thái cân bằng di truyền của quần thể.
- Xác định số lượng gen lặn trong quần thể.
- Xác định tỉ lệ kiểu hình, số lượng cá thể đực, cái trong quần thể…
Ví dụ 1: Ở một quần thể côn trùng ngẫu phối, giới đực có 10% con mắt trắng, ở giới cái
có 1% con mắt trắng, còn lại là những con mắt đỏ. Hãy xác định tần số tương đối của
các alen và tần số phân bố của các kiểu gen trong quần thể. Biết giới đực là XY.
Giải: Theo bài ra trong quần thể côn trùng kiểu hình mắt trắng biểu hiện nhiều ở con
đực (XY) → chứng tỏ sự di truyền màu mắt liên kết với giới tính và gen quy định tính
trạng mắt là gen lặn. Quy ước:Gen A quy định mắt đỏ;Gen a quy định mắt trắng
- Trong quần thể có 10% con đực mắt trắng có kiểu gen XaY; 1% con cái mắt trắng có
kiểu gen XaXa. Ta có 10%XaY = 0,1Xa x Y
(1)
1%XaXa = 0,1Xa x 0,1Xa
(2)
- Từ (1) và (2) suy ra: Tần số alen a ở giới đực và giới cái đều là 0,1,
Tần số alen A là: 1 – 0,1 = 0,9.
Cấu trúc di truyền của quần thể côn trùng trên là:
♂
0,9XA
0,1Xa
0,9XA
0,81XAXA
0,09XAXa
0.1Xa
0,09XAXa
0,01XaXa
Y
0,9XAY
0,1XaY
+Tỉ lệ kiểu gen ở giới đực là: 0,9XAY : 0,1XaY
+ Tỉ lệ kiểu gen ở giới cái:
0,81XAXA : 0,18XAXa : 0,01XaXa
+ Tỉ lệ kiểu gen chung ở cả hai giới :
0,45XAY + 0,05XaY + 0,405XAXA + 0,09XAXa + 0,05XaXa = 1.
2.1. Bài tập về sự cân bằng di truyền của quần thể với những gen nằm trên NST giới
tính trong trường hợp tần số alen trội và lặn khác nhau ở hai giới
Ví dụ 2: Trong một quần thể động vật có vú, tính trạng màu lông do một gen quy định,
đang ở trạng thái cân bằng di truyền. Trong đó, tính trạng lông màu nâu do alen lặn (kí
hiệu là fB) quy định được tìm thấy ở 40% con đực và 16% con cái. Hãy xác định:
a. Tần số của alen fB.
b. Tỉ lệ con cái có kiểu gen dị hợp tử mang alen fB so với tổng số cá thể của quần thể.
c. Tỉ lệ con đực có kiểu gen dị hợp tử mang alen f B so với tổng số cá thể của quần
thể.( Trích đề thi chọn học sinh giỏi quốc gia)
♀
10
Giải: a. Tần số alen fB ở giới cái là 0,16 = 0,4. Vì quần thể đang cân bằng nên tần số
tương đối của các alen ở giới đực bằng giới cái. Vậy tần số alen f B ở giới đực là 0,4.
Kiểu hình lặn (fBfB) ở giới đực là 40% đúng bằng tần số của alen f B. Vậy gen nằm trên
NST X mà không có alen tương ứng trên Y.
b. Tỉ lệ con cái có kiểu gen dị hợp tử mang alen fB là 2.0,4.0,6 = 0,48 = 48%.
Tỉ lệ con cái có kiểu gen dị hợp tử mang alen f B so với tổng số cá thể của quần thể là
48%
= 24%.
2
c. Vì gen nằm trên NST X mà không có alen trên Y nên không thể tìm thấy con đực
lưỡng bội dị hợp. Vậy tỉ lệ con đực có kiểu gen dị hợp tử mang alen f B so với tổng số cá
thể của quần thể là 0%.(nếu xem con đực có kiểu gen X fB Y là dị hợp thì con đực dị hợp
mang gen fB là (XfB Y)
0,4
=0,2 = 20%.
2
Ví dụ ( Trích đề thi đại học năm 2014). Ở một loài động vật, xét một lôcut nằm trên
nhiễm sắc thể thường có hai alen, alen A quy định thực quản bình thường trội hoàn toàn
so với alen a quy định thực quản hẹp. Những con thực quản hẹp sau khi sinh ra bị chết
yểu. Một quần thể ở thế hệ xuất phát (P) có thành phần kiểu gen ở giới đực và giới cái
như nhau, qua ngẫu phối thu được F1 gồm 2800 con, trong đó có 28 con thực quản hẹp.
Biết rằng không xảy ra đột biến, theo lí thuyết, cấu trúc di truyền của quần thể ở thế hệ
(P) làA. 0,9AA: 0,1Aa. B. 0,8AA: 0,2Aa. C. 0,6AA: 0,4Aa.
D. 0,7AA: 0,3Aa.
Giải: Theo đề bài, cấu trúc di truyền của quần thể (P) là: XAA: YAa.
− Tần số alen a của quần thể sẽ là: q a =
Y
28
= 0,1 =
=> Y = 0,2; X = 1 – 0,2 =
2
2800
0,8 Đáp án B
Trường hợp 3 : Bài toán quần thể gồm 3 hay nhiều alen :
a. Bài toán quần thể với 3 alen:
Ví dụ :Màu sắc vỏ ốc sên do một gen có 3 alen kiểm soát: C 1: nâu, C2: hồng, C3: vàng.
Alen qui định màu nâu trội hoàn toàn so với 2 alen kia, alen qui định màu hồng trội
hoàn toàn so với alen qui định màu vàng. Điều tra một quần thể ốc sên người ta thu
được các số liệu sau:Màu nâu có 360 con; màu hồng có 550 con; màu vàng có 90 con.
Biết quần thể này ở trạng thái cân bằng di truyền. Hãy tính tần số tương đối của các
alen trong quần thể trên
Giải: Các kiểu gen qui định mỗi màu:
C1C1, C1C2, C1C3: màu nâu.
C2C2, C2C3: màu hồng.
C3C3: màu vàng.
Gọi p là tần số tương đối của alen C 1, q là tần số tương đối của alen C 2, r là tần số tương
đối của alen C3. Quần thể cân bằng có dạng:
11
(p+q+r)2 = p2C1C1+q2C2C2+r2C3C3+2pqC1C2+2qrC2C3+2prC1C3
Tần số tương đối mỗi loại kiểu hình: Màu nâu = 360/1000= 0,36; màu
hồng=550/1000=0,55; màu vàng=90/1000=0,09.
Tần số tương đối của mỗi alen, ta có: màu vàng = 0,09 = r 2→ r=0,3; màu hồng =
0,55=q2+2qr→ q=0,5 ; màu nâu = 0,35 = p2 + 2pq + 2pr → p=0,2.
b. Bài toán quần thể với 4 alen:
Cở sở lí luận: Xét 2 locut den dị hợp tử Aa và Bb, thì trong quần thể sẽ có 9 kiểu gen
(gen cặp gen nằm trên hai cặp nhiễm sắc thể tuơng đồng khác nhau là :AABB, AABb,
AaBB, Aabb, aaBB, aaBb, Aabb, aabb.
Nếu gọi p, q, r và s là tần số của các alen A, a ,B, b thì tần số các kiểu gen ở
trạng thái cân bằng sẽ là kết quả triển khai của đa thức:
(p + q)2 (r + s)2 = (pr + ps + pr + qs)2
Ta có: (p2AA + 2pqAa + q2aa) (r2BB + 2rsBb + s2bb)
= p2 r2 AABB + 2 p2rsAABb + p2s2AAbb + 2pqr2AaBB + 4pqrsAaBb
+ 2s2pqAabb + q2r2aaBB + 2q2rsaaBb + q2s2aabb = 1
- pr, ps, qr, qs là tần số tương ứng của các giao tử AB, Ab, aB, ab. Khi tần số các giao tử
này đạt trạng thái cân bằng thì tần số các kiểu gen cũng ở trạng thái đó.
Nếu quần thể khởi đầu là các cá thể dị hợp tử AaBb với tần số các alen như nhau (nghĩa
là p = q = r = s = 0,5) thì bốn kiểu giao tử (AB,Ab,aB,ab) được sinh ra với tần số cân
bằng (AB = Ab = aB = ab = 0,25) và chỉ sau 1 thế hệ ngẫu phối là quần thể đạt trạng
thái cân bằng di truyền.
Ví dụ : Một loài thực vật khi thụ phấn tự do có gen D quy định hạt tròn là trội hoàn toàn so
với gen d quy định hạt dài ; gen R quy định hạt đỏ trội hoàn toàn so với r quy định hạt trắng.
Hai cặp gen D, d và R, r phân li độc lập. Khi thu hoạch ở một quần thể cân bằng di truyền,
người ta thu được 14,25 % hạt tròn, đỏ; 4,75% hạt tròn, trắng; 60,75% hạt dài, đỏ; 20,25 %
hạt dài, trắng. Nếu vụ sau mang tất cả các hạt có kiểu hình dài, đỏ ra trồng thì tỉ lệ kiểu hạt
mong đợi khi thu hoạch sẽ như thế nào? (Trích đề thi giải toán máy tính casio cấp Tỉnh
năm 2011).
Giải : Xét từng tính trạng trong quần thể :
Dạng hạt : 19% tròn : 81 % dài tần số alen d = 0,9, tần số alen D = 0,1 cấu trúc di
truyền kiểu gen quy định hình dạng hạt là 0,01 DD : 0,18 Dd : 0, 81 dd.
Màu hạt : 75% đỏ : 25 % trắng tần số alen r = 0,5, tần số alen R = 0,5 cấu trúc di
truyền kiểu gen quy định màu hạt là 0,25 RR : 0,5 Rr : 0, 25 rr.
12
Các hạt dài, đỏ có tần số kiểu gen là 1ddRR : 2 ddRr tỉ lệ phân li kiểu hình tính theo
vụ sau là 8 hạt dài, đỏ( ddR-) : 1 hạt dài, trắng ( ddrr).
Dạng 4. Bài toán quần thể ngẫu phối liên quan các nhân tố tiến hoá làm thay đổi
tần số alen của quân thể :
4.1. Quá trình đột biến
1. Cơ sở lí luận:
Đột biến làm cho mỗi gen phát sinh ra nhiều alen ( A đột biến A1, A2, A3 ... An) và đây
chính là nguồn nguyên liệu sơ cấp cho quá trình tiến hoá.
Giả sự 1 locut có hai alen A và a. Trên thực tế có thể xảy ra các trường hợp sau:
u
Gen A đột biến thành gen a (đột biến thuận) với tần số u. A
a.Chẳng hạn, ở
thế hệ xuất phát tần số tương đối của alen A là po. Sang thế hệ thứ hai có u alen A bị
biến đổi thành a do đột biến. Tần số alen A ở thế hệ này là: p1 = po – upo = po(1-u)
Sang thế hệ thứ hai lại có u của số alen A còn lại tiệp tục đột biến thành a. Tần số
alen A ơ thế hệ thứ hai là: P2 = p1 – up1 = p1(1-u) = po(1-u)2
Vậy sau n thế hệ tần số tương đối của alen A là: pn = po(1-u)n
Từ đó ta thấy rằng: Tần số đột biến u càng lớn thì tần số tương đối của alen A
càng giảm nhanh.
Như vậy, quá trình đột biến đã xảy ra một áp lực biến đổi cấu trúc di truyền của quần
thể. Áp lực của quá trình đột biến biểu hiện ở tốc độ biến đổi tần số tương đối của các
alen bị đột biến.
Alen a cũng có thể đột biến thành A (đột biến nghịch) với tần số v.
v
a
A
+ Nếu u = v thì tần số tương đối của các alen vẫn được giữ nguyên không đổi.
+ Nếu v = 0 và u > 0 → chỉ xảy ra đột biến thuận.
+ Nếu u ≠ v; u > 0, v > 0 → nghĩa là xảy ra cả đột biến thuận và đột biến nghịch.
Sau một thế hệ, tần số tương đối của alen A sẽ là:
p1 = po – upo + vqo
Kí hiệu sự biến đổi tần số alen A là ∆p
Khi đó
∆p = p1 – po = (po – upo + vqo) – po = vqo - upo
Tần số tương đối p của alen A và q của alen a sẽ đạt thế cân bằng khi số lượng
đột biến A→ a và a → A bù trừ cho nhau, nghĩa là ∆p = 0 khi vq = up. Mà q = 1- p.
→ up = v(1 – p) ↔
up + vp = v ↔ p =
v
u
→q=
u+v
u+v
13
Ví dụ : Một con sông có hai quần thể ốc sên: quần thể lớn (quần thể chính) ở phía trên
và quần thể nhỏ nằm ở cuối dòng trên một hòn đảo (quần thể đảo). Do nước chảy xuôi
nên ốc chỉ di chuyển được từ quần thể chính đến quần thể đảo mà không di chuyển
ngược lại.Xét một gen gồm hai alen: A và a. Ở quần thể chính có p A =1, quần thể đảo có
pA= 0,6.Do di cư, quần thể đảo trở thành quần thể mới, có 12% số cá thể là của quần thể
chính.
a. Tính tần số tương đối của các alen trong quần thể mới sau di cư.
b. Quần thể mới sinh sản. Vì một lí do nào đó xảy ra quá trình đột biến: A a,
với tốc độ là 0,3%. Không có đột biến ngược.
- Tính tần số tương đối của các alen ở thế hệ tiếp theo của quần thể mới.
( Trích đề thi chọn học sinh giỏi quốc gia 2009)
Giải : a. - Ta có: Quần thể chính có pA= 1, quần thể đảo: pA= 0,6.
Quần thể chính di cư đến quần thể đảo và chiếm 12% quần thể mới. Vậy quần thể đảo
chiếm 88% trong quần thể mới.
- Quần thể mới ở đảo (sau di cư) có tần số tương đối của các alen là:
pmới = 12% x 1 + 88% x 0,6 = 0,648
qmới = 1- pmới = 1- 0,648 = 0,352
b. - Tần số đột biến: A thành a là: 0,3%
Tần số các alen sau đột biến là pA= 0,648 - (0,3% x 0,648) = 0,646;
qa = 1 - 0,646 = 0,354
4.2.Quá trình chọn lọc tự nhiên (CLTN):
Ví dụ 1: Một quần thể ở trạng thái cân bằng về 1 gen có 2 alen A, a. Trong đó tần số p
= 0,4. Nếu quá trình chọn lọc đào thải những cơ thể có kiểu gen aa xảy ra với áp lực S =
0,02. Hãy xác định cẩu trúc di truyền của quần thể sau khi xảy ra chọn lọc.
Giải:
- Quần thể cân bằng di truyền, nên ta có: pA + qa = 1 → qa = 1 – 0,4 = 0,6
- Cấu trúc di truyền của quần thể cân bằng là:
(0,4)2AA + 2(0,4 x 0,6)Aa + (0,6)2aa = 1 → 0,16AA : 0,48Aa : 0,36aa
-Sau khi chọn lọc thì tỉ lệ kiểu gen aa còn lại là: 0,36 (1 – S) = 0,36(1 – 0,02) = 0,3528.
Mặt khác, tổng tỉ lệ các kiểu gen sau chọn lọc là: 0,16 + 0,48 + 0,36(1 – S) = 0,9928
- Vậy cấu trúc di truyền của quần thể khi xảy ra chọn lọc là:
0,16
0,3528
AA
:
0,483Aa
:
aa ↔ 0,161AA : 0,483Aa : 0,356aa
0,9928
0,9928
Ví dụ 2: Giả sử một quần thể động vật ngẫu phối có tỉ lệ các kiểu gen:
14
- Ở giới cái: 0,36 AA : 0,48 Aa : 0,16 aa
- Ở giới đực: 0,64 AA : 0,32 Aa : 0,04 aa
a) Xác định cấu trúc di truyền của quần thể ở trạng thái cân bằng.
b) Sau khi quần thể đạt trạng thái cân bằng di truyền, do điều kiện sống thay đổi, những
cá thể có kiểu gen aa trở nên không có khả năng sinh sản. Hãy xác định tần số các alen
của quần thể sau 5 thế hệ ngẫu phối. (Đề thi học sinh giỏi Quốc gia năm 2010)
Giải:
Tần số alen của quần thể ở trạng thái cân bằng là :PA= ½( 0,6 + 0,8) = 0,7→ qa= 0,3.
Cấu trúc di truyền của quần thể cân bằng là: 0,49 AA : 0,42 Aa : 0,09 aa.
Tần số các alen của quần thể sau 5 thế hệ ngẫu phối :
qa = q0 / 1 + n.q0 =0,3/ 1 + 0,3x 5 = 0,12 → pA = 0,88.
4.3. Giao phối không ngẫu nhiên .
Ví dụ : Một quần thể có tần số alen A là 0,6. Giả sử ban đầu quần thể đang đạt trạng
thái cân bằng di truyền. Sau một số thế hệ giao phối thấy tần số kiểu gen aa là
0,301696. Biết trong quần thể đã xảy ra nội phối với hệ số là 0,2. Tính số thế hệ giao
phối?
Giải : Tần số alen a là 0,4. Do quần thể đạt trạng thái cân bằng nên cấu trúc của quần
thể là: 0,301696AA+ 0,48Aa + 0,16aa = 1. Sau một số thế hệ giao phối, tần số aa là:
0,301696 => Tần số kiểu gen aa tăng là:
0,301696 - 0,16 = 0,141696
=> Tần số Aa đã giảm là: 0,141696 x 2 = 0,283392. Tần số Aa sau n thế hệ giao
phối là: 2pq(1 - f)n = 0,48(1 - f)n = 0,48.0,8n
Tần số Aa giảm là: 0,48 – 0,48.0,8n = 0,283392
n = 4. Vậy hệ số giao phối là 4.
4.4. Di – nhập gen : Xét trong trường hợp di – nhập gen xảy ra theo một chiều mà
không có chiều ngược lại
Ta có công thức:
∆p = M (P0 - p)
Trong đó :
- p là tần số tương đối của gen A ở quần thể nhận.
- P0 là tần số tương đối của gen A ở quần thể cho.
15
- M là tỷ lệ số cá thể nhập cư được tính bằng tỉ số giao tử mang gen di nhập so với tổng
số giao tử của mỗi thế hệ trong quần thể hoặc bằng tỉ lệ số cá thể nhập cư so với số cá
thể của quần thể nhận.
- ∆p lượng biến thiên về tần số alen A trong quần thể nhận.
Từ ∆p ta tính được tần sơ alen của quần thể cho và nhận sau khi xảy ra di nhập.
Ví dụ : Cho biết tần số tương đối của alen A ở quần thể Y là 0,8; ở quần thể X là 0,3. Số
cá thể của quần thể Y là 1600, số cá thể nhập cư từ quần thể X vào quần thể Y là 400.
Hãy xác định tần số của alen A trong quần thể Y ở thế hệ tiếp theo sau khi di-nhập.
( Trích Đề thi học sinh giỏi Nghệ An năm 2011)
Giải :- Tốc độ di nhập gen: M = 400/(1600 + 400) = 0,2.
- Sau một thế hê, lượng biến thiên tần số tương đối của alen A trong quần thể nhận Y là:
∆p = 0,2 (0,3 – 0,8) = - 0,1. Như vậy, tần số tương đối của alen A trong quần thể nhận
giảm xuống còn: p = 0,8 – 0,1 =0,7.
Dạng 5 : Các dạng bài toán xác suất trong di truyền học quần thể:
Ví dụ 1: Trên một quần đảo biệt lập có 5800 người sống, trong dó có 2800 nam giới.
trong số này có 196 nam bị mù màu xanh đỏ. Kiểu mù màu này là do 1 gen lặn nằm
trên NST X. Kiểu mù màu này không ảnh hưởng tới sự thích nghi của cá thể. Khả năng
có ít nhất 1 phụ nữ của hòn đảo này bị mù màu xanh đỏ là bao nhiêu?
Giải : Gọi p là tần số alen A (p +q = 1; p, q > 0); q là tần số alen a.
Cấu trúc di truyền ở nam: pXAY + qXaY = 1
Theo bài: qXaY =
196
= 0,07 => p = 1 – 0,07 = 0,93.
2800
Cấu trúc di truyền ở nữ: p2XAXA + 2pqXAXa + q2XaXa = 1
0,8649.XAXA + 0,1302.XAXa + 0,0049XaXa = 1
Tần số cá thể nữ bình thường là: 0,8649 + 0,1302 = 0,9951
=> Tần số để 3000 cá thể nữ đều bình thường là: 0,99513000.
=>Tần số để có ít nhất 1 phụ nữ bị bệnh mù màu là: 1 - 0,99513000
Ví dụ 2 : Ở người, gen quy định nhóm máu gồm 3 alen: I A, IB, IO, trong đó IA và IB trội
hoàn toàn so với IO, còn IA và IB đồng trội. Qua nghiên cứu một quần thể đang ở trạng
thái cân bằng di truyền xác định được: tỉ lệ người có nhóm máu A chiếm 35%, nhóm
máu B chiếm 24%, nhóm máu AB chiếm 40%, còn lại là nhóm máu O. Một người có
16
nhóm máu A kết hôn với một người có nhóm máu B. Tính xác suất sinh con nhóm máu O của cặp
vợ chồng này.
Giải : Gọi p là tần số tương đối của alen IA, q là tần số tương đối của alen IB, r là tần số
tương đối của alen IO. Quần thể cân bằng có dạng :
(p IA +q IB +r IO)2 = p2IA IA + q2 IBIB + r2 IOIO + 2pqIA IB + 2qrIBIO + 2prIAIO
Người nhóm máu O chiếm 1%, r2 IOIO =1% r = 0,1.
Người có nhóm máu A chiếm 35% p2 + 2pr = 0,35, giải ra ta được p=0,5, vậy
q=0,4.
Một người có nhóm máu A kết hôn với một người có nhóm máu B. Để họ sinh con
nhóm máu O thì kiểu gen của hai vợ chồng này phải là: IAIO x IBIO.
2 pr
Xác suất để người có nhóm máu A có kiểu gen IAIO là: p 2 + 2 pr = 0,285
2qr
Xác suất để người có nhóm máu B có kiểu gen IBIO là: q 2 + 2qr = 0,333
Mà: IAIO x IBIO sinh ra con nhóm máu O với xác suất bằng 0,25.
Vậy xác suất cần tìm là: 0,285 x 0,333 x 0,25 = 0,0238.
C. BÀI TẬP VỀ DI TRUYỀN CỦA QUẦN THỂ TỰ PHỐI:
Cho thành phần kiểu gen của thế hệ P (thế hệ xuất phát) qua n thế hệ tự phối tìm
thành phần kiểu gen của thế hệ Fn .
1.1.Trường hợp không có tác động của chọn lọc tự nhiên.
Trường hợp 1: Thế hệ P( thế hệ xuất phát) : 100%.
Quần thể P sau n thế hệ tự phối thành phần kiểu gen thay đổi như sau :
1
1
1
1 − ( )n
1 − ( )n
)
n
Fn :
Aa :
2 AA : (
2 aa
2
2
2
Ví dụ : Quần thể ban đầu 100% cá thể có kiểu gen dị hợp. Sau 3 thế hệ tự thụ phấn
thành phần kiểu gen của quần thể như thế nào?
Giải : Sau 3 thế hệ tự phối thành phần kiểu gen thay đổi như sau
Tỷ lệ thể dị hợp Aa trong quần thể F3 là : 0,4375 AA : 0,125 Aa : 0,4375 aa.
Trường hợp 2: Thế hệ P( thế hệ xuất phát) :
xAA + yAa + zaa ( x + y + z =1)
Quần thể P sau n thế hệ tự phối thành phần kiểu gen thay đổi như sau :
1
1
1
1 − ( )n
1 − ( )n
)
n
Fn : x+
.y Aa : z +
2 .y AA : (
2 .y aa.
2
2
2
17
Trường hợp 3: Thế hệ P( thế hệ xuất phát) :
xAA + zaa ( x + z =1)
Quần thể P sau n thế hệ tự phối thành phần kiểu gen thay đổi như sau :
xAA + zaa ( x + z =1).
1.2. Trường hợp có tác động của chọn lọc tự nhiên.
Trường hợp: Thế hệ P( thế hệ xuất phát) :
xAA + yAa + zaa ( x + y + z =1)
* Nếu cá thể aa không có khả năng sinh sản thì:
Quần thể P sau n thế hệ tự phối thành phần kiểu gen thay đổi như sau :
1
1
1
1 − ( )n
1 − ( )n
Fn : x +
2 .y AA : ( )n .y Aa :
2 .y aa.
2
2
2
* Nếu cá thể AA không có khả năng sinh sản thì:
Quần thể P sau n thế hệ tự phối thành phần kiểu gen thay đổi như sau :
1
1
1
1 − ( )n
1 − ( )n
Fn :
2 .y AA : ( )n .y Aa : z +
2 .y aa.
2
2
2
Ví dụ ( Trích đề thi đại học năm 2008). Một quần thể thực vật thực vật tự thụ phấn có
tỉ lệ kiểu gen ở thế hệ P là 0,45 AA : 0,30Aa : 0,25 aa. Cho biết các cá thể có kiểu gen
aa không có khả năng sinh sản. Tính theo lí thuyết, tỉ lệ các kiểu gen thu được ở F 1 là
bao nhiêu?
Giải : - Sau khi chọn lọc thì tỉ lệ kiểu gen aa = 0. Mặt khác, tổng tỉ lệ cỏc kiểu gen sau
chọn lọc là: 0,45 + 0,3 = 0,75 nên tần số kiểu gen của quần thể P tham gia tự thụ phấn
0,45
0,30
là: 0,75 AA : 0,75 Aa ⇔ 0,6AA : 0,4Aa. Ta có tỉ lệ kiểu gen sau 1 thế hệ tự thụ phấn là:
1
0,2
0,2
= 0,7 ; aa =
= 0,1.
Aa = 0,4. = 0,2 ; AA = 0,6 +
2
2
2
Vậy tỉ lệ kiểu gen sau 1 thế hệ tự thụ là: 0,7AA : 0,2Aa : 0,1 aa.
PHẦN III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
A. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC :
Sau một thời gian thực hiện nghiêm túc các biện pháp trên, tôi thấy đã thu được
những kết quả hết sức khả quan:
- Đa số học sinh nắm được các kiến thức cơ bản.
18
- Nhiều kĩ năng về trình bày bài làm, cách tiến hành một số dạng bài cơ bản
được học sinh thực hiện thành thạo.
- Học sinh có thể vận dụng kiến thức đã học để giải quyết một số bài toán thực tế
đơn giản.
- Học sinh rất hào hứng trước mỗi giờ ôn thi Sinh bởi vì khi đó những vướng
mắc của các em được giải đáp, nguyện vọng của các em được đáp ứng.
Kết quả học tập môn Sinh được nâng lên rõ rệt.
Dưới đây là hai bảng đối chứng về chất lượng của học sinh ở bộ môn Sinh thuộc hai lớp
mà tôi đã áp dụng đề tài này trong hai năm học vừa qua:
Năm học
SL học sinh
2 lớp đối chứng
Giỏi
SL
Khá
%
SL
%
Trung bình
Dưới TB
SL
SL
%
%
38
2
5,3
12
31,6
19
50
5
13,1
43
10
23,3 18
41,9
12
27,9
3
6,9
2014-2015
Kết quả thi học sinh giỏi cấp Tỉnh và tuyển sinh đại học của Trường THPT Lê Lợi
những năm gần đây khi tôi áp dụng đề tài vào công tác giảng dạy như sau:
2013-2014
STT
Năm học
Số học sinh giỏi cấp
Số HS đậu đại
Học sinh có điểm
Tỉnh
học
sinh 9đ trở lên
1
2013-2014
2ba + 2 KK
82 h/s
03
2
2014-2015
1 nhì + 3 ba + 1 KK
117 h/s
11
B.BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ
1. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Từ quá trình bồi dưỡng bồi dưỡng học của khối lớp và học sinh thi vào Đại học ,cao
đẳng tôi rút ra một vài kinh nghiệm nhỏ trong việc dạy bài tập nâng cao chất lượng :
Đối với học sinh :
+ Học sinh nắm bắt kiến thức cơ bản dễ dàng, nhẹ nhàng từ đó hứng thú trong
học tập và theo giờ giảng lý thuyết chăm chú.
+ Phải cho học sinh nắm vững các phương pháp cơ bản và cách nhận biết các
dạng bài tập thuộc các chương ,phần.
+ Phải cho học sinh nắm được phương pháp giải bài tập theo dạng, chủ đề.
+ Học sinh phát huy tính tích cực ,kỹ năng rèn luyện so sánh tư duy trừu tượng.
+ Chất lượng học sinh tăng lên rõ rệt đảm bảo chính xác 100% học sinh hiểu bài
và vận dụng được sau khi học .
Đối với giáo viên
19
+ Nắm vững chuyên môn nghiệp vụ, có kiến thức sâu rộng, khả năng bao quát
kiến thức, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc.
+ Giáo viên phải có lòng yêu nghề mến trẻ, đam mê với công việc, luôn không
ngừng học hỏi tích luỹ chuyên môn nghiệp vụ, đúc rút kinh nghiệm.
+ Trong công tác giảng dạy cần đổi mới phương pháp dạy học, tìm ra phương
pháp dạy học phù hợp trong từng bài dạy .
+ Khi dạy học Sinh cần có sự nghiên cứu kĩ nội dung chương trình, đặc điểm tình
hình học sinh để đưa ra kế hoạch bài học sát với khả năng của học sinh, chọn lọc hệ
thống bài tập phù hợp, có cách hướng dẫn hợp lý, dễ hiểu giúp học sinh dễ vận dụng.
2.KIẾN NGHỊ
Đề tài chỉ mới nghiên cứu và thực nghiệm trong phạm vi một chương, tôi mong
rằng hướng nghiên cứu của đề tài sẽ tiếp tục được các đồng nghiệp mở rộng và phát
triển hơn nữa trong các công trình nghiên cứu tiếp theo.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 06 tháng06 năm 2015
(Tác giả ký và ghi rõ họ tên)
Trần Anh Tú
V.TÀI LIỆU THAM KHẢO
20
1.Phương pháp dạy học sinh học trung học phổ thông.NXBGD
2. Phương pháp giải bài tập sinh học.
3.Bài tập di truyền hay và khó.
4.Sinh học 12 chuyên sâu.
5.Đề thi đại học, cao đẳng từ năm 2002 dến nay.
6. Sách giáo viên nâng cao 12 NXBGD
21