1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình nhận thức của HS, các em lại hay mắc phải những sai lầm
nhất định về kiến thức, kĩ năng và tư duy. Những sai lầm này HS thường dễ mắc
phải khi giải bài tập hóa học, điều đó dẫn đến sai lầm không được HS nhận thấy
kịp thời gây ảnh hưởng đến năng lực giải bài tập hóa học của HS.
Việc tìm ra những nguyên nhân của sai lầm là để có những biện pháp hạn
chế, sửa chữa chúng, giúp cho HS nhận thức được những sai lầm và khắc phục
được những sai lầm này, nhằm rèn luyện năng lực giải bài tập hóa học cho HS
đồng thời nâng cao hiệu quả dạy học hóa học ở trường THPT.
Vì vậy việc phân tích, sửa chữa và khắc phục những sai lầm của HS trong
quá trình giải bài tập hóa học ở trường THPT là rất cần thiết.
Đã có một số sách tham khảo nghiên cứu về những sai lầm của HS trong
quá trình giải bài tập hóa học ở trường THPT. Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ
phân tích những sai lầm của HS trong quá trình giải bài tập hóa học mà chưa
thấy tác giả nào đi sâu vào việc tìm ra biện pháp khắc phục những sai lầm đó.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Phân tích và khắc phục những sai
lầm thường gặp của học sinh khi giải một số dạng bài tập hóa học vô cơ lớp
11 - THPT” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, phân tích những sai lầm của HS trong quá trình giải bài tập
hóa học THPT, trên cơ sở đó tìm cách khắc phục những sai sầm.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Những biện pháp khắc phục những sai lầm thường gặp của học sinh khi
giải một số dạng bài tập hóa học vô cơ lớp 11 - THPT.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.4.1. Nghiên cứu lý thuyết
- Đọc, nghiên cứu các dạng bài tập hóa học vô cơ lớp 11 - THPT.
- Đọc, tìm hiểu và nghiên cứu các tài liệu viết về những sai lầm thường
gặp của học sinh khi giải bài tập hóa học - THPT.
1.4.2. Nghiên cứu thực tiễn
- Dự một số tiết dạy có liên quan đến các dạng bài tập hóa học phần vô cơ
lớp 11 - THPT mà HS thường mắc sai lầm của đồng nghiệp.
- Khảo sát các đề thi tốt nghiệp, đề thi đại học, cao đẳng, đề thi học sinh
giỏi của tỉnh Thanh Hoá trong các năm học.
- Chọn 03 lớp 11 trong đó có 01 lớp học ban cơ bản A, 02 lớp học ban cơ
bản để triển khai đề tài. Ban đầu tôi chưa áp dụng đề tài đối với cả 03 lớp, sau
một thời gian tôi áp dụng đề tài cho cả 03 lớp. Qua đó tôi so sánh, đối chiếu kết
quả trước và sau khi thực hiện đề tài để rút ra kết luận.
1
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Lý thuyết về sai lầm
2.1.1.1. Khái niệm về sai lầm
Theo từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội 1994
thì “sai lầm” có nghĩa là trái với yêu cầu khách quan hoặc với lẽ phải, dẫn đến
hậu quả không hay.
Trong giáo dục, I. A. Komenky khẳng định: “ Bất kỳ một sai lầm nào
cũng có thể làm cho HS kém đi nếu GV không chú ý ngay đến sai lầm đó bằng
cách nhận ra và sửa chữa, khắc phục sai lầm”. A. A. Stoliar cũng lên tiếng nhắc
nhở GV rằng: “Không được tiếc thời gian để phân tích trên giờ học các sai lầm
của HS”.
2.1.1.2. Sai lầm của HS trong quá trình giải một số dạng bài tập hóa học vô
cơ lớp 11 - THPT
Sai lầm của HS trong quá trình giải một số dạng bài tập hóa học vô cơ lớp
11 - THPT là những lỗi mà HS mắc phải như lỗi về kiến thức, kỹ năng và tư duy
trong quá trình giải bài tập dẫn tới việc tìm ra kết quả không đúng theo yêu cầu
của đề bài.
2.1.2. Đổi mới PPDH theo hướng tích cực
2.1.2.1. Cơ sở của vấn đề đổi mới PPDH
- Thực trạng giáo dục Việt Nam.
- Sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
2.1.2.2. Định hướng đổi mới PPDH
- Bám sát mục tiêu giáo dục trung học phổ thông.
- Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể.
- Phù hợp với cơ sở vật chất và các điều kiện dạy học của nhà trường.
- Phù hợp với việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả dạy và học.
- Kết hợp việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả các PPDH tiên
tiến với việc khai thác những yếu tố tích cực của PPDH truyền thống.
- Tăng cường sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học.
2.1.2.3. Phương hướng đổi mới PPDH hóa học
- Dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
- Dạy học theo hướng hoạt động hóa người học.
- Quan điểm kiến tạo trong dạy học.
- Quan điểm dạy học tương tác.
2.1.2.4. PPDH tích cực
2.1.2.4.1. Đặc trưng của PPDH tích cực
- Dạy học tăng cường tính tự tin, tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.
- Dạy học chú trọng rèn luyện và phát huy năng lực tự học của HS.
2
- Dạy học phân hóa kết hợp với học tập hợp tác.
- Kết hợp đánh giá của GV với đánh giá của HS và tự đánh giá của HS.
- Tăng cường khả năng, kỹ năng vận dụng vào thực tế.
2.1.2.4.2. Một số PPDH tích cực
- Đặt vấn đề và giải quyết vấn đề.
- Dạy học hợp tác.
- Vấn đáp.
- Đàm thoại.
2.1.3. Tổng quan về bài tập hóa học
2.1.3.1. Khái niệm về bài tập hóa học
Theo các nhà lý luận dạy học của Liên Xô cũ : “Bài tập hóa học là một
dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và
câu hỏi, mà trong khi hoàn thành, học sinh nắm được một tri thức hay kỹ năng
nhất định”.
2.1.3.2. Phân loại bài tập hóa học
- Dựa vào nội dung có thể phân bài tập hóa học thành 4 loại : bài tập định
tính; bài tập định lượng; bài tập thực nghiệm; bài tập tổng hợp.
- Dựa vào hình thức thể hiện có thể phân bài tập hóa học thành 2 loại : bài
tập trắc nghiệm khách quan; bài tập tự luận.
- Phân theo mục tiêu sử dụng thì có 2 loại là bài tập dùng trong quá trình
giáo viên trực tiếp giảng dạy và các bài tập cho HS tự luyện tập.
- Phân loại theo mức độ bài tập thì có bốn loại : bài tập mức độ biết ; bài
tập mức độ hiểu ; bài tập mức độ vận dụng thấp ; bài tập mức độ vận dụng cao.
2.1.3.3. Những xu hướng phát triển của bài tập hóa học hiện nay
- Loại bỏ những bài tập có nội dung kiến thức nghèo nàn, lạm dụng thao
tác toán học và mang tính đánh đố HS.
- Loại bỏ những bài tập lắt léo, giả định, xa rời hoặc sai với thực tiễn.
- Tăng cường sử dụng các bài tập thực nghiệm hoặc bài tập có gắn liền
với thực tế.
- Tăng cường sử dụng các bài tập theo hình thức TNKQ.
- Xây dựng hệ thống bài tập mới về hóa học với môi trường.
- Xây dựng các bài tập rèn luyện cho học sinh năng lực phát hiện và giải
quyết vấn đề.
- Sử dụng bài tập trong phát triển tự học của HS.
2.2. Thực trạng của vấn đề
Qua thực tế trực tiếp giảng dạy ở trường THPT 4 Thọ Xuân cho thấy rằng
HS thường mắc những sai lầm thường gặp khi giải một số dạng bài tập hóa học
vô cơ lớp 11 - THPT. Nguyên nhân của tình trạng HS thường mắc những sai
lầm thường gặp khi giải một số dạng bài tập hóa học vô cơ lớp 11 - THPT xuất
phát từ nhiều phía :
3
* Về phía HS : Nhiều HS mắc sai lầm về kiến thức, mắc sai lầm về kỹ
năng và tư duy.
* Về phía GV : GV không thể cung cấp hết kiến thức cho HS được trong
thời gian ngắn trên lớp.
* Về phía phụ huynh : Sự quan tâm của một số phụ huynh đến việc học
tập của con em mình còn hạn chế.
2.3. Giải pháp và tổ chức thực hiện để giải quyết vấn đề
2.3.1 Nội dung phần hoá vô cơ lớp 11 - THPT
Phần hóa học vô cơ lớp 11 – THPT được sắp xếp thành 3 chương:
- Chương 1: Sự điện li
- Chương 2: Nitơ – Photpho
- Chương 3: Cacbon – Silic
* Với chương “ Sự điện li” đề cập 3 vấn đề lớn, đó là:
- Sự điện li, chất điện li.
- Axit – Bazơ – Muối. Giá trị pH và chất chỉ thị axit – bazơ.
- Phản ứng trao đổi ion trong dung dịch chất điện li.
Các nội dung này được cấu trúc thành 6 bài học (4 bài lí thuyết + 1 bài
luyện tập + 1 bài thực hành). Nội dung kiến thức trong chương giúp cho HS có
cơ sở để nghiên cứu, giải thích hiện tượng hóa học xảy ra trong dung dịch và
vận dụng các PP giải: bảo toàn electron, bảo toàn điện tích, dùng phương trình
ion thu gọn ... trong quá trình giải BTHH vô cơ.
* Với chương 2 và 3: HS nghiên cứu 4 nguyên tố cơ bản, mang tính điển hình và
đặc trưng của nhóm VA và IVA trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học. Đó
là nguyên tố Nitơ, Photpho, Cacbon, Silic và các hợp chất của nó. Quá trình biến
đổi của các nguyên tố N, P, C, Si và hợp chất của nó được nghiên cứu sâu sắc, đi
sâu vào bản chất của sự tương tác giữa các ion trong dung dịch với các cân bằng
oxi hóa – khử, tạo kết tủa, tạo chất khí và chất điện li yếu, đồng thời còn xét đến
vai trò của dung môi (H2O), môi trường đến các quá trình này thông qua phương
trình ion đầy đủ và phương trình ion thu gọn. Sự vận dụng các kiến thức này
trong quá trình giải BTHH đòi hỏi HS phải xem xét một cách toàn diện các kiến
thức có liên quan đến các cân bằng, bản chất của quá trình thông qua sự tương
tác các ion trong dung dịch ... Do đó HS dễ mắc các sai lầm về kiến thức, kĩ
năng và tư duy trong quá trình giải một số dạng bài tập phần hóa vô cơ lớp 11 –
THPT. Vì vậy việc nghiên cứu phát hiện những sai lầm trong quá trình giải một
số dạng bài tập phần hóa vô cơ lớp 11 - THPT và đề xuất các biện pháp khắc
phục sai lầm đó là một trong các nhiệm vụ quan trọng, cần thiết của người giáo
viên.
2.3.2. Phân tích những sai lầm thường gặp của HS khi giải một số dạng bài
tập hóa học vô cơ lớp 11 - THPT
Dạng 1. HS bỏ qua vai trò môi trường trong bài toán về tính oxi hoá của
muối nitrat trong dung dịch
4
Như chúng ta đã biết : ion NO3- không thể hiện tính oxi hoá trong môi
trường trung tính nhưng lại thể hiện trong môi trường axit hoặc môi trường
kiềm. Với một số bài toán về muối nitrat, thông thường trong quá trình phản
ứng có sinh thêm ion H+ hoặc ion OH- lúc này bản chất môi trường đã thay đổi,
tuy nhiên trong quá trình làm bài HS lại thường không chú ý tới yếu tố gây ra sự
thay đổi đó, nên có những phân tích sai lầm.
Ví dụ 1 : Cho 1,92 gam Cu vào 100ml dung dịch chứa đồng thời KNO 3 0,16M
và H2SO4 0,4M thấy sinh ra một chất khí có tỉ khối hơi so với hiđro là 15 và
dung dịch A.
a. Viết phương trình ion thu gọn của phản ứng và tính thể tích khí sinh ra ở
đktc.
b. Tính thể tích dung dịch NaOH 0,5M tối thiểu cần dùng để kết tủa hoàn
toàn ion Cu2+ trong dung dịch A.
* Cách giải đúng
m 1,92
n Cu = =
= 0,03(mol)
M 64
a. n
= CM .V = 0,16 × 0,1 = 0,016(mol)
KNO
3
n H SO = C M .V = 0,4 × 0,1 = 0,04(mol)
khí
d
= 15 ⇒ M = 15 × 2 = 30 ⇒ Khí thu được có thể là NO
H2
Phương trình ion thu gọn của phản ứng:
3Cu + 8H + + 2NO3− → 3Cu 2+ + 2NO + 4H 2O
(1)
Ban đầu:
0,03 0,08 0,016
Phản ứng:
0,024 ¬ 0,064 ¬ 0,016 → 0,024 → 0,016 mol
Sau phản ứng:
0,006 0,016
0
0,024 0,016 mol
VNO = n × 22,4 = 0,016 × 22,4 = 0,3584 (lít)
b. Dung dịch A thu được sau cùng chứa: 0,016 mol H + và 0,024 mol Cu2+. Khi
cho NaOH vào dung dịch A trước hết xảy ra phản ứng:
NaOH + H + → Na + + H 2O
(2)
0,016 ¬ 0,016 mol
Sau đó sẽ xảy ra phản ứng:
Cu 2+ + 2NaOH → Cu(OH) 2 + 2Na +
(3)
0,024 → 0,048 mol
2
4
VNaOH =
n 0,048
=
= 0,096 (lít)
CM
0,5
* Phân tích sai lầm của HS
m 1,92
n Cu = =
= 0,03(mol)
M 64
n KNO = CM .V = 0,16 × 0,1 = 0,016(mol)
3
n H SO = C M .V = 0,4 × 0,1 = 0,04(mol)
2
4
5
d
khí
= 15 ⇒ M = 15 × 2 = 30
H2
Nhận xét: Đến đây HS thường mắc sai lầm là:
- Không xác định được khí tạo ra trong phản ứng là khí gì.
- Không viết được phương trình ion thu gọn nên không tính được thể tích khí
sinh ra.
- Bỏ qua nồng độ H+ dư chỉ chú ý đến phản ứng Cu2+ + 2OH- → Cu(OH)2 trong
phần b.
Ví dụ 2 : Hoà tan hỗn hợp gồm 24,3 gam bột Al và 15,525 gam Na vào 225 ml
dung dịch NaNO3 1M, khuấy đều và đun nóng cho đến khi khí ngừng thoát ra
thì dừng lại. Thể tích khí thoát ra (đktc) là (Giả sử lượng khí tạo thành đều thoát
ra khỏi dung dịch)
A. 30,24 lít.
B. 22,68 lít.
C. 12,60 lít.
D. 7,56 lít.
* Cách giải đúng
- Ban đầu Na phản ứng với nước có trong dung dịch NaNO3 theo phản ứng :
2Na + 2H2O → 2NaOH + H2↑
(1)
0,675
0,675
0,3375
- Lúc này ion OH vừa sinh ra cùng với ion NO3- có trong dung dịch sẽ hoà tan
Al theo phản ứng :
8Al + 3NO 3− + 5OH- + 2H2O → 8AlO −2 + 3NH3↑ (2)
Ban đầu: 0,9
0,225
0,675
0
0
Phản ứng: 0,6
0,225
0,375
0,6
0,225
Dư:
0,3
0
0,3
- Sau khi ion NO3 hết thì Al tiếp tục tan trong môi trường kiềm với phản ứng :
2Al + 2OH- + 2H2O
→ 2AlO2- + 3H2↑
(3)
Ban đầu : 0,3
0,3
Phản ứng: 0,3
0,3
1,5.0,3
⇒
Từ (1), (2), (3) nkhí = 0,3375 + 0,225 + 0,45 = 1,0125 mol
Vậy thể tích khí thoát ra : V = 1,0125.22,4 = 22,68 lít. Chọn đáp án B.
* Phân tích sai lầm của HS
HS thường có cách giải như sau :
nAl = 24,3/27 = 0,9 mol ; nNa = 15,525/23 = 0,675 mol ; n NaNO3 = 0,225 mol.
Các phương trình hoá học của phản ứng xảy ra :
2Na + 2H2O → 2NaOH + H2↑
(1)
0,675
0,675
0,3375
2Al + 2NaOH + 2H2O → 2NaAlO2 + 3H2↑
(2)
0,675 ← 0,675 →
1,0125
Vậy thể tích khí thoát ra: V = (0,3375 + 1,0125).22,4 = 30,24 lít. Chọn đáp án A
1
Trong mục 2.3.2 dạng 1 : Ví dụ 1 được tham khảo từ TLTK số 4 ; Ví dụ 2 là “của” tác giả.
6
Dạng 2. Sai lầm ở các bài toán axit HNO 3 tác dụng với kim loại nhiều hóa trị
như Fe (hoặc Cr ...)
HS thường quên mất các phản ứng (đã được GV dạy ở cấp THCS) :
2Fe3+ + Fe → 3Fe3+ và 2Fe3+ + Cu → 2Fe2+ + Cu2+
Chính vì thế mà HS sẽ xác định sai sản phẩm do đó tính toán sẽ sai.
Ví dụ 1 : Đun nóng m gam hỗn hợp Cu và Fe có tỉ lệ khối lượng tương ứng là
7 : 3 với một lượng dung dịch HNO 3. Khi các phản ứng kết thúc, thu được
0,75m gam chất rắn, dung dịch X và 5,6 lít hỗn hợp khí (đktc) gồm NO và NO 2
(không có sản phẩm khử khác của N+5). Biết lượng HNO3 đã phản ứng là 44,1
gam. Giá trị của m là
A. 44,8.
B. 40,5.
C. 33,6.
D. 50,4.
* Cách giải đúng
- Khối lượng Cu là 0,7m gam, của Fe là 0,3m gam.
- Khối lượng chất rắn 0,75m > 0,7m ⇒ chỉ có Fe bị hòa tan với lượng là 0,25m
gam, Fe còn dư 0,05m gam nên Cu chưa phản ứng. Chỉ có Fe khử Fe 3+ về Fe2+,
chính vì vậy trong dung dịch chỉ có muối Fe(NO 3)2 với số mol là : 0,25m/56
n
− n khí
0, 7 − 0, 25
(mol). Bảo toàn NT (N) ta tính được số mol Fe(NO 3)2 = HNO3
=
2
2
= 0,225. Vậy : 0,25m/56 = 0,225 ⇒ m = 50,4 gam. Chọn đáp án D.
* Phân tích sai lầm của HS
- HS bỏ qua phản ứng của Fe khử Fe3+ về Fe2+ : Fe + 2Fe3+ → 3Fe2+
Vì thế cho rằng trong dung dịch chỉ có muối Fe(NO3)3 với số mol là : 0,25m/56.
n HNO3 − n khí 0,7 − 0,25
=
= 0,15
Bảo toàn NT (N) tính được số mol Fe(NO3)3 =
3
3
Vậy : 0,25m/56 = 0,15 ⇒ m = 33,6 gam. Chọn đáp án C.
Ví dụ 2 : Cho hỗn hợp gồm 9,6 gam Cu và 5,6 gam Fe vào dung dịch HNO 3
phản ứng xảy ra hoàn toàn thu được 3,136 lít NO là sản phẩm khử duy nhất và
còn lại m gam chất không tan. Hãy tính giá trị của m?
* Cách giải đúng
Gọi M công thức chung của kim loại Cu, Fe tham gia phản ứng
nCu = 0,15 (mol) ; nFe = 0,1 (mol) ; nNO = 0,14 (mol)
Do còn có chất rắn dư (Cu) nên Fe 3+ bị khử về sản phẩm cuối cùng Fe 2+
trong dung dịch có các ion Cu2+, Fe2+ nên:
0
+2
Quá trình nhường electron:
M → M + 2e
0,21 ← 0,42 mol
+5
+2
Quá trình nhận electron:
N + 3e → N O
0,42 ← 0,14 mol
Áp dụng định luật bảo toàn electron, ta có: n e nhường = n e nhận
Theo phương trình thì tổng số mol của kim loại còn dư là:
n = (0,15 + 0,1) – 0,21 = 0,04 (mol) ⇒ m = 0,04 × 64 = 2,56 (g)
* Phân tích sai lầm của HS
7
nCu = 0,15 (mol) ; nFe = 0,1 (mol) ; nNO = 0,14 (mol)
Phương trình hóa học:
Fe + 4HNO3 → Fe(NO3)3 + NO + 2H2O
0,14 mol
←
0,14 mol
→
3Cu + 8HNO3
3Cu(NO3)2 + 2NO + 4H2O
0,21 mol
←
0,14 mol
nkim loại = nCu + nFe = 0,21 + 0,14 = 0,35 > nkim loại ban đầu = 0,25 (mol)
Nhận xét: Khi giải đến đây HS sẽ lúng túng không biết giải quyết tiếp như
thế nào và dừng lại. Vì HS đã bỏ qua quá trình:
2Fe3+ + Fe (dư) → 3Fe2+
2Fe3+ + Cu (dư) → Fe2+ + Cu2+
Ví dụ 3 : Cho 61,2 gam hỗn hợp X gồm Cu và Fe 3O4 tác dụng với HNO3 đun
nóng và khuấy đều. Sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được 3,36 lít khí NO
là sản phẩm khử duy nhất (đktc), dung dịch Y và 2,4 gam kim loại . Cô cạn Y
thu được m gam muối khan. Tìm giá trị của m?
* Cách giải đúng
nNO = 0,15 (mol)
Gọi x, y lần lượt là số mol Cu và Fe3O4 phản ứng
Do sản phẩm còn kim loại dư Cu nên Cu đã khử Fe3+ về Fe2+
0
+2
Quá trình nhường electron:
Cu → Cu + 2e
x → 2x
Fe3O 4 + 8H + + 2e → 3Fe 2+ + 4H 2O
Quá trình nhận electron:
y →
2y
+5
+2
N + 3e → N O
0,45←0,15 mol
Theo định luật bảo toàn electron, ta có: 2x = 2y + 0,45 (1)
Theo định luật bảo toàn khối lượng ta có: mX = 64x + 232y + 2,4 = 61,2 (2)
Từ (1) và (2) ta được hệ phương trình:
2x − 2y = 0,45
x = 0,375
⇒
64x + 232y = 58,8 y = 0,15
m = 0,375.188 + 3.0,15.180 = 151,5 (g)
* Phân tích sai lầm của HS
nNO = 0,15 (mol)
Phương trình hóa học xảy ra:
3Cu + 8HNO3 → 3Cu(NO3)2 + 2NO + 4H2O
x
→
x
→
2x/3
→
3Fe3O4 + 28HNO3
9Fe(NO3)3 + NO + 14H2O
y
→
3y
→ y/3
Khối lượng hỗn hợp phản ứng là: m = 61,2 – 2,4 = 58,8 (g)
2
Trong mục 2.3.2 dạng 2 : Ví dụ 1 được tham khảo từ TLTK số 8 ; Ví dụ 2 được tham khảo từ
TLTK số 7 ; Ví dụ 3 là “của” tác giả.
8
Gọi x, y lần lượt là số mol Cu và Fe3O4 phản ứng
Ta được hệ phương trình:
2x + y = 0,45
x = 0,114
⇒
64x + 232y = 58,8 y = 0,222
m = 0,114.188 + 0,222.3.242 = 182,604 (g)
Nhận xét: HS sẽ gặp khó khăn khi cân bằng phản ứng oxi hóa khử, vì hệ số
cân bằng ảnh hưởng đến kết quả tính toán. Và HS bỏ xót chất rắn còn dư có thể
khử Fe3+ về Fe2+ xảy ra theo quá trình: 2Fe 3+ + Cu (dư) → Fe2+ + Cu2+ dẫn đến
kết quả tính toán sai.
Dạng 3. Sai lầm ở các bài toán axit HNO 3 tác dụng với các kim loại hoạt động
mạnh
Sản phẩm khử của HNO3 hầu hết là chất khí vì vậy học sinh thường bỏ
sót trường hợp sản phẩm khử là muối NH4+.
Ví dụ 1: Cho 2,16 gam Mg tác dụng với dung dịch HNO3 (dư). Sau khi phản
ứng xảy ra hoàn toàn thu được 0,896 lít khí NO (đktc) và dung dịch X. Khối
lượng muối khan thu được khi làm bay hơi dung dịch X là
A. 13,92 gam.
B. 8,88 gam.
C. 13,32 gam.
D. 6,52 gam.
* Cách giải đúng
Ta thấy số mol electron của Mg nhường là 0,18 mol.
+5
Số mol electron nhận của N về (NO) là 0,12 mol ≠ 0,18 mol.
Vậy trong dung dịch X phải có muối NH4NO3 (x mol).
+5
−3
N + 8e → N (NH4NO3)
8x ← x
Ta có : 0,18 = 0,12 + 8x ⇒ x = 0,0075 mol
⇒ mmuối = m Mg( NO3 )2 + m NH 4 NO3 = 0,09.148 + 0,0075.80 = 13,92 gam.
Chọn đáp án A.
* Phân tích sai lầm của HS
Học sinh cho rằng chỉ có khí NO là sản phẩm khử nên bỏ qua sản phẩm
khử NH4NO3.
⇒ mmuối = m Mg( NO3 )2 = 0,09.148 = 13,32 gam. Chọn đáp án C.
Ví dụ 2 : Cho 3,48 gam bột Mg tan hết trong dung dịch hỗn hợp gồm HCl (dư)
và KNO3, thu được dung dịch X chứa m gam muối và 0,56 lít (đktc) hỗn hợp khí
Y gồm N2 và H2. Khí Y có tỉ khối so với H2 bằng 11,4. Giá trị của m là
A. 16,085.
B. 14,485.
C. 18,300.
D. 18,035.
* Cách giải đúng
Ta tính được số mol N2 = 0,02; số mol H2 = 0,005.
Ta thấy số mol electron nhường của Mg là 2.(3,48/24) = 0,29 mol ; còn số mol
+5
electron nhận của N là 10.0,02 = 0,2 và số mol electron nhận của H+ là 2.0,005
3
Trong mục 2.3.2 dạng 3 : Ví dụ 1 và 2 được tham khảo từ TLTK số 8.
9
= 0,01 ⇒ (0,2 + 0,01) < 0,29 ⇒ phải có muối NH4+.
Vậy số mol NH4+ = (0,29 - 0,21)/8 = 0,01.
Các muối trong dung dịch là : MgCl2 ; KCl và NH4Cl trong đó ion Mg2+ là 0,145
mol ; K+ là 0,02.2 + 0,01 = 0,05 mol (vì n K + = n KNO3 = 2.n N 2 + n NH+4 (bảo toàn N));
NH4+ là 0,01 mol và Cl-(muối) là 0,145.2 + 0,01.1 + 0,05.1 = 0,35 mol (bảo toàn
điện tích trong dung dịch)
Khối lượng muối thu được là m = 3,48 + 0,01.18 + 0,05.39 + 0,35.35,5 = 18,035
gam. Chọn đáp án D.
* Phân tích sai lầm của HS
HS không phát hiện ra trong dung dịch còn có NH 4+ do đó sẽ cho rằng
muối thu được là MgCl2 và KCl, từ đó HS không tìm ra kết quả đúng.
Dạng 4. Sai lầm trong các bài tập về phản ứng nhiệt phân mưối nitrat
Quá trình nhiệt phân của muối nitrat sinh ra các sản phẩm khác nhau tùy
thuộc vào mức độ hoạt động của các kim loại trong muối. Vì vậy HS thường
không chú ý, xác định sản phẩm phản ứng sai dẫn đến viết và cân bằng PTHH
không đúng và tính toán sai.
Ví dụ 1: Nung 27,25 gam hỗn hợp các muối NaNO3 và Cu(NO3)2 khan, người ta
được một hỗn hợp khí A. Dẫn toàn bộ khí A vào 89,2 ml nước thì thấy có 1,12 lít
khí (đktc) không bị hấp thụ.
a. Xác định % khối lượng hỗn hợp.
b. Tính nồng độ phần trăm dung dịch tạo thành.
* Cách giải đúng
a. Phương trình hóa học:
t
2NaNO3
2NaNO2 + O2
(1)
→
x
→
x
→
0,5x mol
t
2Cu(NO3)2 →
2CuO + 4NO2 + O2
(2)
y
→
y
→
2y
→ 0,5y mol
4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3
(3)
2y
→
0,5y mol
→
2y
Như các phương trình (1), (2), (3) ở trên
Số mol khí thoát ra chính là số mol O2 còn dư sau phản ứng (3)
Theo phương trình phản ứng (3) ta có: 0,5(x + y) - 0,5y = 0,05 (mol)
Vậy số mol của NaNO3 = x = 0,05.2 = 0,1 (mol)
0,1 × 85 × 100
%m NaNO =
= 31,19 (%) ; %m Cu ( NO ) = 100% − 31,19% = 68,81 (%)
27,25
b. Ta có:
27,25 − 8,5
n HNO = 2n Cu ( NO ) = 2 ×
≈ 0,2(mol)
188
m HNO = 0,2 × 63 = 12,6(g)
o
o
3 2
3
3
3 2
3
Ta lại có: m ddHNO = m H O + m HNO = 89,2 + 12,6 = 101,8 (g)
3
2
3
10
C% =
12,6 × 100%
= 12,38 (%)
101,8
* Phân tích sai lầm của HS
Gọi x, y lần lượt là số mol của NaNO3 và Cu(NO3)2
a. Phương trình hóa học:
t
2NaNO3
2NaNO2 + O2 (1)
→
x
→
x
→
0,5x mol
t
2Cu(NO3)2 →
2CuO + 4NO2 + O2 (2)
y
→
y
→
2y → 0,5y mol
4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3
(3)
2y
→
0,5 y mol
→
2y
85x + 188y = 27,25 x = 0,1
⇒
Ta có hệ phương trình :
0,5y = 0,05
y = 0,1
0,1 × 85 × 100
%m NaNO =
= 31,19 (%)
27,25
%m Cu ( NO ) = 100% − 31,19% = 68,81 (%)
b. n HNO3 = 2y = 2×0,1 = 0,2 (mol)
m HNO = 0,2 × 63 = 12,6 (g) ; m ddHNO = m H O + m HNO = 89,2 + 12,6 = 101,8 (g)
12,6 × 100%
C% =
= 12,38 (%)
101,8
o
o
3
3 2
3
3
2
3
Nhận xét: HS thường mắc sai lầm: chưa đọc và phân tích kĩ đề bài nên
chưa xác định được khí không bị hấp thụ là O2 ở phản ứng (3).
Ví dụ 2 : Nung 6,58 gam Cu(NO3)2 trong bình kín không chứa không khí sau
một thời gian thu được 4,96 gam hỗn hợp rắn và hỗn hợp khí X. Hấp thụ hoàn
toàn hỗn hợp X vào nước được 300ml dung dịch Y. Tìm pH của dung dịch Y.
* Cách giải đúng
mrắn giảm = 6,58 – 4,96 = 1,62 (g)
Gọi x là số mol Cu(NO3)2 phản ứng
Phương trình phản ứng:
t
2Cu(NO3)2
→ 2CuO + 4NO2 + O2
x mol →
x mol → 2x mol → 0,5x mol
mrắn giảm = m NO2 + mO2 = 2x.46 + 0,5x.32 = 108x = 1,62
⇒ x = 0,015 ⇒ n NO = 2x = 0,03(mol)
o
2
4NO2
0,03
CM
HNO3
+
O2 + 2H2O → 4HNO3
→
0,03
n
0,03
=
=
= 0,1 (M) ⇒ pH = - lg[H+] = - lg [10-1] = 1
Vdd
0,3
Chú ý : Với dạng BT nhiệt phân muối đồng nitrat Cu(NO 3)2 tương tự như
trên HS còn có suy luận sai lầm: cho là khối lượng chất giảm đi trong khi nhiệt
11
phân là khối lượng CuO tạo thành.
* Phân tích sai lầm của HS
n Cu ( NO ) = 0,035 (mol)
3 2
Gọi x là số mol Cu(NO3)2 phản ứng
Phương trình hóa học của các phản ứng:
t
2Cu(NO3)2
2CuO + 4NO2 ↑ + O2 ↑
→
x mol →
x mol → 2x mol → 0,5x mol
4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3
2x mol →
2x mol
Mhh rắn = mCuO + m Cu ( NO3 )2du = 80x + (0,035 – x)188 = 4,96
⇔ 80x + 65,8 – 188x = 4,96 ⇔ 108x = 60,84 ⇒ x = 0,56
n HNO = 2x = 2 × 0,56 = 1,12 (mol) ⇒ CM = 3,73 (M)
o
3
⇒ pH = - lg[H ] = - lg [3,73] = -0,57
HNO3
+
Nhận xét : HS thường mắc sai lầm trong phân tích đề bài nên đã xác định
hỗn hợp rắn thu được gồm CuO và Cu(NO 3)2 dư nên dẫn đến giá trị pH < 0. Từ
đây nếu HS xác định được sai lầm này và giải tiếp với trường hợp không dư
muối đồng thì sẽ tìm ra kết quả.
Ví dụ 3 : Nhiệt phân 9,4 gam một muối nitrat của kim loại M đến khi phản ứng
xảy ra hoàn toàn, chất rắn còn lại cân nặng 4 gam. Xác định công thức hóa học
của muối nitrat.
* Cách giải đúng
Vì không biết kim loại có mức độ hoạt động thế nào nên chưa biết được sản
phẩm nhiệt phân muối nitrat của chúng, ta phải biện luận đủ ba trường hợp sau:
Trường hợp 1: M là kim loại trước Mg hóa trị n (với n, M nguyên dương), ta có
PTHH của phản ứng:
t
2R(NO3)n
(1)
→ 2R(NO2)n + nO2
m M ( NO )
M + 62n 9,4
=
=
Từ (1) và bài cho:
m M ( NO ) M + 46n
4
o
3 n
2 n
184,4
n
5,4
(loại vì không thỏa mãn điều kiện n và M).
4(M + 62n) = 9,4(M + 46n) ⇒ M = −
Trường hợp 2: M là kim loại từ Mg đến Cu có hóa trị n, ta có PTHH của phản
ứng:
2R(NO3)n
o
t
→
Từ (2) và bài cho:
R2On + 2nNO2 +
m M ( NO )
3 n
mM O
2
n
=
n
O2
2
(2)
2(M + 62n) 9,4
=
2M + 16n
4
4
Trong mục 2.3.2 dạng 4 : Ví dụ 1 được tham khảo từ TLTK số 7 ; Ví dụ 2 được tham khảo từ
TLTK số 8 ; Ví dụ 3 là “của” tác giả.
12
⇔ 2.4.(M + 62n) = 9,4.(2M + 16n) ⇒ M =
345,6
n = 32n
10,8
n
M
1
2
3
32
64
96
Loại
Nhận
Loại
Vậy n = 2, M = 64 là phù hợp. M là kim loại Cu, muối có công thức là Cu(NO3)2
Trường hợp 3: M là kim loại sau Cu có hóa trị n, ta có phương trình phản ứng:
t
4R(NO3)n
→ 4R + 4nNO2 + 2nO2
m M ( NO ) (M + 62n) 9,4
=
=
Từ (2) và bài cho:
mM
M
4
248
⇔ 4(M + 62n) = 9,4.M ⇒ M =
n = 45,926n
5,4
Cho n lần lượt các giá trị 1, 2, 3 không có kim loại nào thỏa mãn. Vậy loại
trường hợp này. Vậy muối là đồng (II) nitrat: Cu(NO3)2
o
3 n
* Phân tích sai lầm của HS
Với BT này HS thường mắc sai lầm:
- Không viết được công thức tổng quát của muối nitrat nên không viết được
PTHH của phản ứng nhiệt phân dạng tổng quát.
- Không xác định được trường hợp nhiệt phân các muối nitrat của các kim loại
có mức độ hoạt động khác nhau nên có trường hợp đúng, không đúng nên bài
toán không được biện luận chặt chẽ.
Dạng 5. Sai lầm khi giải bài tập về phản ứng của NH 3 với dung dịch muối
của kim loại có khả năng tạo phức
Khi giải BT dạng này HS thường chỉ chú ý đến tính bazơ của dung dịch
NH3, bỏ qua tính chất có khả năng tạo phức của NH3 với một số ion kim loại.
Do đó thường không viết được PTHH hoặc bỏ xót phản ứng và PTHH.
Ví dụ 1 : Hòa tan hoàn toàn 1,23 gam hỗn hợp X gồm Cu và Al vào dung dịch
HNO3 đặc, nóng thu được 1,344 lít khí NO 2 (sản phẩm khử duy nhất, ở đktc) và
dung dịch Y. Sục từ từ khí NH3 (dư) vào dung dịch Y, sau khi phản ứng xảy ra
hoàn toàn thu được m gam kết tủa. Tính % về khối lượng của Cu trong hỗn hợp
X và giá trị của m.
* Cách giải đúng
Các bán phản ứng xảy ra:
+3
Al → Al + 3e
x → 3x
+5
+2
Cu → Cu + 2e
y →
2y
+4
N + 1e → N O 2
0,06 ← 0,06
Áp dụng định luật bảo toàn electron ta được: 3x + 2y = 0,06 (1)
Ta lại có: 27x + 64y = 1,23 (2)
13
3x + 2y = 0,06
x = 0,01
⇒
Giải hệ phương trình (1) và (2) ta được:
27x + 64y = 1,23 y = 0,015
Dung dịch Y gồm có: Al3+ 0,01 mol; Cu2+ = 0,015 mol.
Phản ứng của dung dịch Y với dung dịch NH3:
Al3+ + 3NH3 + 3H2O → Al(OH)3↓ + 3NH4+
0,01
→
0,01
2+
Cu
+ 2NH3 + 2H2O → Cu(OH)2↓ + 2NH4+
0,015
→
0,015
Do NH3 dư nên Cu(OH)2 tan hết kết tủa chỉ là Al(OH)3
Cu(OH)2 + 4NH3 → [Cu(NH3)4](OH)2
n Al(OH)3 = nAl = 0,01 (mol) ⇒ m Al(OH)3 = 0,01 × 78 = 0,78 (g)
mAl = 0,01 × 27 = 0,27 (g) ⇒ mCu = mhh - mAl = 1,23 - 0,27 = 0,96 (g)
0,96 × 100
%Cu =
= 78,05(%)
1, 23
m↓ < m Cu (OH)2 + m Al(OH)3 = 0,015 × 98 + 0,01× 78 = 2,25 (g)
* Phân tích sai lầm của HS
VNO =
2
1,344
= 0,06(mol)
22,4
Gọi x, y lần lượt là số mol của Cu và Al
Phương trình hóa học:
Cu + 4HNO3 → Cu(NO3)2 + 2NO2 + 2H2O (1)
x
→
x
→
2x
Al + 6HNO3 → Al(NO3)3 + 3NO2 + 3H2O (2)
y
→
y
→
3y
Cu(NO3)2 + 2 NH3 + 2H2O → Cu(OH)2 + 2NH4NO3 (3)
x
→
x
Al(NO3)3 + 3NH3 + 3H2O → Al(OH)3 + 3NH4NO3
(4)
y
→
y
64x + 27y = 1,23 x = 0,015
⇒
Từ (1) và (2) ta có hệ:
2x
+
3y
=
0,06
y = 0,01
0,015 × 64 × 100
= 78,05 (%)
1,23
m↓ = mCu (OH) + m Al(OH) = 0,015 × 98 + 0,01× 78 = 2,25 (g)
%m Cu =
2
3
Nhận xét: HS bỏ qua khả năng tạo phức của hidroxit đồng với amoniac
dẫn đến kết quả sai.
5
Trong mục 2.3.2 dạng 5 : Ví dụ 1 được tham khảo từ TLTK số 8.
14
Dạng 6. Sai lầm của HS khi giải bài tập về sự tương tác của H 3PO4 (hoặc
P2O5) và CO2 tác dụng với dung dịch kiềm
Các axit đa chức như H3PO4, H2CO3, H2SO3... hoặc P2O5, CO2, SO2 ... tác
dụng với dung dịch kiềm như NaOH, KOH, Ca(OH)2, Ba(OH)2 …có sự tạo ra
các muối tan hoặc không tan khác nhau trong dung dịch. Từ hệ chất có các
dạng BT xác định các muối tạo thành (dạng tan hoặc không tan).
Với dạng BT này HS cần lưu ý phản ứng của axit đa chức với dung dịch
kiềm sẽ tạo ra các muối axit hoặc muối trung hòa nên cần xác định định đúng
sản phẩm muối tạo thành dựa vào tỉ lệ số mol của axit – bazơ trong hệ phản
ứng. Nếu HS không chú ý đến việc xác định tỉ lệ này sẽ dẫn đến các sai lầm
trong xác định muối tạo thành và kết quả tính toán theo yêu cầu đề bài.
Ví dụ 1: Cho 100ml dung dịch NaOH 1M vào 50ml dung dịch H 3PO4 1M. Tính
nồng độ mol của muối trong dung dịch thu được.
* Cách giải đúng
n H PO = 0,05 (mol)
3
4
n OH
T=
−
n H PO
3
=
4
0,1
0,05
;
n NaOH = 0,1 (mol)
=2
Vậy phản ứng chỉ tạo ra muối hiđrophotphat (HPO42-)
2NaOH + H3PO4 → Na2HPO4 +
2H2O
→
→
0,1
0,05
0,05
V = 150 (ml) = 0,15(l)
dd
n
0,05
CM
=
=
=
V
0,15 0,33 (M)
dd
Na 2 HPO 4
* Phân tích sai lầm của HS
Do HS không xác định tỉ lệ số mol NaOH và số mol H3PO4 để xác định
sản phẩm muối tạo ra từ đầu nên dẫn đến các sai lầm:
Viết PTHH của phản ứng trung hòa tạo muối NaH 2PO4. Theo PTHH này
tính ra nồng độ muối là 0,33M và dung dịch còn dư kiềm ⇒ Phản ứng chưa kết
thúc còn cần tính tiếp.
Viết PTHH của phản ứng tạo muối trung hòa Na 3PO4, tính theo PTHH
này xác định nồng độ muối bằng 0,22M và dung dịch còn dư axit ⇒ Phản ứng
cũng chưa kết thúc.
Ví dụ 2 : Thêm 21,3 gam P2O5 vào dung dịch chứa 16 gam NaOH, thể tích của
dung dịch sau đó là 400ml. Xác định nồng độ mol của các muối được tạo nên
trong dung dịch.
* Cách giải đúng
nP O =
2
5
m
M
=
21,3
14, 2
= 0,15 (mol)
P2O5 + H2O →
0,15 →
;
2H3PO4
0,3
15
1< T =
n OH
−
n H PO
3
=
4
0, 4
0,3
= 1,33 < 2
Vậy có 2 muối NaH2PO4 và Na2HPO4 sinh ra.
Gọi x, y lần lượt là số mol của NaH2PO4 và Na2HPO4
NaOH + H3PO4 → NaH2PO4 + H2O (1)
¬
x ¬
x
x
→
2NaOH + H3PO4
Na2HPO4 + 2H2O (2)
¬
¬
2y
y
y
x + 2y = 0, 4 x = 0, 2
⇒
Từ (1) và (2) ta có hệ:
x + y = 0,3
y = 0,1
CM
NaH 2 PO4
=
0, 2
0, 4
= 0,5 (M) và CM
Na 2 HPO 4
=
0,1
0, 4
= 0,25 (M)
* Phân tích sai lầm của HS
nP O =
m
=
21,3
= 0,15 (mol)
;
M 14, 2
n
0, 4
2 < T = OH =
= 2,67 < 3
n P O 0,15
2
5
n NaOH =
m
M
=
16
40
= 0, 4 (mol)
−
2
5
Vậy có 2 muối Na2HPO4 và Na3PO4 sinh ra.
Gọi x, y lần lượt là số mol của Na2HPO4 và Na3PO4
2NaOH + H3PO4 → Na2HPO4 + 2H2O (1)
¬
2x ¬
x
x
3NaOH + H3PO4 → Na3PO4 + 3H2O (2)
¬
3y ¬
y
y
2x + 3y = 0, 4 x = 0,5
⇒
Từ (1) và (2) ta có hệ:
x
+
y
=
0,3
y = −0, 2
Nhận xét: Như vậy HS mắc sai lầm ở chỗ:
HS xác định tỉ lệ số mol
n OH
n OH
chứ không xác định tỉ lệ số mol
do bỏ qua
n H PO
nP O
−
−
2 5
3
4
quá trình P2O5 + H2O → 2 H3PO4. Dẫn đến xác định sai loại muối tạo ra. HS
n OH
xác định tỉ lệ
khi tính toán lại viết PTHH của phản ứng giữa NaOH với
nP O
−
2
5
H3PO4. Vì vậy kết quả bài toán sẽ sai.
Ví dụ 3 : Cho 0,448 lít khí CO2 (ở đktc) hấp thụ hết vào 100ml dung dịch chứa
hỗn hợp NaOH 0,06M và Ba(OH)2 0,12M, thu được m gam kết tủa. Tính giá trị
của m.
* Cách giải đúng
6
Trong mục 2.3.2 dạng 6 : Ví dụ 1 và 2 được tham khảo từ TLTK số 3 ; Ví dụ 3 được tham khảo
từ TLTK số 8.
16
0, 448
n CO =
22, 4
2
= 0,02 (mol), n NaOH = n OH = 0,1 × 0,06 = 0,006 (mol)
−
n Ba (OH ) = n Ba = 0,1 × 0,12 = 0,012 (mol) ⇒ n OH = 2n Ba (OH ) = 0,024 (mol)
2
2+
−
∑ n OH = 0,006 + 0,024 = 0,03 (mol) ; 1 < T =
−
3
n OH
n CO
2
−
=
2
0,03
0,02
= 1,5 < 2
23
Vậy có 2 muối tạo thành là HCO và CO (muối Na2CO3 tan, BaCO3 không
tan).
Gọi x, y lần lượt là số mol của muối chứa ion CO32- và HCO32OH- + CO2 → CO32- + H2O (1)
¬ x
¬
2x
x
→
OH + CO2
HCO3(2)
¬
¬
y
y
y
x + y = 0,02
x = 0,01
⇒
Từ (1) và (2) ta có hệ:
2x + y = 0,03 y = 0,01
22+
→
CO3 + Ba
BaCO3
→
0,01
0,01
m BaCO = 0,01 × 197 = 1,97 (g)
3
* Phân tích sai lầm của HS
HS xác định sản phẩm chỉ là BaCO 3 kết tủa và dự kiến đưa vào số mol
CO2 tính lượng kết tủa.
HS bỏ qua quá trình tạo muối Ba(HCO 3)2 do không xác định tỉ lệ mol
nCO2 : nOH −
Tính theo phương trình phân tử, không sử dụng phương trình ion thu gọn
trong tính toán nên bài làm dài, hay nhằm lẫn trong các phép tính.
Với các sai lầm này HS thường tính ra giá trị m = 3,94 (g)
2.3.3. Khắc phục một số sai lầm thường gặp của HS khi giải một số dạng
bài tập hóa học phần kim loại lớp 12 - THPT
2.3.3.1. Cơ sở để khắc phục những sai lầm thường gặp của HS
- Căn cứ vào chuẩn kiến thức kĩ năng chương trình hóa học phổ thông.
- Căn cứ vào mục đích của quá trình dạy học.
- Căn cứ vào yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra
đánh giá.
- Căn cứ vào những sai lầm thường gặp của HS có thể mắc phải trong quá
trình giải bài tập hóa học THPT.
2.3.3.2. Các biện pháp khắc phục một số sai lầm thường gặp của HS khi giải
một số dạng bài tập hóa học vô cơ lớp 11 - THPT
* Những sai lầm ở trên xét cho cùng là do :
- HS nhớ kiến thức cơ bản không sâu sắc.
- Kỹ năng tính toán hóa học chưa tốt.
17
* Để khắc phục điều này, trước tiên GV cần hướng dẫn HS nắm chắc các
cơ sở lý thuyết của từng dạng bài tập hóa học, sau đó vận dụng các biện pháp
sau đây để khắc phục những sai lầm.
2.3.3.2.1. Tăng cường lý thuyết theo các mức độ khác nhau
* Mức độ nhận biết
Ví dụ : Dung dịch nào sau đây có thể tác dụng với dung dịch NH 3 dư để tạo kết
tủa?
A. AlCl3
B. CuCl2
C. Ag NO3
D. NaOH
Phân tích : Ví dụ này chỉ yêu cầu HS nhớ được dung dịch AlCl 3 có thể tác dụng
với dung dịch NH3 dư để tạo kết tủa .
* Mức độ thông hiểu
Ví dụ : Có bao nhiêu chất trong số 4 chất : AgNO3, Fe(NO3)2, Fe(NO3)3,
Cu(NO3)2 có thể tác dụng được với dung dịch HCl ?
A. 1
B. 2
C. 3
D. 4
Phân tích : HS phải biết được điều kiện để xảy ra phản ứng trao đổi ion, biết
được tính oxi hóa của ion NO3- trong môi trường H+. Từ đó sẽ tìm ra 2 chất có
thể tác dụng được với dung dịch HCl là AgNO3 và Fe(NO3)2.
* Mức độ vận dụng
Ví dụ : Cho Mg tác dụng vừa đủ với dung dịch HNO3, sau phản ứng thu được
dung dịch X và không thấy khí thoát ra. Cho dung dịch NaOH dư vào dung dịch
X đồng thời đun nhẹ thấy có khí Y thoát ra. Khí Y là
A. NO.
B. NH3.
C. NO2.
D. O2.
Phân tích : HS phải đọc kĩ đề và phân tích phản ứng giữa Mg với dung dịch
HNO3 là phản ứng oxi hóa - khử nên sẽ có sản phẩm khử là các chất khí của nitơ
hoặc có NH4NO3 nằm trong dung dịch. Từ đây HS sẽ tìm ra trong dung dịch X
có NH4NO3 và Mg(NO3)2. Khi cho dung dịch NaOH vào sẽ có phản ứng giữa
NaOH với NH4NO3 tạo ra khí Y là NH3.
* Mức độ vận dụng cao
Ví dụ : Cho bột Fe vào dung dịch hỗn hợp NaNO 3 và H2SO4 loãng, sau phản
ứng hoàn toàn thu được dung dịch A, hỗn hợp khí X gồm NO và H 2 (không còn
sản phẩm khử khác) và chất rắn không tan. Dung dịch A có chứa :
A. FeSO4, Na2SO4.
B. FeSO4, Fe(NO3)2, Na2SO4, NaNO3.
C. FeSO4, Fe(NO3)2, Na2SO4.
D. FeSO4, Fe2(SO4)3, Na2SO4, NaNO3.
Phân tích : HS phải biết một lượng kiến thức tổng hợp các vấn đề đã học từ
phần vô cơ lớp 11 đó là tính chất của NO3- trong môi trường axit và các phản
ứng Fe + 2Fe3+ → 3Fe2+ (đã được GV cung cấp từ cấp THCS).
7
Trong mục 2.3.3.2.1 : Các ví dụ là “của” tác giả.
18
Thứ tự các phản ứng :
2Fe + 8H+ + 2NO3- → 3Fe2+ + 2NO↑ + 4H2O
(1)
+
2+
Fe + 2H → Fe + H2↑
(2)
+
Sau (1) NO3 hết, Fe tác dụng với H dư nên toàn bộ NO3 chuyển thành NO.
2.3.3.2.2. Rèn luyện kỹ năng tính toán hóa học
Để rèn luyện kỹ năng tính toán hóa học cần :
- Trang bị cho HS một số phương pháp giải nhanh toán hóa học.
- Sau khi trang bị cho HS một số phương pháp giải nhanh bài tập hóa
học thì cần phải phân dạng được các bài tập hóa học theo từng phương pháp đó
và hướng dẫn HS giải bài tập.
2.4. Hiệu quả trong việc triển khai đề tài
Việc triển khai đề tài này được tiến hành trên 03 lớp thuộc trường THPT 4
Thọ Xuân, đó là :
- Lớp dạy 11A5 (học ban cơ bản A)
- Lớp dạy 11A1, 11A2 (học ban cơ bản)
* Kết quả đạt được
- Về mặt định tính :
Khi tôi áp dụng đề tài này vào các lớp, HS học sôi nổi, hứng thú tham gia
vào các hoạt động học tập và nắm vững kiến thức hơn, vận dụng vào giải quyết
vấn đề nhanh hơn, tránh được những sai lầm không đáng có.
Khi dạy học có phân tích sửa chữa và sử dụng các biện pháp khắc phục
những sai lầm có tác dụng giúp HS tránh mắc phải “bẩy” mà đề bài thường ra.
- Về mặt định lượng :
Kết quả điều tra trên các lớp 11A 1, 11A2, 11A5 ở trường THPT 4 Thọ
Xuân năm học 2016 - 2017 như sau :
TT Lớp
Sĩ
số
1
2
3
40
38
37
11A5
11A1
11A2
Khi chưa thực
hiện đề tài
Không
Hiểu
hiểu
35,5%
64,5%
55,3%
44,7%
80,8%
19,2%
Khi thực hiện
đề tài
Không
Hiểu
hiểu
3,8%
96,2%
12,4%
87,6%
20,7%
79,3%
Ghi chú
Học ban cơ bản A
Học ban cơ bản
Học ban cơ bản
Khi tôi áp dụng đề tài này vào dạy cho các lớp thì chất lượng HS đều
được nâng lên rõ rệt, thể hiện : tỉ lệ phần trăm hiểu bài cao hơn nhiều so với khi
chưa áp dụng đề tài.
Từ kết quả trên cho phép tôi nhận định rằng việc áp dụng đề tài vào giảng
dạy cho HS đã đạt hiệu quả cao, phù hợp đối với HS trong quá trình giảng dạy.
Điều này phản ánh được tính cấp thiết cho đề tài mà tôi lựa chọn, xây dựng.
19
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Đề tài “Phân tích và khắc phục những sai lầm thường gặp của HS khi giải
một số dạng bài tập hóa học vô cơ lớp 11 - THPT” đã :
- Tổng quan được cơ sở lý luận về sai lầm, sai lầm thường gặp của HS khi
giải một số dạng bài tập hóa học vô cơ lớp 11 - THPT.
- Nghiên cứu lý luận về bài tập hóa học, sử dụng bài tập hóa học ở trường
THPT.
- Đã phân tích được những sai lầm thường gặp của HS khi giải một số
dạng bài tập hóa học vô cơ lớp 11 - THPT.
- Đã đề xuất được 2 biện pháp khắc phục những sai lầm thường gặp của
HS khi giải một số dạng bài tập hóa học vô cơ lớp 11 - THPT.
- Kết quả của việc triển khai đề tài cho thấy tính khả thi của đề tài, là tài
liệu tham khảo tốt cho HS ở trường THPT.
3.2. Kiến nghị
Đề tài khá rộng và tương đối khó, vì vậy cần nhiều thời gian, công sức để
nghiên cứu bổ sung và phát triển thêm. Sau đây tôi xin đề xuất một số hướng
phát triển của đề tài :
- Nghiên cứu đầy đủ và quy mô hơn về hệ thống các sai lầm của sai lầm
của HS trong môn hóa học.
- Nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện các biện pháp khắc phục những sai lầm
của HS trong quá trình giải bài tập hóa học một cách chi tiết, cụ thể, sâu sắc hơn.
Đề tài này theo tôi là hết sức quan trọng và cấp thiết, vì nó xuất phát từ
nhu cầu thực tiễn của việc dạy và học. Vì vậy tôi cho rằng nên có nhiều các đề
tài nghiên cứu theo hướng này. Những đề tài nghiên cứu có tính giá trị nên được
trao đổi và phổ biến rộng rãi hơn.
Bước đầu nghiên cứu một đề tài mới với một thời gian ngắn chắc chắn
không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Tôi rất mong sự góp ý, xây dựng
của các đồng nghiệp quan tâm đến đề tài này.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 18 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
(ký và ghi rõ họ tên)
Phạm Văn Vĩnh
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Ngọc Quang (2004), Lí luận dạy học. Nxb Giáo dục.
2. Nguyễn Cảnh Toàn (2004), Học và dạy cách học. Nxb Đại học Sư
phạm.
3. Các tạp chí Hóa học và ứng dụng của hội hóa học Việt Nam.
4. Huỳnh Thị Thu Vỹ (2010), “Một số dạng toán học sinh thường lúng
túng và mắc sai lầm khi giải”.
5. Hoàng Thị Bắc, Đặng Thị Oanh (2008), 10 phương pháp giải nhanh
bài tập trắc nghiệm hóa học. Nxb Giáo dục.
6. Nguyễn Xuân Trường (2005), Phương pháp dạy học hóa học ở
trường phổ thông. Nxb Giáo dục.
7. Nguyễn Thị Sửu, Trần Trung Ninh, Nguyễn Thị Kim Thành (2009),
Trắc nghiệm chọn lọc hóa học THPT. Nxb Giáo dục.
8. Các đề thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng của Bộ GD&ĐT từ năm 2007
đến nay.
MỘT SỐ KÍ HIỆU DÙNG TRONG ĐỀ TÀI
PPDH
TNKQ
THPT
PTHH
TLTK
BTNT
BTĐT
SGK
SBT
Nxb
HS
GV
BT
Phương pháp dạy học
Trắc nghiệm khách quan
Trung học phổ thông
Phương trình hóa học
Tài liệu tham khảo
Bảo toàn nguyên tố
Bảo toàn điện tích
Sách giáo khoa
Sách bài tập
Nhà xuất bản
Học sinh
Giáo viên
Bài tập
21
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Phạm Văn Vĩnh
Chức vụ và đơn vị công tác: TTCM - THPT 4 Thọ Xuân
Kết quả
Cấp đánh giá
đánh giá
xếp loại
TT
Tên đề tài SKKN
xếp loại
(Phòng, Sở,
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)
1. Giáo dục sử dụng năng lượng Sở GD & ĐT
B
tiết kiệm và hiệu quả cho học
sinh thông qua bài giảng Hóa
học THPT
2. Khắc phục một số sai lầm Sở GD & ĐT
C
thường gặp của học sinh khi
áp dụng các phương pháp
giải nhanh bài tập hóa học
THPT
3. Khắc phục một số sai lầm Sở GD & ĐT
C
thường gặp của học sinh khi
giải bài tập về dãy điện hóa
của kim loại xuất phát từ vị
trí của cặp oxi hóa - khử
Fe3+/Fe2+
4. Phân tích và khắc phục Sở GD & ĐT
C
những sai lầm thường gặp
của học sinh khi giải một số
dạng bài tập hóa học THPT
5. Phân tích và khắc phục Sở GD & ĐT
C
những sai lầm thường gặp
của học sinh khi giải một số
dạng bài tập hóa học phần
kim loại lớp 12 - THPT
Năm học
đánh giá xếp
loại
2011 -2012
2012 -2013
2013 -2014
2014 -2015
2015 -2016
22