Tải bản đầy đủ (.pdf) (105 trang)

Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường lâm sản ngoài gỗ tại huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (729.7 KB, 105 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỒNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
----------------------------------------

TRẦN QUỐC DƯƠNG

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
LÂM SẢN NGOÀI GỖ TẠI HUYỆN LẬP THẠCH
TỈNH VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỒNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

TRẦN QUỐC DƯƠNG

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
LÂM SẢN NGOÀI GỖ TẠI HUYỆN LẬP THẠCH
TỈNH VĨNH PHÚC

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.31.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM XUÂN PHƯƠNG

Hà Nội, 2011


1

MỞ ĐẦU
Rừng là bộ phận không thể thiếu của hệ sinh thái trái đất, là nguồn tài
nguyên vô cùng quý giá. Các sản phẩm từ rừng rất phong phú và đa dạng bao
gồm gỗ và lâm sản ngoài gỗ.
Hiện nay, Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) ngày càng được quan tâm chú ý
hơn không chỉ vì chúng có giá trị ngày càng cao trên thị trường mà còn do
con người nhận thức ngày một đầy đủ hơn về giá trị kinh tế cũng như giá trị
sinh thái của nó. Đặc biệt phát triển thị trường LSNG còn góp phần xóa đói
giảm nghèo, phát triển kinh tế cho đồng bào trung du, miền núi. LSNG có thể
khai thác một cách bển vững vì ít tác động đến tính ổn định của rừng, tăng
hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với rừng trồng, tăng thu nhập cho người sản
xuất. Để quản lý sử dụng bền vững tài nguyên rừng nhất thiết phải quan tâm
chú ý vấn đề phát triển kinh doanh LSNG. Kinh doanh LSNG có ưu thế là cần
ít vốn, chu kỳ kinh doanh ngắn, nhanh cho thu hồi vốn đầu tư, rất phù hợp với
đặc điểm khu dân cư trung du, miền núi. Thành công to lớn trong kinh doanh
buôn bán LSNG sẽ tạo thu nhập ổn định đời sống người dân vùng trung du,
miền núi, tăng thu nhập kinh tế quốc dân.
Huyện Lập Thạch là một huyện trung du, miền núi của tỉnh Vĩnh Phúc,
có tiềm năng về lao động, diện tích rừng sản xuất có LSNG tương đối lớn, việc
buôn bán LSNG đã hình thành thành từ lâu đời, cho đến nay đã hình thành
mạng lưới thu mua LSNG rất thuận lợi cho việc tiêu thụ LSNG của các hộ nông
dân trong huyện. Việc buôn bán LSNG đã hình thành tại các chợ nông thôn,

các đầu mối giao thông của Huyện. Tuy nhiên, cùng với quá trình chuyển sang
nền kinh tế thị trường ở nước ta, thị trường LSNG hầu như bị thả nổi, thiếu sự
điều tiết vĩ mô của Nhà nước, mang nhiều yếu tố tự phát và đang nảy sinh nhiều
vấn đề cần được nghiên cứu giải quyết. Với thực trạng trên, có hàng loạt câu hỏi
đang đặt ra, như: ai đang tham gia vào thị trường LSNG? Ai là người có lợi nhất


2

và ai là người chịu thiệt nhất khi tham gia vào thị trường?Làm thế nào đề tạo lập
và phát triển thị trường LSNG với cơ chế mềm dẻo, linh hoạt, đảm bảo hài hòa
lợi ích giữa người sản xuất, người buôn bán và người tiêu dùng LSNG”?... Để
trả lời một phần câu hỏi trên, Tôi đã nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải
pháp phát triển thị trường LSNG tại huyện Lập Thạch, Tỉnh Vĩnh Phúc”.


3

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về thị trường
1.1.1. Khái niệm về thị trường
Thị trường là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sản xuất
hàng hóa, ở đâu có sản xuất hàng hóa thì ở đó có thị trường. Thị trường là nơi
mua bán hàng hóa, là một quá trình trong đó người mua và người bán trao
đổi, tác động qua lại nhau để xác định giá cả và số lượng mua bán. Thị trường
là nơi diễn ra hoạt động mua bán bằng tiền trong một thời gian và không gian
nhất định.
Dưới góc độ Marketing, thị trường bao gồm tất cả những khách hàng
tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng

tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó. Người làm
Marketing coi tập hợp người mua thành thị trường. Thuật ngữ thị trường ở
đây ám chỉ nhóm khách hàng có nhu cầu và mong muốn nhất định, do đó có
thể được thỏa mãn bằng một sản phẩm hay dịch vụ cụ thể, họ có đặc điểm
giới tính hay tâm sinh lý nhất định, độ tuổi nhất định và ở một vùng cụ thể.
Từ cách hiểu thị trường dưới góc độ Marketing quy mô thị trường sẽ
tùy thuộc vào hai yếu tố: thứ nhất, số lượng người có cùng nhu cầu và mong
muốn; thứ hai, lượng thu nhập bằng tiền mà họ sẵn sàng chi trả để mua sắm
hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó. Như vậy quy mô thị
trường không phụ thuộc vào số lượng người đã mua hàng và cũng không phụ
thuộc vào số lượng người có nhu cầu và mong muốn khác nhau.[20]
1.1.2 Khái niệm về phát triển thị trường lâm sản
Dưới góc độ vi mô (góc độ của doanh nghiệp): phát triển thị trường
lâm sản có thể hiểu là phát triển các yếu tố cấu thành nên thị trường lâm sản


4

của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố thị trường đầu vào và các yếu tố thị
trường đầu ra.[20]
1.1.3. Vai trò và chức năng của thị trường
- Thị trường là yếu tố quyết định sự sống còn đối với hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế hàng hoá, mục đích của các nhà sản xuất hàng hoá
là sản xuất ra hàng hoá ra để bán, để thoả mãn nhu cầu của người khác. Vì
thế các doanh nghiệp không thể tồn tại một cách đơn lẻ mà mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh đều phải gắn với thị trường. Quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp diễn ra không ngừng theo chu kỳ mua nguyên vật
liệu, vật tư, thiết bị… trên thị trường đầu vào, tiến hành sản xuất ra sản phẩm,
sau đó bán chúng trên thị trường đầu ra. Doanh nghiệp chịu sự chi phối của

thị trường hay nói cách khác thị trường đã tác động và có ảnh hưởng quyết
định tới mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thị
trường càng mở rộng và phát triển thì lượng hàng hoá tiêu thụ được càng
nhiều và khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng cao
và ngược lại. Bởi thế còn thị trường thì còn sản xuất kinh doanh, mất thị
trường thì sản xuất kinh doanh bị đình trệ và các doanh nghiệp sẽ có nguy cơ
bị phá sản. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, có thể khẳng định rằng thị
trường có vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
- Thị trường điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá: Thị trường đóng
vai trò hướng dẫn sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Các nhà
sản xuất kinh doanh căn cứ vào cung cầu, giá cả thị trường để quyết định sản
xuất kinh doanh cái gì? Như thế nào ? và cho ai? Sản xuất kinh doanh đều
phải xuất phát từ nhu cầu của khách hàng và tìm mọi cách thoả mãn nhu cầu
đó chứ không phải xuất phát từ ý kiến chủ quan của mình. Bởi vì ngày nay
nền sản xuất đã phát triển đạt tới trình độ cao, hàng hoá và dịch vụ được cung


5

ứng ngày càng nhiều và tiêu thụ trở nên khó khăn hơn trước. Do đó, khách
hàng với nhu cầu có khả năng thanh toán của họ, bộ phận chủ yếu trong thị
trường của doanh nghiệp, sẽ dẫn dắt toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Thị trường tồn tại một cách khách quan nên từng doanh
nghiệp chỉ có thể tìm phương hướng hoạt động thích ứng với thị trường. Mỗi
doanh nghiệp phải trên cơ sở nhận biết nhu cầu của thị trường kết hợp với
khả năng của mình để đề ra chiến lược, kế hoạch và phương án kinh doanh
hợp lý nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và xã hội.
- Thị trường phản ánh thế và lực của doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp hoạt động trên thương trường đều có một vị thế
cạnh tranh nhất định. Thị phần ( phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm lĩnh

được ) phản ánh thế và lực của doanh nghiệp trên thương trường. Thị trường
mà doanh nghiệp chinh phục được càng lớn chứng tỏ khả năng thu hút khách
hàng càng mạnh, số lượng sản phẩm tiêu thụ được càng nhiều và do đó mà vị
thế của doanh nghiệp càng cao. Thị trường rộng giúp cho việc tiêu thụ thuận
lợi hơn dẫn tới doanh thu và lợi nhuận nhanh hơn, tạo điều kiện cho doanh
nghiệp tái đầu tư hiện đại hoá sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm, tăng thêm khả
năng chiếm lĩnh và mở rộng thị trường. Khi đó thế và lực của doanh nghiệp
cũng được củng cố và phát triển.[20]
1.1.4. Phân loại thị trường
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng có rất nhiều loại thị trường
mà doanh nghiệp cần tiếp cận. Việc nghiên cứu phân loại thị trường sẽ giúp
cho doanh nghiệp hiểu biết rõ về những đối tượng mà mình đang tiếp cận và
tham gia vào. [10]
Nếu phân loại thị trường theo các giai đoạn tạo nên sản phẩm, người ta
có thể chia thị trường thành hai loại: thị trường các yếu tố đầu vào của sản
xuất và thị trường sản phẩm.


6

Nếu phân loại thị trường căn cứ vào đặc điểm của hàng hóa tham gia
thị trường có thể chia thị trường thành:
+ Thị trường tư liệu sản xuất
+ Thị trường tiêu dùng
+ Thị trường vốn
+ Thị trường lao động
1.1.5. Phân loại kênh thị trường
Bản chất của kênh thị trường (Kênh Marketing)
Vấn đề tiêu thụ sản phẩm giữ vai trò quan trọng trong hoạt động kinh
doanh của mỗi doanh nghiệp. Hiên nay doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến

việc đưa ra thị trường sản phẩm gì với giá bao nhiêu mà còn đua sản phẩm ra
thị trường như thế nào? Đây chính là chức năng phân phối của Marketing.
Chức năng này được thực hiện thông qua mạng lưới kênh tiêu thụ sản phẩm
(Kênh Marketing) của doanh nghiệp.[10]
Có nhiều định nghĩa khác nhau đang tồn tại về Marketing. Trên quan
niệm ra quyết định quản lý Marketing ở các doanh nghiệp sản xuất thì kênh
Marketing được xem xét như là một trong những lĩnh vực quyết định chính
mà người quản lý Marketing phải làm: “ Vậy, kênh Marketing như là một tổ
chức các quan hệ bên ngoài để quản lý các hoạt động phân phối nhằm đạt các
mục tiêu của doanh nghiệp”.
Như vậy, xây dựng kênh phân phối sản phẩm chính là thiết lập các mối
quan hệ kinh tế nằm ở bên ngoài doanh nghiệp chứ không phải trong nội bộ
doanh nghiệp, Vì thề khi xây dựng kênh phân phối sản phẩm cho doanh
nghiệp phải phân tích môi trường kinh doanh sau đó căn cứ vào khả năng của
doanh nghiệp, đặc điểm tính chất của hàng hóa để quyết định lựa chọn loại
hình kênh phân phối sản phẩm.[10]
Phân loại Marketing


7

Dựa vào các căn cứ khác nhau người ta phân loại kênh thị trường thành
các loại sau
Căn cứ vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng người
ta phân chia kênh thị trường thành:
+ Kênh phân phối trực tiếp: tức là người sản xuất bán và phân phối trực
tiếp đến người tiêu dùng
+ Kênh phân phối gián tiếp: tức là sản phẩm từ người sản xuất đến
người tiêu dùng thông qua mạng lưới trung gian phân phối tiêu thụ.
Căn cứ vào số lượng các lực lượng trung gian tham gia trong kênh

người ta chia kênh thành kênh phân phối trung gian, kênh phân phối dài
+ Kênh phân phối một cấp
+ Kênh phân phối hai cấp
+ Kênh phân phối ba cấp
Người sản
xuất

Người sản
xuất

Người sản
xuất

Người sản
xuất

Đại lý

Người tiêu
dùng

Bán buôn

Bán buôn

Bán lẻ

Bán lẻ

Bán lẻ


Người tiêu
dùng

Người tiêu
dùng

Người tiêu
dùng

Hình 1.1. Sơ đồ các kênh phân phối sản phẩm
Kênh phân phối là tập hợp các doanh nghiệp với trung gian để tổ chức
vận chuyển hàng hoá, đưa hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng cuối


8

cùng nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu cho người tiêu dùng. Đối với các sản
phẩm là hàng tiêu dùng thông thường có kênh phân phối sau:
+ Kênh không cấp (kênh trực tiếp): Người tiêu dùng mua hàng trực tiếp
từ người sản xuất, giữa người sản xuất và người tiêu dùng không có khâu
trung gian.
+ Kênh một cấp (kênh ngắn): Hàng hoá từ người sản xuất được chuyển
đến cho người bán lẻ hoặc đại lý rồi mới đến tay người tiêu dùng.
+ Kênh nhiều cấp (kênh dài): Giữa người sản xuất và người tiêu dùng
có nhiều khấu trung gian. Như đại lý, người bán buôn, người bán lẻ…
Kênh phân phối phải thực hiện những chức năng cụ thể và cần thiết
sau:
+ Chức năng tìm hiểu và nắm vững thị trường mục tiêu để đề ra chiến
lược phân phối và vận động hàng hóa phù hợp

+ Tổ chức phân phối và vận động hàng hóa trên kênh sao thông suốt,
nhanh chóng, đúng địa điểm kịp thời gian, chi phí vận tải thấp nhất, tỷ lệ hao
hụt nhỏ nhất.
+ Thanh toán sòng phẳng, dứt khoát, nhanh gọn.
+ Chức năng thông tin trong kênh cần được tổ chức và duy trì thông
suốt
+ Chức năng hỗ trợ và xúc tiến được tiến hành thường xuyên
+ Chức năng thương lượng thỏa thuận hợp tác giữa các thành viên
trong kênh đảm bảo sự thông suốt
Các thành viên của kênh thị trường
Bao gồm những người tham gia được nối với nhau bởi các dòng chảy
đàm phán và sở hữu.
Người sản xuất (Người cung cấp): là người sản xuất trực tiếp, chế tạo
ra sản phẩm gồm nhiều loại thuộc nhiều loại hình kinh doanh như: công


9

nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp… Tồn tại dưới nhiều quy mô khác nhau
song họ có cùng mục đích là đưa ra những sản phẩm thỏa mãn và đáp ứng
nhu cầu thị trường.
Những người sản xuất thường không thuận lợi để phân phối sản phẩm
cả họ trực tiếp cho thị trường sử dụng cuối cùng. Vì họ thiếu kinh nghiệm và
quy mô hiệu quả để thực hiện tất cả các công việc phân phối sản phẩm cần
thiết. Vậy họ thường chuyển các công việc phân phối cho các thành viên khác
trong kênh.
Người trung gian thương mại: những người trung gian thương mại là
các doanh nghiệp độc lập hỗ trợ giúp người sản xuất và người tiêu dùng cuối
cùng trong việc thực hiện các chức năng đàm phán và các công việc phân
phối khác. Họ hoạt động ở hai cấp độ bán buôn và bán lẻ.

Những người trung gian bán buôn: bán buôn bao gồm các doanh
nghiệp có liên quan đến mua hàng bán cho người bán lại hoặc sử dụng kinh
doanh như những người bán lẻ, công ty sản xuất công nghiệp, tổ chức ngành
nghề, bao gồm:
Bán buôn hàng hóa: là các doanh nghiệp thương mại mua, sở hữu hàng
hóa, dự trữ và quản lý vật chất sản phẩm với số lượng tương đối lớn và bán lại
sản phẩm với số lượng nhở cho người bán lẻ sản xuất công nghiệp, thương
mại, các tổ chức nghề nghiệp hoặc cho người bán buôn khác. Tên gọi như là
người bán buôn, người phân phối, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà lắp ráp …
Đại lý, môi giới và bán buôn hàng hóa ăn hoa hồng: họ là các trung
gian độc lập, đảm nhiệm tất cả hoặc phần lớn công việc kinh doanh của họ.
Họ không sở hữu hàng hóa mà họ phân phối, nhưng họ có liên quan thật sự
đến các chức năng đảm nhiệm về mua bán trong khi hoạt động. Thu nhập của
họ dưới hình thức tiền hoa hồng trên doanh số bán hoặc khoản lệ phí nhất
định.


10

Các chi nhánh và đại diện bán của người sản xuất: được làm chủ và
quản lý hoạt động bởi người sản xuất nhưng được tách biệt về vật chất với các
doanh nghiệp sản xuất. Mục đích chủ yếu của họ tồn tại là phân phối các sản
phẩm của người sản xuất cho người bán buôn. Ngoài ra thực hiện chức năng
dự trữ, cung cấp các sản phẩm được đặt hàng từ người khác. Họ không phải
người bán buôn độc lập.
Trung gian thương mại bán lẻ: người bán lẻ bao gồm các doanh nghiệp
kinh doanh bán hàng hóa cho tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình và các dịch
vụ cho thuê bổ trợ phục vụ bán hàng hóa.
Người tiêu dùng cuối cùng: là những người sở hữu và sử dụng hàng
hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ. Họ trực tiếp mua từ nhà sản

xuất hay qua các trung gian thương mại trong kênh phân phối.
Các tổ chức bổ trợ: là công ty kinh doanh trợ giúp cho việc thực hiện
các công việc phân phối khác ngoài mua, bán và chuyển quyền sở hữu.
Các tổ chức vận tải: gồm tất cả công ty vận tải nói chung thực hiện các
dịch vụ vận tải như: đường sắt, ô tô, tàu thủy, hàng không …
Các công ty kho hàng: gồm tất cả các công ty kho công cộng, chuyên
môn hóa trong việc lưu kho hàng hóa trên cơ sở thu phí lưu kho.
Các đại lý quảng cáo: cung cấp cho các thành viên kênh dịch vụ phát
triển các chiến lược xúc tiến.
Các tổ chức hành chính: bao gồm các công ty tài chính, các tổ chức tiết
kiệm và cho vay, ngân hàng, các tổ chức chuyên môn hóa trong thanh toán.
Họ trợ giúp thành viên kênh về vốn, kinh nghiệm quản lý tài chính, giúp thực
hiện quá trình thanh toán dễ dàng.
Các tổ chức bảo hiểm: cung cấp cho người quản lý các kênh và các
thành viên kênh dịch vụ giảm bớt rủi ro.


11

Các công ty nghiên cứu thị trường: cung cấp cho người quản lý các
kênh thông tin nếu họ thiếu kỹ năng cần thiết để thu thập thông tin liên quan
đến phân phối. Cung cấp cho các thành viên kênh về phát triển các chiến lược
phân phối hiệu quả…[19]
1.2. Khái niệm và phân loại LSNG
1.2.1. Khái niệm LSNG
Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, ở Việt nam lâm sản được phân
chia thành hai loại:
- Lâm sản chính (principale richesse forestière) là những sản phẩm gỗ;
-Sản phẩm phụ của rừng hay lâm sản phụ (produit secondaire de la
forêt), bao gồm động vật và thực vật cho những sản phẩm ngoài gỗ. Từ 1961,

lâm sản phụ được coi trọng và được mang tên đặc sản rừng.
Ngày nay, trong Lâm nghiệp, thuật ngữ LSNG được dùng phổ biến,
chính thức thay cho thuật ngữ lâm sản phụ (minor forest product/ secondary
forest product). Định nghĩa của thuật ngữ này được thông qua trong Hội nghị
tư vấn lâm nghiệp Châu Á-Thái Bình Dương tại Băng Cốc, 5-8-1991: “LSNG
(Non-wood forest product) bao gồm những sản phẩm tái tạo được ngoài gỗ,
củi và than gỗ. LSNG được lấy từ rừng, đất rừng hoặc từ những cây thân gỗ”.
Do đó, không được coi là LSNG những sản phẩm như cát, đá, nước, dịch vụ
du lich sinh thái.
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay chúng ta có thể hiểu: “LSNG là các
sản phẩm có nguồn gốc sinh vật lấy từ rừng hoặc đất rừng (kể cả đất hoang
hóa) không bao gồm gỗ, củi, than gỗ và các sản phẩm không có nguồn gốc
sinh vật. LSNG bao gồm các loại tre, nứa, song mây, cây thuốc, cây lương
thực, thực phẩm, gia vị, tinh dầu, dầu béo, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhuộm,
cây cảnh, động vật hoang dã và các sản phẩm của chúng”.


12

1.2.2. Phân loại LSNG
Ở Việt Nam, khung phân loại LSNG đầu tiên được chính thức thừa
nhận bằng văn bản “Danh mục các loài đặc sản rừng được quản lý thống nhất
theo ngành”. Đây là văn bản kèm theo Nghị định số 160-HĐBT ngày
10/12/1984 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thống nhất
quản lý các đặc sản của rừng (nay gọi là LSNG).
Theo danh mục này đặc sản được chia làm hai nhóm lớn: hệ cây rừng
và hệ động vật. Mỗi nhóm lớn được chia thành nhiều nhóm phụ như sau:
a) Hệ cây rừng:
- Nhóm cây rừng cho nhựa, ta nanh, dầu và tinh dầu như thông, quế,
hồi, tràm, đước, vẹt, trám, bạch đàn, bồ đề …

- Nhóm cây rừng cho dược liệu như: ba kích, hà thủ ô, thảo quả …
- Nhóm cây rừng cho nguyên liệu làm các loại hàng tiểu thủ công và
mỹ nghệ như song mây, tre trúc, lá buông …
- Các sản phẩm công nghiệp được chế biến có nguồn gốc từ các loại
cây rừng như cánh kiến, dầu thông, tùng hương …
b) Hệ động vật
- Bao gồm cá nhóm động vật rừng cho da, lông, xương, ngà, thịt, xà,
mật, dược liệu như voi, hổ, báo, gấu, trâu rừng, hươu, nai, hoẵng, trăn, rắn, kỳ
đà, tắc kè, khỉ, vượn, nhím, ong rừng, các loài chim quý, các nhóm động vật
rừng đặc dụng khác …
- Các sản phẩm được chế biến từ nguyên liệu do các loại động vật trên
cung cấp.[12]
1.2.3. Nghiên cứu thị trường LSNG
Thị trường được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng trong quá trình
quản lý doanh nghiệp được hiểu như sau: Thị trường là tập hợp những khách


13

hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả
năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó.
Nghiên cứu thị trường là việc xác định các yếu tố trong thị trường sẽ tác
động tới doanh nghiệp khi tham gia sản xuất kinh doanh. Đó là thị trường cần
sản phẩm gì? Có đặc điểm như thế nào? hiện trạng về sản phẩm đó trên thị
trường như ra sao?
Kết quả của việc nghiên cứu thị trường sẽ giúp cho doanh nghiệp xác
định được hướng đi trong thời gian tới. Tuy nhiên công việc này nếu có
những sai lệch so với thực tế rất có thể đưa doanh nghiệp tới bờ vực phá sản.
Do vậy nghiên cứu thị trường đòi hỏi độ chính xác cao.
Trong thị trường LSNG của nước ta tuy phong phú nhưng rất manh

mún tản mạn, chỉ một số rất ít được chế biến công nghiệp chủ yếu để xuất
khẩu sản phẩm. Đối với những LSNG không phải là nguyên liệu của công
nghiệp, chỉ tiêu thụ trong nội bộ nhân dân, có hai cách tiêu thụ sản phẩm
LSNG:
- Nông dân tự mang sản phẩm đi bán tại các chợ.
- Bán cho các thương nhân là những người trung gian giữa thị trường và sản
xuât. Nông dân tự bán hàng ở các chợ thường gặp nhiều trở ngai: Thiếu thông
tin thị trường, không biết giá nên bị thua thiệt nhiều; đường sá vùng núi
không thuận tiện thậm chí không có đường và phương tiện chuyên chở.; Nếu
không bán được sản phẩm thì nhiều trường hợp phải huỷ bỏ sản phẩm nếu là
tươi sống. Tiêu thụ sản phẩm thông qua thương nhân , nông dân có thuận lợi
là không phải vận chuyển sản phẩm đi xa nhưng có nhiều thiệt thòi khi bán
hàng: thiếu thông tin thị trường, không biết giá nên dễ bị ép giá. Trong những
vùng không có đường sá thì thương nhân cũng không đến được. Trước đây,
khi mậu dịch quốc doanh còn đặt các trạm thu mua ở những vùng có LSNG,
nông dân thường không quan tâm lắm đến chất luợng sản phẩm nhưng ngày


14

nay các thương nhân phân biệt rất tỉ mỉ các chỉ tiêu phẩm chất. Điều đó cũng
gây khó khăn nhất định. Sản xuất LSNG phần lớn ở vùng sâu vùng xa cộng
với điều kiện thị trường không thuận tiện nên không phát triển được. Trong
trường hợp của những sản phẩm xuất khẩu thường xuyên các hộ sản xuất
trong hợp lại thuê phương tiện chở đến đầu mối xuất khẩu. Cách làm đó ở
Đầm hà do những người sản xuất Quế thực hiện hình thành mối liên kết giữa
những người sản xuất và công ty thương mại để có thể hỗ trợ nhau trong sản
xuất và tiêu thụ. Đó là một kinh nghiệm tốt. Những LSNG là nguyên liệu
công nghiệp như tùng hương, tre, mây thì xí nghiệp chế biến là nơi tiêu thụ.
Nông dân có thể bán sản phẩm trực tiếp cho nhà máy hoặc qua một trung

gian. Nói chung có thuận lợi là nơi sản xuất thường gần nhà máy, có đường
giao thông và phương tiện vận tải nhưng đầu mối trung gian lại là một trở
ngại ngăn cách người sản xuất với các nhà máy. Khâu trung gian là nơi bóc
lột nông dân và gây phiền hà cho nhà máy. Do đó việc thu mua nguyên liệu
trở thành phức tạp, đặc biệt là nếu có sự cạnh tranh giữa các nhà máy với
những thương nhân thu mua nguyên liệu để xuất khẩu. Đó là trường hợp của
các nhà máy chế biến nhựa thông như xí nghiệp Uông bí, các xí nghiệp chế
biến trúc.
1.2.3.1 Quan điểm tiêu thụ trong tình hình hiện nay
Tiêu thụ sản phẩm chính là quá trình thực hiện giá trị của sản phẩm, là
giai đoạn đưa sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng.
Trong tình hình hội nhập hiện nay thì những quan điểm về tiêu thụ đã
có nhiều thay đổi đánh kể. Việc tiêu thụ được những sản phẩm không còn đơn
thuần là việc sản xuất sản phẩm bán ra ngoài thị trường kiếm lời đơn thuần
mà nó phụ thuộc vào các yếu tố quan trọng sau:
- Thương hiệu: hiện nay vấn đề thương hiệu đã trở thành một phần
không thể thiếu được của doanh nghiệp, một doanh nghiệp muốn lớn mạnh và


15

được nhiều người biết đến đòi hỏi phải có một thương hiệu mạnh, hiệu nay
các thương hiệu mạnh của nước ta như Cà Phê Trung Nguyên,Vinaconex,
Hoàng Anh Gia Lai, FPT…Đang từng bước chiếm lĩnh thị trường trong nước.
- Đối thủ cạnh tranh: Đối thủ cạnh tranh hiện nay không chỉ đơn thuần
là các doanh nghiệp sản xuất có cùng mặt hàng với mình mà còn các đối thủ
sản xuất hàng hoá thay thế nữa, nên việc có các đối thủ cạnh tranh cũng góp
phần tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể biết được những điểm yếu và
điểm mạnh của mình từ đó có thể đưa ra những quyết định sáng suốt cho
doanh nghiệp của mình.

- Thị trường tiềm năng, thị trường mục tiêu: Mỗi một doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh đều có trong tay những thị trường đã có và thị trường mình
cần hướng đến. Thị trường tiềm năng là nơi mình có thể bán được các sản
phẩm trong thời gian tới.
- Thị phần của doanh nghiệp trên thị trường: lấy một ví dụ điển hình
cho việc thị phần quan trọng đối với doanh nghiệp và nó cũng quyết định chỗ
đúng của doanh nghiệp đó là thị phần của xà phòng OMO hiện nay đã chiếm
khoảng 50% thị phần ở thị trường Việt Nam, số còn lại là các hãng xà phòng
khác Tide, Viso, Vì Dân...chia nhau thị phần. Vì công ty này có chiến lược
kinh doanh rất hợp lý nên trong một khoảng thời gian không lâu đã chiếm
được thị phần rất lớn trên thị trường với doanh số bán ngày càng tăng.
- Hệ thống phân phối hàng hoá của doanh nghiệp
Hiện nay việc phân phối hàng hoá ra thị trường là đa cấp và nhiều kênh,
qua nhiều trung gian mới đến tay người tiêu dùng, điều này có thể làm cho giá
của hàng hoá tăng lên nhưng đổi lại khách hàng có thể mua những hàng hoá
của doanh nghiệp ở mọi nơi, mọi chỗ và rất thuận tiện.
- Dịch vụ chăm sóc chăm sóc khách hàng


16

Dịch vụ chăm sóc khách hàng như tư vấn, bảo hành sau bán hàng và
đảm bảo chất lượng sản phẩm tốt nhất khi đến tay người tiêu dùng.
1.2.3.2 Vai trò của tiêu thụ
Tiêu thụ sản phẩm có vai trò lớn trong xã hội bởi việc tổ chức tốt các
hoạt động tiêu thụ sẽ thúc đẩy nhanh quá trình phân phối lưu thông, đẩy mạnh
quá trình tái sản xuất xã hội. Trên cơ sở đó thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt
của nền kinh tế.
Còn tại doanh nghiệp, kết quả của khâu tiêu thụ sản phẩm có tác động
rất lớn nhiều khi đóng vai trò quyết định đến hiệu quả của quá trình sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp. Từ khâu tiêu thụ mà doanh nghiệp có thể thu
hồi được chi phí đã bỏ ra, thực hiện được mục tiêu thu lợi nhuận và các mục
tiêu khác của doanh nghiệp.
Kết quả của quá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ phản ánh tính đúng đắn của
mục tiêu và chiên lược kinh doanh, chất lượng của bộ máy quản lý doanh
nghiệp nói chung và bộ máy tiêu thụ sản phẩm nói riêng.
1.2.3.3 Nội dung của công tác tiêu thụ sản phẩm
Trong doanh nghiệp, để tiến hành tốt hoạt động tiêu thụ thì buộc doanh
nghiệp phải nắm vững các nội dung của công tác tiêu thụ. Đó là nghiên cứu
thị trường; xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm; tổ chức quá trình bán
hàng; đánh giá hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
1.2.3.4. Nghiên cứu thị trường
Thị trường được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng trong quá trình
quản lý doanh nghiệp được hiểu như sau: Thị trường là tập hợp những khách
hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả
năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó.
Nghiên cứu thị trường là việc xác định các yếu tố trong thị trường sẽ tác
động tới doanh nghiệp khi tham gia sản xuất kinh doanh. Đó là thị trường cần


17

sản phẩm gì? Có đặc điểm như thế nào? hiện trạng về sản phẩm đó trên thị
trường như ra sao?
Kết quả của việc nghiên cứu thị trường sẽ giúp cho doanh nghiệp xác
định được hướng đi trong thời gian tới. Tuy nhiên công việc này nếu có
những sai lệch so với thực tế rất có thể đưa doanh nghiệp tới bờ vực phá sản.
Do vậy nghiên cứu thị trường đòi hỏi độ chính xác cao.
1.2.3.5. Xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm
Sản phẩm hàng hoá là tất cả những gì có lợi ích và nó được thể hiện

bằng những hàng hoá hay dịch vụ thực hiện với những yếu tố đi kèm để đáp
ứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng.
Sản phẩm hàng hoá khi được đưa ra tiêu thụ có những chu kỳ sống
riêng. Mà chu kì sống của sản phẩm là khoảng thời gian được tính từ khi sản
phẩm đó được đưa ra thị trường và nó kết thúc khi sản phẩm đó rút lui khỏi
thị trường. Chu kỳ sống của sản phẩm có 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn thâm nhập
+ Giai đoạn phát triển
+ Giai đoạn chín muồi
+ Giai đoạn suy thoái
1.3. Vái nét về thị trường LSNG ở Việt Nam
- LSNG là thành phần quan trọng của rừng nhiệt đới có giá trị kinh tế
và dược lý cao (khoảng 1800 loài thảo mộc có giá trị dược lý, 40 loài song
mây, 76 loài cho nhựa thơm, 600 loài có ta nanh, 160 loài cho tinh dầu và 260
loài cho dầu béo …). LSNG là nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp:
Công nghiệp dược phẩm, thực phẩm, mỹ phẩm và công nghiệp hoá chất.
Trong các thập kỷ gần đây do sự suy giảm của diện tích rừng và sự khai thác
quá mức làm cho nguồn LSNG giảm không chỉ về trữ lượng mà còn cả chất
lượng. Nguồn tài nguyên LSNG với đặc điểm đa dạng và phong phú về loài,


18

nhng tr lng ớt, cht lng khụng ng u, phõn tỏn v phõn b ch yu
cỏc vựng rng nỳi ni m c s h tng cũn cú nhiu khú khn. Vi c
im ca ngun nguyờn liu LSNG nh vy ó quyt nh quy mụ v trỡnh
cụng ngh khai thỏc, bo qun, ch bin, th trng buụn bỏn. C th ngnh
ch bin LSGN cú quy mụ nh, trỡnh cụng ngh lc hu, kh nng c gii
hoỏ thp, th trng LSNG khụng n nh. Theo s liu thng kờ v giỏ tr
ca sn phm LSNG Vit Nam c buụn bỏn 4 th trng chớnh (EU,

Nht, M v Trung Quc ) chỳng ta thy LSNG Vit Nam, chim th trng
phn nh, t giỏ ca cỏc sn phm ch t 0,5 n 0,7 t giỏ trung bỡnh ca th
trng, tr mt s sn phm LSNG c hu ca Vit nam nh mt s cõy
dc tho, gng, tinh du, sn phm m ngh mõy, tre, an v mt s sn
phm truyn thng, phỏt trin n nh nh Qu, hi, tre l cú t giỏ cao hn t
giỏ trung bỡnh ca cỏc th trng, iu ú ó phn ỏnh thc trng trỡnh sn
xut LSNG ca Vit nam.[12].
- Trong thi gian gn õy, cựng vi vic m rng quy mụ hi nhp kinh
t quc t ó m rng trao i buụn bỏn hng húa trờn th trng ngoi nc,
lm phong phỳ chng loi v tng nhanh nhu cu hng húa LSNG, to nờn
nhng c hi cho cỏc doanh nghip, h gia ỡnh, lng ngh truyn thng ch
bin v kinh doanh LSNG.
Theo ỏn Phỏt trin lõm sn ngoi g giai on 2006 - 2020 ca B
Nụng nghip v Phỏt trin nụng thụn, giai on 2000-2005, tốc độ tăng trưởng
xuất khẩu không cao, bình quân 17-27%/năm. Tổng kim ngạch xuất khẩu
LSNG năm 2004 gần 200 triệu USD (chưa kể giá trị hàng xuất khẩu tiểu
ngạch qua biên giới phía Bắc không thống kê được). Một số mặt hàng LSNG
xuất khẩu tăng mạnh nhưng phần lớn sản phẩm truyền thống li tăng chậm:
Sn phm mõy tre an cú tc tng trng bỡnh quõn 31,25%/nm. Mt ong
tc tng trng cao; qu, hi, doc liu t nm 2000 n nay tc tng


19

trng chm. Việt Nam đã có thị trường truyền thống về LSNG (Nhật Bản,
Trung Quốc, Đài Loan, Mỹ....), xuất khẩu sang gần 90 nước và vùng lãnh thổ,
tuy nhiên khá phân tán không có những thị trường lớn. Thị trường Nhật Bản và
Đài Loan chiếm thị phần cao và ổn định, thị trường Mỹ mới có từ năm 2001
và là thị trường tiềm năng, những thị trường truyền thống là Liên xô cũ và các
nước XHCN Đông Âu cũ chưa được khôi phục.

1.4. Phõn tớch chui hnh trỡnh sn phm (chui giỏ tr)
Chui hnh trỡnh sn phm l mt h thng xỏc minh v theo dừi g (
hoc LSNG) c cp chng ch ti mi cụng on m nguyờn liu i qua
cho n khi tr thnh sn phm cui cựng. Quỏ trỡnh theo dừi ny trong thc
t din ra khỏ phc tp vỡ cụng ngh ch bin g (LSNG), nguyờn liu phi
qua rt nhiu cụng on khỏc nhau v tri qua cỏc ch s hu khỏc nhau t
khi cõy g (LSNG) c khai thỏc t rng, qua cỏc giai on buụn bỏn, vn
chuyn, k c vn chuyn quc t, trc khi c ch bin thnh sn phm
cui cựng. Do vy, cn thit phi xõy dng mt h thng theo dừi tt c
cỏc quỏ trỡnh t nguyờn liu cho n sn phm cui cựng.
Theo s ca chui hnh trỡnh thỡ mi n v l mt mt xớch quan
trng trong ton b hnh trỡnh ca nguyờn liu t ch bin n lu thụng trờn
th trng, do vy, yờu cu cỏc n v u phi xõy dng v ỏp dng h
thng theo dừi cỏc nguyờn liu, sn phm ti mi mt xớch ca dõy
chuyn.[10]
Mt h thng cú 5 yờu cu c bn:
- Yờu cu v cht lng.
- Yờu cu v cung cp nguyờn liu.
- Yờu cu v kim tra sn xut ni b v ghi chộp d liu.
- Yờu cu v sn phm v dón nhón sn phm.
- Yờu cu v lu tr ti liu thụng tin.


20

1.5. Tổng quan các công trình nghiên cứu về thị trường LSNG
LSNG từ lâu đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều tổ chức trong nước
thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các Bộ khác, các tổ chức
quốc tế CIFOR, FORD, JICA… với các mục tiêu khác nhau. Hiện nay Việt
nam có khoảng 11 Viện và Trung tâm, 4 trường Đại học đang nghiên cứu sử

dụng tài nguyên này. Nhưng hiện chưa có một hệ thống hữu hiệu nào để thu
thập thông tin, phân tích, giám sát việc sản xuất, xuất khẩu để hỗ trợ cho việc
xây dựng chiến lược phát triển LSNG cấp quốc gia, mặt khác do quản lý còn
đang chồng chéo giữa các ngành, Bộ về LSNG đã làm cho sự phối hợp nghiên
cứu của các tổ chức còn ít và các vấn đề nghiên cứu chưa tập trung cho chiến
lược phát triển LSNG.
Tại Việt Nam, LSNG rất đa dạng, phong phú, giàu tiềm năng, phân bố
rộng khắp cả nước, nhưng nghiên cứu về LSNG còn rất hạn chế. Chỉ có một
số ít các tổ chức, cơ quan nghiên cứu về vấn đề này. Năm 1978, Trung tâm
nghiên cứu Đặc sản rừng được thành lập (thực chất là nghiên cứu về LSNG)
với nhiệm vụ nghiên cứu phát triển LSNG, phương pháp chế biến, gây trồng
lâm sản có giá trị. Trung tâm này thường phối hợp với Trung tâm nghiên cứu
Tài nguyên và Môi trường (CRES-Đại học Quốc gia Hà nội) và Viện Kinh tế
Sinh thái (ESCO-ECO) để thực hiện các dự án về sử dụng bền vững LSNG.
Các hoạt động nghiên cứu bao gồm: phát triển và thử nghiệm các hệ thống
quản lý rừng và LSNG, nghiên cứu hệ thống sở hữu LSNG ở Việt Nam,
nghiên cứu thử nghiệm gây trồng một số loài LSNG có giá trị kinh tế cao dựa
theo nhu cầu của người dân địa phương, gây trồng một số loài tre và dược
liệu... Một số tổ chức khác có nghiên cứu về LSNG gồm có Trường Đại học
Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Huế, Viện Điều tra Qui hoạch rừng,
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam...


21

Để phát triển và sử dụng rừng nói chung và LSNG nói riêng chúng ta
không chỉ giải quyết thuần túy các yếu tố kỹ thuật như chọn, tạo giống, các
biện pháp kỹ thuật gây trồng, bảo vệ và chăm sóc rừng, mà còn phải nghiên
cứu giải quyết rất nhiều vấn đề có liên quan tác động qua lại với nhau. Vì vậy
các hướng nghiên cứu chính về LSNG tập trung biện chứng vào các vấn đề

theo chuỗi hành trình của sản phẩm từ khâu tạo nguyên liệu như chọn, tạo
giống, gây trồng, bảo tồn, phát triển, rồi đến khai thác, chế biến, thị trường
tiêu thụ sản phẩm. Song song với nó là việc điều tra, khảo sát các đặc điểm về
địa hình, khí hậu, tài nguyên LSNG, cộng đồng dân cư và văn hóa, phong tục,
tập quán của họ. Việc đề xuất các chương trình, chính sách văn bản về quản
lý, khai thác và thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng giữ vai trò quan trọng trong
việc nghiên cứu LSNG.


22

Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, đề xuất một số giải pháp chủ yếu phát triển
thị trường một số LSNG tại huyện Lập Thạch, Tỉnh Vĩnh Phúc.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến thị trường và phát triển thị
trường LSNG.
- Đánh giá thực trạng phát triển thị trường một số LSNG chủ yếu tại
huyện Lập Thạch – Vĩnh Phúc.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường một số
LSNG tại huyện Lập Thạch – Vĩnh Phúc.
2.2 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến thị trường LSNG như cung cầu
và quan hệ cung cầu lâm sản, các kênh lưu thông, biến động giá cả, các yếu tố
ảnh hưởng đến thị trường LSNG.

2.2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: nghiên cứu trong phạm vi huyện Lập Thạch
– Tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phạm vi về thời gian: số liệu thu thập từ 2006 - 2010.
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Một số vấn đề lý luận chủ yếu liên quan đến thị trường và phát triển
thị trường LSNG.


23

- Đánh giá thực trạng phát triển thị trường một số LSNG chủ yếu tại
huyện Lập Thạch – Vĩnh Phúc.(quan hệ cung cầu, các kênh lưu thông LSNG,
biến động giá cả, chuỗi giá trị lâm sản...)..
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường LSNG
tại huyện Lập Thạch – Vĩnh Phúc
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Nghiên cứu thứ cấp
Kế thừa các tài liệu và kết quả nghiên cứu đã có.
2.4.2. Nghiên cứu sơ cấp
a) Chọn điểm nghiên cứu
- Chọn Công ty lâm nghiệp Lập Thạch, một số hộ gia đình cung ứng
nguyên liệu, người thu gom, đại lý và người sử dụng LSNG trên địa bàn
huyện Lập Thạch – Vĩnh Phúc.
b) Phương pháp thu thập số liệu
- Phát phiếu điều tra: phát phiếu điều tra tại 3 xã, tại công ty lâm nghiệp
Lập Thạch với số lượng 150 phiếu.
- Phỏng vấn cán bộ Công ty lâm nhgiệp Lập Thạch, một số hộ gia đình
cung ứng nguyên liệu, người thu gom, đại lý và người sử dụng LSNG trên địa
bàn huyện Lập Thạch – Vĩnh Phúc.

- Phương pháp chuyên gia.
2.4.3. Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê và phương pháp phân tích kinh tế.
+ Phân tích chuỗi hành trình sản phẩm (chuỗi giá trị).
+ Phương pháp khái quát hoá.
+ Phân tích SWOT.


×