Câu 1: Các ưu điểm và nhược điểm của nghiên cứu bệnh chứng. Sơ đồ nghiên cứu
bệnh chứng.
Định nghĩa: Nghiên cứu bệnh chứng là nghiên cứu dịch tễ học phân tích quan sát, trong
đó các đối tượng nghiên cứu được chọn trên ca có bệnh (case) hay không có bệnh
(control) nào đó mà ta nghiên cứu. Các nhóm này được so sánh với nhau về tiền sử phơi
nhiễm với 1 yếu tố nguy cơ có thể là căn nguyên của bệnh.
Chọn nhóm bệnh: Nhóm bệnh nhân được chọn từ 1 hay nhiều bệnh viện trong khoảng
thời gian nhất định. Tất cả những người có bệnh trong 1 khoảng thời gian và ko gian nhất
định
Chọn nhóm chứng: Giống nhóm bệnh về nhiều mặt ( tuổi, giới, không gian, thời gian…)
chỉ khác là ko có bệnh
Số nhóm chứng: thông thường 1 nhóm bệnh
Tuy nhiên số nhóm chứng ko nên quá 4 chứng/ bệnh.
và
1
Hình 1: sơ đồ thiết kế nghiên cứu bệnh –chứng
Dọc
Hồi cứu
Phơi
nhiễm
Không phơi
nhiễm
Phơi
nhiễm
Nhóm
bệnh
Bắt đầu nghiên cứu
Quần thể
Nhóm
chứng
Không phơi
nhiễm
Đặc điểm:
• Là 1 nghiên cứu dọc
• Chỉ có thể là 1 nghiên cứu hồi cứu
• Xuất phát từ bệnh
Bệnh phải được định nghĩa theo tiêu chuẩn rõ ràng và thống nhất
nhóm
chứng.
Ưu điểm:
• Thực hiện tương đối nhanh, ít tốn kém hơn so với 1 nghiên cứu phân tích khác
• Đặc điểm thích hợp với những bệnh có thời kì ủ bệnh kéo dài
• Tối ưu khi nghiên cứu các bệnh hiếm vì các đối tượng nghiên cứu được lựa chọn
trên cơ sở tình trạng bệnh
• Có khả năng điều tra ảnh hưởng của nhiều yếu tố căn nguyên và là bước khởi đầu
cho việc xác định các yếu tô phòng bệnh hay nguyên nhân của 1 bệnh mà ta còn ít
biết
Hạn chế:
• Không có hiệu quả khi nghiên cứu các phơi nhiễm hiếm trừ khi nghiên cứu rất lớn
hay phơi nhiễm phổ biến ở những người mắc bệnh
• Không thể tính toán trực tiếp tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm phơi nhiễm và nhóm không
phơi nhiễm trừ khi nghiên cứu dựa trên quần thể
• Trong nhiều trường hợp, mối quan hệ về mặt thời gian giữa phơi nhiễm và bệnh
khó có thể xác định được
• Nhạy cảm với các sai chệch (bias) và đặc biệt sai chệch nhớ lại (recall)
Câu 2: Các ưu điểm và nhược điểm của nghiên cứu thuần tập. Sơ đồ nghiên cứu thuần
tập
4.1. Định nghĩa: Nghiên cứu thuần tập là một nghiên cứu quan sát phân tích được xuất
phát từ 2 nhóm người: nhóm có phơi nhiễm (nhóm chủ cứu) và nhóm không phơi nhiễm
(nhóm đối chứng), sau đó nghiên cứu sự xuất hiện của bệnh.
4.2. Ưu điểm:
Có giá trị khi nghiên cứu ảnh hưởng của các phơi nhiễm hiếm gặp
Làm sáng tỏ mối quan hệ về thời gian giữa phơi nhiễm và bệnh vì là nghiên cứu theo
dõi dọc các đối tượng khi chưa bị bệnh
Cho phép tính toán trực tiếp tỷ lệ mắc bệnh ở cả hai nhóm phơi nhiễm và không phơi
nhiễm
4.3. Nhược điểm:
Không có hiệu quả khi đánh giá các bệnh hiếm gặp
Rất tốn kém về kinh phí và thời gian nếu là thuần tập tương lai
Hay gặp sai số do đối tượng bỏ cuộc trong quá trình nghiên cứu.
4.4. Sơ đồ nghiên cứu (làm cái gạch chéo trên đầu lâu quá nên e chuyển không bệnh và
không phơi nhiễm gạch đít phía dưới nhé)
D
ED
4.4.1. Thuần tập hồi cứu
/
`
E
Quần
thể
Người
không có
bệnh
`
D
ED
D
ED
D
ED
= = =Hồi cứu
E
• Thời điểm nghiên cứu
4.4.2. Thuần tập tương lai
Theo dõi dọc • Đánh giá kết quả nghiên
cứu
D
ED
//
E
Quần
thể
Người
không có
bệnh
ED
D
ED
D
ED
Theo dõi dọc
E
Thời điểm
nghiên cứu
(2010)
D
//
Đánh giá kết
quả NC (2020)
Câu 3: Nêu ví dụ cụ thể về ứng dụng nghiên cứu bệnh chứng trong nghiên cứu dinh
dưỡng.
“Mô tả thực trạng thừa cân béo phì và các yếu tố nguy cơ ở trẻ em từ 3-5 tuổi tại quận
Hoàn Kiếm, Hà Nội năm 2014.”
Người làm nghiên cứu sẽ làm nghiên cứu mô tả cắt ngang để có được thực trạng thừa cân
béo phì. Sau đấy, ứng với mỗi trẻ thừa cân béo phì, sẽ chọn ra một trẻ không TCBP trong
cùng nhóm, cùng giới, cùng độ tuổi để ghép cặp. Người làm nghiên cứu sẽ đưa ra được hai
nhóm trẻ, nhóm bệnh là nhóm TCBP, nhóm chứng là nhóm các trẻ không TCBP tương ứng
được chọn. Từ đấy, sẽ làm nghiên cứu bệnh chứng để tìm ra các yếu tố nguy cơ dẫn tới
TCBP ví dụ như từ chế độ ăn, chế độ hoạt động, cân nặng sơ sinh của trẻ....
Câu 4. Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng và các phương pháp đánh giá tình trạng
dinh dưỡng.
1. Khái niệm: tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc, và hóa
sinh phản ứng mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể.
• Tình trạng dinh dưỡng chịu ảnh hưởng của chế độ ăn uống, tình trạng sức khỏe,
chăm sóc, lao động
2. Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Thời kì tiền bệnh lý
Thời kì bệnh lý
Dự trữ cạn kiệt
Biểu hiện ko
đặc hiệu
Giảm dự trữ
Nhu cầu khẩu phần
RL sinh lý, sinh
hóa
Cân bằng LTTP
NC yếu tố KTXH
Bệnh tật
Chết
Tỷ lệ chết
NC lâm sang & bệnh tật
NC nhân trắc
NC hóa sinh và cận lâm sàng
Nhìn vào phác đồ trên ta có thể thấy các phương pháp chính để đánh giá TTDD bao gồm:
• Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống
• Các thăm khám thực thể, đặc biệt chú ý tới các triệu chứng thiếu dinh dưỡng kín
đáo và rõ ràng
• Đánh giá các chỉ số phát triển ở trẻ em và các chỉ số về thể chất có liên quan tới
dinh dưỡng ở người già
• Các xét nghiệm cận lâm sàng chủ yếu là hóa sinh ở dịch thể và các chất bài tiết
(máu, nước tiểu) để phát hiện mức bão hòa các chất dinh dưỡng ở các mô, cũng
như các rối loạn chức phận
• Điều tra tỉ lệ bệnh tật và tỉ lệ tử vong
• Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến TTDD và sức khỏe.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu dinh dưỡng, thường thường người ta
phân biệt:
• Thiếu dinh dưỡng là nguyên nhân chủ yếu xảy ra khi số lượng và chất lượng
bữa ăn không cung cấp đầy đủ cho cơ thể những chất cần thiết
• Thiếu dinh dưỡng là nguyên nhân thứ yếu xảy ra khi cấu trúc khẩu phần hợp lý,
nhưng quá trình sử dụng bị trở ngại do biếng ăn, rối loạn tiêu hóa, hấp thu và sử
dụng các chất dinh dưỡng trong cơ thể hoặc do lượng bài tiết cao. Loại này
thường gặp trong bệnh viện, bệnh nhân bị SDD vì mắc 1 bệnh khác.
• Dinh dưỡng không hợp lý làm tăng các bệnh nhiễm khuẩn, mặt khác, tình trạng
nhiễm khuẩn ảnh hưởng tới ngon miệng, rối loạn các quá trình tiêu hóa và
chuyển hóa trung gian làm cho các tình trạng thiếu dinh dưỡng kín đáo trở thành
các bệnh có biểu hiện lâm sang rõ rệt hoặc có khi gây ra tình trạng thiếu dinh
dưỡng ở những người vốn có dinh dưỡng hợp lý
• Trong các điều tra thực địa, tỷ lệ những người có RL dinh dưỡng do nguyên
nhân khác không lớn, tuy vậy nên tách họ ra khi phân tích kết quả
Câu 5: Các ưu và nhược điểm của phương pháp nhân trắc học trong đánh giá tình
trạng dinh dưỡng (TTDD)
* TTDD
TTDD là các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu
của cơ thể. TTDD của một cá thể là kết quả của sự ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng
của cơ thể. Số lượng và chủng loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con
người khác nhau tuỳ theo giới, tuổi, tình trạng sinh lý (ví dụ: thời kỳ có thai, cho con bú…)
và mức độ hoạt động thể lực và trí lực. TTDD tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào
và tình trạng sức khoẻ.
* Đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng là một nội dung kỹ thuật quan trọng hàng đầu của dinh
dưỡng học. Tình trạng dinh dưỡng người có thể được đánh giá thông qua các biểu hiện lâm
sàng đặc hiệu, các chỉ số sinh hóa và các số đo nhân trắc dinh dưỡng. Cho đến nay số đo
nhân trắc dinh dưỡng được xem là nhạy, khách quan và có ý nghĩa ứng dụng rộng rãi trong
việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng của một cá thể hay của cộng đồng.
Chúng ta đều biết hậu quả của một chế độ ăn thiếu dinh dưỡng dẫn tới giảm khả năng
hoạt động của các cơ quan trong cơ thể. Điều này đặc biệt quan trọng đối với trẻ em. Cơ thể
trẻ em đáp ứng với chế độ ăn thiếu dinh dưỡng đó là giảm khả năng hoạt động thể lực và
chậm tăng trưởng.
* Ưu điểm
- Đơn giản
- An toàn.
- Có thể điều tra trên một mẫu lớn.
- Trang thiết bị không đắt, dễ vận chuyển.
- Có thể khai thác đánh giá được các dấu hiệu về TTDD trong quá khứ và xác định
được mức độ suy dinh dưỡng.
* Nhược điểm
- Không đánh giá được sự thay đổi về TTDD trong giai đoạn ngắn hoặc không nhạy để
xá định các thiếu hụt dinh dưỡng đặc hiệu.
Câu 6 TTDD. Phân loại đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi của WHO2006
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng
1.
Đơn giản nhất là dùng biểu đồ tăng trưởng đánh giá cân nặng của trẻ theo độ tuổi.
Biểu đồ tăng trưởng được đính kèm trong sổ theo dõi sức khỏe trẻ em, cấp cho mỗi trẻ
sau sinh và dùng đến 6 tuổi. Hàng tháng trẻ sẽ được cân đo tại các cơ sở y tế địa
phương, ghi nhận cân nặng vào biểu đồ và vẽ đường phát triển cân nặng theo tuổi. Trẻ
được xem là có nguy cơ suy dinh dưỡng nếu đứng cân liên tục trong vòng 3 tháng,
đường phát triển cân nặng theo tuổi đi theo hướng nằm ngang. Trẻ suy dinh dưỡng nếu
đường phát triển cân nặng theo tuổi nằm bên dưới đường chuẩn của biểu đồ.
2. Tuy nhiên để đánh giá dinh dưỡng toàn diện cần có ít nhất 3 chỉ số:
•
Cân nặng theo tuổi·
•
Chiều cao theo tuổi·
•
Cân nặng theo chiều cao.
Các chỉ số này sẽ được so sánh với quần thể tham khảo được Tổ Chức Y Tế Thế Giới
khuyến cáo áp dụng năm 2006 (trẻ em dưới 5 tuổi) sau đây:
Phân loại đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi của WHO-2006
Suy dinh dưỡng: Chỉ số cân nặng theo tuổi < –2SD so với quần thể tiêu chuẩn WHO2006. Chỉ số này biểu hiện một tình trạng thiếu hụt về dinh dưỡng nhưng không đánh giá
được tình trạng thiếu hụt đó xảy ra trong khoảng thời gian này hay từ trước. Dù vậy đây
vẫn là chỉ số dễ áp dụng nhất trong cộng đồng nên vẫn thường được dùng như một chỉ số
chuẩn đánh giá tình trạng thiếu dinh dưỡng của cộng đồng trong tất cả các cuộc điều tra
về dinh dưỡng và dùng để phát hiện sớm tình trạng thiếu hụt chất dinh dưỡng. Sau khi có
hướng chẩn đoán suy dinh dưỡng dựa trên các chỉ số còn lại để đánh giá tình trạng suy
dinh dưỡng.
Suy dinh dưỡng cấp: Chỉ số chiều cao theo tuổi bình thường, nhưng cân nặng/chiều cao
<-2SD, biểu thị suy dinh dưỡng mới diễn ra, và chế độ ăn hiện tại chưa phù hợp với nhu
cầu.
Suy dinh dưỡng mãn đã phục hồi: Chiều cao theo tuổi <-2SD nhưng cân nặng theo
chiều cao bình thường. Phản ảnh sự thiếu dinh dưỡng đã xảy ra trong một thời gian dài,
nặng và sớm vì đã gây ảnh hưởng trên sự phát triển tầm vóc của trẻ. Nhưng tình trạng
dinh dưỡng hiện đã phục hồi, ở những đối tượng này cần thận trọng với nguy cơ béo phì
vì chiều cao thấp.
Suy dinh dưỡng mãn tiến triển: Chiều cao theo tuổi < -2SD và cân nặng theo chiều cao
cũng <-2SD chứng tỏ tình trạng thiếu dinh dưỡng đã xảy ra trong quá khứ và tiếp tục tiến
triển đến hiện nay.
Suy dinh dưỡng bào thai: Đánh giá dựa vào cân nặng <2500g, chiều dài < 48cm và vòng
đầu <35cm sau khi trẻ chào đời.
Đánh giá mức độ SDD trẻ em
Ở tất cả các loại suy dinh dưỡng kể trên, khi có một chỉ số <-2SD là suy dinh dưỡng vừa,
<-3SD là suy dinh dưỡng nặng.
Đối với suy dinh dưỡng bào thai, chỉ giảm cân nặng là suy dinh dưỡng nhẹ, giảm cân
nặng và chiều cao là suy dinh dưỡng vừa, giảm cả cân nặng, chiều cao, vòng đầu là suy
dinh dưỡng nặng.
Bảng 4:Chỉ số BMI theo tuổi với Z-core
Chỉ số Z-Score
Đánh giá
< -3SD
Trẻ SDD thể nhẹ cân, mức độ nặng
< -2SD
Trẻ SDD thể nhẹ cân, mức độ vừa
-2SD < = Z-Score <= 2SD
Trẻ bình thường
> 2SD
Trẻ thừa cân
> 3SD
Trẻ béo phì
Câu 7. Trình bày phương pháp điều tra khẩu phần “Nhớ lại 24 giờ qua”
1. Thời gian: Có 2 cách ấn định thời gian cần hỏi
Cách 1: Hỏi ghi tất cả những thực phẩm (kể cả đồ uống) được đối tượng ăn uống trong
giai đoạn 24 giờ kể từ lúc ĐTV bắt đầu phỏng vấn đối tượng trở về trước.
Cách 2: Hỏi ghi tất cả những thực phẩm kể cả đồ uống được đối tượng ăn uống 1 ngày
hôm trước kể từ lúc ngủ dậy buổi sáng cho tới lúc đi ngủ buổi tối.
2. Đối với điều tra viên
ĐTV phải được huấn luyện tỷ mỉ về kỹ thuật và kĩ năng hỏi ghi.
Phải được điều tra thử (pretest) rồi mới điều tra chính thức.
Đối tượng được hỏi:
Nếu là người lớn: Hỏi trực tiếp đối tượng
Nếu là trẻ em: Hỏi người trực tiếp cho trẻ ăn.
3. Kỹ thuật:
- Nhằm đảm bảo tính chân thực của số liệu: Trước khi phỏng vấn, điều tra viên phải
giải thích rõ mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc điều tra để đối tượng hiểu và
cùng cộng tác.
- Hỏi cả những ngày có sự kiện đặc biệt: giỗ, tết, liên hoan....
- Bắt đầu từ bữa ăn gần nhất rồi hỏi ngược dần theo thời gian.
- Mô tả chi tiết tất cả những thức ăn và đồ uống đã được tiêu thụ, kể cả cách nấu nướng
chế biến (nếu có thể thì hỏi thêm người đã chế biến món ăn, bữa ăn), tên thực phẩm, tên
hãng thực phẩm nếu là những thực phẩm chế biến sẵn như đồ hộp, đồ gói...
- Số lượng thực phẩm tiêu thụ phải được đánh giá một cách chính xác.
+ ĐTV cần sử dụng các đơn vị đo lường thông dụng có các kích cỡ hợp lý để đối
tượng có thể trả lời đúng.
+ ĐTV phải biết các đơn vị đong đo trong gia đình cũng như ở địa phương để so sánh
với đơn vị chung khi cần thiết.
- ĐTV có thể sử dụng: Những mẫu thực phẩm bằng nhựa hoặc tranh màu, ảnh chụp
các mẫu thực phẩm để giúp đối tượng có thể dễ nhớ, dễ mô tả các kích cỡ miếng thực phẩm
đã được tiêu thụ (memory aids).
- Luôn luôn đặt những câu hỏi kiểm tra độ chính xác của thông tin. (Mục đích cuối
cùng là để ước lượng một cách chính xác số lượng thực phẩm đã được đối tượng sử dụng
trong thời gian cần nghiên cứu).
- Tuyệt đối tránh những câu hỏi gợi ý hoặc điều chỉnh câu trả lời của đối tượng.
- ĐTV phải có thái độ thông cảm, ân cần, cởi mở... nhằm tạo cho đối tượng cảm giác
yên tâm, gần gũi để có thể trả lời một cách thoải mái, chính xác các câu hỏi về sự ăn uống
của họ hoặc của đứa trẻ.
- Phải luôn có trạng từ (bao nhiêu?...) hoặc tính từ (gì?...) trong khi đặt câu hỏi về các
thức ăn đã được tiêu thụ
Ví dụ: Cơm:
- Ăn bao nhiêu bát?
- Loại bát gì? bát sứ Hải dương, bát Trung Quốc, Bát Tràng, bát to...
- Đơm (xới) như thế nào? Nửa bát, lưng bát, miệng bát hay đầy bát (lưu ý: nhiều
nơi người dân thường gọi bát cơm đầy nhưng thực tế chỉ là miệng bát).
Thức ăn: ăn thức ăn gì?
Nếu là thịt: Thịt gì? gà, lợn...
- Loại thịt ? ba chỉ, nạc, chân giò...
- Chế biến như thế nào? luộc, hấp, kho...công thức chế biến?
- Đã ăn bao nhiêu miếng? mô tả kích cỡ...
Nếu là cá: Cá gì? chép, trôi, mè, trắm...
- Chế biến như thế nào? kho, rán, nấu canh...công thức chế biến.
- Đã ăn bao nhiêu miếng? bao nhiêu khúc? bao nhiêu lát? mô tả kích cỡ
Nếu là rau: rau gì? cải, muống...
- Chế biến thế nào? luộc, xào, nấu canh...
- Nấu với thực phẩm nào khác?
- Đã ăn bao nhiêu:
* bát? bát gì? bao nhiêu bát?
* gắp? gắp như thế nào? nhỏ, vừa, to...
4. Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp
a. Ưu điểm
Là một phương pháp rất thông dụng và có giá trị khi áp dụng cho số đông đối tượng.
Đơn giản, nhẹ nhàng đối với đối tượng nghiên cứu do đó thường có sự hợp tác rất cao.
Nhanh, chi phí thấp và có thể áp dụng rộng rãi, ngay cả với những đối tượng trình độ văn
hóa thấp hoặc mù chữ.
b. Nhược điểm
Hiện tượng "trung bình hoá khẩu phần" có thể xảy ra do ĐTV điều chỉnh khi phỏng vấn.
Đối tượng cũng có thể nói quá lên với khẩu phần “nghèo” hoặc giảm đi với khẩu phần
“giàu”.
Đối tượng quên một cách không cố ý với những thực phẩm được tiêu thụ không thường
xuyên.
Không thể áp dụng cho người có trí nhớ kém.
Khó ước tính chính xác một số thực phẩm
Câu 8: Trình bày các phần chính của một đề cương NCKH
Khái niệm: Đề cương NCKH là một bản kế hoạch chi tiết mô tả: mục đích, tầm
quan trọng của nghiên cứu (đặt vấn đề); các câu hỏi, mục tiêu, giả thuyết nghiên cứu; quy
trình triển khai nghiên cứu (phương pháp, công cụ, kế hoạch triển khai, phân tích, trình bày
số liệu); tính khả thi của nghiên cứu
Thành phần cơ bản của đề cương NC:
1. Tên đề tài:
Là sự thể hiện của vấn đề nghiên cứu, với tiêu chuẩn: đủ, gọn, phản ánh được mục tiêu
nghiên cứu. Tên đề tài nên các thông tin trả lời các câu hỏi: Ai? Cái gì? ở đâu? Khi nào?.
Khác với mục tiêu, tên đề tài thường không bắt đầu bằng động từ.
2. Đặt vấn đề
Nêu tóm tắt được cơ sở khoa học, và tính cấp thiết hay tính thực tế, giả thuyết nghiên
cứu hoặc/và các câu hỏi nghiên cứu chính để dẫn dắt tới mục tiêu nghiên cứu. Thông thường,
phần đặt vấn đề viết gọn, văn phong khúc chiết, không quá 2 trang.
3. Mục tiêu nghiên cứu:
Là những gì mà người nghiên cứu muốn đạt được sau khi nghiên cứu. Mục tiêu bắt
đầu bằng một động từ có thể bao gồm đối tượng hay địa điểm thời gian nghiên cứu.
4. Tổng quan tài liệu
Phần này sẽ cung cấp các khái niệm cơ bản về vấn đề nghiên cứu, tổng hợp các nghiên
cứu trước đây về vấn đề này trên thế giới và Việt Nam và nếu rõ lý do tiến hành nghiên cứu.
5. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Trong phần này, chủ yếu trả lời câu hỏi "Làm cách nào để đạt được kết quả mong đợi
này", tức là phải xác định phương pháp nghiên cứu cho vấn đề nghiên cứu.
- Thiết kế và qui trình nghiên cứu:
Để nghiên cứu vấn đề đó, cần phải áp dụng loại nghiên cứu nào? Thiết kế nghiên cứu
(định tính hay định lượng, quan sát hay can thiệp ...)
- Cần nêu rõ đối với từng mục tiêu đối tượng là ai, tiêu chuẩn chọn và loại trừ, quy
trình chọn.
- Cỡ mẫu cho toàn bộ nghiên cứu cũng như cho các mục tiêu và cho các nhóm phụ nếu
có yêu cầu.
- Về phương pháp nghiên cứu, cần nêu thiết kế nghiên cứu tương ứng cho các mục
tiêu và các kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin hay số liệu.
- Các biến số và các chỉ số: Là những thông tin cần thu thập để đạt được kết quả mong
đợi và nó tương ứng với từng mục tiêu hoặc nội dung nghiên cứu.
- Quản lý và phân tích số liệu, khống chế sai số NC: Khi triển khai nghiên cứu, các
loại sai số nào có thể mắc phải và phương pháp quản lý, không chế các sai số đó. Các thông
tin thu được sẽ được xử lý và phân tích như thế nào? Các phần mềm hoặc các thuật toán nào
có thể được sử dụng?
- Những hạn chế của nghiên cứu:
Nêu những khó khăn và hạn chế có thể có của nghiên cứu
- Vấn đề đạo đức NC: Các vấn đề đạo đức có thể gặp phải trong nghiên cứu và nghiên
cứu đã được thông qua bởi Hội đồng đạo đức nào? Quyền tham gia và rời khỏi nghiên cứu
của đối tượng nghiên cứu ...
- Khung logic:
6. Dự kiến kết quả:
Là các bảng trống, thường được dự kiến theo các mục tiêu nghiên cứu đã được xác
định và dựa trên các chỉ số đã xây dựng.
7. Dự kiến bàn luận, kết luận, và khuyến nghị:
Trong đề cương nghiên cứu, phần này không quan trọng lắm vì nó phụ thuộc vào kết
quả nghiên cứu có được. Dự kiến bàn luận và kết luận thường được dự kiến theo mục tiêu
nghiên cứu. trong phần bàn luận, tốt nhất là dự kiến trả lời theo các câu hỏi nghiên cứu đã xác
định ở phần hình thành mục tiêu nghiên cứu (xem có đạt được mục tiêu nghiên cứu không) và
so sánh với các kết quả nghiên cứu trước và bàn luận về phương pháp nghiên cứu (những gì đã
làm được, những gì chưa làm được và gợi mở cho hướng nghiên cứu tiếp theo). Kết luận của
nghiên cứu nên được dự kiến theo mục tiêu nghiên cứu và khuyến nghị nên được dự kiến dựa
trên kết quả nghiên cứu.
8. Kế hoạch nghiên cứu (nhân lực, vật lực, thời gian, vật tư, trang thiết bị và kinh phí
cho nghiên cứu).
Kế hoạch triển khai nghiên cứu có thể là một lịch trình làm việc, có thể là một biểu đồ
hay sơ đồ trình bày tóm tắt các thành phần, các hoạt động của một nghiên cứu theo thứ tự
thời gian và không gian, trong đó có phần ước tính chi phí cho toàn bộ hoạt động gọi là kế
hoạch về chi phí.
9. Dự trù kinh phí:
Do trong thực tế, nguồn lực thược rất hạn chế mà lại có nhiều hoạt động cần được thực
hiện. Dự trù kinh phí là cân nhắc xem nên phân bổ kinh phí vào đâu và như thế nào.
10. Danh mục tài liệu tham khảo:
Tài liệu tham khảo bao gồm các tài liệu được trích dẫn, sử dụng và đề cập trong đề
cương nghiên cứu. Không nên dùng luận văn, luận án, Website và hạn chế dùng sách giáo
khoa làm tài liệu tham khảo.
11. Phụ lục (bộ công cụ nghiên cứu, danh sách chi tiết các địa điểm nghiên cứu ...).
Câu 9: Các phương pháp điều tra khẩu phần
1. Phương pháp điều tra trọng lượng LTTP
1.1. Điều tra tổng quát về tiêu thụ LTTP
Dựa vào theo dõi cân bằng thực phẩm , bao gồm:
- Thực phẩm sản xuất ra
- Thực phẩm nhập vào hay mua về
- Dùng cho chăn nuôi
- Làm giống
- Nguyên liệu công nghiệp, v.v...
Dựa vào cơ cấu dân số.
=> tính ra lượng TP đã tiêu thụ cho: 1 đầu người/năm (hoặc) 1 đầu người/ngày.
*Nhược điểm của PP:
Không cho biết tình hình khẩu phần thực tế của các quần thể khác nhau trong
xã hội.
Đòi hỏi phải có hệ thống thống kê chất lượng cao.
1.2. Phương pháp xác định LTTP theo trọng lượng (Cân đong)
Là PP chính xác nhất để đánh giá lượng thức ăn hoặc chất dinh dưỡng ăn vào.
Nhược điểm: Cần nhiều thời gian, nhân lực.
- Đối tượng có thể thay đổi khẩu phần thường ngày thành "ăn uống kham
khổ" hay" tạo sự sung túc".
- Gây phiền hà nên dễ bị từ chối
2. Phương pháp hỏi ghi
2.1. PP ghi sổ và kiểm kê:
Có thể tiến hành ở cả bếp ăn tập thể và gia đình.
Người nghiên cứu cần phối hợp chặt chẽ với người quản lý hay người nội trợ trong gia đình.
Cách tiến hành:
Nếu là bếp ăn tập thể:
Số liệu nên lấy 1 tháng/quí.
Kiểm kê lượng tồn kho LTTP trước khi lấy số liệu.
Số liệu cần ghi chép:
Số người ăn mỗi bữa trong ngày.
Lượng LTTP đã sử dụng trong ngày.
=> Từ đó tính ra lượng LTTP tiêu thụ cho 1 người/ngày.
* Nếu sổ sách xuất nhập hàng ngày không đầy đủ thì phải sử dụng số liệu theo sổ xuất nhập
từng đợt thông qua lượng tồn kho và nhập vào để tính lượng đã sử dụng.
Nếu là hộ gia đình:
Hàng ngày ghi chép lượng TP mua vào, nhận được hoặc tự sản xuất.
Trừ đi lượng TP không dùng cho mục đích ăn uống (chăn nuôi, để giống, bán....) và
lượng TP còn lại chưa sử dụng.
* Người nghiên cứu cần phải am hiểu phong tục địa phương và thạo việc.
* Có thể lúc đầu người nghiên cứu đến cân và ghi chép sau đó thì giao cho chủ nhà
hoặc người quản lý.
2.2. Phương pháp ghi nhật ký
Đối tượng ghi lại các đồ ăn, thức uống đã dùng trong thời gian (1-7 ngày).
Khi cần ghi số lượng, đối tượng cân càng chính xác càng tốt.
PP đòi hỏi tinh thần hợp tác cao của đối tượng nghiên cứu và ĐTV.
2.3. Phương pháp hỏi tiền sử dinh dưỡng
Áp dụng khi nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng của trẻ em hay ở các tình trạng bệnh lý.
Thu thập thông tin về các bữa ăn chính, các thành phần dinh dưỡng quan trọng của từng thời
kỳ.
Có thể hỏi về tiền sử dinh dưỡng theo 3 nội dung:
- Tần xuất tiêu thụ thực phẩm.
- Thức ăn ưa thích/không ưa thích.
- Tường thuật cách ăn 3 ngày gần nhất.
Theo kinh nghiệm:
- Một số câu hỏi chéo nên được sử dụng để kiểm tra tính chân thực của câu trả lời.
- Để người mẹ tự kể lại một cách thoải mái cách nuôi con của mình và nghiên cứu viên chỉ
chi tiết hoá câu hỏi khi cần thiết.
Sau cùng: ghi lại thực đơn của 3 ngày gần nhất.
2.4. Điều tra tần xuất tiêu thụ LTTP
- Sử dụng để thu thập các thông tin về chất lượng KP, đưa ra một "bức tranh" về bữa ăn của
đối tượng.
- Phương pháp này không cung cấp các số liệu về số lượng các thực phẩm cũng như các chất
dinh dưỡng được sử dụng.
Mục đích nhằm để biết:
Những thức ăn phổ biến nhất.
Những thức ăn có số lần sử dụng cao nhất, ít nhất hoặc không bao giờ ăn.
Những dao động về thực phẩm theo mùa.
Mối liên quan giữa thói quen ăn uống hoặc mức độ tiêu thụ TP nào đó với tỷ lệ
bệnh dinh dưỡng nào đó.
Ví dụ:
- Tiêu thụ nhiều rau, quả tươi là biểu hiện sự có mặt của vitamin, chất khoáng và xenlluloza
trong khẩu phần.
- Sự sẵn có đậu, lạc, vừng là nguồn cung cấp đạm và chất béo nguồn gốc thực vật...trong
bữa ăn.
Ưu điểm: - Nhanh và rẻ tiền. Dễ được đối tượng chấp nhận.
Hạn chế: Chỉ cho biết tần xuất sử dụng. Mang ý nghĩa định tính hơn là định lượng.
2.5. Phương pháp nhớ lại 24 giờ qua:
Thời gian: Có 2 cách ấn định thời gian cần hỏi
Cách 1: Hỏi ghi tất cả những thực phẩm (kể cả đồ uống) được đối tượng ăn uống trong giai
đoạn 24 giờ kể từ lúc ĐTV bắt đầu phỏng vấn đối tượng trở về trước.
Cách 2: Hỏi ghi tất cả những thực phẩm kể cả đồ uống được đối tượng ăn uống 1 ngày hôm
trước kể từ lúc ngủ dậy buổi sáng cho tới lúc đi ngủ buổi tối.
Thuận lợi của PP (Ưu điểm):
Là một phương pháp rất thông dụng và có giá trị khi áp dụng cho số đông đối tượng.
Đơn giản, nhẹ nhàng đối với đối tượng nghiên cứu do đó thường có sự hợp tác rất cao.
Nhanh, chi phí thấp và có thể áp dụng rộng rãi, ngay cả với những đối tượng trình độ
văn hóa thấp hoặc mù chữ.
Hạn chế của PP (nhược điểm):
Hiện tượng "trung bình hoá khẩu phần" có thể xảy ra do ĐTV điều chỉnh khi phỏng
vấn.
Đối tượng cũng có thể nói quá lên với khẩu phần “nghèo” hoặc giảm đi với khẩu phần
“giàu”.
Đối tượng quên một cách không cố ý với những thực phẩm được tiêu thụ không
thường xuyên.
Không thể áp dụng cho người có trí nhớ kém.
Khó ước tính chính xác một số thực phẩm
Điều tra viên (ĐTV):
ĐTV phải được huấn luyện tỷ mỉ về kỹ thuật và kĩ năng hỏi ghi.
Phải được điều tra thử (pretest) rồi mới điều tra chính thức
Đối tượng được hỏi:
Nếu là người lớn: Hỏi trực tiếp đối tượng
Nếu là trẻ em: Hỏi người trực tiếp cho trẻ ăn.
Kỹ thuật:
Nhằm đảm bảo tính chân thực của số liệu: Trước khi phỏng vấn, điều tra viên phải giải
thích rõ mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc điều tra để đối tượng hiểu và
cùng cộng tác.
Hỏi cả những ngày có sự kiện đặc biệt: giỗ, tết, liên hoan....
Bắt đầu từ bữa ăn gần nhất rồi hỏi ngược dần theo thời gian.
Mô tả chi tiết tất cả những thức ăn và đồ uống đã được tiêu thụ, kể cả cách nấu nướng
chế biến (nếu có thể thì hỏi thêm người đã chế biến món ăn, bữa ăn), tên thực phẩm,
tên hãng thực phẩm nếu là những thực phẩm chế biến sẵn như đồ hộp, đồ gói...
Số lượng thực phẩm tiêu thụ phải được đánh giá một cách chính xác.
=> ĐTV cần sử dụng các đơn vị đo lường thông dụng có các kích cỡ hợp lý để
đối tượng có thể trả lời đúng.
-
ĐTV phải biết các đơn vị đong đo trong gia đình cũng như ở địa phương
để so sánh với đơn vị chung khi cần thiết.
ĐTV có thể sử dụng:
* Những mẫu thực phẩm bằng nhựa hoặc tranh màu.
* Ảnh chụp các mẫu thực phẩm.
=> Để giúp đối tượng có thể dễ nhớ, dễ mô tả các kích cỡ miếng thực phẩm đã
được tiêu thụ (memory aids).
Luôn luôn đặt những câu hỏi kiểm tra độ chính xác của thông tin. (Mục đích cuối cùng
là để ước lượng một cách chính xác số lượng thực phẩm đã được đối tượng sử dụng
trong thời gian cần nghiên cứu).
Tuyệt đối tránh những câu hỏi gợi ý hoặc điều chỉnh câu trả lời của đối tượng.
ĐTV phải có thái độ thông cảm, ân cần, cởi mở... nhằm tạo cho đối tượng cảm giác
yên tâm, gần gũi để có thể trả lời một cách thoải mái, chính xác các câu hỏi về sự ăn
uống của họ hoặc của đứa trẻ.
Phải luôn có trạng từ (bao nhiêu?...) hoặc tính từ (gì?...) trong khi đặt câu hỏi về các
thức ăn đã được tiêu thụ.
Ví dụ
Cơm:
Ăn bao nhiêu bát?
Loại bát gì? bát sứ Hải dương, bát Trung Quốc, Bát Tràng, bát to...
Đơm (xới) như thế nào? Nửa bát, lưng bát, miệng bát hay đầy bát (lưu ý: nhiều
nơi người dân thường gọi bát cơm đầy nhưng thực tế chỉ là miệng bát).
Thức ăn: ăn thức ăn gì?
Nếu là thịt: Thịt gì? gà, lợn...
- Loại thịt ? ba chỉ, nạc, chân giò...
- Chế biến như thế nào? luộc, hấp, kho...công thức chế biến?
- Đã ăn bao nhiêu miếng? mô tả kích cỡ...
Nếu là rau: rau gì? cải, muống...
- Chế biến thế nào? luộc, xào, nấu canh...
- Nấu với thực phẩm nào khác?
Đã ăn bao nhiêu:
* bát? bát gì? bao nhiêu bát?
* gắp? gắp như thế nào? nhỏ, vừa,
to...
2.6. Hỏi ghi 24 giờ, nhiều lần
Hỏi ghi khẩu phần 24 giờ tiến hành trong nhiều ngày liên tục (3-7 ngày) hoặc được
nhắc lại ở các mùa khác nhau trong năm để đánh giá khẩu phần trung bình của đối
tượng.
Số ngày điều tra đòi hỏi để đánh giá khẩu phần trung bình của đối tượng phụ thuộc
vào:
- Mức độ chính xác cần đạt được.
- Chất dinh dưỡng cần quan tâm nghiên cứu.
- Vòng quay thực phẩm
Ưu điểm:
Phương pháp có chú ý tới ảnh hưởng của các ngày ăn cải thiện như ngày nghỉ, ngày
lễ..., ảnh hưởng của mùa vụ.
=>mức độ tiêu thụ LTTP được đánh giá chính xác hơn.
3. Phương pháp điều tra tập quán ăn uống
Dùng thu thập các thông tin về quan niệm, niềm tin, sở thích, cách chế biến TĂ, phân
bố các bữa ăn trong ngày, cách ăn uống trong các dịp lễ hội...
Từ đó có thể xác định nguyên nhân để tiến hành giáo dục DD có hiệu quả, đề ra
phương hướng SX thích hợp.
3.1. Phương pháp phỏng vấn (PV) và trò chuyện
Nguyên tắc:
Tôn trọng đối tượng, không bình luận về họ và con họ.
Không nên tỏ thái độ đồng tình, phản đối hay ngạc nhiên.
Quan tâm chăm chú trong câu chuyện.
Chân tình, cởi mở, không áp đặt.
3.2. Phương pháp quan sát:
Nhằm mô tả hành vi của đối tượng (có thể là cá thể hay cộng đồng).
Quan sát:
Cách chuẩn bị bữa ăn của trẻ: cách chế biến? Thành phần? Sự đảm bảo vệ sinh?
Người cho trẻ ăn là ai? Trẻ ăn được bao nhiêu?
Đối tượng được ưu tiên? Sự phân biệt con trai/con gái?
Người quyết định cách cho ăn của trẻ?
Dụng cụ chế biến thức ăn?
Thái độ của người mẹ khi trẻ bị ốm? khi trẻ SDD?
3.3. Phương pháp thảo luận nhóm có trọng tâm
Nhóm khoảng 8 -12 người, 1 người dẫn chuyện, 1 người quan sát, ghi chép (nếu có
điều kiện có thể ghi âm).
Kết quả thảo luận giúp xây dựng các câu hỏi điều tra, hoặc bổ sung cho thông tin định
lượng.
Chủ đề thảo luận thường là: Nuôi con bằng sữa mẹ và cách cho ăn bổ sun