Tải bản đầy đủ (.docx) (14 trang)

BÀI VIẾT DỰ THI TÌM HIỂU QUAN HỆ VIET NAM LÀO

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (131.12 KB, 14 trang )

“Thương nhau mấy núi cũng trèo,
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.
Việt-Lào hai nước chúng ta,
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”.
Hồ Chí Minh
Quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa Nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào mà sau đây
xin được gọi là quan hệ Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam là mối
quan hệ truyền thống quý báo, keo sơn, thủy chung, chân tình
mà hiếm có mối quan hệ quốc tế nào trên hành tinh này có
được trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI này. Dù Việt Nam và
Lào chỉ ký kết thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức vào ngày
05/9/1962 (thời điểm này là Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa và Vương quốc Lào) tuy nhiên mối quan hệ Việt – Lào, Lào –
Việt đã xuất phát từ rất sớm khi Chỉ tịch Hồ Chí Minh truyền bá
Chủ nghĩa Mác – Lê nin vào Đông Dương, sáng lập Đảng Cộng
sản Đông Dương, rồi cùng Chủ tịch Xuphanuvông và Chủ tịch
Cay-xỏn Phôm-vi-hản lãnh đạo cách mạng ở mỗi nước đi đến
thắng lợi, đó là một quá trình cách mạng rắn bó bền chặt của
nhân dân hai nước với nền mống vững chắt của mối quan hệ
hữu nghị do các vị lãnh tụ của mỗi nước khơi nguồn, duy trì và
thường
xuyên
được
vun
bồi,
phát
triển.
Chủ
tịch Cayxỏn Phômvihản đã khẳng định: “Sông có thể cạn, núi có
thể mòn, nhưng tình đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào


mãi mãi bền vững.”
Trong mối quan hệ keo sơn này, không thể không nhắc
đến vai trò to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch
Xuphanuvông và Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn là những người
đặc nền móng cho mối quan hệ mà sau này các nhà lãnh đạo
cấp cao của hai Đảng, hai Nhà nước không ngừng vun đắp mối
quan hệ “mãi mãi xanh tươi và đời đời bền vững”.
Nhắc đến Hồ Chủ tịch người ta nhớ đến người lãnh tụ của
cách mạng Việt Nam nhưng cả sự nghiệp cách mạng của Người
luôn gắn bó với cách mạng Lào anh em thể hiện qua từng khâu
lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng, vun đắp và tăng cường tình đoàn
kết, chiến đấu của quân và dân hai nước cùng chống thù chung
qua các thời kỳ lịch sử của từng dân tộc. Hơn nữa, Người còn
dành một tình cảm bao la, chân quý cho dân tộc Lào anh em
suốt cả cuộc đời cách mạng của mình.
Khi còn bôn ba, được tiếp thu và truyền bá Chủ nghĩa Mác
– Lê Nin để cứu nước, cứu các dân tộc bị áp bức Người đã không
1


quên hình ảnh khổ cực của nhân dân Lào để tố cáo Thực dân
Pháp với thế giới, người viết: "Ở Luông Prabang nhiều phụ nữ
nghèo khổ thảm thương phải mang xiềng đi quét đường chỉ vì
một tội không nộp nổi thuế", cùng với hiện thực lịch sử đầu thế
kỷ XX Trên các đoạn đường xuyên Đông Dương đều có xác phu
Việt bên cạnh xác phu Lào. Đó là những con đường được gọi là
đường Lào-Việt hoặc đường Việt-Lào, nối liền bờ Biển Đông của
Việt Nam đến tận bờ sông Mê Kông, từ Tây Bắc Việt Nam đến
Bắc và Đông Bắc Lào. Điều đó đã tạo cho nhân dân hai nước
Lào - Việt Nam đoàn kết nhau cùng đấu tranh chống Pháp từ

đầu thế kỷ XX.
Những năm 1930, từ khi có chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh soi đường với Đảng Cộng sản Đông Dương ra
đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, trực tiếp lãnh đạo cuộc
đấu tranh giải phóng của hai dân tộc Lào-Việt Nam, Người đã
coi trọng tình đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc Việt-Lào, đó vừa là nghĩa vụ quốc tế, vừa là
lợi ích sống còn của mỗi nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chăm
chú theo dõi và dìu dắt, giúp đỡ phong trào cách mạng ở
Lào: “Giúp bạn là tự giúp mình” trong tư tưởng chỉ đạo và hoạt
động thực tiễn, Người luôn nêu cao tính độc lập và chủ động
của đồng bào các bộ tộc Lào. Tháng 9/1934, Đảng bộ Đảng
Cộng sản Đông Dương đã được thành lập tại Lào, chịu trách
nhiệm lãnh đạo phong trào cách mạng Lào, các sự kiện đó là
những mốc son lịch sử trong quan hệ Việt Nam - Lào gắn bó với
nhau và ngày càng phát triển trong tình đoàn kết chiến đấu và
tạo nên cơ sở cho tình đoàn kết đặc biệt giữa hai Đảng và hai
nước.
Từ sự quan tâm, gắn bó trong đấu tranh mà lịch sử cách mạng
hai nước cũng có sự tương đồng. Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa ra đời. Ngày 12-10-1945 Chính phủ lâm thời
Lào Ítxala được thành ltichjchủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu
tiên đã gửi điện chúc mừng và tuyên bố thừa nhận Chính phủ
Lào độc lập. Ngày 14-10-1945 và ngày 30-10-1945, hai nước đã
ký Hiệp ước Hợp tác tương trợ Việt – Lào, với Hiệp ước này,
quan hệ Việt - Lào đã chính thức chuyển sang một giai đoạn
mới, giai đoạn mà mối quan hệ đoàn kết giữa hai dân tộc anh
em không chỉ giữa nhân dân hai nước mà còn gắn bó giữa hai
nhà
nước độc

lập
vừa
mới
hình
thành.
Chủ
tịch Xuphanuvông cũng đã nói: “Quan hệ Lào-Việt từ nay sẽ mở
ra một kỷ nguyên mới”, kỷ nguyên của mối quan hệ đoàn kết
đặc biệt Lào-Việt Nam giúp đỡ nhau vì mục tiêu chung của hai
2


dân tộc. Cũng ngày 30-10-1945, Chính phủ hai nước quyết định
thành lập Liên quân Lào-Việt Nam. Sang năm 1964, Pháp quay
lại xâm lược Đông Dương, Trung ương Đảng Cộng sản Đông
Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy: Làm cách mạng
giải phóng dân tộc là trong khuôn khổ của mỗi nước, phải xây
dựng ở từng Đảng cách mạng thích hợp để lãnh đạo cuộc kháng
chiến mỗi nước thắng lợi (Đại hội II của Đảng, tháng 21951). Để đẩy mạnh cuộc kháng chiến ở Lào, phải xây dựng tại
đây một vùng căn cứ địa của cả nước, để tập trung các đồng
chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Mặt trận nhằm hình thành cơ
cấu lãnh đạo công cuộc cách kháng chiến của Lào. Trên cơ sở
lực lượng đã có, tích cực xây dựng phát triển lực lượng vũ trang,
trong đó có Quân đội quốc gia Lào. Ngày 11-3-1951, thành lập
Mặt trận Liên minh nhân dân Việt – Miên – Lào, đến tháng 91952, tại Hội nghị cán bộ Mặt trận Liên minh nhân dân Việt –
Miên - Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Việt Nam đoàn kết chặt
chẽ, Lào đoàn kết chặt chẽ, Miên đoàn kết chặt chẽ, cả ba nước
đoàn kết chặt chẽ thì nhất định sẽ đánh tan bọn xâm lược Pháp
và can thiệp Mỹ, giành độc lập, tự do cho mỗi nước. Bằng việc
xây dựng hệ thống quan điểm và chỉ đạo thực tiễn thực hiện

liên minh đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa Việt Nam và Lào,
cũng như sự quan tâm phát hiện và xây dựng nhân tố bên trong
cho cách mạng Lào đã tiến tới thành lập Đảng Nhân dân Lào
ngày 22-3-1955, (sau này là Đảng Nhân dân cách mạng Lào).
Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự đã đặt nền móng cho mối quan hệ
đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam. Đó là mối quan hệ vừa
bảo đảm lợi ích dân tộc, vừa bảo đảm kết hợp hài hòa sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, để cùng hướng tới mục
tiêu chung là giải phóng dân tộc và tiến lên con đường xã hội
chủ nghĩa. Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản cũng đánh giá: “Năm
1930, Đảng Cộng sản Đông Dương do đồng chí Hồ chí Minh
sáng lập đã ra đời, là bước ngoặt lịch sử của cách mạng ba
nước Đông Dương. Từ đó trở đi, dưới sự lãnh đạo của Đảng MácLênin chân chính và với ngọn cờ cách mạng dân tộc, dân
chủ, cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân các bộ tộc Lào đã
bước vào thời kỳ mới và với chất lượng mới hoàn toàn”. Điều
đó, để chúng ta thấy rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người không
chỉ đóng góp về lý luận, đường lối, phương hướng cách mạng
mà Người còn quan tâm đến cả việc tổ chức, chỉ đạo thực tiễn
cách mạng Lào. Trong Điếu văn đọc tại lễ truy điệu Chủ tịch Hồ
Chí Minh tại Sầm Nưa ngày 5-9-1969, Cố Tổng Bí thư Đảng
Nhân dân Lào nói: “Đối với cách mạng Lào chúng ta, đồng chí
Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm chỉ đạo cho Đảng bộ
3


Đảng Cộng sản Đông Dương tại Lào trước đây, cũng như sau
này cho Đảng Nhân dân Lào khi Đảng đã được thành lập. Đồng
chí trực tiếp giúp cho chúng ta những ý kiến quan trọng về
chiến lược, sách lược, về phương thức hoạt động. Nhờ đó mà
trong tình thế vô cùng gay go gian khổ, Đảng Cộng sản Đông

Dương đã ra sức vận động quần chúng, tổ chức và lãnh đạo
nhân dân Lào đứng lên làm Cách mạng Tháng Tám thành công
giành chính quyền về tay mình, tuyên bố nền độc lập của Lào
ngày 12/10/1945. Tiếp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tận
tình cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân ta...
Đồng chí Hồ Chí Minh đã chú ý hướng dẫn việc chuyển hướng
trọng tâm hoạt động trong từng thời kỳ, việc xây dựng cơ sở
nhân dân, phát động quần chúng nông dân, xây dựng các khu
căn cứ kháng chiến, xây dựng lực lượng vũ trang cách
mạng, mở rộng mặt trận thống nhất, xây dựng Đảng Mác-Lênin
chân chính, nhất là vấn đề đào tạo đội ngũ cán bộ có đạo đức
cách mạng và có năng lực công tác.
Trong những cuộc đấu tranh để thành lập Chính phủ Liên hiệp
dân tộc có lực lượng cách mạng Lào tham gia, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ân cần dặn dò: vào hòa hợp là thắng lợi về sách lược,
vấn đề chủ yếu quan trọng có ý nghĩa về chiến lược là phải
quan tâm củng cố và phát triển lực lượng cách mạng để sẵn
sàng đối phó với mọi tình huống, không ngừng đưa cách mạng
tiến lên”.
Sự nghiệp cách mạng của hai nước Lào-Việt Nam có mối quan
hệ và ảnh hưởng lẫn nhau một cách đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nhìn nhận thấy từ lâu và thường dạy: “Cách mạng Lào
không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Việt Nam và cách
mạng Việt Nam cũng không thể thiếu sự giúp đỡ của cách
mạng Lào”. Với quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu, Việt
Nam-Lào với thiện chí chân tình, thông cảm nhau sâu sắc trên
tình đồng chí anh em: “Giúp bạn là tự giúp mình”, Đảng, Chính
phủ và nhân dân Việt Nam đã cử hàng chục vạn người con yêu
quý của mình sang công tác và phối hợp với quân và dân Lào
chiến đấu tại các chiến trường của Lào, máu của biết bao anh

hùng, liệt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Hoàng thân, liên quân
Lào - Việt đã chiến đấu anh dũng, nhưng trước sức mạnh vượt
trội của giặc Pháp được sự tiếp sức của quân Anh, Hoàng thân
và lực lượng liên quân phải vượt sông Mê Kông dời sang đất
Thái Lan để bảo toàn lực lượng. Để bảo vệ an toàn cho Hoàng
thân, đồng chí Lê Thiệu Huy, Tham mưu trưởng liên quân đã lấy
thân mình che đạn cho Hoàng thân và đã anh dũng hy sinh, và
Hoàng thân cũng bị thương nặng. Máu của lực lượng chiến đấu
liên quân Lào - Việt và nhân dân đã nhuộm đỏ dòng Mê Kông,
khắc sâu tội ác của thực dân Pháp xâm lược. Tinh thần chiến
đấu dũng cảm của cán bộ chiến sĩ Việt Nam đã để lại cho nhân
dân các bộ tộc Lào nói chung và Hoàng thân nhiều tình cảm
sâu đậm.
Sau khi bình phục vết thương, Hoàng thân tiếp tục chỉ đạo cuộc
kháng chiến trong nước, song điều kiện lúc bấy giờ không thuận
lợi. Chính phủ Thái Lan không ủng hộ phong trào cứu nước của
Lào. Trong tình thế khó khăn đó, Hoàng thân nhận được lời mời
của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến vùng tự do của Việt Nam để bàn
bạc việc cứu nước và Hoàng thân đã nhận lời.
Tháng 11/1949, Hoàng thân cùng một số đồng chí trung kiên
của Lào lên đường sang Việt Nam. Đồng chí Nguyễn Tử Quý,
tình nguyện quân Việt Nam là người bảo vệ và dẫn đường, từ
Băngkoc đi xe lửa đến Udon, từ Udon đi xe hơi đến Nọong khai
(Thái Lan) rồi xuống thuyền vượt sông Mê kong cập bến Bạn
Bung Quang. Lên tới bờ, Hoàng thân quỳ xuống lạy Tổ quốc
7


thân yêu sau 4 năm xa cách. Sau chặng đường dài vượt bao
khó khăn gian khổ, đi bộ hàng ngàn cây số qua rừng Trường

Sơn để đến với bạn chung lý tưởng Việt Nam. Ngay sau khi đến
An toàn khu Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho người đi mời
Hoàng thân đến gặp Người để trao đổi những vấn đề quan
trọng của đất nước.
Những ngày sau đó Bác Hồ tự đi bộ đến thăm Hoàng thân. Bác
Hồ đã thay mặt Chính phủ Việt Nam nhiệt liệt hoan nghênh tinh
thần dũng cảm, lòng yêu nước nồng nàn của Hoàng thân
Xuphanuvong và tỏ mong muốn hợp tác giúp đỡ Lào, tạo thành
một lực lượng đoàn kết vững mạnh đánh bại quân thù. Bác Hồ
nói “ Lào - Việt Nam là bạn láng giềng thân thiết có chung một
kẻ thù, ta phải đoàn kết lại đấu tranh đánh bại giặc Pháp, giành
độc lập tự do cho mỗi nước, nước Lào có độc lập thì Việt Nam
mới có độc lập thật sự”. Những ngày sau đó Ban Chấp hành
Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương đã tổ chức cho đoàn
cán bộ Lào học chính trị lý luận cách mạng trong thời gian 3
tháng và giúp bạn tổ chức Đại hội Neo Lào Itxala lần thứ nhất từ
ngày 13-15/8/1950 tại khu căn cứ huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên
Quang. Đại hội tập trung đại biểu của mọi tầng lớp dân tộc, lực
lượng vũ trang Lào trên mọi miền tổ quốc đến dự. Đại hội quyết
định thành lập mặt trận Neo Lào Itxala (mặt trận Lào tự do) để
tập hợp mọi tầng lớp lực lượng yêu nước, yêu tự do và dân chủ
vào trong một khối đoàn kết thống nhất.
Đại hội đã bầu Hoàng thân Xuphanuvong làm chủ tịch Neo Lào
Itxala và kiêm Thủ tướng Chính phủ Lào kháng chiến và nhiều
vị trí quan trọng khác trong chính phủ. Đồng chí Cayxỏn
phonvihản, Phó Chủ tịch Neo Lào Itxala kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng, Tổng chỉ huy quân đội Lào Itxala.
12/1975 Chủ tịch Xuphanuvong được đại hội bầu làm Chủ tịch
nước kiêm Chủ tịch Hội đồng nhân dân tối cao, Chủ tịch Trung
ương Neo lào Hắc xạt . Chủ tịch Xuphanuvong là Chủ tịch nước

đầu tiên của Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Trong mối quan hệ hữu nghị và tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam
- Lào, Lào -VIệt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch
Xuphanuvong vừa là kiến trúc sư vừa là biểu tượng của tình
đoàn kết đó. Với câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với
cán bộ chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ quốc
tế ở Lào: “Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”
Bác còn căn dặn cán bộ chiến sĩ nhân dân Việt Nam “ Hãy cố
8


gắng gìn giữ, bảo vệ tình hữu nghị và đoàn kết đặc biệt Việt Lào như bảo vệ con ngươi của mắt mình”.
Ngày 25/5/1971, nhận lời mời của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Chủ
tịch Xuphanuvong sang thăm Việt Nam. Trở lại mảnh đất có
nhiều gắn bó với sự nghiệp cách mạng của mình, đến đâu
Người cũng được nhân dân Việt Nam nồng nhiệt đón tiếp. Trong
bầu không khí thắm tình đoàn kết hữu nghị, thủy chung Người
phát biểu: “Quan hệ hữu nghị anh em giữa nhân dân Lào và
Việt Nam thật là vĩ đại. Không có bài hát, bài thơ nào ca ngợi
hết được. Tình đoàn kết Lào - Việt Nam cao hơn núi, dài hơn
sông, rộng hơn biển cả, đẹp hơn trăng rằm, ngát thơm hơn bất
cứ đóa hoa nào thơm nhất. Tình hữu nghị tốt đẹp đó được vun
đắp bằng tinh thần trong sáng không có kẻ thù nào phá nổi”.
Chính sức mạnh đoàn kết đó, cách mạng hai nước Việt - Lào đã
đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và cùng giành thắng lợi
trọn vẹn vào năm 1975 mở ra trang mới cho hai nước Việt Nam
- Lào.
Tình đoàn kết Việt – Lào, Lào – Việt từ nền tảng tư tưởng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ tịch Xuphanuvong và chủ tịch Khai
sỏn Phon vi hản mà nó còn xuất phát từ tình cảm nồng nàng

của mối quan hệ đồng chí, anh em không phân biệt dân tộc,
quốc gia.
Tình bạn cao cả đó bắt đầu từ ngày 4-9-1945, khi lần đầu hai
người gặp nhau. Cùng với thời gian, tình bạn đó đã đưa một vị
hoàng thân của Hoàng gia Lào sau những năm tháng học tập,
tu nghiệp ở nước Pháp, từng biết và nói giỏi nhiều ngoại ngữ
của các quốc gia; là người không khi nào quên lịch sử đất nước
Lào, không quên lịch sử hoàng tộc của mình và đặc biệt ngưỡng
mộ công tích của Hoàng thân A-nụ, song lại rất yêu “nhân dân
gian nan, vất vả của mình”, thật sự ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí
Minh, ủng hộ lý tưởng cuộc Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam,
rồi trở thành một người cách mạng.
Sau này, khi đã trở thành lãnh tụ của nhân dân các bộ tộc Lào
trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và thiết lập nhà nước
Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, Hoàng thân từng nói, cuộc
gặp gỡ định mệnh vào mùa thu ấy đã giúp ông “học được nhiều
điều rất bổ ích”. Cũng giống như Hồ Chí Minh năm xưa, 13 tuổi,
Hoàng thân đã mang trong lòng một khát vọng lớn, “không
buông trôi theo số phận”. Và thời gian sau đó Hoàng thân đã rời
bỏ nước Pháp, quyết định “về nước để lãnh đạo đấu tranh giải
9


phóng nhân dân Lào”, với một quyết tâm “cho thế giới thấy
người Lào sẽ đánh giặc như thế nào”. Chính hình ảnh một nước
Việt Nam độc lập đã thôi thúc mãnh liệt khát vọng của Hoàng
thân muốn làm “một cái gì đó” cho đất nước và nhân dân Lào.
Xixana Xuphanuvông (tên Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh
đặt là Chí Long), người con trai út của Hoàng thân đã viết trong
Hồi ký của mình rằng: “Một trong những ngày hệ trọng nhất

trong cuộc đời của Hoàng thân là lần đầu tiên ông được gặp
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông nhớ nhất lần gặp đó và chính cuộc
gặp gỡ đó, đã biến đổi ông từ một thái tử của Hoàng gia Lào
thành người chiến sĩ cách mạng”.
Từ mối quan hệ có bề dày truyền thống trong lịch sử giữa hai
dân tộc Việt Nam - Lào, từ cuộc gặp gỡ mùa thu ấy, bằng niềm
tin của chính bản thân mình vào một vị hoàng thân yêu nước và
yêu thương nhân dân các bộ tộc Lào, Hồ Chí Minh càng tin
tưởng vào tương lai tươi sáng của đất nước Lào. Một nước Lào
“cách mạng”, “láng giềng”, “thân thiết”, một trong ba chân
kiềng của khối liên minh chiến lược đoàn kết Việt - Miên - Lào,
ngày càng được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân
Xuphanuvông chăm lo, bồi đắp. Cuộc hội ngộ đầu tiên là bước
ngoặt lớn, mở đầu trang lịch sử cùng chung một chiến hào đánh
Pháp, cùng chung một chiến hào đánh Mỹ của nhân dân hai
nước Việt - Lào sau đó, sáng ngời một tình bạn hữu nghị thuỷ
chung, trong sáng, đặc biệt trong lịch sử quan hệ quốc tế đương
đại.
Sau cuộc hội kiến, bàn bạc, ngày 4-9-1945 những vấn đề chính
chuẩn bị cho cuộc cách mạng trong tương lai giữa hai nước đã
được quyết định. Hoàng thân và gia đình trở lại Vinh, Huế rồi
được một đội quân tình nguyện Việt Nam hộ tống trở về Lào an
toàn. Từ đây, một hoàng thân của Hoàng gia Lào nhưng cũng là
một nhà cách mạng yêu nước, thương dân bắt đầu một chặng
đường hoạt động, đấu tranh cách mạng đầy gian truân ở Lào,
Thái Lan và ở Việt Nam, lúc trong nhà ngục Phôn Khêng,... để
kiên định thực hiện mục tiêu đoàn kết, liên minh chiến đấu
cùng dân tộc Việt Nam anh em giải phóng và đưa đất nước Lào
“theo chế độ mà nhân dân Lào tự mình lựa chọn”.
Trở về nước, Hoàng thân đảm nhận chức vụ Bộ trưởng Ngoại

giao và Tổng chỉ huy quân đội trong Chính phủ Lào Itxala (101945). Sau đó, khi thực dân Pháp tấn công miền Nam Lào,
Hoàng thân chỉ huy lực lượng kháng chiến Lào và quân đội liên
10


minh Lào - Việt ở mặt trận Thà Khẹt (3-1946). Trong điều kiện
tương quan lực lượng quá chênh lệch, Hoàng thân và những
người yêu nước đã tạm rút khỏi Thà Khẹt. Khi vượt qua sông
Mêkông để sang Thái Lan, ông bị thương nặng và người chiến sĩ
Lê Thiệu Huy của liên quân Lào - Việt đã che đạn cho Hoàng
thân và anh dũng hy sinh. Thời gian sau đó, Chính phủ lâm thời
Lào Itxala bị phân hoá, Hoàng thân tuyên bố vẫn “tin tưởng vào
sức mạnh của nhân dân chúng tôi trong cuộc kháng chiến”.
Ông và một số người yêu nước trong Chính phủ lâm thời đã
không trở về Viêng Chăn cộng tác với thực dân Pháp như một
số ít thành viên khác, mà quyết định đi cùng cuộc kháng chiến
của nhân dân Lào.
Cuối năm 1949, Hoàng thân nhận được thư của Chủ tịch Hồ Chí
Minh mời sang Việt Bắc bàn về cách mạng của hai nước trong
sự nghiệp chống kẻ thù chung của nhân dân Đông Dương.
Tháng 8-1950, tại Đại hội đại biểu quốc dân Lào, Mặt trận Neo
Lào Itxala đã được thành lập, Hoàng thân được bầu làm Chủ
tịch Mặt trận Neo Lào Itxala, Thủ tướng Chính phủ kháng chiến
kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Lào Itxala. Tháng
9-1950, tại Việt Bắc, Hoàng thân cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và
ông Sơn Ngọc Minh, Thủ tướng Chính phủ kháng chiến Miên
(Campuchia) đã có cuộc hội bàn, chuẩn bị cho sự ra đời của Mặt
trận liên minh đoàn kết Việt - Miên - Lào, dựa trên nguyên tắc
bình đẳng, tôn trọng chủ quyền quốc gia, lãnh thổ của mỗi
nước.

Thời kỳ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân thường xuyên
trao đổi thư từ, điện về những vấn đề liên quan đến nhiệm vụ
xây dựng liên minh đoàn kết trong cuộc chiến đấu chung của
hai nước, nhằm hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Đông Dương.
Ngày 11-3-1951, tại Việt Bắc, Hội nghị liên minh nhân dân ba
nước Việt - Miên - Lào ra tuyên bố vạch rõ âm mưu của thực
dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ cố tình xâm chiếm ba nước Đông
Dương và lập ra chính phủ bù nhìn. Vì vậy, Hội nghị đã đi đến
nhất trí thành lập “Khối liên minh nhân dân Việt - Miên - Lào,
nhằm tiêu diệt thực dân Pháp, đánh bại can thiệp Mỹ, trừng trị
bọn bù nhìn phản quốc, giành độc lập thực sự cho ba dân tộc,
góp sức bảo vệ hoà bình thế giới”3.
Từ những kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam và nhận thức
sâu sắc của mình về vai trò, sức mạnh đoàn kết của nhân dân
các bộ tộc Lào trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Hoàng thân
11


đã cùng những cán bộ lãnh đạo của đất nước Lào đẩy mạnh
cuộc vận động, tuyên truyền nhân dân các bộ tộc Lào Lùm, Lào
Thơng, Lào Xủng,... đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thống nhất
Neo Lào Itxala để phát triển mạnh cuộc kháng chiến. Lòng yêu
nước, tinh thần vượt mọi khó khăn, sẵn sàng hy sinh cho đất
nước, lối sống giản dị và uy tín của Hoàng thân đã đưa ông trở
thành ngọn cờ quy tụ nhân dân các bộ tộc Lào. Cũng giống như
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hoàng thân hiểu rằng: đoàn kết là sống,
chia rẽ là chết, nên ông đã không ngừng phấn đấu và trở thành
linh hồn của khối đại đoàn kết các bộ tộc Lào. Trong suốt những
năm kháng chiến đầy gian nan, vất vả đó, Hoàng thân, đồng chí
Cayxỏn Phômvihản, các đồng chí lãnh đạo của Đảng Nhân dân

cách mạng Lào đã cùng nhân dân Lào, cùng nhân dân Việt Nam
chia ngọt, sẻ bùi trong suốt hai cuộc trường chinh đánh Pháp và
đánh Mỹ. Chiến dịch Thượng Lào, đường mòn 559, những căn
cứ kháng chiến trên đất bạn,... mãi mãi là những dấu ấn lịch sử
của mối liên minh chiến lược Việt - Lào, hiện thực sinh động của
tình đoàn kết hữu nghị, giúp đỡ lẫn nhau của hai dân tộc.
Trong những ngày Hoàng thân và các đồng chí lãnh đạo của
Chính phủ Pathét Lào ở chiến khu Việt Bắc, ông thường xuyên
gặp gỡ và trao đổi cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh
đạo của Đảng và Chính phủ ta. Cũng trong những ngày ở Việt
Bắc, có rất nhiều bức ảnh ghi lại dấu ấn lịch sử hai nhà lãnh
đạo, hai người con ưu tú của nhân dân hai nước Việt - Lào. Đó là
hai con người có hai cuộc đời với xuất thân và hoàn cảnh khác
xa nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng yêu nước, thương
dân và không nề gian khó, cả đời phấn đấu, hy sinh cho độc lập
tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân.
Trong suốt hành trình đi cùng cuộc kháng chiến của nhân dân
các bộ tộc Lào, Hoàng thân luôn tâm niệm ý nghĩa những lời
căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt món quà tặng là
một tấm lụa, một thanh kiếm và một bộ quần áo mà Chủ tịch
Hồ Chí Minh gửi tặng, với lời giải thích: “Tấm lụa tượng trưng
cho sự mềm mỏng và đại đoàn kết. Đoàn kết chặt chẽ như
những sợi tơ trong tấm lụa. Mềm mỏng là để đối với nhân dân.
Thanh kiếm là tượng trưng cho sự sắc sảo và kiên quyết. Còn
bộ quần áo là để tặng cho cán bộ Lào thi đua giỏi nhất”4. Ngay
cả những ngày ông bị giam cầm trong nhà ngục Phôn Khêng
cùng 15 đồng chí khác (7-1959) vẫn là một hoàng thân luôn
nhớ về Chủ tịch Hồ Chí Minh, một tấm gương kiên cường cách
mạng, kiên trì luyện tập thể thao, sống tràn đầy nghị lực, kiên
12



định với con đường mình đã chọn. Ngày 24-5-1960, với sự giúp
đỡ của một tổ công tác đặc biệt của Việt Nam, cuộc vượt ngục
của ông đã thành công. Ông lại cùng các đồng chí của mình và
nhân dân Lào yêu nước tiếp tục cuộc hành trình đấu tranh cách
mạng không mệt mỏi, sát cánh cùng nhân dân Việt Nam đoàn
kết, liên minh chống đế quốc Mỹ và các thế lực thân Mỹ, đấu
tranh cho một nước Lào độc lập, tự do.
Hơn 15 năm sau cuộc vượt ngục huyền thoại ấy, tháng 121975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc họp ở Viêng Chăn đã
quyết định xoá bỏ chế độ quân chủ và thiết lập chế độ dân chủ
nhân dân Lào. Lịch sử cách mạng Lào đã bước sang một trang
mới với một thể chế nhà nước mới do nhân dân các bộ tộc Lào
đồng lòng lựa chọn. Hoàng thân đã vinh dự được bầu làm Chủ
tịch nước, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tối cao của nước Cộng
hoà Dân chủ Nhân dân Lào.
Hoàng thân Xuphanuvông, vị lãnh tụ đức độ, tài năng, người
chiến sĩ cách mạng luôn giương cao ngọn cờ đoàn kết nhân dân
các bộ tộc Lào, kiên cường đấu tranh trong hơn 30 năm giải
phóng đất nước và đưa nước Lào phát triển như ngày nay.
Những kỷ niệm ân tình một thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Hoàng thân - Chủ tịch Xuphanuvông mãi mãi được nhân dân
Việt Nam và nhân dân Lào nâng niu, gìn giữ, vẫn luôn là minh
chứng sinh động của một tình bạn thân thiết vượt không gian
và thời gian, hiện thân của mối liên minh chiến lược, của tình
đoàn kết quốc tế vô sản thuỷ chung, trong sáng, đặc biệt Lào Việt Nam.
Đầu năm 1964, hai đồng chí Souphanouvong và Kaysone
Phomvihane đến Hà Nội, vào Phủ Chủ tịch thăm Bác. Trong lúc
nói chuyện, gió mùa đông bắc lùa hơi lạnh vào phòng khách,
Bác chợt hỏi: “Ở Lào không rét như ở Việt Nam. Các đồng chí có

lạnh lắm không? Sao hai đồng chí không quàng khăn cổ?”. Nói
rồi Bác đứng dậy mở tủ lấy ra hai chiếc khăn quàng mới rồi nói:
“Đồng chí Souphanouvong và tôi là người già, nhiều tuổi, mỗi
người một khăn quàng mới” và Bác tháo chiếc khăn đang
quàng đưa cho đồng chí Kaysone: “Bác trao khăn này để đồng
chí Kaysone quàng”. Khi ra về, đồng chí Souphanouvong hớn
hở: “Tôi với Bác mỗi người một khăn mới”, còn đồng chí
Kaysone thì gật gù: “Còn tôi được kế thừa chiếc khăn của Bác
Hồ”. Kể từ đó, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh hàng
13


năm đều có những cuộc gặp gỡ cấp cao giữa hai Đảng tại Hà
Nội, nề nếp đó đã góp phần rất quan trọng bồi đắp tình hữu
nghị đặc biệt Việt-Lào trở thành mẫu mực hiếm có trong thời
đại ngày nay.
Chủ tịch Kaysone Phomvihane cũng từng nói: “Trong lịch sử
cách mạng thế giới đã có nhiều tấm gương sáng chói về tinh
thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ có sự
đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài và toàn diện như
vậy”.

14



×