Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

Giáo dục môi trường qua môn địa lý ở trường THCS

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (220.19 KB, 20 trang )

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Bảo vệ môi trường hiện nay là một trong những vấn đề quan tâm hàng
đầu của Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung, vì sự phát triển bền
vững của toàn cầu. Trong đó con người là một bộ phận của môi trường, do đó
con người không thể sống nếu môi trường không được bảo vệ, nói cách khác
bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta. Để bảo vệ môi
trường con người đã thực hiện nhiều biện pháp khác nhau. Trong đó có biện
pháp giáo dục môi trường (GDMT) được xem là một biện pháp có hiệu quả
cao. Bởi vì nó giúp con người có được biện pháp đúng đắn trong việc khai
thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và có ý thức trong việc thực hiện
các nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Hiện nay việc GDMT qua việc giảng dạy
trong các trường học, đặc biệt là bậc THCS có ý nghĩa chiếm vị trí quan
trọng. Nhà trường là cái nôi đào tạo thế hệ trẻ, những người chủ tương lai
của đất nước, những người sẽ thực hiện khai thác, sử dụng, cải tạo và bảo vệ
nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước mình. Nếu họ có nhận thức đầy
đủ các vấn đề về môi trường thì khi ra đời dù bất cứ ở lĩnh vực nào, hoạt
động nào họ đều có thể thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường một cách có
hiệu quả. Xuất phát từ tình hình thực tế của địa phương và những vấn đề xã
hội đã được đề cập ở trên. Tôi chọn đề tài: "Giáo dục môi trường qua môn
Địa lý ở trường THCS".
II. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:

Từ thực tế nhiều năm giảng dạy GDMT thông qua môn Địa lý để giúp
HS có ý thức bảo vệ môi trường ở mọi nơi, mọi lúc, trong từng trường hợp
khác nhau.
Để phục vụ cho việc GDMT qua môn Địa lý ở trường, tôi đã nghiên
cứu nhiều tài liệu và tích luỹ kinh nghiệm để viết đề tài sáng kiến kinh
nghiệm này với hy vọng nó cùng giúp cho những đồng nghiệp có quan tâm
đến vấn đề về môi trường và GDMT tham khảo.


Nội dung đề tài có cấu tạo gồm:
- Mở đầu: Sự phát triển của giáo dục môi trường. Vai trò, nhiệm vụ,
phương hướng của GDMT trong nhà trường.

1


- Những vấn đề nhận thức cơ bản về môi trường.
- Giáo dục môi trường qua môn học Địa lý ở trường THCS.
Đây là một đề tài nhỏ, song tự đọc sách nghiên cứu, thông qua giảng
dạy tích luỹ kinh nghiệm để viết nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu
sót. Rất mong sự góp ý của đồng nghiệp và các bạn.
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN

Môi trường là một vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm của toàn
nhân loại. Trong mấy chục năm trở lại đây, do sự phát triển của khoa học kỹ
thuật, sự gia tăng dân số quá nhanh và quá trình đô thị hoá phát triển mạnh
mẽ, đã làm cho cường độ khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên và môi
tường ngày càng to lớn. Kết quả là nhiều nguồn tài nguyên đã bị cạn kiệt,
nhiều hệ sinh thái bị phá huỷ, nhiều cân bằng trong tự nhiên bị rối loại và môi
trường sống của chúng ta đang lâm vào tình trạng khủng hoảng với quy mô
toàn cầu.
Để bảo vệ môi trường - cái nôi sinh thành của mình, con người đã phải
thực hiện hàng loạt các biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp GDMT.
GDMT được coi là một trong những biện pháp có tính hiệu quả cao, bởi nó
giúp con người có được nhận thức đúng đắn trong việc khai thác, sử dụng
hợp lý các nguồn tài nguyên và có ý thức trong việc thực hiện các nhiệm vụ
bảo vệ môi trường.
1. Vai trò nhiệm vụ và phương hướng giáo dục môi trường trong nhà trường.

Ngày nay chúng ta hiểu rằng, những biến đổi của môi trường theo
chiều hướng xấu đi phần lớn là do tác động của con người trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội. Tác động của con người nói trên bắt nguồn từ mỗi
cá nhân, mỗi gia đình cho đến toàn xã hội. Tác động đó lại xảy ra thường
xuyên, liên tục, ở khắp mọi nơi, mọi miền có con người sinh sống. Tác động
đó không chỉ thông qua các hoạt động kinh tế, mà còn qua các hoạt động văn
hoá, du lịch, vui chơi giải trí... Bởi vậy, Bảo vệ môi trường (BVMT) là trách
nhiệm chung của toàn xã hội, trong đó có trách nhiệm của từng cá nhân, từng
gia đình nói riêng và cả cộng đồng xã hội nói chung. Muốn GDMT có hiệu
2


quả, một mặt phải dựa vào các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà
nước, mặt khác cần phải giáo dục cho mọi người dân trong xã hội hiểu rõ các
vấn đề về môi trường, để từ đó họ có ý thức và trách nhiệm trong việc thực
hiện nhiệm vụ GDMT do Nhà nước đề ra. Rõ ràng, GDMT có vai trò rất to
lớn trong nhiệm vụ bảo vệ môi trường hiện nay.
Việc GDMT có thể thông qua nhiều hình thức khác nhau: Các phương
tiện truyền thông đại chúng (phát thanh, truyền hình, sách báo...), các hình
thức nghệ thuật (phim ảnh, ca nhạc, hội hoạ...), hoạt động của các tổ chức
quần chúng (hội bảo vệ môi trường, hội môi trường và sinh thái...) và qua
việc giảng dạy ở các trường học. Trong các hình thức GDMT nói trên, việc
GDMT qua giảng dạy trong các trường học, nhất là các trường phổ thông
chiếm vị trí đặc biệt. Nhà trường là nơi đào tạo thế hệ trẻ, những người chủ
tương lai của đất nước, những người sẽ thực hiện việc khai thác, sử dụng và
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường đất nước mình. Nếu họ có nhận
thức đầy đủ các vấn đề về môi trường, thì khi ra đời, dù ở bất kỳ lĩnh vực
hoạt động nào họ đều có thể thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường một cách
có hiệu quả.
2. Nhiệm vụ và phương hướng giáo dục môi trường:

Ở các trường học, GDMT là nội dung quan trọng trong việc giảng dạy
và học tập nhằm nâng cao nhận thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ
và hành vi đúng đắn cho học sinh trong việc bảo vệ môi trường. Nó có nhiệm
vụ:
- Làm cho học sinh nhận thức rõ đặc điểm của môi trường tự nhiên, vai
trò của môi trường đối với đời sống và sự phát triển của xã hội loài người.
- Từ cơ sở nhận thức đó, giáo dục cho học sinh lòng yêu thích, tôn
trọng thiên nhiên, muốn được bảo vệ môi trường sống, các phong cảnh đẹp,
các di tích văn hoá lịch sử của đất nước, và cuối cùng, làm cho việc bảo vệ
môi trường trở thành phong cách, nếp sống của họ.

3


- Trang bị cho học sinh một số phương pháp và kĩ năng bảo vệ môi
trường để học sinh có thể thực hành các nhiệm vụ bảo vệ môi trường ở địa
phương.
Hiện nay, việc GDMT đã có chương trình giảng dạy ở các trường phổ
thông, song nó không được cấu tạo thành môn riêng mà chỉ tích hợp vào các
môn học. Bởi vậy, để thực hiện được các nhiệm vụ nêu trên, phương hướng
GDMT ở trong các trường phổ thông hiện nay là:
- Thông qua kiến thức các môn học để lồng ghép hoặc liên hệ các kiến
thức GDMT nhằm trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức về môi
trường và các biện pháp bảo vệ môi trường tương đối đầy đủ.
- Việc GDMT phải chú ý khai thác tình hình thực tế của môi trường địa
phương cũng như những hình thức, biện pháp ngăn ngừa những thay đổi của
môi trường có hại cho sản xuất và cuộc sống của nhân dân địa phương đó.
- Cuối cùng, nội dung và phương pháp GDMT phải phù hợp với mục
tiêu đào tạo của từng cấp học và đặc điểm tâm lý nhận thức của học sinh theo
từng lứa tuổi khác nhau.

Như vậy, GDMT ở nhà trường có thể coi như một phương thức gắn kết
toàn bộ quá trình giáo dục với môi trường. Sự gắn kết này làm cho nội dung
dạy học của mọi môn học phải gắn với chủ đề môi trường nói chung và chủ
đề môi trường địa phương nói riêng. Một trong những vấn đề cơ bản của sự
liên kết này là các tổ chức chỉ đạo giáo dục và bảo vệ môi trường ở cấp quốc
gia cần có sự phối hợp nghiên cứu trong việc soạn thảo chương trình, ấn định
nội dung, phương pháp và các phương tiện dạy học cũng như các tài liệu
phục vụ cho việc dạy học ở từng môn học một cách cụ thể và tích hợp.Việc
soạn thảo đầy đủ các tài liệu nói trên là điều kiện cơ bản cho việc GDMT ở
các trường đạt được hiệu quả.
II. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG QUA MÔN ĐỊA LÝ Ở
TRƯỜNG PHỔ THÔNG:

Ở nước ta việc GDMT trong nhà trường phổ thông được bắt đầu từ
năm 1981 cùng với việc thực hiện chương trình cải cách giáo dục (CCGD).
Về hình thức, cho đến nay nội dung GDMT ở nước ta không có cấu tạo thành

4


môn riêng như ở một số nước trên thế giới mà tích hợp vào một số môn mà
đối tượng có quan hệ gần gũi với môi trường như môn Địa lý, Sinh học, Kỹ
thuật nông nghiệp...
Các hình thức GDMT được tích hợp vào các môn học có thể thông qua
2 hình thức sau:
- Hình thức lồng ghép: Ở hình thức này một số kiến thức môn học cũng
chính là kiến thức GDMT được đưa vào chương trình sách giáo khoa (SGK)
theo mức độ khác nhau:
+ Có thể chiếm một chương hay một bài trọn vẹn như SGK Địa lý lớp
6 có các bài như bài: 26 27; lớp 7 có các bài như: bài 8, 10, 17, 24...

+ Có thể chiếm một mục hay một đoạn hay một vài câu trong một bài
học. Các kiến thức môi trường được lồng ghép theo kiểu này chiếm tỷ lệ
tương đối cao trong SGK Địa lý. Ví dụ: SGK Địa lý lớp 7 có các bài như: 3,
8, 9, 10, 11, 15, 16,...; SGK lớp 8 có các bài như: 20, 21, 22, 24, 26,...
+ Có thể là các bài đọc thêm sau bài học chính nhằm bổ sung kiến thức
về GDMT. Ví dụ như SGK Địa lý lớp 6 có bài: 13, 14, 20.
- Hình thức liên hệ: Ở hình thức này, các kiến thức GDMT không được
nêu rõ trong SGK nhưng dựa vào kiến thức bài học, người giáo viên có thể
bổ sung kiến thức đó bằng cách liên hệ các kiến thức GDMT (các hiện
tượng, số liệu về tình trạng môi trường, sử dụng môi trường...) vào bài giảng
trên lớp dưới hình thức các ví dụ khi phân tích bài một cách hợp lý.
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

1. Mục đích và nhiệm vụ của giáo dục môi trường ở trường phổ thông.
* Mục đích chính của việc GDMT trong nhà trường phổ thông hiện
nay là làm cho học sinh có chuyển biến về ý thức, thái độ và hành vi đối với
môi trường và việc bảo vệ môi trường. Mục đích đó phải được thực hiện
trong suốt quá trình học tập của học sinh ở nhà trường từ lớp dưới lên lớp
trên. Trong quá trình đó, thông qua hệ thống chương trình và nội dung giảng
dạy, người giáo viên từng bước trang bị cho các em những hiểu biết về môi
trường để từ đó giúp các em dần dần có ý thức và từ ý thức sẽ bộc lộ qua thái

5


độ và hành vi trong cuộc sống. Khi con người có ý thức cao, những thái độ,
hành vi của họ sẽ trở thành nếp sống hàng ngày.
* Để tạo được những chuyển biến đó, nhiệm vụ của GDMT ở trường
phổ thông là:
- Trang bị cho học sinh những hiểu biết nhất định về môi trường, bao

gồm:
+ Những nhận thức cơ bản về môi trường (đặc điểm về môi trường và
nguồn tài nguyên, vai trò của môi trường và tài nguyên đối với con người,
mối quan hệ giữa môi trường với môi trường...).
+ Tình trạng môi trường hiện nay là những hậu quả do môi trường bị
biến đổi xấu đi gây ra.
+ Nội dung và các biện pháp bảo vệ môi trường.
+ Các chủ trương, chính sách, pháp luật bảo vệ môi trường của Nhà
nước ta và trách nhiệm của người công dân trong việc bảo vệ môi trường.
- Trên cơ sở những hiểu biết đó, từng bước bồi dưỡng cho học sinh ý
thức, thái độ và hành vi đối với môi trường và bảo vệ môi trường. Điều đáng
chú ý là từ nhận thức lý thuyết đến chuyển biến về ý thức, về thái độ và hành
vi là một bước ngoặt đòi hỏi công lao giáo dục của các thầy cô giáo.
- Trang bị cho học sinh một số kỹ năng và biện pháp bảo vệ môi trường
thông thường, để khi ra đời các em có thể thực hiện một cách có hiệu quả
nhiệm vụ bảo vệ môi trường ở địa phương nơi họ công tác.
2. Phương pháp xác định các kiến thức GDMT tích hợp vào nội dung các
bài học Địa lý trên lớp:
- Các bước tiến hành.
+ Nghiên cứu SGK và phân loại các bài học để xác định các loại bài đã
có nội dung hoặc có khả năng đưa nội dung GDMT vào bài.
+ Xác định các kiến thức GDMT đã được lồng ghép vào các bài (nếu
có).
+ Xác định các bài có khả năng đưa kiến thức GDMT vào bài bằng
hình thức liên hệ và dự kiến các kiến thức có thể đưa vào từng bài.

6


- Cách lựa chọn các kiến thức GDMT liên hệ vào các bài:

Việc lựa chọn các kiến thức để liên hệ vào bài học trong quá trình
giảng dạy là rất cần thiết, nhằm làm cho các kiến thức không bị trùng lặp
giữa bài này với bài khác, giữa chương trình lớp này với chương trình lớp
khác. Mặt khác, việc lựa chọn còn giúp cho người giáo viên có sự tính toán
để có thể sắp xếp cho mình một hệ thống kiến thức GDMT phân bố theo từng
chương trình, theo từng bài của môn Địa lý ở tất cả các lớp từ thấp đến cao.
Để lựa chọn được các kiến thức đó, người giáo viên lấy các kiến thức
GDMT đã được dự kiến để đối chiếu với các nguyên tắc đưa các kiến thức
GDMT vào bài học. Khi một kiến thức đã đáp ứng đủ cả 3 nguyên tắc nói
trên, kiến thức đó sẽ được lựa chọn. Ví dụ: Lựa chọn kiến thức GDMT cho
bài học số 15 trang 49-50, SGK Địa lý 6 (NXB Giáo dục, 2002) như sau:
+ Kiến thức bài học gồm 3 vấn đề chính:
. Các khoáng sản trong vỏ trái đất.
. Các mỏ nội sinh và các mỏ ngoại sinh.
. Giá trị kinh tế của khoáng sản.
+ Các kiến thức GDMT dự kiến bổ sung vào bài:
. Việc sử dụng hợp lý các khoáng sản (tiết kiệm, có hiệu quả).
. Chống sự hao phí các khoáng sản trong quá trình khai thác.
+ Đối chiếu các kiến thức dự kiến bổ sung với các nguyên tắc đã nêu:
. Về nguyên tắc dựa vào nội dung bài học: Chúng ta thấy một trong ba
vấn đề về nội dung của bài là giá trị kinh tế của khoáng sản. Vì thế khi giảng
về giá trị của khoáng sản có thể liên hệ đến việc giáo dục bảo vệ khoáng sản
cho học sinh. Vị trí để đưa kiến thức này bổ sung vào bài là ở điểm cuối cùng
của bài học. Như vậy phần kiến thức GDMT được lựa chọn để bổ sung vào
bài trở thành ý kết luận cho bài học một cách tự nhiên. Câu kết luận này có
thể diễn đạt như sau: "Khoáng sản là tài nguyên rất quan trọng cho sự phát
triển kinh tế, nhưng lại là tài nguyên không thể tái tạo, khai thác là sẽ hết.
Hiện nay ở nước ta cũng như những nước khác trên thế giới có nhiều trường
hợp chưa chú ý bảo vệ khoáng sản đang khai thác. Ví dụ, ở các mỏ than
Quảng Ninh của ta trong khai thác còn để than lẫn vào đất đá mang đổ đi,


7


còn để mưa bão cuốn trôi gây hao hụt lớn. Bởi vậy việc tìm cách chống hao
hụt khoáng sản trong quá trình khai thác là một trong những biện pháp bảo
vệ tích cực nguồn tài nguyên này".
. Về nguyên tắc tính hệ thống, không trùng lặp và vừa sức: Cũng cho
thấy toàn bộ nội dung SGK Địa lý 6 chỉ có một mục nói về khoáng sản, nên
đây cũng là cơ hội để GDMT cho học sinh về vấn đề này. Mặt khác, nó
không trùng lặp với bất kỳ bài học nào trong chương trình, và cũng không
ảnh hưởng gì đến sự quá tải của nội dung bài. Các kiến thức đặt ở phần kết
luận vừa có tác dụng giáo dục học sinh, vừa làm cho bài học trọn vẹn và hợp
lý hơn.
. Về nguyên tắc, kiến thức phải phản ánh tình trạng địa phương, thì ở
đây việc nêu thực trạng vùng mỏ than Quảng Ninh là đúng. Tuy nhiên, các
giáo viên cũng có thể liên hệ thực trạng khai thác khoáng sản của bất kỳ địa
phương nào cũng được.
Tóm lại, cách lựa chọn kiến thức GDMT được trình bày ở trên đảm
bảo cho kiến thức đưa vào bài một cách hợp lý.
3. Phương pháp dạy học giáo dục môi trường qua môn Địa lý ở trường THCS:
Ở các trường phổ thông, việc GDMT có thể thông qua hai hình thức tổ
chức dạy học chủ yếu, đó là việc dạy học nội khoá và các hoạt động ngoại
khoá.
3.1. Hình thức tổ chức dạy học nội khoá:
Trong hình thức này có thể phân biệt: Hình thức dạy học trên lớp và
hình thức dạy học ngoài trời. Mặt khác, tuỳ thuộc vào các loại bài khác nhau
mà việc vận dụng các hình thức và phương pháp dạy học cũng khác nhau,
nhằm bảo đảm phương pháp phải thích ứng với nội dung của bài học. Có hai
loại bài học cần chú ý sử dụng phương pháp dạy học GDMT: Loại bài có

kiến thức toàn bài là GDMT và loại bài có một phần kiến thức là GDMT.
a) Phương pháp dạy học loại bài có kiến thức toàn bài là GDMT.
- Ở loại bài này, tuỳ theo nội dung bài mà có thể sử dụng một trong hai
hình thức dạy học trên lớp hay ngoài trời. Đối với loại bài có nội dung gắn
liền với các điều kiện tự nhiên hoặc các hoạt động thực tiễn thì việc sử dụng
8


hình thức dạy ngoài trời sẽ có hiệu quả cao hơn hình thức dạy trên lớp. Hình
thức dạy học ngoài trời là cơ hội thuận lợi để học sinh vừa hiểu nội dung bài
học một cách sống động, vừa có điều kiện để rèn luyện kỹ năng quan sát,
phân tích các hiện tượng trên thực địa. Tuy nhiên, việc sử dụng hình thức này
đòi hỏi người giáo viên phải sắp xếp thời gian, phải chuẩn bị địa điểm ngoài
thực địa cẩn thận mới có khả năng tiến hành dạy có hiệu quả. Có thể lấy ví dụ
về cách dạy các bài 36 SKG Địa lý lớp 8 gồm các nội dung sau:
+ Đất nước ta đa dạng.
+ Nhóm đất Feralit.
+ Nhóm đất mùn núi cao.
+ Nhóm đất phù sa.
+ Sử dụng và cải tạo đất.
Toàn bộ kiến thức của hai bài này được coi là kiến thức của GDMT bởi
vì các kiến thức đó đều là những vấn đề có liên quan đến việc bảo vệ môi
trường. Đối tượng của bài học là tài nguyên đất, sử dụng và cải tạo đất.
Trong việc giảng dạy, bài này có thể sử dụng cả hai hình thức: Trên lớp
và ngoài trời.
- Hình thức dạy học ngoài trời.
Để tiến hành, giáo viên cần bố trí vào một buổi. Mặt khác giáo viên
cần phải đi thực tế để chuẩn bị địa điểm trước. Địa điểm học phải là nơi có
các hiện tượng biểu hiện rõ rệt những nội dung của bài học đã nêu ở trên.
Như vậy, địa điểm học phải có được các điểm quan sát cho từng hiện tượng

và không xa nhau.
Cách tiến hành: Học sinh đến địa điểm học, mang theo bút và vở để ghi
chép, cả lớp mang theo một vài cuốc xẻng để đào đất. Tại địa điểm học, giáo
viên hướng dẫn chung cho học sinh quan sát các hiện tượng ở từng điểm
quan sát. Tại mỗi điểm quan sát, học sinh cần mô tả địa hình (bằng phẳng hay
có nhiều bậc, đồi núi hay thung lũng...), thực vật (có rừng hay cây bụi, đồng
cỏ hay đất trồng, đồi trọc...), nước (có nước ngập hay không...) sau đó mới đi
sâu vào quan sát về đất.

9


Tại điểm quan sát về đất cần có 4 điểm khác nhau: Điểm quan sát đất
mùn núi cao, điểm quan sát thường ở nơi có rừng, cây bụi hoặc ở nơi có lớp
cỏ che phủ. Điểm quan sát quá trình đá ong hoá phải ở nơi đất dốc, thường
không có rừng hoặc thực vật che phủ. Điểm có đất phù sa (đồng bằng trong
núi, ven sông).
Tại các điểm quan sát xói mòn hoặc cải tạo đất chỉ quan sát các hiện
tượng bên ngoài. Sau khi quan sát, giáo viên cho học sinh tập trung ở nơi
thuận lợi, lấy các mẫu đất quan sát, xác định đặc điểm của đất:
+ Độ tơi xốp.
+ Mầu sắc.
+ Thành phần sinh vật (giun, dế, mối, rễ cây...).
Học sinh cần tìm ra được những đặc tính khác nhau của các loại đất.
Tìm ra nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau đó. Giáo viên dùng phương pháp
thảo luận hay đàm thoại dưới sự điều khiển của mình, gợi mở để học sinh thể
hiện nhận thức của mình.
- Hình thức dạy học trên lớp:
Trong các trường hợp không tổ chức được việc dạy ngoài trời, sẽ thực
hiện hình thức dạy trên lớp. Trong các giờ học, giáo viên có thể sử dụng

nhiều phương pháp khác nhau, song phương pháp nêu vấn đề, phương pháp
đàm thoại gợi mở kết hợp sử dụng tranh ảnh hoặc phương pháp sử dụng băng
hình (nếu có) là có nhiều thuận lợi nhất.
b) Phương pháp dạy học loại bài chỉ có một phần có nội dung GDMT hoặc
có khả năng liên hệ kiến thức GDMT.
Đối với loại bài học này, phương pháp dạy học chủ yếu vẫn là các
phương pháp dạy học Địa lý. Có nhiều phương pháp dạy học truyền thống
cũng như hiện đại được sử dụng trong dạy học Địa lý, song có một số
phương pháp có thể thuận lợi cho việc GDMT. Các phương pháp đó là:
Phương pháp dùng lời tuy là phương pháp thường dùng nhưng vẫn có
ý nghĩa giáo dưỡng và giáo dục tốt. Phương pháp dùng lời có thể sử dụng
trong 2 trường hợp:

10


+ Mô tả các hiện tượng về môi trường hoặc các sự cố môi trường xảy
ra ở nơi này hoặc nơi khác. Bằng những hình ảnh sinh động, lời nói hấp dẫn
và nhiệt tình, giáo viên có thể cho các em hiểu được những phong cảnh thiên
nhiên đẹp, kỳ thú, những hiện tượng tàn phá, huỷ hoại các nguồn tài nguyên
một cách dã man. Ví dụ, trong chương trình Địa lý lớp 8, khi nói về cảnh
quan tự nhiên của nước ta, giáo viên không thể không mô tả Vịnh Hạ Long,
một cảnh đẹp nổi tiếng của nước ta và ngày nay đã trở thành một di sản thiên
nhiên thế giới.
+ Giảng giải về các sự kiện, hiện tượng về môi trường.
Phương pháp dùng lời để giảng giải không đòi hỏi phải mô tả nhiều,
nhưng cần vạch ra bản chất những mối quan hệ và nguyên nhân của chúng.
+ Đọc các tài liệu minh hoạ, bổ sung. Trong các bài học tuỳ theo nội
dung giáo viên có thể đọc các bài viết, các mẩu tin để bổ sung, minh hoạ cho
nội dung bài học. Nhờ cách viết sinh động và cụ thể, có thể giúp cho học sinh

có thêm những kiến thức thực tế, có những ấn tượng sâu sắc về một khía
cạnh của môi trường. Các bài đọc có nội dung GDMT có thể tìm thấy trên
hàng loạt các báo, tạp chí khác nhau.
- Phương pháp đàm thoại (hỏi - đáp) cũng có thể vận dụng trong các
bài giảng nhằm làm cho học sinh hiểu dược vấn đề nào đó đòi hỏi có những
suy nghĩ sâu sắc, có nhận thức về nhiều mối liên hệ của vấn đề đó. Ví dụ khi
nói về tác hại của sự suy giảm một nguồn tài nguyên nào đó, như rừng chẳng
hạn, giáo viên có thể nêu nhiều câu hỏi để học sinh suy nghĩ mà tìm dần các
tác hại của nó và trả lời. Các câu hỏi đó có thể là:
+ Theo các em, nếu tất cả rừng bị phá hết thì ảnh hưởng đầu tiên đến
với con người là gì ? (câu này phải gợi ý để các em trả lời: Thiếu gỗ để xây
dựng, làm các đồ dùng, thiếu củi đun, mất các nguồn thực phẩm như nấm,
măng, củ, hoa quả, cây thuốc chữa bệnh...).
+ Mất rừng thì đất trên sườn đồi núi có bị xói mòn không ? Đất có làm
giảm độ phì không ? (Câu này phải thấy được khi mất rừng thì mất lớp cây
che phủ, mất lớp thảm mục, nên khi mưa nước không được giữ lại để thấm
xuống đất mà chảy trên mặt đất, gây ra xói mòn. Mất rừng thì nguồn chất
hữu cơ cho đất không còn, thiếu đất mùn, thiếu chất dinh dưỡng...).
11


+ Khi mất rừng, nước mưa không được giữ lại để ngấm xuống đất, vậy
có ảnh hưởng gì đến nguồn nước ? (Câu này phải cho học sinh hiểu: nước
mưa không ngấm xuống đất, làm giảm mực nước ngấm, làm mất tác dụng
điều hoà chế độ sông ngòi: về mùa mưa dễ gây lũ lụt, còn mùa cạn thì thiếu
nước).
+ Khi mất rừng, các loại cây ưa sống ở rừng sẽ mọc ở đâu ? Các loại
động vật ưa sống ở dừng sẽ đi đâu ? (Câu này sẽ cho các em hiểu: khi sinh
vật mất nơi sinh sống, chúng sẽ bị chết dần, không sinh sản được và các
giống loài sẽ bị tiêu diệt).

Như vậy, chỉ một hiện tượng mất rừng, có bao nhiêu hậu quả xấu sẽ
đến với con người và thiên nhiên. Những hậu quả này không thể trong một
bài mà giải quyết được. Bởi vậy để giáo dục cho các em hiểu đầy đủ một vấn
đề phong phú thế này, đòi hỏi người giáo viên phải lựa chọn, sắp xếp để đưa
các nội dung nói trên vào nhiều bài học có nói về rừng mới có thể làm cho
các em hiểu dần và đầy đủ được.
- Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan:
Các phương tiện trực quan bao gồm: bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh, băng
hình video, phim ảnh... Đặc biệt, tranh ảnh và nhất là băng hình có tác dụng
gây hứng thú và ấn tượng sâu sắc cho học sinh.
Các bản đồ sẽ giúp cho học sinh hiểu rõ sự phân bố các hiện tượng về
môi trường, còn các biểu đồ sẽ cho thấy mức độ biến đổi phát triển của các
hiện tượng sự vật.
Về biểu đồ có thể cho biết quá trình hình thành phát triển dân số, quá
trình khai thác rừng, quá trình suy giảm các giống nòi sinh vật... Về tranh ảnh
có thể giúp học sinh thấy các hiện tượng cụ thể về từng đối tượng của môi
trường như sự đốt rừng, sự chặt phá rừng để làm rẫy, sự xói mòn đất trên các
sườn dốc, về những loài thú quý hiếm hoặc những phong cảnh đẹp. Hệ thống
tranh ảnh giáo viên có thể tự sưu tầm hoặc tự xây dựng nhất, là các bộ ảnh về
môi trường của địa phương nơi trường đóng.

12


Các phim, băng hình, video về môi trường ngày nay có rất nhiều, đáng
chú ý nhất là các phim giới thiệu về các loài động vật, về tình hình phá rừng,
về hiện tượng xói mòn đất, ô nhiễm môi trường.
Hệ thống băng hình để dạy học chuẩn phải do Công ty thiết bị đồ dùng
dạy học cung cấp, sẽ thuận lợi cho các giáo viên sử dụng. Tuy nhiên, trong
điều kiện các băng hình, phim ảnh chưa có đủ, các trường học, các giáo viên

Địa lý có thể thuê hoặc sưu tầm qua hệ thống Đài truyền hình quốc gia, Đài
truyền hình các tỉnh, thành phố.
3.2. Hình thức tổ chức hoạt động ngoại khoá:
a) Mục đích của các hoạt động ngoại khoá:
Ở trường phổ thông, các môn học Địa lý, Sinh vật, Lịch sử có thể tổ
chức cho học sinh tiến hành các hoạt động ngoại khoá để giáo dục bảo vệ
môi trường cho học sinh. Mục đích của các hoạt động này là nhằm:
- Thông qua thực tế địa phương, giúp học sinh hiểu biết về tình hình
môi trường, về tác động của con người đến môi trường một cách cụ thể.
- Xây dựng cho các em tình cảm yêu thiên nhiên, yêu phong cảnh đẹp,
từ đó biết yêu quê hương đất nước và ý thức bảo vệ môi trường.
- Rèn luyện cho các em một số kỹ năng và phương pháp bảo vệ môi
trường. Thông thường để các em có thể tham gia các hoạt động bảo vệ môi
trường ở địa phương.
b) Các hình thức hoạt động ngoại khoá:
Có rất nhiều hình thức hoạt động khác nhau. Có thể nêu lên một số
hình thức chính sau:
- Nói chuyện về môi trường:
Hình thức này có thể tiến hành cho cả trường, cho một số khối lớp
hoặc cho từng lớp riêng tuỳ theo nội dung của vấn đề muốn nói. Hình thức
này nhằm mở rộng kiến thức lý thuyết cũng như thực tiễn về bảo vệ môi
trường và các biện pháp bảo vệ môi trường. Người báo cáo có thể là các nhà
nghiên cứu về môi trường, các nhà quản lý môi trường, hoặc các thầy cô giáo
chuyên giảng dạy về môi trường. Sau khi nghe báo cáo, giáo viên cần tổ chức

13


cho học sinh viết thu hoạch về nhận thức cũng như tình cảm của mình đối với
vấn đề được nghe. Yêu cầu của bài thu hoạch phải viết ngắn gọn, và là suy

nghĩ chân thành của học sinh.
- Tìm hiểu, nghiên cứu môi trường địa phương.
Tuỳ theo tình hình thực tế của từng địa phương, giáo viên có thể chọn
vấn đề và tổ chức cho học sinh tiến hành tìm hiểu hoặc nghiên cứu. Việc
nghiên cứu có thể tổ chức theo từng nhóm trên tinh thần tự nguyện. Mỗi
nhóm nghiên cứu một vấn đề và được tiến hành trong suốt năm.
Đối với học sinh nông thôn và miền núi, có thể tổ chức cho các em
quan sát:
+ Tình hình xói mòn ở địa phương (Xác định những nơi gây xói mòn,
lập trạm do xói mòn, xác định nguyên nhân, diễn biến xói mòn).
+ Tình hình cháy rừng: Diện tích rừng bị cháy, thời gian cháy, các
nguyên nhân gây cháy rừng...
+ Các mô hình sản xuất của từng gia đình (Vườn - ao - chuồng..., cách
bố trí, các loại cây trồng, hiệu quả kinh tế. Đánh giá từng loại...).
Đối với học sinh ở thành phố, có thể quan sát:
+ Tình hình ô nhiễm nước sông, hồ địa phương. (Đo và phân tích mẫu
nước về một số chỉ số đơn giản mà phòng thí nghiệm trường có thể thực hiện
như độ pH, độ đục, độ ô xy hoà tan, số lượng vi khuẩn...).
+ Tình hình bụi lắng (Do tính tại một thời điểm theo 1 quá trình...).
Những kết quả nghiên cứu của học sinh cần được tổng kết bằng báo
cáo của các nhóm và có thể sử dụng để tổ chức các buổi sinh hoạt Câu lạc bộ
vào cuối năm học.
- Tổ chức các buổi tham quan, dã ngoại tiến hành vào các mùa có thời
tiết đẹp, hoặc có lễ hội để học sinh có thể hiểu được nhiều điều bổ ích, hiểu
biết thêm về các công trình kiến trúc, các di tích văn hoá lịch sử, mở rộng
tầm nhìn về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, được biết thêm các
phong cảnh đẹp của quê hương đất nước. Nhưng cũng qua thực tế đó, các em
còn thấy những tác động tiêu cực của con người đối với môi trường. Tất cả
những điều đó sẽ hình thành dần dần ở mỗi em tình yêu thiên nhiên, yêu quê
hương đất nước, ý thức bảo vệ môi trường.

14


- Tổ chức hoạt động bảo vệ môi trường ở địa phương.
Các hoạt động bảo vệ môi trường ở địa phương có mục đích hình thành
ở các em những kỹ năng và biện pháp bảo vệ môi trường thông thường như
đã nêu ở trên.
+ Xây dựng và bảo vệ môi trường học đường:
Đối với học sinh, nhà trường chính là môi trường quan trọng nhất của
các em. Nhà trường là nơi học tập, lao động, vui chơi giải trí, nơi diễn ra các
hoạt động và các mối quan hệ giữa thầy và trò, giữa bạn bè với nhau. Bởi
vậy, muốn GDMT qua các môn học được tốt, cần phải xây dựng môi trường
nhà trường sạch sẽ, khang trang, có nề nếp ổn định, trong sáng như một mẫu
mực của môi trường con người. Mặt khác phải thường xuyên giáo dục các
em ý thức giữ gìn, bảo vệ trường lớp luôn sạch đẹp là hết sức quan trọng. Bởi
lẽ, trong môi trường học đường, những hoạt động trí tuệ của học sinh chịu
ảnh hưởng lớn của các yếu tố môi trường: Không khí, nhiệt độ, ánh sáng,
tiếng ồn... Muốn học tập tốt, môi trường nhà trường phải mát mẻ, không khí
trong lành, ánh sáng đầy đủ và không gian yên tĩnh. Bên cạnh đó, mọi điều
kiện và phương tiện phục vụ học tập trong trường phải đảm bảo những tiêu
chuẩn vệ sinh cần thiết: Bàn ghế, bảng viết, cấu tạo phòng học... phải thích
hợp cho việc học tập của từng lứa tuổi. Để có được những điều kiện đó, đòi
hỏi phải giáo dục học sinh có ý thức bảo vệ, giữ gìn và xây dựng nhà trường
ngày càng sạch đẹp. Hoạt động cụ thể của học sinh là hằng ngày, hằng tuần
phải quét dọn lớp học, sân trường sạch sẽ. Định kỳ nhà trường tổ chức trồng
cây, chăm bón cây xanh để làm cho quang cảnh trường đẹp và mát mẻ.
Việc bảo vệ môi trường học đường sẽ cho học sinh thấy rõ những lợi
ích của việc bảo vệ môi trường đối với bản thân cũng như đối với tập thể nhà
trường. Môi trường học đường tốt sẽ để lại cho các em những ấn tượng tốt,
những tình cảm đẹp đẽ về mái trường thân yêu của mình, về quê hương, về

tình bạn và tình thầy thò của thời niên thiếu trong suốt cả cuộc đời mình.
Hình ảnh đẹp của nhà trường sẽ nhắc nhở các em trong cuộc sống phải có ý
thức bảo vệ môi trường.
+ Tổ chức trồng cây, trồng rừng và bảo vệ cây xanh. Việc trồng cây ven
theo các đường làng, các đường ô tô liên huyện, liên tỉnh có ý nghĩa lớn đối

15


với môi trường. Nó không những tăng số lượng cây xanh, có ý nghĩa bảo vệ
sự cân bằng sinh thái mà còn có tác dụng tạo ra điều kiện mát mẻ cho đường
làng, đường xã, cho con đường đi lại. Trồng cây và bảo vệ cây sẽ tạo cho học
sinh kỹ năng trồng cây và ý thức bảo vệ môi trường.
Cùng với việc trồng cây ven đường, việc trồng rừng trên các khu đất
trống, đồi trọc nhằm tận dụng nguồn tài nguyên đất hoặc cải tạo đất đã bị suy
thoái, bị cạn kiệt. Hoạt động này có thể thực hiện tốt ở các trường vùng nông
thôn hoặc các vùng trung du và miền núi. Nhà trường có thể nhận hoặc phối
hợp với địa phương để trồng rừng trên các vùng lãnh thổ nói trên là loại rất
phổ biến ở nước ta. Hoạt động này vừa có tác dụng cải tạo môi trường, vừa
rèn luyện kỹ năng bảo vệ môi trường cho học sinh đồng thời có hiệu quả về
kinh tế.
Tóm lại, GDMT ở trường phổ thông có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc đào tạo thế hệ trẻ. Địa lý là một trong các môn học có nhiều khả năng
giáo dục môi trường cho học sinh. Ở nước ta, việc đưa giáo dục môi trường
vào các trường học tuy đã đặt ra từ lâu song việc thực hiện còn gặp nhiều khó
khăn. Hiện nay, được sự giúp đỡ của chương trình phát triển của Liên Hiệp
Quốc (UNDP), Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng các chính sách và
chiến lược GDMT trong các trường phổ thông. Đây là khâu quan trọng để
thực hiện việc GDMT trong nhà trường phổ thông một cách toàn diện, thống
nhất và có hiệu quả trong cả nước. Đã đến lúc "Mỗi giáo viên phải trở thành

một nhà giáo dục môi trường để giảng dạy các môn học trong nhà trường"
như ý kiến của GSTS Vũ Ngọc Hải - Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
phát biểu trong buổi bế mạc Hội thảo Quốc gia về Bản tuyên bố chính sách
và Chiến lược giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông Việt Nam.
Bởi vậy, việc chuẩn bị vốn hiểu biết về nội dung và phương pháp GDMT qua
từng bộ môn ở trường phổ thông là điều cần thiết đối với mỗi một sinh viên
các trường sư phạm cũng như các giáo viên ở trường phổ thông hiện nay.
GIÁO ÁN ĐỊA LÝ 8
TiÕt 41:
Bµi 36:

ĐẶC ĐIỂM ĐẤT VIỆT NAM

16


I. Mục tiêu:
1. Kiến thức:
- Trình bày và giải thích được đặc điểm chung của đất Việt Nam.
- Nắm được đặc tính, sự phân bố và giá trị kinh tế của các nhóm đất chính
ở nước ta.
- Nêu được một số vấn đề lớn trong sử dụng và cải tạo đất ở Việt Nam.
- Thấy được sự cần thiết phải có biện pháp bảo vệ và cải tạo đất.
2. Kỹ năng:
- Đọc lát cắt địa hình, thổ nhưỡng để nhận biết sự tương ứng trong phân
bố đất với địa hình ở nước ta.
- Sử dụng bản đồ, lược đồ thổ nhưỡng, bản đồ địa lý tự nhiên hoặc Át lát
Địa lý VN:
+ Nhận xét sự phân bố các loại đất chính. Giải thích sự phân bố đó.
- Phân tích bảng số liệu về tỉ lệ của 3 nhóm đất chính.

3. Thái độ - hành vi:
- Có ý thức giữ gìn và bảo vệ đất đai khỏi bị ô nhiễm và suy thoái.
II. Chuẩn bị:
- Bản đồ tự nhiên Việt Nam treo tường hoặc lược đồ (H36-1 phóng to).
- Lát cắt địa hình - thổ nhưỡng theo vĩ tuyến 20 (H36-1 phóng to).
- Mẫu đất.
III. Tiến trình dạy - học:
A. Kiểm tra bài cũ:
- Xác định 9 hệ thống sông ngòi lớn của nước ta trên bản đồ.
- Nêu đặc điểm của sông ngòi Trung Bộ.
B. Bài mới:
Vào bài: Những người nông dân của nước ta đã bao đời nay gắn bó với
đất đai, đồng ruộng. Đất vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của con
người. Bài học hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu về đất, một tài nguyên hết sức
quý giá của nhân loại nói chung và của người Việt Nam nói riêng.
1. Đặc điểm chung của đất Việt Nam
a) Đất ở nước ta rất đa dạng,phức tạp,
thể hiện rõ tính chất nhiệt đới, gió mùa
của thiên văn

17


? Thành phần chính của đất.
? Những nhân tố hình thành đất.
HS quan sát H36.1
? Nước ta có những loại đất nào?
? Đất đa dạng có lợi gì cho nông
nghiệp?
HS quan sát H36.1

? Nước ta có những nhóm đất chính
nào?
Đất Feralit được hình thành như thế
nào? Tính chất, các loại cây thích
hợp.
? Hình thành như thế nào? đặc tính?
? Nguồn gốc, tính chất các cây thích
hợp?
GV: Nhóm này có nhiều loại: Trong
đê, ngoài đê, phèn, mặn.
? Nêu giá trị của đất.
? Vấn đề sử dụng đất ở Việt Nam ra
sao? Bảo vệ đất như thế nào?

- Nguyên nhân: Sự đa dạng của đất là do
nhiều nhân tố tạo nên như đá mẹ, địa
hình, khí hậu, nguồn nước, sinh vật và sự
tác động của con người.
b) Nước ta có 3 nhóm đất chính
+ Nhóm đất Feralit (chiếm 65% S đất tự
nhiên), hình thành trực tiếp tại các vùng
đồi núi. Có giá trị với việc trồng rừng và
cây công nghiệp..
+ Nhóm đất mùn núi cao (chiếm 11%
diện tích đất tự nhiên), chủ yếu là rừng
đầu nguồn cần được bảo vệ.
+ Nhóm đất bồi tụ, phù sa sông và biển
(chiếm: 24% diện tích đất tự nhiên), tập
trung ở các đồng bằng, nhất là đồng bằng
sông Cửu Long và đồng bằng sông

Hồng. Nhóm đất này tơi xốp giữ nước
tốt, thích hợp với cây lương thực, thực
phẩm nhất là cây lúa.
2. Vấn đề sử dụng và cải tạo đất ở Việt
Nam
- Đất là tài nguyên có giá trị. Việc sử
dụng đất ở nước ta vẫn còn nhiều vấn đề
chưa hợp lí.
- Cần phải sử dụng hợp lí và có biện
pháp bảo vệ đất; chống xói mòn, rửa trôi,
bạc màu đất ở miền núi; cải tạo đất chua,
mặn, phèn ở vùng đồng bằng ven biển.

C. Củng cố:
? So sánh 3 nhóm đất chính (về sự phân bố, đặc tính, sử dụng …)
D. Hoạt động nối tiếp:
- Trả lời câu hỏi, bài tập trong SGK, tập bản đồ.
- GV hướng dẫn vẽ biểu đồ (C2).
IV. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

18


Qua quá trình áp dụng "Giáo dục môi trường qua môn Địa lý ở trường
THCS", tôi thấy việc đưa giáo dục môi trường qua môn Địa lý giúp học sinh
nhận thức rõ đặc điểm của môi trường tự nhiên, vai trò của môi trường đối
với đời sống và sự phát triển của xã hội loài người. Từ cơ sở nhận thức đó,
giáo dục cho học sinh lòng yêu thích, tôn trọng thiên nhiên, muốn được bảo
vệ môi trường sống, các phong cảnh đẹp, các di tích văn hoá lịch sử của đất
nước, và cuối cùng, làm cho việc bảo vệ môi trường trở thành phong cách,

nếp sống của họ. Trang bị cho học sinh một số phương pháp và kĩ năng bảo
vệ môi trường để học sinh có thể thực hành các nhiệm vụ bảo vệ môi trường
ở địa phương.
Thông qua phương pháp giảng dạy giáo dục môi trường qua môn Địa
lý được áp dụng ở lớp 8B trường THCS Minh Khai, tôi thấy học sinh hứng
thú khi hiểu biết thêm những lợi ích từ việc bảo vệ môi trường mang lại, cũng
như tác hại của việc làm ô nhiễm môi trường, từ đó các tiết học Địa lý đạt
được kết quả ngày càng khả quan.
Kết quả năm học 2014 - 2015
Lớp

Sĩ số

8B

53

Điểm giỏi
Điểm khá
Điểm TB
Điểm yếu
Số
Tỷ lệ
Số
Tỷ lệ
Số
Tỷ lệ
Số
Tỷ lệ
lượng (%) lượng (%) lượng (%) lượng (%)

19
36
22
42
12
22
0
0

C. KẾT LUẬN

19


- Rút kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy. Không nên gò ép giáo dục
môi trường khi trong bài dạy không có kiến thức về vấn đề môi trường hoặc khả
năng liên hệ vấn đề bảo vệ môi trường làm bài dạy trở nên gượng gạo hay cứng
nhắc.
- Ở điều kiện của chúng ta, việc giảng dạy dưới hình thức ngoài trời rất
khó thực hiện. Giảng dạy dưới hình thức tổ chức dạy học nội khoá là chủ yếu,
do đó nếu không chuẩn bị được khâu tổ chức cũng như đối tượng Địa lý giảng
dạy được chu đáo, thuận lợi thì không nên cố tình tổ chức.
- Đối với những bài Địa lý có nội dung giáo dục môi trường hay có khả
năng liên hệ giáo dục môi trường thì giáo viên không được bỏ qua hoặc xem nhẹ
vì chỉ qua phần này mới giáo dục được học sinh nói chung và các công dân
trong tương lai của đất nước có ý thức cùng với cộng đồng bảo vệ môi trường
sống của chính mình và của mọi người.
XÁC NHẬN

Thanh Hóa, ngày 10 tháng 3 năm 2016


CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
NGƯỜI VIẾT

Nguyễn Thị Hồng

20



×