MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong lộ trình nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào
năm 2020. Mọi tỉnh, thành cùng các thành phần kinh tế trên cả nước đều ra
sức phấn đấu đưa đất nước giành thắng lợi to lớn trong sự nghiệp này.
Những năm vừa qua, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã đóng góp
một phần không nhỏ trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Các doanh
nghiệp này đã làm tăng thêm vốn đầu tư cho cả nước, giải quyết công ăn việc
làm cho hàng vạn lao động, đưa vào những tiến bộ kỹ thuật, khoa học công
nghệ tiên tiến, tăng thu cho ngân sách nhà nước… Đối với thành phố Hải
phòng nói riêng, các doanh nghiệp này đã đem lại cho Hải Phòng những kết
quả khả quan, góp phần đưa Hải Phòng ngày một phát triển đi lên.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên, các doanh nghiệp đầu tư
nước ngoài vẫn còn một số tồn tại trong đó có vi phạm về thuế bởi vì sau yếu
tố môi trường đầu tư, thuế là một điều dễ nhận thấy nhất, nhìn rõ nhất. Các
sắc thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt… là những sắc thuế gián thu
không ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của doanh nghiệp nước ngoài còn thuế
thu nhập doanh nghiệp là sắc thuế trực thu có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả
còn lại của doanh nghiệp nước ngoài. Cho nên, một số doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài tại Hải Phòng, mặc dù hiểu biết khá rõ về các luật thuế nói
chung, thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng nhưng lại tận dụng triệt để mọi
kẽ hở để né tránh nghĩa vụ thuế của mình, đồng thời vẫn còn một số doanh
nghiệp cố tình vi phạm pháp luật thuế TNDN. Do đó, những vi phạm về thuế
TNDN vẫn cứ tồn tại trong khu vực này đòi hỏi phải có những giải pháp thích
hợp để ngăn chặn.
Từ năm 2004, Luật thuế TNDN đã có sự thay đổi nhằm khắc phục, tạo
sự bình đẳng giữa DN trong nước với DN nước ngoài, tăng cường thu hút vốn
1
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Và luật thuế TNDN đã có bước tiến dài
trong việc sửa đổi toàn diện về luật thuế, sắc thuế bằng việc ban hành sửa đổi
bổ sung một số điều luật thuế TNDN ngày 19 tháng 6 năm 2013. Đồng thời,
Hải Phòng cũng đã có những giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả công tác
quản lý thu thuế TNDN đối với các DN có vốn đầu tư nước ngoài tại Hải
Phòng hưởng ứng năm 2015 - năm tiếp tục thực hiện chủ đề “Phục hồi kinh
tế - Đổi mới mô hình tăng trưởng” nhưng có lẽ những vi phạm về thuế TNDN
sẽ còn tồn tại dưới dạng nào đó.
Với mục đích tìm hiểu về thực trạng công tác quản lý thu thuế TNDN
đối với các DN có vốn đầu tư nước ngoài tại Hải Phòng. Xuất phát từ tình
hình thực tiễn đó, Tôi đã chọn đề tài “Tăng cường công tác quản lý thuế
TNDN đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Cục thuế thành phố Hải
Phòng” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Về mặt lý luận: Đề tài tập trung nghiên cứu, hệ thống hóa và góp phần
làm sáng tỏ hơn các vấn đề lý luận về quản lý thu thuế thu nhập doanh
nghiệp.
Về mặt thực tiễn: Bằng các phương pháp khảo sát và phân tích, luận
văn tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu thuế TNDN tại Cục
thuế thành phố Hải Phòng, đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý thu thuế
TNDN tại Cục thuế thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý thuyết và
thực tiễn của việc thực hiện quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các
doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hải Phòng nhằm nâng
cao tính tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
2
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu mà luận văn đề ra, luận văn sử dụng
các phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa
duy vật lịch sử theo quan điểm hệ thống, lịch sử cụ thể để tiếp cận, phân tích,
đánh giá các vấn đề cần nghiên cứu. Ngoài ra, luận văn kết hợp sử dụng các
kỹ thuật xử lý thông tin như các phương pháp phân tích, so sánh, hệ thống
hóa.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về mặt lý luận: Đề tài luận văn đã hệ thống hóa và phân tích những
vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài.
Về mặt thực tiễn: Đề tài luận văn tiến hành đi sâu tìm hiểu thực tế tình
hình cụ thể về hoạt động kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nước ngoài
trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong khoảng thời gian 2011 - 2015, trên cơ
sở đó chỉ ra các vấn đề còn bất cập và nguyên nhân. Từ đó kết hợp giữa lý
luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp về công tác thuế hiện nay đối với
các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
6. Bố cục của luận văn
Bố cục của luận văn ngoài phẩn mở đầu và kết luận và danh mục tài
liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thuế thu nhập doanh nghiệp và quản lý
thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.
Chương 2: Thực trạng quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với
các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Chương 3: Một số biện pháp tăng cường công tác quản lý thuế
TNDN đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Cục thuế thành phố Hải
Phòng.
3
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
VÀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI
1.1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế ra đời gắn liền với sự hình thành của Nhà nước, để có nguồn lực
trang trải cho các hoạt động của bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng
nhiệm vụ mà xã hội giao phó, Nhà nước phải đánh thuế. Lúc đầu thuế chỉ đơn
giản là những khoản đóng góp tự nguyện bằng hiện vật và lao vụ của người
dân cho Nhà nước. Sau đó, để đảm bảo tính tiện lợi trong quá trình thu nộp,
quản lý và sử dụng nguồn thu nên thuế đã được thu bằng tiền.
- Thuế là những khoản thu có tính chất bắt buộc gắn liền với quyền lực
của Nhà nước.
- Thuế không gắn liền với lợi ích trực tiếp mà người nộp thuế được
hưởng từ những hàng hóa và dịch vụ mà Nhà nước cung ứng, tức là nó không
được hoàn trả trực tiếp.
Từ những đặc điểm trên có thể đưa ra một quan niệm về thuế: Thuế là
khoản thu có tính chất bắt buộc được thể chế hóa bằng pháp luật do các thể
nhân và pháp nhân đóng góp cho Nhà nước nhằm trang trải các nhu cầu chi
tiêu của Nhà nước. Những lợi ích mà người nộp thuế được hưởng không phải
lúc nào cũng được Nhà nước hoàn lại một cách trực tiếp và tương ứng với số
thuế đã nộp.
Thuế thu nhập doanh nghiệp xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển
của thuế. Hiện nay ở các nước phát triển, thuế thu nhập doanh nghiệp giữ vai
trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách Nhà
4
nước và thực hiện phân phối thu nhập. Mức thuế cao hay thấp áp dụng cho
các chủ thể thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là khác nhau,
điều đó phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong
phân phối thu nhập của từng quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời bắt nguồn từ các lý do chủ yếu sau:
- Thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời bắt nguồn từ yêu cầu thực hiện
chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội.
- Sự ra đời của thuế thu nhập doanh nghiệp xuất phát từ nhu cầu tài
chính của Nhà nước.
Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh vào lợi
nhuận của các doanh nghiệp.
Ở Việt Nam, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức.
Cùng với công cuộc cải cách thuế bước I năm 1990, Luật thuế lợi tức
đã được ban hành. Tuy nhiên qua 8 năm thực hiện, Luật thuế lợi tức dần dần
bộc lộ nhiều nhược điểm và không còn phù hợp với tình hình kinh tế Việt
Nam trong giai đoạn mới: giai đoạn mở rộng quan hệ hợp tác với các nước
trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã
được ban hành nhằm đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh
tế trong giai đoạn mới.
Thuế TNDN là một sắc thuế trong hệ thống thuế của Việt Nam. Thuế
TNDN là loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi trừ đi các khoản
chi phí liên quan đến thu nhập của cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Thuế
TNDN được áp dụng chung cho tất cả các thành phần kinh tế, điều chỉnh cả
đối với cơ sở thường trú của công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh tại
Việt Nam, các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt
5
Nam. Loại thuế này đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới áp dụng vì nó
mang lại hiệu quả cao và bao quát được nguồn thu.
Các đặc điểm của thuế TNDN:
- Thuế TNDN là loại thuế trực thu, đối tượng nộp thuế TNDN là các
doanh nghiệp, các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đồng
thời cũng là người chịu thuế.
- Thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp
hoặc của các nhà đầu tư. Thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập chịu
thuế nên chỉ khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận
mới phải nộp thuế TNDN.
- Thuế TNDN mang đầy đủ tính chất của thuế trực thu, thường mang
tính lũy tiến, đảm bảo công bằng xã hội. Thu nhập được hình thành thông qua
quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại thu nhập quốc dân.
- Thuế TNDN là thuế khấu trừ trước thuế thu nhập cá nhân (TNCN).
Thu nhập mà các cá nhân nhận được từ hoạt động đầu tư như: lợi tức cổ phần,
lãi tiền gửi ngân hàng, lợi nhuận do góp vốn liên doanh, liên kết là phần thu
nhập được chia sau khi nộp thuế TNDN. Do vậy, thuế TNDN cũng được coi
là một biện pháp quản lý thuế TNCN.
1.1.2. Nội dung cơ bản của thuế thu nhập doanh nghiệp
1.1.2.1. Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Người nộp thuế TNDN là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế (sau đây gọi là doanh nghiệp) bao gồm:
- Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật
doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật đầu tư, Luật các tổ
chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật chứng khoán, Luật dầu khí,
Luật thương mại và các văn bản pháp luật khác dưới các hình thức: Công ty
cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp tư
6
nhân, Doanh nghiệp nhà nước, Văn phòng Luật sư, văn phòng công chứng tư,
các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh, các bên trong hợp đồng phân chia
sản phẩm dầu khí, xí nghiệp liên doanh dầu khí, công ty điều hành chung.
- Các đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ có thu nhập trong tất cả các lĩnh vực;
- Các tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã;
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài
(sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú tại Việt Nam.
Cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài là cơ sở sản xuất, kinh
doanh mà thông qua cơ sở này, doanh nghiệp nước ngoài tiến hành một phần hoặc
toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mang lại thu nhập bao gồm:
+ Chi nhánh, văn phòng điều hành; nhà máy; công xưởng; phương tiện
vận tải; hầm mỏ; mỏ dầu, khí hoặc địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên
khác tại Việt Nam.
+ Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp;
+ Cơ sở cung cấp dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người
làm công hay một tổ chức, các nhân khác;
+ Đại lý cho doanh nghiệp nước ngoài;
+ Đại diện tại Việt Nam trong trường hợp là đại diện có thẩm quyền ký
kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài hoặc đại diện không có thẩm
quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài nhưng thường
xuyên thực hiện việc giao hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam.
Trong trường hợp Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết có quy định khác về cơ sở thường trú thì thực
hiện theo quy định của Hiệp định đó.
- Tổ chức khác ngoài các tổ chức nêu trên có hoạt động sản xuất kinh
doanh hàng hóa hoặc dịch vụ và có thu nhập chịu thuế.
7
1.1.2.2. Phương pháp tính thuế TNDN
- Số thuế TNDN phải nộp trong kỳ tính thuế bằng thu nhập tính thuế
nhân với thuế suất.
Thuế TNDN
Thu nhập
=
phải nộp
x
tính thuế
Thuế suất
thuế TNDN
Trường hợp doanh nghiệp nếu có trích quỹ phát triển khoa học và công
nghệ thì tính thuế TNDN phải nộp được xác định như sau:
Thuế TNDN
=
phải nộp
Thu nhập
tính thuế
-
Phần trích lập quỹ
x
khoa học - công nghệ
Thuế suất
thuế TNDN
Trường hợp doanh nghiệp đã nộp thuế TNDN hoặc loại thuế tương tự
thuế TNDN ở ngoài Việt Nam thì doanh nghiệp được trừ số thuế TNDN đã
nộp nhưng tối đa không quá số thuế TNDN phải nộp theo quy định của Luật
thuế TNDN.
1.1.2.3. Căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
- Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế được xác định bằng thu nhập
chịu thuế trừ thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển từ các
năm trước theo quy định.
Thu nhập tính thuế được xác định theo công thức sau:
Thu nhập
tính thuế
=
Thu nhập
chịu thuế
Thu nhập được
-
miễn thuế
Các khoản lỗ được kết
+
chuyển theo quy định
Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động
sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác.
Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế xác định như sau:
Thu nhập
chịu thuế
=
Doanh
thu
-
Chi phí
được trừ
8
+
Các khoản thu
nhập khác
Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bằng doanh
thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trừ chi phí được trừ của
hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó. Doanh nghiệp có nhiều
hoạt động kinh doanh áp dụng nhiều mức thuế suất khác nhau thì doanh nghiệp
phải tính riêng thu nhập của từng hoạt động nhân với thuế suất tương ứng.
Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản phải hạch toán
riêng để kê khai nộp thuế TNDN, không được bù trừ với thu nhập hoặc lỗ từ
các hoạt động sản xuất kinh doanh khác.
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ số tiền bán hàng, tiền
cung ứng dịch vụ (không có thuế GTGT nếu cơ sở kinh doanh nộp thuế
GTGT theo phương pháp khấu trừ; có cả thuế GTGT nếu cơ sở kinh doanh
nộp thuế theo phương pháp trực tiếp) sau khi đã trừ chiết khấu giảm giá hàng
bán, trị giá hàng bị trả lại, tiền lãi trả chậm, nhưng bao gồm cả các khoản trợ
giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh được hưởng. Doanh thu tính thuế
còn bao gồm trị giá của hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu tặng (tính
theo giá của mặt hàng cùng loại hoặc tương đương trên thị trường tại thời
điểm trao đổi, biếu, tặng, trang bị, thưởng cho người lao động) và sản phẩm tự
dùng (tính theo chi phí để sản xuất ra sản phẩm đó)…
1.1.3. Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp trong nền kinh tế nƣớc ta
hiện nay
Các nhà kinh tế học thường đề cập vai trò của thuế đối với ngân sách
Nhà nước và đời sống xã hội. Bởi vì, trên thực tế thông qua hoạt động thu
thuế, nhà nước tập trung được một bộ phận của cải của xã hội từ đó hình
thành nên quỹ NSNN và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội.
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong
những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Trong điều kiện nền kinh tế thị
trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động
9
kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh
tế - xã hội. Thuế TNDN bao gồm những vai trò chủ yếu sau:
* Thuế TNDN chiếm vị trí quan trọng trong tổng thu NSNN
Phạm vi áp dụng của thuế TNDN rất rộng gồm cá nhân, nhóm kinh
doanh, hộ cá thể và các tổ chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ có phát sinh lợi nhuận. Nền kinh tế thị trường nước ta ngày
càng phát triển và ổn định, tăng trưởng kinh tế được giữ vững ngày càng cao,
các chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ ngày càng mang lại nhiều
lợi nhuận thì khả năng huy động nguồn tài chính cho NSNN thông qua thuế
TNDN ngày càng dồi dào.
* Thuế TNDN là công cụ quan trọng của nhà nước trong điều tiết nền
kinh tế vĩ mô
- Nhà nước ban hành một hệ thống pháp luật về thuế TNDN áp dụng
chung cho các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, tạo sự
bình đẳng trong cạnh tranh, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. Như vậy,
với các doanh nghiệp cùng sản xuất một mặt hàng như nhau, cùng bán giá bán
trên thị trường như nhau, nếu cơ sở sản xuất nào càng hạ thấp được giá thành
sản phẩm, càng thu được nhiều lợi nhuận thì càng phát triển mạnh và ngược
lại thì dễ dẫn tới bị phá sản.
- Thông qua việc xác định phạm vi thu thuế và không thu thuế, Nhà
nước thể hiện sự ưu đãi của mình đối với một số đối tượng trong xã hội không
phải nộp thuế hoặc thể hiện sự khuyến khích của Nhà nước đối với việc phát
triển của một lĩnh vực ở một vùng nào đó.
* Điều tiết khuyến khích và tiết kiệm đầu tư theo hướng nâng cao năng
lực và hiệu quả xã hội.
- Ngoài việc quy định thuế suất chung cho các cơ sở sản xuất, kinh
doanh Nhà nước cũng đưa ra thuế suất ưu đãi để áp dụng đối với từng ngành
10
ngh, mt hng, lnh vc th hin mc khuyn khớch hay khụng khuyn
khớch ca Nh nc i vi nhng ngnh ngh, mt hng, lnh vc ú trong
nn kinh t.
- Khụng nhng ch khuyn khớch u t bng vic nh ra mt thu sut
hp lý, m thu TNDN cũn c s dng l mt bin phỏp khuyn khớch b
vn u t vo cỏc ngnh ngh, mt hng, cỏc vựng m Nh nc cn tp
trung khuyn khớch y mnh sn xut, khai thỏc tim nng v vn trong dõn
c v ca cỏc nh u t nc ngoi (TNN), h tr cỏc doanh nghip khc
phc khú khn, ri ro phỏt trin sn xut bng vic s dng bin phỏp
min, gim thu TNDN theo mc khỏc nhau.
* Thu TNDN l mt cụng c ca nh nc thc hin chớnh sỏch cụng
bng xó hi.
Trong iu kin nn kinh t th trng nc ta, tt c cỏc thnh phn
kinh t u cú quyn t do kinh doanh v bỡnh ng trờn c s phỏp lut. Cỏc
doanh nghip vi lc lng lao ng cú tay ngh cao, nng lc ti chớnh
mnh thỡ doanh nghip ú s cú u th v cú c hi nhn c thu nhp
cao; ngc li cỏc doanh nghip vi nng lc ti chớnh, lc lng lao ng b
hn ch s nhn c thu nhp thp, thm chớ khụng cú thu nhp. hn ch
nhc im ú, Nh nc s dng thu TNDN lm cụng c iu tit thu nhp
ca cỏc ch th cú thu nhp cao, m bo yờu cu úng gúp ca cỏc ch th
kinh doanh vo NSNN c cụng bng, hp lý.
1.2.
KHI NIM V CC HèNH THC U T NC NGOI
1.2.1 Khỏi nim v u t nc ngoi
ĐTNN thực chất là sự di chuyển vốn đầu t- từ n-ớc này sang n-ớc khác
để sản xuất và kinh doanh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. ĐTNN vào
Việt Nam là một hình thức quan hệ kinh tế quốc tế, phản ánh mối quan hệ
giữa chủ đầu t- (có thể là cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức phi chính phủ,
11
chính phủ) và người nhận đầu tư (cá nhân, chính phủ Việt Nam). Vốn đầu
t- quốc tế có thể là tiền, công nghệ, vật tư
Căn cứ vào tính chất sử dụng vốn, ĐTNN gồm hai hình thức:
+ Đầu t- gián tiếp: Là đầu t- mà chủ đầu t- n-ớc ngoài bỏ vốn đầu t-,
không trực tiếp quản lý và tham gia điều hành đối t-ợng đầu t-, nh-: Hỗ trợ
phát triển không chính thức (ODA, tín dụng th-ơng mại quốc tế, đầu t- gián
tiếp của t- nhân d-ới hoạt động mua bán trái phiếu, thành lập công ty,).
+ Đầu t- trực tiếp (FDI): là hoạt động đầu t- mà chủ đầu t- bỏ vốn đầu
t-, trực tiếp quản lý và tham gia điều hành, ph-ơng pháp kinh doanh chịu rủi
ro kinh doanh.
Theo Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 quy định chi tiết thi
hành Luật Đầu t- n-ớc ngoài tại Việt Nam và Nghị định số 27/2003/NĐ-CP
ngày 19/3/2003 thì FDI gồm ba hình thức:
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh: là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc
nhiều bên để tiến hành đầu t-, kinh doanh ở Việt Nam, trong đó quy định
trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập
pháp nhân mới, Các DN có vốn ĐTNN đ-ợc hợp tác với tổ chức, cá nhân n-ớc
ngoài để thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh.
- Doanh nghiệp liên doanh: là DN đ-ợc thành lập tại Việt Nam trên cơ sở
kinh doanh tại Việt Nam. DN liên doanh bao gồm cả DN 100% vốn n-ớc
ngoài đã đ-ợc thành lập tại Việt Nam liên doanh với các đối t-ợng là các DN
Việt Nam; Cơ sở khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học đáp
ứng các điều kiện do chính phủ quy định và Doanh nghiệp liên doanh.
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu t- n-ớc ngoài: là DN thuộc sở hữu của
nhà ĐTNN do Nhà ĐTNN thành lập tại Việt Nam tự quản lý và tự chịu trách
nhiệm về kết quả kinh doanh. DN 100% vốn ĐTNN đ-ợc thành lập theo hình
thức công ty TNHH, có t- cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, đ-ợc
thành lập và hoạt động kể từ ngày đ-ợc cấp giấy phép đầu t-..
12
1.2.2 Tầm quan trọng của việc thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp của nƣớc
ngoài vào Việt Nam.
Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho nền kinh tế
là chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta.
Quá trình vận động tồn tại và phát triển cùng với sự đóng góp ngày
càng to lớn có hiệu quả của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cho
sự ổn định, phát triển nền kinh tế của nước ta trong những năm qua đã khẳng
định vị trí và vai trò tầm quan trọng của thành phần kinh tế này.
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu trong năm 2013 đã tăng
11%, đạt mức trung bình hàng năm trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế
toàn cầu. Theo báo cáo của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát
triển (UNCTAD) được công bố ngày 29/1, trong năm 2014, vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu đã giảm 8% xuống 1.260 tỷ USD do tình trạng
"mong manh" của nền kinh tế thế giới, những rủi ro địa chính trị và các chính
sách thiếu ổn định.
Các nước đang phát triển muốn đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế
của mình cần có lượng vốn lớn trong khi khả năng huy động nguồn lực từ
trong nước có hạn do nhiều nguyên nhân khác nhau. Cho nên, hầu như họ đều
tìm mọi cách thu hút nguồn vốn từ bên ngoài, mà nguồn vốn FDI là rất quan
trọng bởi tính ưu việt của nó so với các nguồn huy động khác. Cạnh tranh thu
hút nguồn vốn này giữa các quốc gia không kém phần quyết liệt, nhất là các
nước trong khu vực. Bằng nhiều hình thức ưu đãi thu hút đầu tư hấp dẫn
mang tính lợi thế so sánh, trong đó thuế cũng là một công cụ mà hầu như
quốc gia nào cũng sử dụng để khuyến khích đầu tư.
Đối với Việt Nam: Một quốc gia đang trong giai đoạn thoát khỏi nước
có thu nhập thấp sang nước có thu nhập trung bình trên thế giới thì tăng
13
trưởng kinh tế là mục tiêu số một để tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn, và thực
hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội khác như: chống lạm phát, gia tăng xuất
khẩu, giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo. Nhưng để tăng trưởng
kinh tế thì yếu tố vật chất quyết định là gia tăng vốn đầu tư. Cùng với việc
đẩy mạnh khai thác nguồn vốn đầu tư trong nước thì việc tăng cường thu hút
nguồn vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa rất quan trọng cần phải được quan
tâm đặc biệt.
1.3.
QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI
1.3.1. Nội dung, yêu cầu của quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với
các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
1.3.1.1. Khái niệm quản lý thuế
Quản lý thuế là hoạt động quản lý gắn liền với cơ quan thuế - một tổ chức
nhà nước có tư cách pháp nhân. Do đó, quản lý thuế là một hình thức quản lý
công. Quản lý thuế chủ yếu thực hiện khâu hành pháp về thuế.
Quản lý thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước,
chủ yếu thuộc lĩnh vực hành pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp, với các
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do luật quy định nhằm thực hiện chính sách
thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua. Nói cách khác, quản lý thuế
là khâu tổ chức thực hiện chính sách thuế của cơ quan thuế các cấp, là việc
định ra một hệ thống các tổ chức, phân công trách nhiệm cho các tổ chức này,
xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc
thực thi các chính sách thuế nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra, trong điều kiện
môi trường quản lý luôn biến động.
Quản lý thuế quan tâm trước hết tới việc thực thi chính sách thuế, để thực
hiện tốt công tác quản lý thuế cần có một chính sách thuế hợp lý. Sau khi
chính sách thuế được hoạch định và được thông qua, chính sách đó được thực
14
thi trong thực tế. Quản lý thuế có vai trò quyết định trong việc đưa chính sách
thuế vào cuộc sống. Hoạt động quản lý thuế là sự tác động có tổ chức, tuân
theo những quy tắc nhất định và mang tính quyền lực nhà nước. Đây cũng có
thể coi là hoạt động quản lý hành chính - kinh tế trong lĩnh vực thuế.
1.3.1.2. Nội dung quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
Hoạt động quản lý thuế bao hàm nhiều nội dung được quy định cụ thể
trong Luật quản lý thuế. Nó bao gồm:
- Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế
- Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế
- Xóa nợ tiền thuế, tiền phạt
- Quản lý thông tin về người nộp thuế
- Kiểm tra thuế, thanh tra thuế
- Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
- Xử lý vi phạm pháp luật về thuế
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
Quản lý thuế được thực hiện bằng các quy chế, quy trình kỹ thuật nghiệp
vụ nhất định với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do luật quy định, do vậy,
xét về khía cạnh hành chính thuế, nội dung chính của quản lý thuế sẽ là các
trình tự và thủ tục thuế của các đối tượng có liên quan (đối tượng nộp thuế, cơ
quan thuế và các đối tượng khác). Các trình tự và thủ tục thuế - hay là các
“quy tắc ứng xử” này được xây dựng trong mọi lĩnh vực của công tác quản lý
thuế: kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế…với mục đích nhằm làm cho các đối
tượng liên quan thực hiện đúng các nghĩa vụ luật định về thuế. Thông qua
công tác quản lý thuế, các “quy tắc ứng xử” này sẽ được xây dựng, ban hành,
hướng dẫn và kiểm tra bằng “sức cưỡng chế” của cơ quan thuế.
Nội dung quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài:
15
Đối tượng chịu thuế: tất cả các khoản thu nhập thu được từ bất kỳ hoạt
động kinh tế nào của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều là đối tượng
chịu thuế TNDN.
Các doanh nghiệp là đối tượng nộp thuế TNDN (nếu là hợp đồng hợp tác
kinh doanh thì thuế TNDN được tính cho từng hợp đồng hợp tác kinh doanh).
Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm:
* Công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở thường trú
tại Việt Nam. Cơ sở thường trú của công ty nước ngoài tại Việt Nam là cơ sở
kinh doanh mà thông qua cơ sở này công ty nước ngoài thực hiện một phần
hay toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình tại Việt nam mang lại thu nhập.
Cơ sở thường trú của công ty nước ngoài tại Việt Nam bao gồm các hình thức sau:
- Công ty đó có tại Việt nam: chi nhánh, trụ sở điều hành, văn phòng (trừ
văn phòng đại diện thương mại không được phép kinh doanh theo pháp luật
Việt Nam), nhà máy, xưởng sản xuất, kho giao nhận hàng hóa, phương tiện
vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu hoặc khí đốt, địa điểm thăm dò hoặc khai thác tài
nguyên thiên nhiên hay các thiết bị, phương tiện phục vụ cho việc thăm dò tài
nguyên thiên nhiên.
- Hoặc có tại Việt Nam: địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt
hoặc lắp ráp; các hoạt động giám sát xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt,
lắp ráp.
- Thực hiện việc cung cấp dịch vụ ở Việt Nam thông qua nhân viên của
công ty hay một đối tượng khác được công ty ủy nhiệm thực hiện dịch vụ cho
một dự án hay nhiều dự án.
- Tổ chức tại Việt nam đại lý môi giới, đại lý hưởng hoa hồng hoặc bất kỳ
một đại lý nào khác.
- Công ty đó ủy nhiệm cho một đối tượng tại Việt Nam có thẩm quyền ký
kết các hợp đồng đứng tên công ty hoặc không có thẩm quyền ký kết hợp
16
đồng đứng tên công ty nhưng có quyền thường xuyên đại diện cho công ty
giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ tại Việt Nam.
* Cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát
sinh tại Việt Nam.
Căn cứ tính thuế TNDN đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Thuế TNDN được xác định dựa trên hai căn cứ: thu nhập chịu thuế và
thuế suất.
Thuế TNDN phải nộp = Thu nhập chịu thuế trong kỳ x Thuế suất (%)
Thu nhập chịu
thuế trong kỳ
Chi phí hợp
Doanh thu
=
tính thuế
tính thuế thu
nhập trong kỳ
-
lý trong kỳ
Thu nhập
+
tính thuế
chịu thuế
khác
* Thu nhập chịu thuế: bao gồm thu nhập chịu thuế của hoạt động sản
xuất, kinh doanh dịch vụ kể cả thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ ở nước ngoài và thu nhập chịu thuế khác.
Trong đó doanh thu tính thuế của các loại hàng hóa có cách xác định
khác nhau cụ thể như:
+ Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất kinh doanh bán ra là toàn
bộ tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ kể cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ
sở sản xuất, kinh doanh được hưởng. Nếu cơ sở sản xuất, kinh doanh nộp thuế
GTGT theo phương thức trực tiếp trên GTGT, doanh thu để tính thu nhập bao
gồm cả thuế GTGT.
+ Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp là doanh thu của hàng
hóa bán tính theo giá bán trả một lần, không bao gồm lãi trả chậm.
+ Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu, tặng thì doanh thu
tính thuế theo giá bán của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương
đương tại thời điểm trao đổi, biếu tặng.
17
+ Đối với sản phẩm tự dùng, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là chi
phí để sản xuất ra sản phẩm đó.
+ Đối với hoạt động gia công hàng hóa là tiền thu về gia công bao gồm cả
tiền công, nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và chi tiết khác phục vụ cho việc
gia công hàng hóa.
+ Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền thuê thu được từng kỳ theo
hợp đồng thuê. Trường hợp bên thuê trả tiền trước cho nhiều tháng, nhiều
năm thì doanh thu là toàn bộ số tiền thu được.
+ Đối với hoạt động tín dụng là tiền lãi cho vay thực thu được trong kỳ
tính thuế.
+ Đối với hoạt động khác do Bộ tài chính quy định
* Chi phí hợp lý trong kỳ tính thuế
+ Cách tính chi phí trong thu nhập chịu thuế đã có bước thay đổi rõ rệt
trong việc quy định các khoản chi phí không tính vào chi phí hợp lý thay cho
việc quy định cả các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ và các khoản chi không hợp
lý, hợp lệ. Điều này tiến tới đơn giản hơn trong việc xử lý và xác định thu nhập
chịu thuế trong kỳ, tạo ra tính minh bạch, dễ thực hiện trong quá trình quản lý
thuế của cơ quan chức năng cũng như việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người
nộp thuế. Những khoản chi phí sau đây không tính vào chi phí hợp lý:
- Chi phí khấu hao tài sản cố định thuộc một trong các trường hợp sau:
Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định không sử dụng cho hoạt động sản
xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định không có giấy tờ chứng minh được
thuộc quyền sở hữu của cơ sở kinh doanh (trừ tài sản cố định thuê mua tài chính)
Chi phí khấu hao đối với TSCĐ không được quản lý, theo dõi, hạch toán
trong sổ sách kế toán của cơ sở kinh doanh theo chế độ quản lý TSCĐ và
hạch toán kế toán hiện hành.
18
Phần trích khấu hao vượt mức quy định hiện hành của Bộ Tài chính về
chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ. Trường hợp áp dụng
phương pháp khấu hao đường thẳng, khấu hao nhanh để đổi mới công nghệ là
phần trích khấu hao vượt quá 02 lần mức khấu hao theo quy định.
Chi phí khấu hao đối với TSCĐ đã khấu hao hết giá trị
Chi phí khấu hao đối với công trình trên đất vừa sử dụng cho sản xuất
kinh doanh vừa sử dụng cho mục đích khác thì không được tính khấu hao vào
chi phí hợp lý đối với giá trị công trình trên đất tương ứng phần diện tích
không sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hóa phần
vượt mức tiêu hao hợp lý, bị tổn thất hoặc bị hư hỏng đã được các tổ chức, cá
nhân bồi thường.
- Chi phí tiền lương, tiền công thuộc một trong các trường hợp sau:
Chi phí tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp phải trả cho người lao
động nhưng hết thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế năm thực tế chưa chi.
Chi phí tiền lương, tiền công do cơ sở kinh doanh chi ngoài hợp đồng lao
động hoặc thỏa ước lao động tập thể.
Các khoản tiền thưởng cho người lao động không mang tính chất tiền
lương, không được ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động.
Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ hộ cá thể, cá
nhân kinh doanh. Thù lao trả cho các sáng lập viên, thành viên của hội đồng
thành viên, hội đồng quản trị không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất,
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
- Chi phí của cơ sở kinh doanh mua hàng hóa, dịch vụ không có hóa đơn,
được phép lập Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ mua vào nhưng không lập
Bảng kê kèm theo chứng từ thanh toán cho cơ sở, người bán hàng, cung cấp
dịch vụ.
19
- Phần chi phí tiền ăn giữa ca hàng tháng cho mỗi người lao động vượt
quá mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định đối với công chức nhà nước.
- Phần chi phí tiền ăn định lượng chi trả cho người lao động làm việc
trong một số ngành đặc biệt vượt quá mức chế độ Nhà nước quy định.
- Chi thưởng sáng kiến, cải tiến mà cơ sở kinh doanh không có quy chế
quy định cụ thể về việc chi thưởng sáng kiến, cải tiến, không có hội đồng
nghiệm thu sáng kiến, cải tiến.
- Chi tài trợ cho giáo dục không đúng đối tượng quy định
- Phần chi bồi thường, trợ cấp cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp vượt quá mức quy định. Chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động.
- Chi phí trả tiền điện, nước đối với những hợp đồng điện nước do chủ sở
hữu cho thuê địa điểm sản xuất, kinh doanh ký trực tiếp với đơn vị cung cấp
điện, nước không có đủ chứng từ.
- Phần chi phí thuê TSCĐ vượt quá mức phân bổ theo số năm mà bên đi
thuê trả tiền trước.
Đối với chi phí sửa chữa TSCĐ đi thuê mà trong hợp đồng thuê tài sản
quy định bên đi thuê có trách nhiệm sửa sữa tài sản trong thời gian thuê thì
chi phí sửa chữa TSCĐ đi thuê được phép hạch toán vào chi phí hoặc phân bổ
dần vào chi phí nhưng thời gian tối đa không quá 3 năm.
Trường hợp chi phí để có các tài sản không thuộc tài sản cố định: chi phí
về mua và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép chuyển giao
công nghệ, nhãn hiệu thương mại, lợi thế kinh doanh… được phân bổ dần vào
chi phí kinh doanh nhưng tối đa không quá 3 năm.
- Khoản lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại cá khoản mục tiền tệ có
nguồn gốc ngoại tệ cuối năm tài chính; lỗ chênh lệch tỷ giá phát sinh trong quá
trình đầu tư xây dựng cơ bản (giai đoạn trước hoạt động sản xuất kinh doanh)
20
- Chi phí quản lý kinh doanh do công ty ở nước ngoài phân bổ cho cơ sở
thường trú tại Việt Nam phần vượt mức chi phí được tính theo công thức:
Chi phí quản lý
kinh doanh do
công ty ở nước
ngoài phân bổ
cho cơ sở thường
trú tại Việt Nam
trong kỳ tính thuế
Doanh thu tính thuế của cơ sở
thường trú tại Việt Nam trong kỳ tính
thuế
=
Tổng doanh thu của công ty ở nước
ngoài, bao gồm cả doanh thu của các
cơ sở thường trú ở các nước khác
trong kỳ tính thuế
x
Tổng số chi phí
quản lý kinh
doanh của công
ty ở nước ngoài
trong kỳ tính
thuế
Căn cứ để xác định chi phí và doanh thu của công ty ở nước ngoài là báo
cáo tài chính của công ty ở nước ngoài đã được kiểm toán bởi một công ty
kiểm toán độc lập.
- Các khoản tiền phạt về vi phạm hành chính như: vi phạm luật giao
thông, vi phạm chế độ đăng ký kinh doanh, vi phạm chế độ kế toán thống kê,
vi phạm pháp luật về thuế và các khoản phạt về vi phạm hành chính theo quy
định của pháp luật
* Các khoản thu nhập khác
Trường hợp nhận được khoản thu nhập đã nộp thuế thu nhập ở nước
ngoài thì cơ sở kinh doanh phải xác định số thu nhập trước khi nộp thuế thu
nhập ở nước ngoài để tính thuế TNDN. Khi xác định số thuế thu nhập cả năm
sẽ được trừ số thuế thu nhập đã nộp ở nước ngoài nhưng số thuế được trừ
không vượt quá số thuế thu nhập tính theo Luật thuế TNDN cho khoản thu
nhập nhận được đó.
- Các khoản thu nhập liên quan đến việc tiêu thụ hàng hóa, cung cấp dịch
vụ không tính trong doanh thu, sau khi đã trừ các khoản chi phí theo quy định
của Bộ tài chính để tạo ra khoản thu nhập đó.
- Cơ sở dinh doanh nhận được thu nhập do cơ sở kinh doanh nhận góp
vốn cổ phần, liên doanh liên kết kinh tế chia cho (sau khi đã nộp thuế) thì
21
không phải nộp thuế TNDN đối với khoản thu nhập đó nhưng phải gộp vào
phần thu nhập sau thuế để xác định thuế thu nhập bổ sung.
Về thuế suất: Thuế suất thuế TNDN áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh
theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam như sau:
- Thuế suất thuế TNDN là 22%, những trường hợp thuộc diện áp dụng
thuế suất 22% quy định chuyển sang áp dụng thuế suất 20% kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2016 bao gồm:
+ Doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng áp dụng
mức thuế suất 20%
+ Doanh thu làm căn cứ xác định doanh nghiệp thuộc đối tượng được áp
dụng thuế suất 20% tại khoản này là doanh thu của năm trước liền kề.
+ Thuế suất thuế TNDN đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác
dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác tại Việt Nam từ 32% đến 50% phù hợp
với từng dự án, từng cơ sở kinh doanh.
Trong trường hợp cụ thể, với những đối tượng được hưởng ưu đãi, miễn
giảm thuế TNDN nhà nước sẽ có những quy định cụ thể.
1.3.2. Sự cần thiết quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các
doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam
Quản lý thuế chính là việc thực hiện quá trình hành pháp về thuế, chính
vì vậy sự cần thiết của quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài cũng xuất phát từ chính vai trò của thuế TNDN trong nền kinh
tế quốc dân, và ảnh hưởng của thuế TNDN tới sự phát triển của nền kinh tế
mà trong đó khoản thuế từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một
thành phần quan trọng.
* Thuế TNDN là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng
tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội.
22
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta, tất cả các thành phần
kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trên cơ sở pháp luật. Để
thực hiện tái phân phối thu nhập, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể
kinh doanh vào NSNN được công bằng, hợp lý, Nhà nước sử dụng thuế
TNDN làm công cụ điều tiết thu nhập.
* Thuế TNDN của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng
lớn trong nguồn thu thuế của Nhà nước.
Phạm vi áp dụng của thuế TNDN rất rộng, gồm cá nhân, nhóm kinh doạnh,
hộ cá thể và các tổ chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ có phát sinh lợi nhuận. Nền kinh tế thị trường nước ta ngày càng phát triển và
ổn định, tăng trưởng kinh tế được giữ vững ngày càng cao, các chủ thể hoạt động
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận thì khả năng
huy động nguồn tài chính cho NSNN thông qua thuế TNDN ngày càng dồi dào.
* Thuế TNDN là công cụ quan trọng để góp phần khuyến khích, thúc
đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo chiều hướng kế hoạch, chiến lược,
phát triển toàn diện của Nhà nước.
Nhà nước ưu đãi, khuyến khích đối với các chủ thể đầu tư, kinh doanh
vào những ngành, lĩnh vực và những vùng, miền mà Nhà nước có chiến lược
ưu tiên phát triển trong từng giai đoạn nhất định.
* Thuế TNDN còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà
nước trong việc thực hiện chức năng điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội
trong từng thời kỳ phát triển kinh tế nhất định.
Thuế TNDN là loại thuế có vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật
thuế của Việt Nam, song để phát huy một cách có hiệu quả vai trò của thuế
TNDN, chúng ta cần xem xét nó dưới nhiều khía cạnh, kể cả những kinh
nghiệm xử lý của nước ngoài. Nếu chúng ta làm tốt các công tác quản lý thuế
23
TNDN đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì vai trò của thuế đối
với loại hình doanh nghiệp này sẽ thực sự phát huy trong thực tế.
* Thuế TNDN tạo điều kiện thực hiện mục tiêu công bằng và bình đẳng
giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước; đồng thời cũng khuyến khích và
thu hút đầu tư.
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế sâu rộng như hiện nay, không thể tiếp
tục thực hiện cơ chế bao cấp, bảo hộ cho các doanh nghiệp như trước đây, nhà
nước đang thực hiện tái cơ cấu các doanh nghiệp, tổ chức nhà nước. Các
doanh nghiệp trong và ngoài nước cần được cạnh tranh bình đẳng để vừa thu
hút được đầu tư, mở rộng thị trường vừa thúc đẩy các doanh nghiệp trong
nước tự nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
24
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ TNDN
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1.
ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên.
Hải Phòng là thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái
Bình thuộc đồng bằng sông Hồng; phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng
Ninh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Bình à
phía Đông là biển Đông với đường bờ biển dài 125 km, nơi có 5 cửa sông lớn
là Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và sông Thái Bình.
Diện tích tự nhiên là 1.507,57 km2, dân số 2.103.500 ngàn người (tính
đến 31/12/2015), mật độ dân số trung bình của thành phố là 1.395,29
người/km2, vào loại trung bình so với các tỉnh đồng bằng sông Hồng.
Hải Phòng từ lâu đã nổi tiếng là một cảng biển lớn nhất ở miền Bắc, một
đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông thủy, bộ, đường sắt, hàng
không trong nước và quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và các tỉnh
phía Bắc; là đầu mối giao thông quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ,
trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc. Chính
vì vậy trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng châu thổ sông Hồng, Hải
Phòng được xác định là một cực tăng trưởng của vùng kinh tế động lực phía Bắc
(Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh); là trung tâm kinh tế - khoa học - kỹ thuật
tổng hợp của vùng duyên hải Bắc Bộ và là một trong những trung tâm phát triển
của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước.
Về cơ sở hạ tầng, tuy còn ở trong điều kiện thiếu thốn, chất lượng chưa
cao cần nhanh chóng nâng cấp và mở rộng nhưng so với các địa phương khác
25