Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5a trường tiểu học đông sơn phân biệt từ đồng âm với từ nhiểu nghĩa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (347.46 KB, 26 trang )

PHÒNG
GIÁO
DỤC
BỈMHÓA
SƠN
SỞ GIÁO
DỤC
VÀ VÀ
ĐÀOĐÀO
TẠOTẠO
THANH
PHÒNGTRƯỜNG
GIÁO DỤCTH
VÀĐÔNG
ĐÀO TẠO
BỈM SƠN
SƠN

SÁNG KIẾN
KIẾN KINH
KINH NGHIỆM
NGHIỆM
SÁNG

BIỆN
PHÁP
GIÚP
HỌC
SINH
5A TIỂU
MỘT SỐMỘT


BIỆNSỐ
PHÁP
GIÚP
HỌC
SINH
LỚP
5A -LỚP
TRƯỜNG
TRƯỜNG
TIỂU
ĐÔNG
PHÂN ÂM
BIỆT
TỪTỪ
ĐỒNG
ÂM
HỌC
ĐÔNG
SƠNHỌC
PHÂN
BIỆTSƠN
TỪ ĐỒNG
VỚI
NHIỀU
VỚI TỪ NGHĨA
NHIỀU NGHĨA

Người thực hiện: Lê Thị Luyến
Chức vụ:
Giáo viên

Người
thực
hiện:

Thị Luyến
Đơn vị công tác: Trường
Tiểu học Đông Sơn
Chức vụ: Giáo viên Thị xã Bỉm Sơn
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Đông Sơn
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt

TT

MỤC
LỤC
BỈM
SƠN,
NĂM 2017

Trang


A. MỞ ĐẦU
I

Lí do chọn đề tài.

1


II

Mục đích nghiên cứu

2

III

Đối tượng nghiên cứu

2

IV

Phương pháp nghiên cứu

2

V

Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm

2

B. NỘI DUNG
I

Cơ sở lí luận

3


II

Thực trạng vấn đề

4

1

Thuận lợi

4

2

Khó khăn

4

3

Kết quả của thực trạng

6

III

Các biện pháp giải quyết vấn đề

7


1

Biện pháp 1

7

2

Biện pháp 2

11

3

Biện pháp 3

13

4

Biện pháp 4

13

5

Biện pháp 5

15


IV Kết quả

19
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

I

Kết luận

20

II

Kiến nghị

20
TÀI LIỆU THAM KHẢO



A. MỞ ĐẦU
I.Lí do chọn đề tài.
Hiện nay việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đã và đang
thường xuyên được đặt ra và ngày càng cấp bách. Những thay đổi trong sự phát
triển kinh tế xã hội, thay đổi trong giáo dục dẫn tới những yêu cầu đòi hỏi trong
việc dạy Tiếng Việt nói chung và dạy tiếng mẹ đẻ nói riêng. Môn Tiếng Việt
trong trường Tiểu học có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức về hệ
thống Tiếng Việt (Hệ thống âm thanh, cấu tạo từ, cấu trúc ngữ pháp...) đồng thời
hình thành cho học sinh kĩ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết). Ngoài ra Tiếng

Việt còn có chức năng kép đó là: Trang bị cho học sinh một số công cụ để học
môn học khác. Tóm lại dạy Tiếng Việt là đưa các em hòa nhập vào một môi
trường năng động trong giao tiếp của thời kì hội nhập.[1]
Một trong những nguyên tắc cơ bản của dạy Tiếng Việt là dạy học thông qua
giao tiếp. Các hoạt động giao tiếp, đặc biệt giao tiếp bằng ngôn ngữ là công cụ cực
mạnh để học sinh tiếp cận, rèn luyện và phát triển khả năng sử dụng từ Tiếng Việt.
Do đó, việc đưa học sinh vào các hoạt động học tập trong giờ Tiếng Việt được giáo
viên đặc biệt quan tâm, chú ý. Ngôn ngữ Tiếng Việt của chúng ta thực sự có nhiều
khía cạnh khó, một trong những nội dung khó đó là phần nghĩa của từ.[1]
Trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 5, nội dung mảng kiến thức nghĩa của
từ được tập trung biên soạn có hệ thống trong phần Luyện từ và câu; vấn đề từ đồng
âm và từ nhiều nghĩa cũng đã được đưa vào với 4 tiết ở học kì I. Trong quá trình dạy
học, tôi thấy vấn đề từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là một vấn đề khá phức tạp, dễ
nhầm lẫn. Các em học sinh dễ dàng tìm được các từ trái nghĩa, từ đồng nghĩa, nhưng
khi học xong từ đồng âm và từ nhiều nghĩa thì các em bắt đầu có sự nhầm lẫn, lúng
túng, luẩn quẩn trong việc phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.[1]
Vấn đề tìm cách giúp học sinh phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đã
được rất nhiều thầy giáo, cô giáo thảo luận trên các diễn đàn. Tìm hiểu về vấn đề
này tại trường Tiểu học Đông Sơn - thị xã Bỉm Sơn, tôi nhận thấy Ban Giám
hiệu và các đồng nghiệp đã quan tâm tìm biện pháp giảng dạy để các em học
sinh lớp 5 hạn chế sự nhầm lẫn trong mảng kiến thức này nhưng sau khi làm bài
kiểm tra giữa kì I năm học 2016 - 2017 vẫn còn nhiều em nhầm lẫn từ đồng âm
với từ nhiều nghĩa.
Để khắc phục vấn đề trên, tôi đã mạnh dạn vận dụng kinh nghiệm giảng
dạy mảng kiến thức này mà tôi đã nghiên cứu đúc rút của năm học trước vào
trực tiếp giảng dạy tại lớp 5A, trường Tiểu học Đông Sơn, năm học 2016 - 2017.
Trong quá trình vận dụng thực tế có đúc rút bổ sung thêm giải pháp mới, các em
học sinh lớp 5A đã nắm vững kiến thức, phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
một cách dễ dàng đồng thời biết sử dụng từ đồng âm và từ nhiều nghĩa để viết
câu văn, đoạn văn chặt chẽ về cấu trúc liên kết về ý.

Tôi xin chia sẻ cùng các đồng chí, đồng nghiệp kinh nghiệm nhỏ của bản thân
dưới dạng văn bản với tiêu đề: "Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5A - Trường
Tiểu học Đông Sơn, thị xã Bỉm Sơn phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa.”
1


II. Mục đích nghiên cứu.
- Giúp học sinh phân biệt được từ đồng âm và từ nhiều nghĩa góp phần
làm giàu thêm vốn từ cho học sinh.
- Giúp học sinh thiết lập mối quan hệ của từ với sự vật và tách được ý
nghĩa từ vựng của từ khỏi sự vật được biểu thị bởi từ.
- Giúp học sinh có kĩ năng sử dụng từ đồng âm, từ nhiều nghĩa trong giao tiếp.
- Thông qua việc nghiên cứu lí luận, nghiên cứu thực trạng và đề ra giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học mảng kiến thức từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa cho học sinh trong năm học hiện tại và các năm học tiếp theo.
- Rút ra bài học kinh nghiệm trong việc dạy nội dung từ đồng âm, từ nhiều
nghĩa cho bản thân và cho các đồng nghiệp.
III. Đối tượng nghiên cứu.
- Biện pháp phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa.
- Học sinh lớp 5A trường Tiểu học Đông Sơn, thị xã Bỉm Sơn.
IV. Phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu tài liệu (Các tài liệu được trình bày tại phần: Tài liệu tham khảo).
- Phương pháp khảo sát, phân tích thực trạng:
+ Dự giờ đồng nghiệp.
+ Khảo sát bài kiểm tra giữa kì 1 năm học 2016 - 2017 của khối 5.
+ Ra bài kiểm tra khảo sát.
- Tổng hợp số liệu.
- Phương pháp khảo nghiệm, áp dụng vào thực tế: Vận dụng kinh nghiệm
giảng dạy mảng kiến thức vào thực tế.
V. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.

Đây là sáng kiến kinh nghiệm tôi đã áp dụng thực tế tại lớp 5A, trường
Tiểu học Thành Tâm, huyện Thạch Thành năm học 2011- 2012. Sáng kiến kinh
nghiệm đã được Hội đồng Khoa học ngành giáo dục huyện Thạch Thành đánh
giá và áp dụng thực tế có hiệu quả trong những năm học tiếp theo.
Căn cứ vào thực trạng học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Đông Sơn, năm
học 2016 - 2017 có nhiều điểm tương đồng phù hợp để vận dụng kinh nghiệm
dạy học sinh phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa. Trong quá trình vận dụng,
bên cạnh việc phát huy kinh nghiệm của năm học trước, tôi bổ sung thêm phần
giải pháp: Tập hợp, nghiên cứu các bài tập về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa,
thiết kế bài tập phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa (phân chia các dạng bài
tập theo 4 mức độ phù hợp chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển
năng lực của HS tiểu học). Đồng thời tôi trình bày lại cấu trúc của bản báo cáo
Sáng kiến kinh nghiệm theo Công văn số 34/CV - PGDDT V/v nâng cao hiệu
quả công tác đúc rút sáng kiến kinh nghiệm Ngành Giáo dục và Đào tạo của
Phòng GD&ĐT thị xã Bỉm Sơn.

2


B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận.
Trong Tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ khác, từ có chức năng định danh
sự vật. Từ Tiếng Việt có đặc điểm là có tính không lí do và không biến đổi hình
thái. Cấu tạo của từ gồm hai mặt đó là nội dung (nghĩa của từ) và hình thức (âm
thanh, chữ viết); Các từ khác nhau chính là khác nhau về nội dung và hình thức.
Trong thực tế, số lượng từ có hạn mà sự vật hiện tượng lại hết sức đa dạng
phong phú, nó luôn phát sinh và phát triển. Hiện tượng từ đồng âm, từ nhiều
nghĩa xuất hiện chính là cách để giải quyết mâu thuẫn này.[4]
Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là hiện tượng độc đáo của Tiếng Việt, nó
góp phần làm cho Tiếng Việt thêm phong phú và mang đậm sắc thái riêng. Vấn

đề tìm danh giới cho từ đồng âm và từ nhiều nghĩa hiện nay còn là vấn đề thảo
luận sôi nổi của các nhà ngôn ngữ học.
Theo tài liệu “88 câu hỏi về giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học” (Tác giả Lê
Hữu Tỉnh - Trần Mạnh Hưởng), Khái niệm nghĩa gốc - nghĩa chuyển của một từ
nhiều nghĩa được hiểu như sau:
- Nghĩa gốc: Là nghĩa cơ bản, là nền tảng cho sự phát triển nghĩa của từ.
Trong từ điển, nghĩa gốc được nói đến đầu tiên.
- Nghĩa chuyển: Là loại nghĩa được hình thành từ nghĩa gốc, có mối quan hệ
mật thiết với nghĩa gốc. Trong từ điển, nghĩa chuyển được nói đến sau nghĩa gốc.
Theo tài liệu “Lý luận - Phương pháp dạy học từ ngữ Tiếng Việt trong nhà
trường của PGS - TS Nguyễn Đức Tôn cũng viết:
- Nghĩa gốc - nghĩa chuyển: Đây là cách gọi theo quan điểm lịch đại, nhìn
nhận theo quá trình phát triển ý nghĩa của từ. Nghĩa gốc là nghĩa vốn có của từ
ngay từ khi xuất hiện, từ đó làm nảy sinh ra nghĩa khác. Nghĩa được nảy sinh ra
từ một nghĩa nào đó được gọi là nghĩa chuyển.
- Nghĩa chính - nghĩa phụ: Đây là tên gọi theo quan điểm đồng đại. Nghĩa
chính là nghĩa được người ta nghĩ đến đầu tiên khi đọc hoặc nghe thấy một từ.
Nghĩa phụ là nghĩa bị phụ thuộc vào vị trí của từ. Nghĩa từ chỉ khi kết hợp với
những từ đặc thù nhất định thì nghĩa này mới được hiểu.
Ví dụ: Từ “răng” dùng để chỉ bộ phận cơ thể người hoặc động vật thì đây
là nghĩa chính (răng người, mọc răng, răng hổ…)
Từ “răng” dùng để chỉ bộ phận giống với răng người ở một số đồ vật thì đó là
nghĩa phụ (răng bừa, răng lược…)
Còn từ đồng âm được định nghĩa: Là những từ giống nhau về ngữ âm
nhưng khác nhau về ý nghĩa.
Ví dụ: - cổ: bộ phận cơ thể con người và cổ: xưa, lạc hậu
- bác: anh, chị của bố mẹ
bác: chưng cất
bác: phủ định
bác: bố (Bác mẹ em nghèo)

(Tài liệu giảng dạy của trường Đại học Vinh - Chu Thị Thủy An)
Trong SGK Tiếng Việt, lớp 5 - NXB Giáo dục cũng đã nêu khái niệm từ
đồng âm và từ nhiều nghĩa, khái niệm là vậy nhưng vận dụng để giải quyết các
3


bài tập phân biệt nghĩa của từ không phải học sinh nào cũng làm được một cách
dễ dàng. Là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 5 nhiều năm liền, tôi nhận thấy
việc rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong phân môn luyện
từ và câu cho học sinh là rất quan trọng.
II. Thực trạng vấn đề.
1. Thuận lợi.
Trường Tiểu học Đông Sơn nằm phía Đông Bắc của thị xã, trước kia trường
được biết đến với tên gọi Trường Tiểu học Lam Sơn 2, sau khi phường Đông Sơn
được thành lập trường được mang tên mới phù hợp với địa danh của phường. Hiện
tại nhà trường đã có khu phòng học 2 tầng, khu nhà hiệu bộ, khu nhà bán trú...được
thiết kế đúng tiêu chuẩn phù hợp với học sinh tiểu học, phòng học đã có máy chiếu
thuận lợi cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy. Nhìn chung cơ sở
vật chất đảm bảo cho việc dạy và học. Chất lượng học sinh của trường luôn được
chú trọng và nâng cao do Ban giám hiệu nhà trường có năng lực chuyên môn và
năng lực quản lí tốt. Bên cạnh đó đội ngũ giáo viên của nhà trường đều có trình độ
chuẩn trở lên, nhiệt tình trong công tác. Các em học sinh chăm ngoan, tích cực tham
gia các hoạt động học tập. Nhà trường có bề dày truyền thống trong công tác giảng
dạy: Năm 2014 - 2015 trường đạt được nhiều thành tích xuất sắc và được UBND
tỉnh Thanh Hóa trao cờ thi đua, năm học 2015 - 2016 nhà trường vinh dự được Thủ
tướng Chính phủ tặng bằng khen, đến năm học 2016 - 2017 trường Tiểu học Đông
Sơn đã chính thức được công nhận trường chuẩn Quốc gia giai đoạn II.
Tất cả các yếu tố trên chính là động lực giúp tôi không ngừng học hỏi và
nghiên cứu tìm ra các biện pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy học các môn
học nói chung và mảng kiến thức phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong

phân môn Luyện từ và câu nói riêng.
2. Khó khăn.
2.1. Về học sinh.
Trong năm học này, tôi được phân công dạy lớp 5A, lớp có 25 em học
sinh. Chất lượng học sinh trong lớp được đánh giá là thấp hơn so với lớp 5B và
5C. Đa và số học sinh trong lớp là con em các gia đình thuần nông, gia đình
công nhân và gia đình buôn bán nhỏ lẻ của thôn Sơn Nam, thôn Trường Sơn...,
một số em bố mẹ đi làm ăn xa nhà phải ở nhà với ông bà như em Thuyết, em
Định. Một số em bố mẹ đi làm trong nhà máy Giày da, Công ty May 10 từ sáng
sớm đến tối mới về như em: Giang, Đại, Cường, Phúc...,sự quan tâm của cha mẹ
còn hạn chế phần nào làm ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh.
Trong thực tế, học sinh hoàn thành bài tập về từ đồng âm nhanh và ít sai
hơn khi làm các bài tập về từ nhiều nghĩa, cũng có thể do từ nhiều nghĩa trừu
tượng hơn. Đặc biệt khi cho học sinh phân biệt và tìm các từ có quan hệ đồng
âm, các nghĩa của từ nhiều nghĩa trong một số văn cảnh thì đa số học sinh lúng
túng và làm bài chưa đạt yêu cầu. Ban đầu, khi học từng bài về từ đồng âm, từ
nhiều nghĩa thì phần đa các em làm được bài, song khi làm các bài tập lồng ghép
để phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa thì học sinh chưa hoàn thành nhiều hơn.
4


Những khó khăn mà học sinh lớp 5A của tôi thường gặp phải trong quá
trình làm bài tập vận dụng đó là:
- Khó khăn trong việc giải nghĩa các từ: học sinh còn giải nghĩa từ sai,
diễn đạt lúng túng và còn lủng củng.
Ví dụ: Khi học bài tập đọc: Lập làng giữ biển (Sách TV 5, tập 2, trang
36), em Mai Hằng đã hiểu từ vàng lưới là: lưới đánh cá có gắn vàng.
- Phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa: còn mơ hồ, định tính. Nhiều học
sinh còn chưa phân biệt được đâu là nghĩa gốc, đâu là nghĩa chuyển của từ nhiều
nghĩa. Ngoài thời gian được đọc sách tại thư viện nhà trường các em ít đọc sách

ở nhà nên vốn từ hạn chế.
Ví dụ: Trong bài tập chính tả: Anh hùng núp tại Cu - ba (Sách TV 5, tập
1,trang 47), có câu: ‘‘Anh Hùng Núp thấy người Cu - ba giống người Tây
Nguyên mình quá, cũng mạnh mẽ, cũng sôi nổi, bụng dạ hào phóng như cánh
cửa bỏ ngỏ, thích nói to và đặc biệt thích nhảy múa’’. Một nửa số học sinh trong
lớp không hiểu nghĩa chuyển của từ bụng dạ.
- Đặt câu có sử dụng từ đồng âm, từ nhiều nghĩa: chưa chính xác, chưa
hay, chưa đúng với nét nghĩa yêu cầu. Chính vì vậy các em vận dụng viết đoạn
văn còn rời rạc, các câu văn chưa liên kết ý.
Ví dụ: Em Mai Hậu viết đoạn văn tả con đường từ nhà đến trường như
sau: ‘‘Con đường từ nhà em đến trường là đường phố. Hai bên lề đường có
hàng cây hoa sữa và hàng cây bằng lăng thẳng tắp. Vượt lên trên vòm lá là con
đường điện chạy thẳng về xóm Trường Sơn .’’ (thêm con vào đường điện làm
cho cách dùng từ không hợp lí).
2.2.Về giáo viên.
Qua thực tế giảng dạy của bản thân và dự giờ của hai đồng chí giáo viên lớp
5C và 5B tại trường tiểu học Đông Sơn, tôi nhận thấy việc dạy từ đồng âm và từ
nhiều nghĩa còn tồn tại: Trong quá trình dạy học các bài học này, mỗi giáo viên đều
làm đúng vai trò hướng dẫn, tổ chức cho học sinh tiếp cận kiến thức trong SGK.
Tuy nhiên do thời lượng 1 tiết học có hạn nên giáo viên chưa lồng ghép liên hệ
phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong các bài học. Do đó, sau các bài học
đó học sinh chỉ nắm được kiến thức về nội dung học một cách tách bạch.
2.3. Về nội dung chương trình.
Trong chương trình Tiếng Việt lớp 5, mảng kiến thức từ đồng âm và từ
nhiều nghĩa rất quan trọng trong phân môn luyện từ và câu đã được đưa vào
giảng dạy ngay từ những tuần đầu nhưng số tiết rất ít, cụ thể như sau:
* Từ đồng âm: Từ đồng âm được dạy trong 1 tiết ở tuần 5, các em được
học khái niềm về từ đồng âm. Các bài tập về từ đồng âm chủ yếu giúp học sinh
phân biệt nghĩa các từ đồng âm, đặt câu phân biệt các từ đồng âm. (Tiết thứ 2 về từ
đồng âm được trình bày ở trang 61, tuần 6 của TV lớp 5 tập 1 đã được giảm tải theo

công văn 5842/BGDĐT ngày 1tháng 9 năm 2011), vì thế thời lượng còn ít. [1]
* Từ nhiều nghĩa: Từ nhiều nghĩa được dạy trong 3 tiết ở tuần 7 và tuần
8. Học sinh được học khái niệm về từ nhiều nghĩa. Các bài tập chủ yếu là phân
biệt các từ mang nghĩa gốc và nghĩa chuyển, đặt câu phân biệt nghĩa, nêu các nét
nghĩa khác nhau của một từ.[1]
5


Mặt khác từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều có đặc điểm và hình thức
giống nhau, đọc giống nhau, viết cũng giống nhau chỉ khác nhau về ý nghĩa. Tuy
khó phân biệt nhưng dạng bài tập về phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa không
có trong khi đó khả năng tư duy trừu tượng của các em còn hạn chế.[1]
3. Kết quả của thực trạng.
Sau khi học sinh lớp 5A làm bài kiểm tra của tuần 10 (tuần ôn tập và kiểm
tra), tôi tổng hợp kết quả và phát hiện nhiều học sinh không hoàn thành câu hỏi
tìm từ đồng âm, tìm từ nhiều nghĩa trong phần kiểm tra đọc hiểu.
Tôi đã ra đề khảo sát mảng kiến thức này (Ngữ liệu để ra đề tôi sưu tầm
tại trang mạng Tài liệu.vn và vở Bài tập TV5 – tập 1, Nhà XB Giáo dục):
Bài 1: Khoanh tròn vào chữ cái trước dòng có từ nhiều nghĩa dưới đây:
a. đàn gà mới nở - hoa nở - nở nụ cuời
b. vàng ươm - vàng hoe - vàng tươi
c. thơ thẩn - thơ ca - thơ ngây
Bài 2: Khoanh tròn vào chữ cái trước cặp từ đồng âm dưới đây:
a. vỗ bờ - vỗ tay
b. vách đá - đá bóng
c. mắt cá - mắt lưới
d. lưng núi - đau lưng
Bài 3: Trong các từ in đậm dưới đây, những từ nào có quan hệ đồng âm,
những từ nào có quan hệ nhiều nghĩa với nhau? Đánh dấu x vào ô thích hợp.
Quan hệ đồng

âm

Câu

Quan hệ nhiều
nghĩa

- Giá vàng nước ta tăng đột biến.
- Cô ấy có tấm lòng vàng.
- Giá vàng nước ta tăng đột biến.
- Ông tôi mua một bộ vàng lưới để
chuẩn bị cho vụ đánh bắt hải sản.
- Cô ấy có tấm lòng vàng.
- Ông tôi mua một bộ vàng lưới để
chuẩn bị cho vụ đánh bắt hải sản.
Tôi lựa chọn đề bài trên bởi đó là dạng đề tổng hợp được kiến thức cần
khảo sát, đồng thời các sự vật được nhắc tới trong ngữ liệu rất gần gũi trong đời
sống của học sinh, các em đã được học.
Kết quả thu được như sau:
Sĩ số
25

Hoàn thành tốt

Hoàn thành

Chưa hoàn thành

SL


TL

SL

TL

SL

TL

1

4

17

68

7

28
6


Với kết quả như trên thực sự là một vấn đề đáng lo ngại và tôi đã tìm biện
pháp giải quyết những khó khăn trên.
III. Các biện pháp giải quyết vấn đề.
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt nói chung và
nâng cao chất lượng phân môn Luyện từ và câu cụ thể là mảng kiến thức từ
đồng âm và từ nhiều nghĩa của lớp 5, tôi đã thực hiện một số biện pháp sau:

1. Biện pháp 1: Nghiên cứu kĩ nội dung, cấu trúc chương trình của
mảng kiến thức này.[1]
Giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung, cấu trúc chương trình của mảng kiến
thức này, bám sát yêu cầu của chuẩn kiến thức kĩ năng và công văn
5842/BGDĐT ngày 1/9/2011 về giảm tải chương trình Tiểu học để thiết kế bài
dạy sao cho đảm bảo việc dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi
của học sinh của địa phương, giúp các em tự tin trong học tập.
1.1. Nắm vững kiến thức về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa:
* Từ đồng âm: Là những từ giống nhau về âm nhưng khác hẳn nhau về nghĩa
(theo SGK TV5 - tập 1 - trang 51)
Ví dụ về từ đồng âm:
“- kiến bò: bò chỉ hoạt động di chuyển ở tư thế áp bụng xuống nền bằng cử
động của toàn thân hoặc những cái chân ngắn.
- trâu bò: bò chỉ loài động vật nhai lại, sừng ngắn, lông thường có màu
vàng, được nuôi để lấy sức kéo, thịt, sữa...
- đầm sen: đầm chỉ khoảng trũng rộng và sâu giữa đồng để giữ nước.
- bà đầm: chỉ đàn bà, con gái phương Tây.
- cái đầm đất: chỉ vật nặng, có cán dùng để nện đất cho chặt.”[4]
Đối với giáo viên tiểu học, cần chú ý thêm từ đồng âm được nói tới trong
sách giáo khoa Tiếng Việt 5 gồm cả từ đồng âm ngẫu nhiên (nghĩa là có 2 hay
hơn 2 từ có hình thức ngữ âm ngẫu nhiên giống nhau, trùng nhau nhưng giữa
chúng không có mối quan hệ nào, chúng vốn là những từ hoàn toàn khác nhau)
như trường hợp “câu” trong “câu cá” và “câu” trong “đoạn văn có 5 câu” là từ
đồng âm ngẫu nhiên và cả từ đồng âm chuyển loại (nghĩa là các từ giống nhau
về hình thức ngữ âm nhưng khác nhau về nghĩa, đây là kết quả của hoạt động
chuyển hóa từ loại của từ).
Ví dụ: a)
+ cuốc (danh từ): cái cuốc;
+ cuốc (động từ): cuốc đất;
+ đá (động từ): đá bóng

+ đá (danh từ): hòn đá
b) + thịt (danh từ): miếng thịt
+ thịt (động từ): thịt con gà
- Từ đồng âm hình thành do nhiều cơ chế: do trùng hợp ngẫu nhiên (gió bay,
bọn bay, cái bay), do chuyển nghĩa quá xa mà thành (nhiều người vì lợi nhuận, vì
lý do gì), do từ vay mượn trùng với từ có sẵn (đầm sen, bà đầm, la mắng, nốt la),
do từ rút gọn trùng với từ có sẵn (hụt mất hai ly, cái ly, hai ký, chữ ký...).
7


Trong giao tiếp cần chú ý đầy đủ đến ngữ cảnh để tránh hiểu sai nghĩa của
từ hoặc dùng với nghĩa nước đôi do hiện tượng đồng âm.[4]
* Từ nhiều nghĩa: là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa
chuyển. Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau.
(SGK Tiếng Việt 5 - trang 67).
Ví dụ:
- Đôi mắt của bé mở to (bộ phận quan sát của con người mọc ở trên mặt).
Từ “mắt” mang nghĩa gốc.
- Từ “mắt” trong câu “quả na mở mắt” mang nghĩa chuyển.
Đối với giáo viên có thể hiểu: Một từ có thể gọi tên nhiều sự vật hiện
tượng, biểu thị nhiều khái niệm (khái niệm về sự vật, hiện tượng) trong thực tế
khách quan thì từ ấy được gọi là từ nhiều nghĩa. Các nghĩa trong từ nhiều nghĩa
có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Muốn hiểu rõ hơn khái niệm về từ nhiều nghĩa ta có thể so sánh từ nhiều
nghĩa với từ một nghĩa. Từ nào là tên gọi của một sự vật, hiện tượng biểu đạt
một khái niệm thì từ ấy chỉ có một nghĩa.Từ nào là tên gọi của nhiều sự vật, hiện
tượng, biểu thị nhiều khái niệm thì từ ấy là từ nhiều nghĩa.
Nhờ vào quan hệ liên tưởng tương đồng (ẩn dụ) và tương cận (hoán dụ),
người ta liên tưởng từ sự vật này đến sự vật kia trên những đặc điểm, hình dáng,
tính chất giống nhau hay gần nhau giữa các sự vẩt ấy. Từ chỗ gọi tên sự vật, tính

chất, hành động này (nghĩa 1) chuyển sang gọi tên sự vật, tính chất, hành động
khác nghĩa ( nghĩa 2), quan hệ đa nghĩa của từ nảy sinh từ đó.
Ví dụ: Chín (1) chỉ quả đã qua một quá trình phát triển, đạt đến độ phát triển cao
nhất, hoàn thiện nhất, độ mềm nhất định, màu sắc đặc trưng.
Chín (2) Chỉ quá trình vận động, quá trinh rèn luyện từ đó, khi đạt đến sự
phát triển cao nhất. (Suy nghĩ chín, tình thế cách mạng đã chín, tài năng đã chín)
Chín (3) Sự thay đổi màu sắc nước da. (ngượng chín cả mặt)
Chín (4) Trải qua một quá trình đã đạt đến độ mềm. (cam chín).
Như vậy muốn phân tích được nghĩa của từ đa nghĩa, trước hết phải, miêu
tả thật đầy đủ các nét nghĩa của nghĩa gốc để làm cơ sở cho sự phân tích nghĩa.
Nghĩa của từ phát triển thường dựa trên hai cơ sở:
* Theo cơ chế ẩn dụ nghĩa của từ thường có ba dạng sau:
+ Dạng 1: Nghĩa của từ phát triển dựa vào sự giống nhau về hình thức
giữa các sự vật, hiện tượng hay nói cách khác là dựa vào các kiểu tương quan về
hình dáng.
Ví dụ: mũi1 (mũi người) và mũi2 (mũi thuyền): miệng1 (miệng cười tươi)
và miệng2 (miệng bát)
+ Dạng 2: Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở ẩn dụ về cách thức hay chức
năng, của các sự vật, đối tượng .
Ví dụ: cắt1 (cắt cỏ) với cắt2 (cắt quan hệ).
+ Dạng 3: Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở ẩn dụ kết quả do tác động của
các sự vật đối với con người.
Ví dụ: đau1 (đau bụng) và đau2 (đau lòng)
* Theo cơ chế hoán dụ có tác dụng.
8


+ Dạng 1: Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở quan hệ giữa bộ phận và toàn thể.
Ví dụ: chân1, tay1, mặt1 là những tên gọi chỉ bộ phận của cơ thể người,
được chuyển sang chỉ cái toàn thể (Anh ấy có chân2 trong đội bóng. Tay2 bảo vệ

của nhà máy Xi măng Bỉm Sơn có mặt2 trong hội nghị.)
+ Dạng 2: nghĩa của từ phát triển trên quan hệ giữa vật chứa với cái được chứa.
Ví dụ1: Nhà1 Là công trình xây dựng (Tôi chuẩn bị làm nhà.)
Nhà2 là gia đình (Cả nhà đã có mặt.)
Ví dụ 2: Thúng1: Đồ vật dùng để đựng đan bằng tre hoặc nứa
(Cái thúng này to quá!)
Thúng2 : Chỉ đơn vị (Tôi phải trả nợ hai thúng lúa.)
Đối với học sinh lớp 5, chúng ta không thể yêu cầu học sinh nắm vững các
thành phần ý nghĩa của từ, cách thức chuyển nghĩa của từ song yêu cầu học sinh phải
giải nghĩa một số từ thông qua các câu văn, các cụm từ cụ thể, xác định được nghĩa
gốc và nghĩa chuyển của từ, phân biệt từ nhiều nghĩa với từ đồng âm, tìm được một
số ví dụ về sự chuyển nghĩa của từ, đặt câu với các nghĩa của từ nhiều nghĩa.[1]
1.2. Nắm vững phương pháp dạy từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
* Bài học về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là loại bài khái niệm. Giáo viên tổ
chức các hình thức dạy học để giải quyết các bài tập ở phần nhận xét, giúp học sinh phát
hiện các hiện tượng về từ ở các bài tập từ đó rút ra được những kiến thức về từ đồng âm
và từ nhiều nghĩa. Bước tiếp theo giáo viên tổng hợp kiến thức như nội dung phần ghi
nhớ. Đến đây, nếu là HS thường hoàn thành tốt các bài tập, GV có thể cho các em lấy ví
dụ về hiện tượng đồng âm, nhiều nghĩa giúp các em nắm sâu và chắc phần ghi nhớ.
Chuyển sang phần luyện tập, giáo viên tiếp tục tổ chức các hình thức dạy học để giúp
học sinh giải quyết các bài tập phần luyện tập. Sau mỗi bài tập giáo viên lại củng cố,
khắc sâu kiến thức liên quan đến nội dung bài học, liên hệ thực tế và liên hệ tới các kiến
thức đã học của phân môn LTVC nói riêng và tất cả các môn học nói chung.
Trong quá trình dạy học các bài về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, giáo viên
cần sử dụng đồ dùng dạy học, tranh ảnh minh hoạ nhằm giúp học sinh dễ dàng
phân biệt nghĩa của từ. Tại phòng học lớp 5A, trường Tiểu học Đông Sơn đã có
máy chiếu nên rất thuận lợi cho việc sử dụng hình ảnh trực tiếp để giúp HS nhận
biết mảng kiến thức này. Khi dạy tôi đã sử dụng một số tranh, ảnh sau (tranh,
ảnh sưu tầm trên trang điện tử Thư viện Tư liệu giáo dục (tulieu.violet.vn)):
- Dạy bài: Từ đồng âm - Sử dụng ảnh (1) và ảnh (2) cho bài tập 1 trang 52

sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 - tập 1.

(1)
hòn
đá
(2) đá bóng
Nếu không có tranh thì học sinh
lúng túng trong việc diễn đạt cách
hiểu của mình. Do vậy, tôi cho các
em quan sát tranh các em sẽ nêu
được nét nghĩa của từ một cách dễ
dàng mà không mất nhiều thời gian.
9


- Dạy bài: Từ nhiều nghĩa (trang 66 - SGK Tiếng Việt 5, tập 1), tôi sử
dụng ảnh (3), ảnh (4) để giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến thức mới trong
phần nhận xét.

(3) Răng

(4) răng cào

- Sau bài: Từ đồng âm và bài Từ nhiều nghĩa cần có bài tập để học sinh phân
biệt đúng nghĩa của các từ phát âm giống nhau. Tôi cho học sinh phân biệt nghĩa
của từ “đường” bằng ảnh (5) đường đi, ảnh (6) đường dây điện, một gói đường
minh họa cho từ đường ngọt.

(5) đường đi
(6) đường dây điện

Tóm lại khi dạy khái niệm về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, cần thực hiện
theo quy trình các bước:
- Bước 1: Cho học sinh nhận biết ngữ liệu để phát hiện những dấu hiệu
bản chất của từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
- Bước 2: Học sinh rút ra các đặc điểm của từ đồng âm, từ nhiều nghĩa và
nêu định nghĩa.
- Bước 3: Luyện tập để nắm khái niệm trong ngữ liệu mới.
Việc dạy hai bài học trên cũng tuân theo nguyên tắc chung của dạy luyện
từ và câu và cũng vận dụng các phương pháp, hình thức dạy học như:
- Phương pháp hỏi đáp
- Hình thức học cá nhân
- Phương pháp giảng giải
- Thảo luận nhóm
- Phương pháp trực quan
- Tổ chức trò chơi
- Phương pháp luyện tập thực hành
* Đối với các tiết dạy luyện tập về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, giáo viên
chủ yếu thông qua việc tổ chức các hình thức dạy học để giúp học sinh củng cố,
nắm vứng kiến thức, nhận diện, đặt câu, xác định đúng nghĩa…[1]
10


- Giúp học sinh hiểu đúng nghĩa của các từ phát âm giống nhau:
Điều đặc biệt của từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là phát âm giống nhau (nói
đọc giống nhau viết cũng giống nhau). Vậy ta cùng xét từ in đậm trong các cụm
từ sau bằng cách kẻ bảng thể hiện mối quan hệ:
Ngữ liệu
a. đường rất ngọt
b. đường dây điện


c.đường giao thông

b. đường dây điện

a. đường rất ngọt
c.đường giao thông

Điểm khác nhau

Điểm giống nhau

Kết luận

chỉ một chất có vị Đều phát âm giống Từ đường
ngọt
nhau, viết giống trong hai
trường hợp
chỉ dây dẫn, truyền nhau.
này có quan
tải điện phục vụ cho
hệ đồng âm.
đời sống sinh hoạt.
chỉ lối đi cho các - Đều phát âm giống
phương tiện, người, nhau, viết giống
động vật
nhau.
chỉ dây dẫn, truyền - Có mối quan hệ
tải điện phục vụ cho mật thiết về nghĩa
trên cơ sở của từ
đời sống sinh hoạt.

đường chỉ lối đi, chỉ
lối dẫn truyền theo
vệt dài.

Từ đường
trong hai
trường hợp
này có quan
hệ nhiều
nghĩa.

chỉ một chất có vị Đều phát âm giống Từ đường
ngọt
nhau, viết giống trong hai
nhau.
trường hợp
chỉ lối đi cho các
này có quan
phương tiện, người,
hệ đồng âm.
động vật

Để có thể giải nghĩa chính xác các từ giống như từ “đường” ở trên, các
em phải có vốn từ phong phú, có vốn sống. Vì vậy trong dạy học tất cả các môn,
giáo viên luôn chú trọng trau dồi, tích lũy vốn từ cho học sinh, nhắc học sinh có
ý thức tích lũy cho mình vốn sống và yêu cầu mỗi học sinh phải có được một
cuốn từ điển Tiếng Việt biết cách tra từ điển Tiếng Việt đồng thời nắm được một
số biện pháp giải nghĩa từ.
Khi giáo viên đã nắm vững nội dung chương trình và phương pháp dạy
mảng kiến thức này thì sẽ vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức trong đó có

sự lồng ghép, có kết hợp gợi mở kiến thức, giúp các em dễ nhận diện kiến thức
và vận dụng vào các mức độ bài tập tốt hơn.[1]
2.Biện pháp 2: Tổ chức dạy trên lớp có sự lồng ghép, gợi mở kiến thức.[1]
Trong chương trình sách giáo khoa, bài dạy về từ nhiều nghĩa được sắp
xếp sau bài dạy về từ đồng âm. Như vậy, để tránh sự nhầm lẫn giữa từ đồng âm
với từ nhiều nghĩa thì ngay ở bài dạy về từ đồng âm ngoài ví dụ đúng trong
SGK, tôi đưa thêm ví dụ về các trường hợp không phải đồng âm để các em
nhận xét (Các ví dụ này chỉ đưa ở mức nhận biết và thông hiểu).
11


Ví dụ: Từ “đi” trong các trường hợp sau đây có phải hiện tượng đồng âm
hay không?
- Mẹ hay đi bộ vào buổi tối.
- Bố mới đi công tác.
- Hè này, cả nhà em đi du lịch.
- Cụ ốm nặng, đã đi hôm qua rồi.
- Anh đi con mã, tôi đi con tốt.
- Thằng bé đã đến tuổi đi học.[2]
Ví dụ này giáo viên chủ yếu yêu cầu học sinh nhận diện từ “đi” trong các
câu văn trên là hiện tượng đồng âm hay không phải đồng âm, không yêu cầu các
em giải thích gì và sẽ có hai phương án trả lời: đồng âm hoặc không đồng âm.
Đến đây giáo viên gợi mở để biết từ “đi” trong các câu văn trên có phải là quan
hệ đồng âm hay không, các em về nhà suy nghĩ tìm hiểu SGK các tiết luyện từ
và câu sau cô sẽ giúp các em tìm câu giải đáp. Ví dụ này sẽ giúp HS làm tốt bài
tập 4 (SGK TV 5 - tập1, trang 74).
Để không mất nhiều thời gian tiết học cho nội dung trên, giáo viên chuẩn
bị sẵn nội dung câu hỏi gợi mở và tiến hành sau khi học sinh lấy ví dụ về từ
đồng âm để khẳng định lại ghi nhớ. Lúc đó tự các em sẽ có một sự so sánh giữa
các ví dụ về từ đồng âm với ví dụ trên đây, đồng thời giáo viên kích thích đươc

tư duy của học sinh. Trước khi kết thúc tiết học, giáo viên cũng không quên nhắc
học sinh về nhà tiếp tục suy nghĩ trả lời giải thích về hiện tượng từ “đi” trong
các câu văn đã cho.
Trong bài dạy “từ nhiều nghĩa” giáo viên có thể lấy thêm một hai trường
hợp về từ nhiều nghĩa, sau đó quay lại lấy một ví dụ về từ đồng âm cho học sinh
nhận định về các từ trong ví dụ.
VD: từ “chỉ ” trong các trường hợp sau là từ đồng âm hay nhiều nghĩa?
Cái kim sợi chỉ - chiếu chỉ - chỉ đường - một chỉ vàng.[2]
Ở câu hỏi này, giáo viên yêu cầu học sinh giải thích lí do lựa chọn để
khẳng định kiến thức và khả năng nhận diện, phân biệt từ đồng âm với từ nhiều
nghĩa. Sau khi học sinh trả lời giáo viên chốt lại từ “chỉ” trong các trường hợp
trên có quan hệ đồng âm vì nghĩa của từ “chỉ” trong mỗi trường hợp khác nhau,
không có quan hệ với nhau về nghĩa.
Nội dung trên, giáo viên cũng tiến hành như trong khoảng 2 - 3 phút, dành
thời gian cho các em làm bài tập phần luyện tập. Cuối tiết học giáo viên nhấn
mạnh: các em cần lưu ý phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, tránh nhầm lẫn
đáng tiếc giữa hai hiện tượng này.
3. Biện pháp 3: Tìm ra dấu hiệu chung nhất để phân biệt từ đồng âm
và từ nhiều nghĩa.[1]
Sau các bài học về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa cùng với các bài luyện
tập, giáo viên có thể giúp học sinh rút ra so sánh như sau:
12


* Điểm khác nhau giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩa (căn cứ vào kiến thức
được trình bày trong SGK và sự phân chia từ loại danh từ, động từ..):
Từ đồng âm
- Các nghĩa hoàn toàn khác biệt nhau
không có bất cứ mối liên hệ gì:
Ví dụ: (hòn) đá chỉ chất rắn có sẵn

trong tự nhiên, thường đóng thành
tảng, hòn, rất cứng. Còn đá (bóng) chỉ
hành động dùng chân hất mạnh vào
một vật nhằm đưa ra xa hoặc làm tổn
thương.
- Là hai hoặc nhiều từ có cùng hình
thức ngữ âm:
Ví dụ: (hòn) đá và đá (bóng)

Từ nhiều nghĩa
- Các nghĩa có mối liên quan với
nhau.

- Là một từ nhưng có nhiều nghĩa:
(hòn) đá và (nước) đá.
- Ví dụ: hòn (đá) chỉ chất rắn có trong
tự nhiên, thường thành tảng, khối vật
cứng. Còn (nước) đá chỉ nước đông
cứng lại thành tảng giống như đá.
- Không giải thích được bằng cơ chế - Do cơ chế chuyển nghĩa tạo thành
chuyển nghĩa.
* Căn cứ vào văn cảnh và cấu trúc ngữ pháp để phân biệt từ đồng âm.
Ví dụ: Các câu sau có mấy cách hiểu:
Câu
Cách hiểu 1
Cách hiểu 2
Xe bò lên dốc.
Xe bò /lên dốc.
Xe/ bò lên dốc.
Hoa mua ở bên đường.

Hoa mua/ ở bên đường. Hoa/ mua ở bên đường.
Bún chả ngon.
Bún chả/ ngon.
Bún /chả ngon.
Như vậy, Ở cách hiểu 1 các từ in đậm là từ ghép, còn ở cách hiểu 2 từ in
đậm được tách thành từ đơn rất rễ phân biệt. Đây là một cách phân biệt rất thú vị
tôi sử dụng ra đề kiểm tra kiến thức ở mức độ 3 hoặc mức độ 4 cho học sinh.
4. Biện pháp 4: Tự tích lũy một số trường hợp về từ đồng âm, từ
nhiều nghĩa trong cuộc sống hàng ngày để có thêm vốn từ trong giảng dạy.
[1]
Phần đầu tôi đã đề cập đến những mặt hạn chế khi dạy mảng kiến thức
này, một trong những khó khăn đó chính là học sinh nghèo vốn từ. Chính vì vậy
giáo viên phải tìm hiểu, sưu tầm và tích lũy một số trường hợp về từ đồng âm, từ
nhiều nghĩa trong cuộc sống hàng ngày để có thêm vốn từ cung cấp cho HS,
đồng thời có thể sử dụng để thiết kế các dạng bài tập ở mức độ khác nhau cho
HS trong quá trình giảng dạy.
* Đối với từ đồng âm:
a. bạc: - Cái nhẫn bằng bạc.
- Đồng bạc trắng hoa xòe.
- Cờ bạc là bắc thằng bần.
13


- Ông Ba tóc đã bạc..
- Đừng xanh như lá, bạc như vôi.
- Cái quạt máy này phải thay bạc..
b. đàn: - Cây đàn ghi ta.
- Vừa đàn vừa hát.
- Lập đàn để tế lễ.
- Bước lên diễn đàn.

- Đàn chim tránh rét trở về.
c. đình: - Qua đình ngã nón trông đình.
- Công việc bị đình lại vì không có người làm.
d. đơn: - Lan bị ốm, phải viết đơn xin nghỉ học.
- Nhà đơn người, chỉ có một mẹ một con.
e. mai: - Nếu miền bắc có hoa đào thì miền nam có hoa mai.
- Rùa, mực, cua là các con vật có mai.
- Nay đây mai đó.
g. lồng: - Con ngựa đang đứng bỗng lồng lên
- Mua được con chim, bạn tôi nhốt ngay vào lồng
* Một số trường hợp dùng từ đồng âm để chơi chữ:
chèo:
- Ăn no rồi lại nằm khoèo
Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem.
(ca dao)
- Kể chi tuổi tác già nua
Trống chèo xin cứ thi đua đến cùng.
(Mẹ Suốt - Tố Hữu)
* Đối với từ nhiều nghĩa:
a. chạy:
- Cầu thủ chạy đón quả bóng.
- Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại.
- Tàu chạy trên đường ray.
- Đồng hồ này chạy chậm.
- Mưa ào xuống, không kịp chạy lúa phơi ngoài sân.
- Nhà ấy chạy ăn từng bữa.
- Con đường mới mở chạy qua làng tôi.
b. lá:
- Lá bàng đang đỏ ngọn cây. (Tố Hữu)
- Lá khoai anh ngỡ lá sen. (ca dao)

- Lá cờ căng lên vì ngược gió. (Nguyễn Huy Tưởng)
- Cầm lá thư này lòng hướng vô Nam.(bài hát)
c. quả:
- Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao. (Trần Đăng Khoa)
- Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân. (ca dao)
- Trăng tròn như quả bóng.
(Trần Đăng Khoa)
- Quả đất là ngôi nhà chung của chúng ta.
14


d. cứng:

e. sườn:

- Quả hồng như thể quả tim giữa đời.
- Lúa đã cứng cây.
- Lí lẽ rất cứng.
- Lực học thuộc loại cứng.
- Cứng như thép.
- Thanh tre cứng quá, không uốn cong được.
- Quai hàm cứng lại, chân tay tê cứng.
- Cách giải quyết hơi cứng.
- Nó hích vào sườn tôi.
- Con đèo chạy ngang sườn núi.
- Tôi đi qua phía sườn nhà.
- Dựa vào sườn của bản báo cáo…

g. xuân:
- Mùa xuân là tết trồng cây

Làm cho đất nước càng ngày càng xuân.
(Hồ Chí Minh)
- Ngày xuân con én đưa thoi.
(Nguyễn Du)
- Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán
So với ông Bành vẫn thiếu niên.
(Hồ Chí Minh)
Các ngữ liệu này tôi sưu tầm tại trang Thư viện Tư liệu giáo dục (tulieu.violet.vn).
Để thu thập thêm nhiều ví dụ ta có thể tìm đọc cuốn: Phong cách học Tiếng Việt (NXB
Giáo Dục 1995) - Đinh Trọng Lạc.
5. Biện pháp 5: Tập hợp, nghiên cứu các bài tập về từ đồng âm và từ
nhiều nghĩa, thiết kế bài tập phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa.
Để chuẩn bị cho các tiết dạy mảng kiến thức này, tôi nghiên cứu lựa chọn,
thiết kế thêm một số bài tập và sắp xếp lại phù hợp với chuẩn kiến thức, kĩ năng
và phù hợp định hướng phát triển năng lực của học sinh theo 4 mức độ (Căn cứ
theo hướng dẫn của Thông tư 22/2016 TT- BGĐT).
5.1. Các dạng bài tập thuộc mức độ 1 (Mức nhận biết).
Ở dạng này giúp học sinh nhận biết được từ đồng âm và nhận biết được
từ nhiều nghĩa qua các bài tập sau:
* Đối với từ đồng âm.
Bài tập 1 (trang 52 - SGK): Phân biệt nghĩa của các từ đồng âm trong các
cụm từ sau: Cánh đồng (1) - tượng đồng (2) - một nghìn đồng(3).
Bài tập này, giáo viên giúp học sinh hiểu nghĩa của các từ “đồng” ở mỗi trường
hợp: “đồng”(1) chỉ khoảng đất rộng, bằng phẳng, dùng để cấy, trồng trọt. “Đồng”(2) là
kim loại có nghĩa của các từ “đồng” khác nhau, chúng là những từ đồng âm.
* Đối với từ nhiều nghĩa:
15


Bài tập 1 (trang 67 - SGK): Trong những câu sau câu nào có từ “chân”

mang nghĩa gốc và câu nào có từ “chân” mang nghĩa chuyển?
Chân: a. Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân
b. Bé đau chân
Đối với bài tập trên, giáo viên yêu cầu học sinh nêu được nghĩa của từ
“chân” trong mỗi câu và xác định nghĩa chuyển, nghĩa gốc “chân” trong câu a
chỉ một bộ phận làm trụ đỡ của cái kiềng - nghĩa chuyển, “chân” trong câu b
một bộ phận của cơ thể đỡ và di chuyển cơ thể - nghĩa gốc.
5.2. Các dạng bài tập thuộc mức độ 2 (Mức thông hiểu).
Ở dạng này giúp học sinh hiểu được nghĩa của từ đồng âm và hiểu được
nghĩa của từ nhiều nghĩa thông qua văn cảnh cụ thể:
* Đối với từ đồng âm:
Ví dụ: Nối các cụm từ ở cột A với nghĩa thích hợp ở cột B
A

B
1. Sao trên trời có khi tỏ khi mờ a. Chép lại hoặc tạo ra văn bản khác theo
đúng bản chính
2. Sao lá đơn này thành ba bản
b. Tẩm một chất nào đó vào chè rồi sấy khô
3. Sao tẩm chè
c. Nêu thắc mắc không biết rõ nguyên nhân
4. Sao ngồi lâu thế?
d. Nhấn mạnh mức độ làm ngạc nhiên, thán
5. Ôi, đồng lúa mượt mà làm phục
sao!
e. Các thiên thể trong vũ trụ
Đáp án: 1 - e, 2 - a, 3 - b, 4 - c, 5 - d
* Đối với từ nhiều nghĩa:
Ví dụ 1: Nối câu ở cột A với ý cột B cho phù hợp:
A

1. Bé chạy lon ton trên sân.

B
a. Hoạt động của máy móc.

b. Khẩn trương tránh những điều không
2. Tàu chạy băng băng trên đường ray. may sắp xảy đến.
3. Đồng hồ chạy đúng giờ.

c. Sự di chuyển nhanh của phương tiện
giao thông.

4. Dân làng khẩn trương chạy lũ.

d. Sự di chuyển nhanh bằng chân.

Đáp án: 1 - d, 2 - c, 3 - a, 4 - b
Ví dụ 2: Nối cột A với cột B cho tương ứng với nghĩa của từ “ xuân”:
A

B

1. Mùa đầu tiên của một năm, vào
tháng giêng, tháng 2, tháng 3 âm lịch.

a.Tuổi xuân chẳng tiếc xá chi bạc đầu.
16


2.Chỉ tuổi của con người.


b.Làm cho đất nước càng ngày càng
xuân.

3.Chỉ sự trẻ trung, tuổi trẻ

c.Ông ấy năm nay hơn 60 xuân.

4.Sự tươi trẻ.

d. Mùa xuân là tết trồng cây.

Đáp án: 1 - d, 2 - c, 3 - a, 4 - b.
5.3. Các dạng bài tập thuộc mức độ 3 (Mức vận dụng).
Dạng bài này giúp học sinh vận dụng kiến thức kĩ năng đã học để đặt câu,
sao cho sử dụng đúng từ, đúng cấu trúc ngữ pháp.
* Đối với từ đồng âm:
Bài tập 2 (trang 52 - SGK Tiếng Việt 5, tập 1): Đặt câu để phân biệt các từ đồng
âm: bàn, cờ, nước. Ở bài tập này giáo viên hướng dẫn học sinh với mỗi từ các em
cần đặt ít nhất là hai câu, các từ đó có quan hệ đồng âm với nhau.
Ví dụ: Bàn: - Cả nhà ngồi vào bàn để ăn cơm.
- Bố mẹ em cũng đang bàn chuyện cưới vợ cho anh trai.
* Đối với từ nhiều nghĩa:
Bài tập 4 (trang 74 - SGK Tiếng Việt 5, tập 1) Đặt câu để phân biệt nghĩa
của từ “đứng”.
Đứng: Nghĩa 1: ở tư thế chân thẳng, chân đặt trên mặt nền
Nghĩa 2: Ngừng chuyển động
Giáo viên có thể gợi ý nghĩa 1, nói tới một tư thế của người hoặc động
vật. Nghĩa 2 nói tới trạng thái của một đồ vật hiện tượng, dựa vào gợi ý đó học
sinh có thể đặt câu.

Ví dụ: Nghĩa 1: Anh chiến sĩ đứng gác ở cổng doanh trại.
Nghĩa 2: Kim giờ của đồng hồ đứng lại rồi.
* Phân biệt quan hệ đồng âm, quan hệ nhiều nghĩa:
Ví dụ 1: Trong các từ in đậm dưới đây, những từ nào có quan hệ đồng âm,
những từ nào có quan hệ nhiều nghĩa với nhau?
Vàng: - Giá vàng nước ta tăng đột biến.
- Tấm lòng vàng.
- Ông tôi mua một bộ vàng lưới để chuẩn bị cho vụ đánh bắt hải sản.
Ở bài tập này, giáo viên hướng dẫn học sinh hiểu nghĩa của các từ “vàng”
rồi xác định mối quan hệ giữa chúng.
Ví dụ 2: Trong các từ in đậm dưới đây, những từ nào có quan hệ đồng âm,
những từ nào có quan hệ nhiều nghĩa với nhau?
- Dạo này giá đường tăng cao quá!
- Gió to, đường dây điên thoại bị đứt.
- Đường từ nhà tôi đến trường rất lầy lội.
Cả 2 ví dụ này có thể thiết kế dưới dạng bài tập giống bài tập 3 (Mục B.II.3).
17


5.4. Các dạng bài tập thuộc mức độ 4 (Mức vận dụng nâng cao).
Dạng bài tập ở mức này giúp các em vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã
học để giải quyết những vấn đề mới, nó nhấn mạnh yếu tố linh hoạt, sáng tạo,
đặc biệt tập trung vào việc hình thành mô hình hoặc cấu trúc mới.
* Dạng bài tập đố vui.
Bài tập 4 (trang 52 - SGK Tiếng Việt 5, tập 1):
Trùng trục như con chó thui
Chín mặt, chín mũi, chín đuôi, chín đầu.
(Là con gì?)
Hoặc dạng bài tập chỉ ra những từ đồng âm được dùng để chơi chữ.
Bài tập 1 (trang 61 - SGK Tiếng Việt 5, tập 1): Tìm từ đồng âm trong các câu sau:

a. Bác bác trứng, tôi tôi vôi.
b. Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa.
* Dạng bài tập thay thế từ.
Ví dụ: Tìm từ có thể thay thế từ “mũi” trong các cụm từ sau:
- Mũi thuyền
- Mũi súng
- Mũi đất
Ví dụ: Em hãy tìm các từ dùng chỉ bộ phận của cây cối để chỉ bộ phận
của cơ thể người?
Lá: (lá phổi, lá lách, lá gan, lá mỡ)
Quả: (quả tim, quả thận)
* Dạng bài tập viết đoạn văn có sử dụng từ đồng âm, từ nhiều nghĩa.
Ví dụ: Em hãy viết đoạn văn ngắn với nội dung tự chọn có sử dụng từ
nhiều nghĩa.
Đây là bài tập mà em Mai Hậu đã mắc lỗi khi sử dụng từ: con đường điện
Sau khi được làm nhiều dạng bài tập để phân biệt được từ đồng âm, từ
nhiều nghĩa, không riêng mình em Hậu mà nhiều em khác trong lớp đã sử dụng
từ đặt câu đúng ý, vận dụng viết đoạn văn chặt chẽ về cấu trúc, các câu liên kết
về ý.
Em Mai Hậu viết: “Con đường phố từ nhà tôi đến trường Tiểu học Đông
Sơn chạy thẳng băng, không uốn lượn quanh co. Hai bên đường, những ngôi nhà
cao tầng thi nhau mọc lên, mọc lên làm cho khu phố thêm sầm uất. Đặc biệt, lề
phố rất đẹp bởi hai hàng cây ven đường. Mùa hè, những chùm hoa phượng đỏ
chen lẫn màu tím bằng lăng làm rực rỡ cả khoảng trời. Vượt lên khỏi những vòm
cây xanh là đường điện cao thế chạy thẳng về thôn Trường Sơn, đem dòng điện
sáng phục vụ bà con trong xóm núi.”
Tất cả các dạng bài tập này, ngoài tiết dạy theo kế hoạch chuẩn kiến thức kĩ
năng, tôi có thể bổ sung cho học sinh vào phần củng cố bài, tiết luyện tập, tiết ôn tập,
có thể sử dụng trong các buổi sinh hoạt Câu lạc bộ em yêu Tiếng Việt.
18



Qua cách chia các dạng bài tập như trên, tôi có thể dễ dàng quan tâm đến
tất cả đối tượng học sinh trong lớp. Tôi nhận thấy các em tiến bộ rõ rệt về cách
dùng từ, đặt câu, viết bài văn có hình ảnh đẹp.
IV. Kết quả.
Trên đây là một số biện pháp rút ra từ việc dạy nội dung kiến thức phân
biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa của bản thân tôi trong năm học 2016 - 2017.
Kết quả tuy chưa thực sự cao, song so với chất lượng học sinh giữa kì I đã có sự
chuyển biến. Cụ thể, cuối học kì I và giữa học kì II của năm học này tôi cũng ra
những bài tập tương tự dạng đề khảo sát sau khi học xong hai mảng kiến thức
này cho các em học sinh lớp 5A (lớp tôi chủ nhiệm và cũng là lớp tôi áp dụng
sáng kiến vào giảng dạy). Kết quả làm bài như sau:
Cuối học kì I:
Sĩ số
25

Hoàn thành tốt

Hoàn thành

Chưa hoàn thành

SL

TL

SL

TL


SL

TL

10

40

15

60

0

0

Giữa học kì II:
Sĩ số
25

Hoàn thành tốt

Hoàn thành

Chưa hoàn thành

SL

TL


SL

TL

SL

TL

15

60

10

40

0

0

* Bài học kinh nghiệm.
Sau khi áp dụng một số biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm với
từ nhiều nghĩa vào thực tế đạt kết quả khả quan, tôi nhận thấy:
- Coi trọng việc dạy các tiết học về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa. Học sinh
cần nắm vững kiến thức về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa thông qua các bài học,
muốn vậy giáo viên cần nắm sâu kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, lựa
chọn phương pháp dạy học phù hợp, chú trọng đến đồ dùng trực quan.
- Tổ chức dạy trên lớp có sự lồng ghép, gợi mở kiến thức.
- Dựa vào yếu tố từ loại để giúp học sinh phân biệt được từ đồng âm và từ

nhiều nghĩa.
- Giáo viên cần giúp học sinh tự tìm ra dấu hiệu chung nhất để phân biệt
từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
- Tìm hiểu nghiên cứu, thống kê các dạng bài tập về từ đồng âm và từ
nhiều nghĩa, bài tập phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa.
- Giáo viên cần tích lũy vốn ngữ liệu một số trường hợp về từ đồng âm, từ
nhiều nghĩa trong cuộc sống hàng ngày để có thêm vốn từ trong giảng dạy.
19


- Các em học sinh phải thực hiện tốt nhiệm vụ của học sinh, tích cực học
tập và rèn luyện, chăm đọc sách, báo để làm giàu vốn từ giúp các em học tốt
môn Tiếng Việt.
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. Kết luận.
Dạy các nội dung về nghĩa của từ thực sự không đơn giản, nhất là phân
biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa. Trong quá trình giảng dạy, tổ chức cho học
sinh nắm được kiến thức, bản thân tôi cũng đã cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, học
hỏi và và lựa chọn sao cho học sinh nắm kiến thức mới và vận dụng trong học
tập cũng như trong cuộc sống một cách hiệu quả. Trên đây là một vài kinh
nghiệm của bản thân khi dạy phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5A
trường Tiểu học Đông Sơn, chắc chắn kinh nghiệm của bản thân tôi không tránh
khỏi thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các đồng chí để tôi
có thêm vốn kiến thức nhằm nâng cao nghiệp vụ chuyên môn của mình.
II. Kiến nghị.
1. Đối với BGH nhà trường:
Do thời lượng dạy nội dung từ đồng âm, từ nhiều nghĩa ít nên trong tuần 6
có một tiết Luyện từ và câu đã giảm tải, tôi đề nghị các đồng chí trong BGH lên
kế hoạch chuyển tiết dạy: Từ nhiều nghĩa lên trước và dành một tiết ở tuần 8 để
luyện tập chung nội dung từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.

2. Đối với giáo viên:
Giáo viên cần phải kiên trì thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, cần nắm
bắt rõ năng lực học tập của từng đối tượng học sinh để giảng dạy có hiệu quả. Tự
học và tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ nghiệp vụ của bản thân góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục của nhà trường. Thường xuyên học tập, học hỏi những
kinh nghiệm ở đồng nghiệp, linh hoạt trong cách dạy để kết quả cao hơn.
Bỉm Sơn, ngày 10 tháng 4 năm 2017
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

NGƯỜI VIẾT
(Tôi xin cam kết SKKN của bản thân,
không sao chép.)

Lê Thị Luyến
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Thị Luyến - Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh
lớp 5 phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa - năm học 2011 - 2012.
2. Trang điện tử Thư viện Tư liệu giáo dục (tulieu.violet.vn).
20


3. Lê Hữu Tỉnh - Trần mạnh Hưởng (1999), Giải đáp 88 câu hỏi về giảng
dạy Tiếng Việt ở Tiểu học. Nhà xuất bản giáo dục.
4. PGS - TS Nguyễn Đức Tôn: Lí luận - Phương pháp dạy học từ ngữ
Tiếng Việt trong nhà trường.
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5, tập 1 - Nhà
xuất bản giáo dục Việt Nam.
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 5, tập 1 - Nhà
xuất bản giáo dục
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Vở bài tập Tiếng Việt lớp 5, tập 1 - Nhà xuất

bản giáo dục Việt Nam.
8. Bài kiểm tra giữa kì I, năm học 2016 - 2017, khối 5, trường TH Đông
Sơn, TX Bỉm Sơn.
9. Lê Phương Nga - Nguyễn Trí (1999), Phương pháp dạy học TV ở Tiểu
học. Nhà xuất bản Đại học QG Hà Nội.
10. Bộ GD và ĐT - Chương trình đảm bảo chất lượng giáo dục trường
học (2011). Dạy học đảm bảo chất lượng môn Tiếng Việt.
11. Đinh Trọng Lạc - Phong cách học Tiếng Việt - NXB Giáo Dục 1995.

21


XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TX BỈM SƠN
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................

22


×