SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LỚP 3
KHẮC PHỤC MỘT SỐ LỖI SAI CHÍNH TẢ
Người thực hiện : Trịnh Thị Loan
Chức vụ
: Giáo viên
Đơn vị công tác : Trường Tiểu học Thạch Cẩm 3
Thạch Thành - Thanh Hóa
SKKN thuộc lĩnh vực(môn) : Tiếng Việt
THẠCH THÀNH, NĂM 2016
MỤC LỤC
Trang
A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài ............................................................................................. 2
II. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................2
III. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................................2
IV. Phương pháp nghiên cứu ..............................................................................3
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
I. Cơ sở lí luận .....................................................................................................3
II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu ..................................................................4
III. Giải pháp và biện pháp tổ chức thực hiện .....................................................5
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.............................................................19
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận ............................................................................................................20
II. Kiến nghị, đề xuất ...........................................................................................21
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................22
2
A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài.
Chất lượng học tập của học sinh hiện nay là vấn đề cần được quan tâm, đặc
biệt là chất lượng học tập của học sinh tiểu học. Vì bậc tiểu học là bậc nền móng
của hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta.
Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho
sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ
năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.
Một trong những môn học đóng góp vai trò quan trọng trong trường tiểu học
là môn Tiếng Việt. Môn Tiếng Việt có nhiệm vụ giúp học sinh lĩnh hội được hệ
thống kiến thức, kĩ năng cơ bản về Tiếng Việt để góp phần đào tạo thế hệ trẻ năng
lực sử dụng Tiếng Việt.
Môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác, có nhiệm vụ cung cấp cho học
sinh bốn kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết. Thực hiện mục tiêu hình thành và phát
triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng việt giúp học tập và giao tiếp trong các
môi trường hoạt động của lứa tuổi. Môn Tiếng Việt cấp tiểu học đã lấy nguyên tắc
dạy học giao tiếp làm định hướng cơ bản.
Để học sinh học tốt môn Tiếng Việt việc viết đúng chính tả của học sinh là
vô cùng quan trọng. Chữ viết là một hình thức của ngôn ngữ giao tiếp. Vì vậy,
phân môn Chính tả có vai trò quan trọng ở cấp Tiểu học. Học sinh viết đúng, viết
nhanh mới có điều kiện học môn Tiếng Việt và các môn học khác được thuận lợi.
Chữ viết là hệ thống các ký hiệu để ghi lại ngôn ngữ dạng văn bản, là sự
miêu tả lại ngôn ngữ thông qua các ký hiệu hoặc biểu tượng. Chữ viết trong mỗi
ngôn ngữ được cấu thành từ bảng chữ cái đặc trưng của ngôn ngữ đó. Chữ viết
hiện nay là chữ viết ghi lại theo phát âm vì ngôn ngữ Tiếng Việt thuộc nhóm Môn
Khơme nên đọc thế nào viết như thế. Do đó việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng,
đọc đúng là cơ sở cho viết đúng.
Tuy nhiên do yếu tố vùng miền, cách phát âm mỗi nơi có khác nhau, do
chưa nắm chắc những quy tắc chính tả dẫn đến việc viết đúng chính tả trong học
sinh hiện nay nói chung vẫn còn nhiều hạn chế, vì vậy học sinh hiện nay còn nhiều
em mắc lỗi chính tả. Điều này ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em ở môn
Tiếng Việt nói chung cũng như các môn học khác. Việc rèn cho học sinh ở các lớp
đầu cấp khắc phục lỗi chính tả để viết đúng là rất cần thiết. Trong quá trình giảng
dạy thực tế tôi đã trăn trở tìm ra một số biện pháp giúp học sinh khắc phục được lỗi
chính tả. Do đó, tôi mạnh dạn đúc rút sáng kiến kinh nghiệm: “Kinh nghiệm giúp
học sinh lớp 3 khắc phục một số lỗi sai chính tả.”.
II. Mục đích nghiên cứu.
Đưa ra các biện pháp phù hợp với đối tượng học sinh nhằm khắc phục tình
trạng sai lỗi chính tả.
III. Đối tượng nghiên cứu
- Thống kê, phân loại các lỗi chính tả mà học sinh mắc phải.
- Phân tích, chỉ ra nguyên nhân của các loại lỗi chính tả đó.
- Biện pháp giúp học sinh khắc phục lỗi chính tả.
- Áp dụng thực tế và rút ra bài học kinh nghiệm.
3
IV. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết (Đọc tài liệu có liên quan đến
các vần đề cần nghiên cứu; Nghiên cứu sách giáo khoa Tiếng Việt 3, Vở bài tập
Tiếng Việt 3, ....).
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
- Phương pháp thực nghiệm (quan sát, luyện tập, thực hành).
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Thu thập, xử lí, đánh giá số liệu.
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
I. Cơ sở lí luận.
Theo Từ điển Hán Việt: Chính tả là Viết đúng. Chính tả là hệ thống các quy
tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ. Nói cách khác chính tả là
những quy ước của xã hội trong ngôn ngữ đảm bảo cho người viết và người đọc
đều hiểu thống nhất nội dung văn bản, là sự quy định có tính chất xã hội, nó không
cho phép vận dụng quy tắc một cách linh hoạt có tính sáng tạo cá nhân.
Chính vì thế, dạy học chính tả là rèn cho học sinh biết quy tắc và có thói
quen viết chữ ghi tiếng Việt đúng với chuẩn. Kĩ năng chính tả giúp cho người đọc
chiếm lĩnh được tiếng Việt, là công cụ để giao tiếp, tư duy và học tập.
Chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm, nghĩa là mỗi âm vị được ghi bằng
một con chữ, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau. Đọc như thế nào thì
viết như thế ấy, nếu đọc sai thì viết sẽ sai.
Lỗi chính tả là lỗi viết sai chuẩn chính tả. Lỗi chính tả bao gồm hiện tượng
vi phạm các quy định chính tả về viết hoa, viết tắt, dùng từ, .... và hiện tượng vi
phạm diện mạo ngữ âm của từ thể hiện trên chữ viết, tức chữ viết ghi sai từ.
Muốn dạy học sinh viết đúng chính tả thì điều kiện tiên quyết là học sinh
phải đọc đúng; Tuy nhiên do yếu tố vùng miền, cách phát âm mỗi nơi mỗi khác.
Mặc dù những quy tắc, quy ước về chính tả được thống nhất theo ngữ pháp chung
nhưng việc "viết đúng chính tả" đối với học sinh còn mắc nhiều.
Muốn viết đúng chính tả cần phải dạy học sinh hiểu đúng nghĩa của từ; quy
tắc chính tả, mẹo luật chính tả, ...
Trong giờ học chính tả, học sinh sẽ xác định được cách viết đúng chính tả
bằng việc tiếp nhận chính âm thanh lời nói (Hình thức chính tả Nghe – viết). Muốn
viết đúng là phải xác lập được mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết, giữa đọc và
viết vì chính tả chính là sự chuyển hóa văn bản âm thanh thành chữ viết.
Trong thực tế, sự biểu hiện của mối quan hệ giữa âm thanh và chữ viết khá
phong phú và đa dạng. Bởi vì cách phát âm thực tế của các phương ngữ vùng miền
khác nhau, có những sai lệch so với chính âm, nên không thể nghe như thế nào viết
như thế ấy được. Như thế, muốn viết đúng chính tả thì dứt khoát phải nắm vững
nghĩa của từ. Có thể nói rằng: Chính tả Tiếng Việt còn là loại chính tả ngữ nghĩa.
Đối với người sử dụng tiếng Việt, viết đúng chính tả chứng tỏ là nắm vững
về mặt ngôn ngữ. Viết đúng chính tả giúp cho con người ta sẽ có điều kiện sử
dụng tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong việc học tập, giao tiếp, .....
Việc dạy học giúp học sinh viết đúng chính tả sẽ cung cấp cho các em quy
tắc và rèn luyện để có kĩ năng và thói quen viết đúng chính tả. Chính tả rèn cho
học sinh tính kỉ luật, tính cẩn thận (vì phải viết đúng quy tắc, phải viết nắn nót từng
4
nét), óc thẩm mĩ (vì phải viết ngay ngắn, thẳng hàng, sạch đẹp,...) qua đó bồi
dưỡng cho các em lòng yêu quý tiếng Việt và chữ Việt, cách biểu thị tình cảm tốt
đẹp trong việc viết đúng chính tả.
II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
1. Thực trạng chung:
Trường Tiểu học Thạch Cẩm 3 thuộc địa bàn xã Thạch Cẩm, huyện Thạch
Thành. Xã Thạch Cẩm là một xã miền núi đời sống của nhân dân chủ yếu làm
nông nghiệp, nền kinh tế thực sự khó khăn. Trình độ dân trí chưa cao cho nên các
em đi học đều giao khoán cho Nhà trường. Bố mẹ các em đi làm ăn xa. Chính vì
thế các em đi học thiếu sự quan tâm của bố mẹ nên cũng ảnh hưởng một phần đến
chất lượng giáo dục.
Học sinh nằm rải rác trên ba thôn: Cẩm Mới, Thạch Môn và Đồng Tiến là ba
thôn vùng 135 của xã. Trường Tiểu học Thạch Cẩm 3 lại đóng trên thôn Thạch
Môn. Trường đã khó khăn lại khó khăn hơn, các em đi học xa trường. Trường có
ba lớp học ở khu lẻ dẫn đến việc quản lí học sinh khó khăn. Chính vì vậy ban giám
hiệu nhà trường đã không quản ngại khó khăn đưa trường vươn lên từng bước. Tập
thể giáo viên trong trường không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ.
2. Thực trạng về giáo viên:
- Đội ngũ giáo viên của nhà trường đều có trình độ chuẩn trở lên: trên chuẩn
13 đồng chí, đạt chuẩn 2 đồng chí, có kinh nghiệm trong giảng dạy, nhiệt tình trong
công tác.
- Tuy nhiên, trong quá trình dạy học, một số giáo viên dạy học theo kiểu chưa
chú ý được hết tất cả các đối tượng học sinh, nhất là học sinh tiếp thu bài chậm,
đặc biệt đối với môn Tiếng Việt đọc, viết chậm. Khi đọc, viết còn sai lỗi chính tả.
Mặt khác giáo viên lại cho các em đứng bên lề trong các tiết học, nhất là các tiết
thao giảng.
- Nhiều giáo viên chưa có phương pháp định hướng cụ thể trong việc rèn chữ,
sửa lỗi chính tả cho học sinh.
- Đa số giáo viên chỉ chú trọng phát âm chuẩn trong giờ chính tả.
- Một số giáo viên nói chưa chuẩn tiếng phổ thông, giọng nói còn mang đặc
trưng tiếng địa phương nên ảnh hưởng đến việc luyện viết chính tả cho học sinh,
đặc biệt là chính tả nghe viết.
3. Thực trạng về học sinh:
Năm học 2015 - 2016 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 3A (15
em). Sau một thời gian giảng dạy đầu năm tôi nhận thấy số lượng học sinh còn
mắc lỗi chính tả rất nhiều.
Mặt khác, Tiếng Việt là môn học khó, lứa tuổi của các em ý thức tự giác học
chưa cao, khả năng ghi nhớ chưa sâu, vốn từ còn hạn chế. 13/15 em là người dân
tộc Mường nên việc ảnh hưởng của phương ngữ địa phương cũng dẫn đến việc các
em mắc lỗi chính tả. Vì thế qua giờ chính tả tôi nhận thấy học sinh mắc lỗi chính tả
rất nhiều.
Điều tra số liệu khảo sát chất lượng đầu năm về việc viết chính tả như sau:
5
Tổng
số
15em
Sai
0-1 lỗi
Tỉ lệ
(%)
Sai
2 - 3 lỗi
Tỉ lệ
(%)
Sai
4 - 5 lỗi
Tỉ lệ
(%)
Sai
6 - 7 lỗi
Tỉ lệ
(%)
Sai trên
7 lỗi
Tỉ lệ
(%)
1em
6,7
2em
13,3
3em
20
3em
20
6em
40
Qua nghiên cứu thực tế cho thấy học sinh mắc lỗi chính tả là do:
+ Bản thân các âm, vần, thanh khó (khó phát âm, cấu tạo phức tạp).
+ Học sinh không nắm vững quy tắc ghi âm chữ quốc ngữ.
+ Do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương.
+ Do học sinh bất cẩn khi viết. Có những học sinh viết sai hơn 10 lỗi ở một bài
chính tả khoảng 60 chữ.
+ Một số em đọc chưa trôi chảy.
Qua quá trình giảng dạy tôi nhận thấy các em thường viết sai các lỗi như:
+ Về thanh điệu:
Học sinh không phân biệt được thanh hỏi, thanh ngã (Em: Điệp, Ánh, Phong )
Ví dụ: suy nghỉ, nghĩ ngơi, hướng dẩn…
+ Về âm vần:
Học sinh viết lẫn lộn chữ cái ghi âm đầu (Em: Ngọc, Nguyên, Ly, Kiên, Hằng )
Ví dụ:
- g / gh : gê gớm, gi nhớ,...
- c / k/ q : céo co,...
- ng / ngh : nghành nghề, ghe nhạc,...
- ch / tr : cây che, chiến chanh, ....
- s / x : chia xẻ, sung phong,...
- r / d / gi : dừng núi, da đình,...
Bên cạnh đó học sinh còn dễ viết sai các âm vần khó (Em Huyền, Anh,
Hoạt) như: uênh, uêch, uych, uya, oeo, ..….Viết sai các vần dễ lẫn lộn như:
ươn/ương; iên/iêng; au/âu; ay/ây; ưi/ươi…..
Đôi khi còn viết sai tên riêng Việt Nam và tên riêng nước ngoài. Viết hoa tùy
tiện, sai quy định chính tả (Em: Duy, Hằng, Thủy, Kiên)
Do ảnh hưởng của phương ngữ địa phương (87% là dân tộc Mường) các em
đọc và viết sai tiếng phổ thông (Em: Điệp, Hoa, Linh, Ánh, Ly, ....):
Ví dụ: Con trâu học sinh viết là: con châu
Con ong học sinh viết là con ông
Lòng me học sinh viết là lồng me.
Từ những lỗi sai đó cùng với sự phức tạp của chữ quốc ngữ nếu người giáo
viên không có biện pháp uốn nắn kịp thời thì sẽ dẫn đến hình thành thói quen
không tốt cho học sinh. Vì vậy để giúp học sinh có kĩ năng viết đúng, đẹp nên tôi
đã đi sâu và nghiên cứu để tìm ra một số biện pháp giúp học sinh khắc phục lỗi
chính tả và thực tế đã mang lại hiệu quả hết sức đáng mừng. Chính vì thế tôi đã
đúc rút lại thành sáng kiến: “Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3 khắc phục một số
lỗi sai chính tả”để chia sẻ cùng đồng nghiệp.
III. Các giải pháp và biện pháp tổ chức thực hiện.
6
1. Giải pháp
Từ thực trạng trên, tôi đi tìm hiểu nguyên nhân và nghiên cứu lại những kiến
thức liên quan, tôi rút ra một số giải pháp góp phần giúp học sinh viết đúng chính
tả như sau:
1.1. Giáo viên cần trang bị cho mình vốn kiến thức, nắm chắc về quy luật chính tả.
Biết lựa chọn nội dung giảng dạy linh hoạt, sáng tạo.
1.2. Luyện phát âm.
1.3. Luyện tập về phân tích và so sánh, giải nghĩa từ.
1.4. Hướng dẫn học sinh làm các dạng bài tập và ghi nhớ mẹo luật chính tả.
1.5. Hướng dẫn học sinh ghi Sổ tay chính tả.
1.6. Khắc phục lỗi chính tả thông qua trò chơi.
1.7. Yêu cầu học sinh chép lại chữ viết đúng.
1.8. Hướng dẫn học sinh đọc nhiều - nhớ lâu.
1.9. Khuyến khích học sinh chép các bài thơ vui, những câu thơ hay để rèn chính
tả. Đồng thời khắc phục lỗi thông qua giao tiếp.
1.10. Tích hợp việc dạy chính tả qua các môn học khác.
1.11. Làm tốt công tác phối kết hợp với phụ huynh học sinh.
1.12. Kịp thời động viên, khích lệ học sinh.
1.13. Tham mưu với nhà trường, tổng phụ trách Đội tổ chức các hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp có nội dung liên quan đến việc viết chính tả của học sinh.
2. Biện pháp tổ chức thực hiện.
2.1. Giáo viên cần trang bị cho mình vốn kiến thức, nắm chắc về quy luật
chính tả. Biết lựa chọn nội dung giảng dạy linh hoạt, sáng tạo.
Là người truyền đạt kiến thức cho học sinh, nếu người giáo viên có vốn kiến
thức về chính tả mơ hồ, hời hợt thì là một điều vô cùng khó để có thể giúp các em
học tốt, viết đúng được chính tả. Đặc biệt, lỗi về chính tả xảy ra ở hầu hết các phân
môn. Vì lẽ đó, muốn học sinh học tốt, nắm chắc được luật chính tả thì bản thân
người giáo viên phải luôn luôn có tinh thần học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu, nắm chắc,
chuyên sâu về quy luật chính tả. Nắm vững kiến thức tiếng Việt.
Trong quá trình giảng dạy và truyền thụ kiến thức cho các em học sinh, đòi
hỏi người giáo viên cần xác định được trọng tâm của bài, dạy chính tả phải biết kết
hợp với việc dạy chuẩn âm, tức là“phát âm đúng”. Yêu cầu giáo viên phải là người
chuẩn mực trong việc đọc, nói. Vì cơ sở cơ bản của chính tả Tiếng Việt là nguyên
tắc ngữ âm.Chính tả âm vị đọc thế nào, nói thế nào viết thế ấy. Hầu hết học sinh
chưa nắm vững nguyên tắc chính tả nên dẫn đến viết sai chính tả.
Ở mỗi địa phương có một số trọng điểm chính tả riêng. Chính vì vậy, giáo
viên cần chú ý vận dụng nguyên tắc dạy chính tả theo địa phương, theo khu vực.
Nguyên tắc này yêu cầu giáo viên trước khi dạy cần tiến hành điều tra cơ bản nắm
lỗi chính tả phổ biến của học sinh, từ đó lựạ chọn nội dung giảng dạy thích hợp.
Đây chính là thời gian giáo viên cung cấp cho học sinh các mẹo, luật chính
tả cũng như phân tích ngữ nghĩa các từ ngữ mà các em dễ nhầm lẫn.
Cụ thể: Khi hướng dẫn làm bài tập chính tả. Đối với dạng bài tập lựa chọn
cho từng vùng phương ngữ. Nội dung các bài tập này là luyện viết phân biệt những
âm, vần dễ lẫn do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương. Trong sách giáo khoa
số hiệu của các bài tập lựa chọn bao gồm 1, 2 hoặc 3 bài tập nhỏ (kí hiệu là a, b
7
hay c), mỗi bài tập nhỏ dành cho vùng phương ngữ nhất định. Bản thân tôi luôn
căn cứ vào đặc điểm phát âm và thực tế viết chính tả của mỗi học sinh mình dạy để
chọn bài tập nhỏ thích hợp cho các em. Trong cùng một lớp, có thể giao cho học
sinh này bài tập a, học sinh khác bài tập b, tùy theo lỗi phát âm và lỗi chính tả các
em thường mắc. Thậm chí dựa theo mẫu bài tập sách giáo khoa, giáo viên có thể tự
ra bài tập cho phù hợp với yêu cầu khắc phục lỗi chính tả và lỗi phát âm của địa
phương mình. Vì thế trong quá trình giảng dạy, theo tôi người giáo viên phải biết
thay đổi và vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo phần bài tập chính tả lựa chọn
giúp các em học sinh của mình khắc phục những lỗi sai để viết đúng chính tả mà
vẫn đảm bảo được mục tiêu bài học, môn học.
Ví dụ: Điền vào chỗ trống ut hay uc? (VBT TV3 - tập 2 - trang 24 )
Con chim chiền chiện
Bay v...́. v....́.́. cao
Lòng đầy yêu mến
Kh...́.. hát ngọt ngào
Tôi thấy học sinh lớp tôi khi điền hai vần này học sinh không sai. Mặt khác
do ảnh hưởng của phương ngữ địa phương học sinh thường nhầm ong hay ông tôi
thay bài tập trên bằng bài tập:
Điền vào chỗ trống ong hay ông?
s....́... sánh
d....̀... suối
tr.... ngóng
mênh m........
Bên cạnh đó, việc chấm - nhận xét - chữa bài thường xuyên giúp giáo viên
tìm ra được từ, tiếng học sinh viết sai, chỉ ra từng lỗi sai để yêu cầu học sinh phát
âm lại và viết lại từ, tiếng đúng.
Ví dụ: Khi học sinh viết bài Chính tả: Chiếc áo len.(đoạn 4) - trang 22 - TV3 tập 1.
Có đoạn: Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, Lan ân hận quá.
Học sinh viết: Nằm cuộn chòn trông chiếc chăn bông ấm áp, Lan ân hận
quá.
Khi nhận xét bài viết của học sinh, tôi gạch chân tiếng viết sai, yêu cầu học
sinh đó đọc lại (nếu học sinh đó đọc sai thì yêu cầu bạn ngồi bên giúp bạn sửa), sau
đó yêu cầu học sinh đó viết lại tiếng đã viết sai.
2.2. Luyện phát âm.
Vì hầu như các em đọc như thế nào viết như thế ấy. Muốn cho học sinh viết
đúng chính tả, giáo viên phải chú ý luyện phát âm cho học sinh. Giáo viên phải là
người phát âm rõ tiếng, đúng, chuẩn, tốc độ vừa phải đồng thời chú ý luyện phát
âm cho học sinh để phân biệt các dấu thanh (đặc biệt là thanh hỏi, thanh ngã), các
âm đầu, phần vần ( chủ yếu là các tiếng đọc sai do ảnh hưởng phương ngữ) qua đó
giúp học sinh chú ý đến những hiện tượng chính tả cần viết đúng. Việc rèn phát âm
cơ bản phải được thực hiện trong tiết Tập đọc và được thực hiện thường xuyên,
liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học, không chỉ ở môn Tiếng Việt mà còn ở các
môn học khác.
Ví dụ:
+ Khi đọc từ : say sưa học sinh thường đọc sai thành xay xưa
Giáo viên cần cho học sinh phân tích cấu tạo tiếng. Giáo viên đọc mẫu sau đó cho
học sinh đọc lại.
8
+ Ở địa phương tôi dạy khi đọc từ lòng me các em phần đa thường đọc sai
thành lồng me. Vì thế khi viết các em cũng viết sai.
Học sinh đọc - viết sai lỗi: lòng thành lồng. Đây là do ảnh hưởng phương
ngữ (phần lớn các em là người dân tộc Mường). Giáo viên yêu cầu học sinh phân
tích cấu tạo tiếng, đánh vần lại. Giáo viên phát âm mẫu sau đó yêu cầu học sinh
luyện đọc lại nhiều lần.
Đặc biệt với những học sinh sai lỗi chính tả nhiều. Trong giờ tập đọc tôi cho
các em luyện phát âm, cho đánh vần những từ, tiếng các em đọc sai. Đôi lúc còn
giao cho các em viết vài câu trong bài mà chứa từ, tiếng em đọc sai chép vào vở.
Tiết tập đọc sau tôi kiểm tra.
2.3. Giúp học sinh nắm vững nghĩa của từ để viết đúng chính tả.
Do đặc điểm của phương ngữ vùng miền nên học sinh còn nói giọng địa
phương nhiều. Điều ấy làm các em dễ viết sai chính tả nếu chưa hiểu rõ nghĩa của
từ mình viết. Vì vậy, giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ nghĩa của từ bằng cách
luyện tập phân tích và so sánh, giải nghĩa từ.
* Khi dạy bài tập đọc : Đất quý, đất yêu (TV3)
Có câu: Ngày xưa, có hai người khách du lịch đến nước Ê-ti-ô-pi-a.
Học sinh đọc thành: Ngày sưa, có hai người khách du lịch đến nước Ê-ti-ô-pi-a.
Chính vì đọc sai nên khi viết chính tả các em cũng thường viết xưa thành
sưa. Sau đó tôi phân tích cho các em hiểu xưa và sưa
+ xưa: Đã quá lâu(ngày xưa, thuở xưa, ...)
+ sưa: thưa (răng thưa).
* Khi dạy bài tập đọc: Về quê ngoại (TV3 )
Có câu:
Bóng tre mát rợp vai người
Vầng trăng như lá thuyền trôi êm đềm.
Học sinh đọc thành:
Bóng che mát rợp vai người
Vầng trăng như lá thuyền trôi êm đềm.
Do đọc sai nên khi viết chính tả các em cũng thường viết tre thành che. Sau
đó tôi phân tích cho các em hiểu tre và che.
+ tre: loại cây nhỏ, cao, ruột rỗng có nhiều đốt.
+ che: làm cho khuất, cho kín.
Trong các giờ chính tả tập chép hay nghe viết, tôi thường xuyên hướng dẫn
các em phân tích về cấu tạo tiếng rồi so sánh những tiếng có vần dễ lẫn lộn, nhấn
mạnh ở những điểm khác nhau để học sinh lưu ý và ghi nhớ (ví dụ: ươn/ương;
iên/iêng; au/âu; ay/ây; ưi/ươi, uôn/uông; ươt/ươc; in/inh….), luyện viết bảng con
trước khi viết vào vở.
Ví dụ:
Khi đưa ra dạng bài tập điền âm, vần tôi nhận thấy học sinh phần đa điền
chưa chính xác tôi phân tích cấu tạo từng tiếng có âm, vần học sinh điền sai.
Cụ thể:
Bài tập: Điền vào chỗ trống ưi hoặc ươi :
mát r......̣.
g....̉... thư
s….̉… ấm
khung c .....̉..
c .....̃..ngựa
t .....́. cây.
Khi điền "ưi" học sinh cũng dễ lẫn với vần "ươi"
Chẳng hạn: học sinh điền : mát rựi, khung cưởi.
9
Ở đây giáo viên cho học sinh phân biệt phân tích cấu tạo từng tiếng, cho
ghép tiếng rựi và tiếng rượi với tiếng mát để cho từ có nghĩa, hợp lý.
rựi = âm r + vần ưi + thanh nặng
rượi = âm r + vần ươi + thanh nặng.
So sánh để thấy được sự khác nhau đó nhằm mục đích giúp học sinh ghi
nhớ, khi viết các em sẽ không bị sai.
* Đối với trường hợp cần giải nghĩa từ: Việc giải nghĩa từ tôi thường thực hiện
trong tiết Tập đọc, Luyện từ và câu, ... Việc làm này giúp học sinh nắm được nghĩa
của từ để phục vụ cho việc viết đúng chính tả. Khi giúp học sinh hiểu nghĩa của từ
tôi dùng các cách giải nghĩa từ như: Giải nghĩa bằng từ điển; Giải nghĩa bằng đặt
câu (đặt trong ngữ cảnh); Giải nghĩa bằng đồ dùng trực quan; Giải nghĩa bằng từ
đồng nghĩa, trái nghĩa, ......
Ví dụ:
Bài tập: Điền vào chỗ trống iên hoặc iêng :
cái ch…..
ch…. xào
l…. lạc
r….. lẻ
Ở bài tập này học sinh thường mắc lỗi là điền sai vần. Ví dụ: "chiêng" điền
thành "chiên".
Để phân biệt "chiêng" hoặc "chiên":
Chiêng: giáo viên có thể cho học sinh quan sát bằng đồ dùng trực quan đó là
cái chiêng hoặc nói lên đặc điểm của cái chiêng(dựa vào từ điển) là nhạc cụ bằng
đồng, hình tròn, đánh bằng dùi, âm thanh vang…
Chiên: giáo viên có thể cho học sinh đặt câu với từ "chiên" (như: Mẹ làm
món chiên cá rất ngon) hoặc giải nghĩa bằng định nghĩa "chiên" (dựa vào từ điển)
“làm làm chín thức ăn bằng cách cho thức ăn vào chảo dầu, mỡ, đun trực tiếp trên
bếp”.
* Có trường hợp học sinh đọc là "suy nghĩ" nhưng viết "suy nghỉ" nên giáo viên
giúp học sinh cần hiểu "nghỉ" có nghĩa là hoạt động bị ngừng lại, còn "nghĩ" là tính
toán điều gì đó. Vì vậy phải viết là "suy nghĩ"
Riêng với những từ nhiều tiếng, từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đó
trong văn cảnh cụ thể để gợi lại nghĩa của từ hoặc giúp học sinh giải nghĩa từ.
Ví dụ:
Khi tôi đọc cho học sinh đọc viết câu: Mẹ ơi, mẹ hãy dành hết tiền mua áo
ấm cho em đi.
Tôi nhận thấy học sinh lúng túng trong việc xác định hình thức chữ viết của
từ này. Nhưng nếu tôi đặt đó vào một ngữ cảnh hay gắn nó vào một nghĩa xác định
như: Em để dành tiền mua một cái bút máy/ Trong cuộc thi ngày mai, em phải
giành được chiến thắng/ Em cần nói rõ ràng, rành mạch để cả lớp cùng nghe.
Như vậy học sinh sẽ dễ dàng viết đúng chính tả.
2.4. Hướng dẫn học sinh làm các dạng bài tập và ghi nhớ mẹo luật chính tả.
Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối
hàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách hữu hiệu.
Giáo viên có thể sửa ngay khi học sinh làm các bài tập chính tả, khắc sâu thêm
kiến thức bằng cách đưa ra hệ thống bài tập ôn luyện cho học sinh vào các giờ học
tăng buổi.
10
Sau mỗi dạng bài tập tôi cho học sinh luyện phát âm lại các từ có tiếng âm,
vần đã ghép. Vừa rèn đọc vừa cho viết lên bảng con hoặc giấy nháp để ghi nhớ.
a) Khắc phục lỗi s - x:
Việc nắm rõ quy tắc chính tả, tìm hiểu kĩ các lỗi sai của học sinh khi viết s x từ hệ thống bài tập, tôi cung cấp cho học sinh một số mẹo để phân biệt s - x thông
qua các dạng bài tập như sau:
Ví dụ:
Bài 1: Điền vào chỗ trống x hoặc s:
sáng ….uốt
xao ….uyến
sóng …ánh
xanh …ao.
Bài 2: Tìm một số từ chỉ thức ăn hoặc đồ dùng liên quan đến thức ăn có âm x hoặc
s.
Bài 3: Nối tiếng con với tiếng có thể ghép với nó:
sóc
xên
Con
sáo
xáo
Qua ba bài tập trên, giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một số mẹo để
phân biệt s - x như sau:
- Tên thức ăn thường đi với x (ví dụ: xôi, xúc xích, xà lách, cải xoong, …..)
- Đa số các từ chỉ người, tên cây, tên con vật, hiện tượng thiên nhiên, tên đồ vật mà
viết với s là những từ như sau:
Ví dụ:
* Chỉ người: sứ giả, bà sãi, ông sư…
* Chỉ cây: cây si, cây sả, cây sắn, cây sung, cây su su…
* Hiện tượng thiên nhiên: sao, sông, sương…
* Nói đến đồ vật: hòn sỏi, sợi dây, súc vải….
* Chỉ con vật: con sam, con sán, con sáo, con sóc, con sên….
- Ngoài ra còn một số trường hợp ngoại lệ khác. Ví dụ như: xương, cây xoan, trạm
xá, mùa xuân, cái xuồng, cây xoài, cái xe, sạch sẽ …
- Chữ s không đứng trước các vần: oa, oă, oe, uê, uâ. Ngoại trừ các trường hợp:
soát, soạt, soạng, soạn, suất. Do đó nếu gặp các vần này ta chọn x đứng trước chứ
không chọn s (Ví dụ: xuề xòa, xum xoê, ....)
b) Khắc phục lỗi tr- ch:
Khi viết những âm đầu mà khi phát âm gần giống nhau. Giáo viên cần
thường xuyên chú ý giúp học sinh so sánh, phân biệt sao cho chính xác tức là giúp
học sinh nắm chắc nguyên tắc chính tả để phân biệt được tr - ch. Tôi tiến hành
khắc phục những lỗi này qua những dạng bài tập như sau:
Ví dụ:
Bài 1: Điền vào chỗ trống ch hay tr:
Con ...ai, cái …ai, ..ân thật , chậm … ễ.
Bài 2: Tìm và viết tên các đồ vật dùng trong nhà có âm ch:
Bài 3: Điền vào chỗ trống ch hay tr:
…ịnh ….ọng; …ụ sở; bã …ầu; ….ình độ; lởm ….ởm; leo ….èo.
Giáo viên cùng học sinh làm 3 bài trên, từ đó giáo viên rút ra kết luận:
11
- Các từ mà chỉ đồ vật trong nhà, tên con vật thường bắt đầu bằng ch. Ví dụ: chăn,
chiếu, chảo, chậu, chổi, chai, chén, chum, chõ, chày…con chồn, con chuột, con
chó, chuồn chuồn, châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo…
- Các từ Hán Việt mà không biết là tr hay ch nhưng đi với dấu nặng hay dấu huyền
thì đó là tr.
Ví dụ: trụ sở, trịnh trọng, trình độ….
- Ch có thể đứng ở vị trí thứ nhất hoặc thứ hai trong từ láy vần còn tr thì không
như vậy (điều này giáo viên cần nắm vững nhưng chưa nói với học sinh lớp 3, vì
học sinh lớp 3 chưa học từ láy, giáo viên chỉ đưa ra các từ ví dụ để học sinh nhớ).
Ví dụ: lởm chởm, cheo leo, chồm hỗm, lưng chừng… .
- Chữ tr không đứng đầu các tiếng có âm vần (oa, oă, oe, uê). Do đó nếu gặp các
dạng này ta chọn ch để viết, không chọn tr.
c) Khắc phục lỗi r - d - gi:
Cụ thể, trong quá trình dạy học để giúp học sinh khắc phục được lỗi r - d gi, tôi cho học sinh thực hành luyện tập các bài tập, bởi thông qua quá trình thực
hành luyện tập các bài tập sẽ dần hình thành ở các em kỹ năng viết thành thạo,
thuần thục chữ viết Tiếng Việt theo chuẩn chính tả, nghĩa là hình thành kỹ xảo
chính tả.
Ví dụ:
Bài 1: Điền vào chỗ trống r, d hay gi:
….ừng núi
…ạy học
…eo hạt
…eo hò.
Bài 2: Luyện phát âm và viết đúng các cặp từ ngữ so sánh:
nổ ran
gian nhà
rực rỡ
dỡ nhà
lá rụng
dụng cụ
Qua hai bài tập trên, sau khi cho học sinh làm, chốt kết quả đúng giáo viên
cùng học sinh rút ra một số nhận xét như sau:
- Những từ viết r thường:
+ Mô phỏng tiếng động: Ví dụ: rào rào, rả rích, rầm rầm...
+ Mô phỏng sự rung động: Ví dụ: rưng rức, run rẩy…
+ Mô phỏng sắc thái ánh sáng: Ví dụ: rực rỡ, rừng rực…
- Ngoài ra giáo viên cần nắm vững ở một số từ láy âm đầu:
+ Láy gi: giục giã, giữ gìn…
+ Láy d: dạt dào, dai dẳng…
( Giáo viên yêu cầu học sinh phải nhớ không nói là đây là từ láy).
d) Khắc phục lỗi k - c - q:
Trong quá trình giảng dạy, tôi giao cho học sinh những bài tập như sau để
thực hành luyện tập. Đối với các em việc thực hành luyện tập sẽ giúp các em ghi
nhớ kiến thức đã học nhanh hơn và biết khắc phục những lỗi k - c - q.
Ví dụ:
Bài tập : Điền k, c, hoặc q vào chỗ trống cho thích hợp:
…ênh mương.
điền ….inh
cái ….a
tổ ….uốc
….iến lửa.
thước …ẻ.
12
Qua dạng bài tập trên, rút ra được kết luận:
- Viết là k khi đứng trước i, e, ê, iê. Ví dụ: con kiến, ngoài kia, thước kẻ, học
kém….
- Viết là q trong trường hợp đứng trước âm u. Ví dụ: quân, quần, quốc….
- Viết là c trong các trường hợp còn lại (o, ô, ơ, a, ă, â, u ,ư…..). Ví dụ: cái ca, ca
hát, con cá, củ sắn, …
e) Khắc phục lỗi gh - g:
Từ kết quả khảo sát thực tế đối với học sinh lớp tôi chủ nhiệm khi viết bài
các em viết sai chính tả gh - g rất nhiều, viết còn nhầm lẫn giữa các phụ âm đọc
giống nhau. Do đó tôi đưa ra một số bài tập chính tả dưới hình thức tổ chức cho
các em làm bài kiểm tra. Sau đó đưa ra quy tắc để học sinh ghi nhớ.
Ví dụ:
Bài tập: Điền gh hoặc g vào chỗ trống:
….i chép.
…ềnh thác
….ội đầu
nhà ….a.
Qua dạng bài tập trên, rút ra được kết luận:
- Viết gh khi đứng trước i, e, ê, iê. Ví dụ: ghi chép, ghé thăm, ghế, chán ghét,….
- Viết g trong trường hợp còn lại (o, ô, ơ, a, ă, â, u ,ư…..). Ví dụ: gà, ga, gỗ,…
g) Khắc phục lỗi ngh - ng:
Tương tự như cách làm để khắc phục lỗi gh - g tôi cũng đưa ra hệ thống bài
tập. Từ đó rút ra quy tắc để học sinh nắm được và khắc phục được lỗi này.
Ví dụ:
Bài tập: Điền ngh hoặc ng vào chỗ trống:
…à voi
ngốc ….ếch
……iêng ngả
….ề nghiệp
….ỉ ngơi
bắp ….ô.
Qua dạng bài tập trên, rút ra được kết luận:
- Viết ngh khi đứng trước i, e, ê, iê. Ví dụ: nghé, nghỉ, nghề, ….
- Viết ng trong trường hợp còn lại (o, ô, ơ, a, ă, â, u ,ư…..).. Ví dụ: ngô, ngủ ngon,
ngoan ngoãn,….
h) Khắc phục lỗi sai dấu thanh:
Khi khắc phục những lỗi này tôi thường đưa ra hệ thống các bài tập liên
quan đến dấu thanh mà ở lớp tôi chủ nhiệm các em thường sai. Mỗi dạng bài tập
tôi thường cho các em đọc kĩ đề, xác định yêu cầu bài tập sau đó lựa chọn để đưa
ra đáp án đúng nhất.
Ví dụ:
Bài 1: Khoanh tròn vào những chữ cái trước những từ viết đúng:
a. sữa tươi
d. thi đỗ
b. sửa sai
e. nghiêng ngã
c. ngả ba
g. mãi miết.
Bài 2: Đặt dấu hỏi hoặc dấu ngã trên chữ in đậm. Giải câu đố.
Cánh gì cánh chăng biết bay
Chim hay sà xuống nơi đây kiếm mồi
Đôi ngàn vạn giọt mồ hôi
Bát cơm trắng deo, đia xôi thơm bùi.
Là ………
13
Qua dạng bài tập trên khi giáo viên hướng dẫn học sinh làm yêu cầu các em
phát âm đúng, phân tích cấu tạo tiếng, giáo viên chỉnh sửa cho học sinh nếu học
sinh đọc sai, sau đó cho học sinh nhận biết tiếng viết đúng chính tả. Hoặc giáo viên
giải nghĩa từ cho học sinh hiểu để lựa chọn dấu sao cho hợp lý.
i) Phân biệt và ghi nhớ các vần khó, vần dễ lẫn:
Đây là dạng bài tập tương đối khó. Phần đa lớp tôi các em thường sai. Chính
vì thế sau khi cho học sinh làm và hoàn thành bài tập tôi yêu cầu các em ghi nhớ.
Ví dụ:
Bài 1: Viết vào chỗ trống trong bảng:
a) Các từ ngữ có vần uêch
b) Các từ ngữ có vần uyu
Bài 2: Điền oe hoặc oeo vào chỗ trống:
nhà ngh...̀...
cười ngặt ngh....̃...
đường ngoằn ng....̀...
ng......̣.. đầu
Bài 3: Điền vào chỗ trống au hoặc âu:
hoa m….̃.. đơn
mưa m…… hạt
lá tr….̀…
đàn tr…...
s....́.. điểm
quả s ....́...
Qua những dạng bài tập trên sau khi cho học sinh làm, thống nhất kết quả
đúng. Để phân biệt các vần khó và vần dễ lẫn lộn giáo viên cũng dựa vào hệ thống
các bài tập dạng tương tự như trên sau đó lưu ý học sinh ghi nhớ một số trường
hợp khó để tránh viết sai: (Giáo viên có thể cho học sinh ghi vào sổ tay để nhớ):
Vần uêch thường xuất hiện trong các từ: nguệch ngoạc, rỗng tuếch, bộc
tuệch, tuệch toạc, khuếch khoác, trống huếch trống hoác…
Vần uynh thường xuất hiện trong các từ: huỳnh huỵch, luýnh quýnh, khuỳnh
tay, phụ huynh, uỳnh uỵch, mừng quýnh, …
Vần uych thường xuất hiện trong các từ: huỳnh huỵch, uỳnh uỵch, ngã
huỵch, ….
Một số từ có vần ênh chỉ trạng thái bếp bênh, không vững chắc như: khấp
khểnh, chếnh choáng, chệnh choạng, lênh khênh, công kênh, bập bềnh, chông
chênh….
Vần uyu thường xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu,
khuỵu chân, ….
Vần oeo thường xuất hiện trong các từ: ngoằn ngoèo, khoèo chân, ngoéo tay,
ngoặt ngoẹo, ngoẹo đầu, ngoắt ngoéo…
Vần ooc thường xuất hiện trong các từ: quần soóc, xe rơ - moóc, đàn oóc gan …
Vần oong thường xuất hiện trong các từ: kính coong, cái xoong….
14
Đối với các cặp vần dễ lẫn lộn như: ươn/ương; iên/iêng; au/âu; ay/ây;
ưi/ươi….. Giáo viên đưa về cách phân tích, so sánh, giải nghĩa từ để học sinh nắm
rõ chọn lựa vần phù hợp.
k) Khắc phục những lỗi sai khi viết hoa.
Thông qua các phân môn tôi khắc sâu cho các em cách viết hoa(nếu gặp).
Tôi yêu cầu các em cần nhớ các trường hợp sau cần viết hoa:
+ Viết hoa tên riêng chỉ người, địa danh hoặc tên riêng của các cơ quan, tổ chức.
Ví dụ:
Tên riêng chỉ người: Hồ Chí Minh, Lê Lợi,....
Tên địa danh: Thanh Hóa, Hà Tĩnh, ...
Tên các cơ quan, tổ chức: Trường Tiểu học Thạch Cẩm 3, .....
+ Tên người, tên địa lí Việt Nam thuộc dân tộc ít người (phiên âm từ tiếng dân tộc)
được viết hoa các chữ cái đầu ở mỗi bộ phận của tên đó, giữa các tiếng trong một
bộ phận có dấu gạch nối.
Ví dụ:
Tên riêng chỉ người: Ê-va, Y-sun, Siu-blach, Kơ-tia, ...
Tên địa danh : Y-a-li, Pắc-pó, Đắk-lắk, Gia-rai, Hơ-mông, ...
+ Viết hoa chữ cái đứng đầu câu sau dấu chấm, dấu chấm than, dấu chấm hỏi, dấu
gạch đầu dòng bắt đầu một lời thoại.
Ví dụ:
Không ngờ điều ước của Huê lại gợi ra một sáng kiến. Phương reo lên:
- Mình nghĩ ra rồi!
Cả đám trẻ nhao nhao:
- Gì vậy? Gì vậy?
+ Viết hoa tên người, địa danh nước ngoài;
Trước khi yêu cầu học sinh viết hoa tên người, địa danh nước ngoài yêu cầu
học sinh nêu lại và nắm chắc quy tắc: Viết hoa chữ cái đầu và giữa các tiếng có dấu
gạch nối.
Ví dụ: Nen - li, Cô - rét - ti, Ma-lai-xi-a, .....
Có những tên người, địa danh nước ngoài viết giống như cách viết tên riêng
Việt Nam
Ví dụ: Luân Đôn, Khổng Tử, ....
2.5. Hướng dẫn học sinh ghi Sổ tay chính tả
Đây là sổ để học sinh ghi chép các từ ngữ thường viết sai chính tả đã được
chữa lại, hoặc các trường hợp đặc biệt cần ghi nhớ nhằm giúp các em nhớ lâu.
Quyển sổ này được giáo viên hướng dẫn học sinh chia theo nhóm, như: s- x, ch-tr,
r - d - gi, ghi các vần khó, vần dễ lẫn và các lỗi khác.
Đọc sách, báo không chỉ giúp học sinh mở rộng và nâng cao kiến thức mà
còn giúp các em sửa được lỗi chính tả. Tôi hướng dẫn các em, sưu tầm những từ
khó, phương ngữ hoặc những từ mà các em thường mắc lỗi để ghi lại vào cuốn Sổ
tay chính tả.
Ví dụ:
- Chữ tr không đứng đầu các tiếng có âm vần (oa, oă, oe, uê). Do đó nếu gặp các
dạng này ta chọn ch để viết, không chọn tr.
15
- Viết là k khi đứng trước i, e, ê, iê. Ví dụ: con kiến, ngoài kia, thước kẻ, ...
- Viết là q trong trường hợp đứng trước âm u. Ví dụ: quân, quần, quốc….
- Viết là c trong các trường hợp còn lại (o, ô, ơ, a, ă, â, ...). Ví dụ: cái ca, ca hát, ...
2.6. Khắc phục lỗi chính tả thông qua trò chơi.
Trò chơi là một hoạt động nhằm thu hút học sinh hứng thú học tập sau một
giờ học căng thẳng. Vì vậy tôi thường tổ chức trò chơi vào cuối giờ học chính tả.
Thường nội dung trò chơi cần phải bám sát với nội dung bài học, tránh sự nhàm
chán cho học sinh. Sau đây tôi đưa ra vài ví dụ trò chơi mà tôi đã áp dụng:
Ví dụ:
* Trò chơi: "Dâng núi chống lụt". Từ truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh, có
thể xây dựng trò chơi này cho những bài tập tìm tiếng, tìm từ hoặc tìm tiếng, từ có
vần nhất định .
Bài tập: Tìm nhanh từ ngữ chỉ sự vật có tiếng bắt đầu bằng s.
Giáo viên chọn 2 đội chơi, mỗi đội 3 em, đứng vị trí cạnh nhau (cùng vạch
xuất phát). Mỗi đội xem như những chàng Sơn Tinh đang làm nhiệm vụ dâng núi
chiến đấu với Thủy Tinh. Khi quản trò nêu nhiệm vụ: Tìm nhanh từ ngữ chỉ sự vật
có tiếng bắt đầu bằng s, mỗi thành viên trong đội phải nêu 1 đáp án. Với mỗi kết
quả đúng các chàng Sơn Tinh của đội lại được đứng cao thêm (hoặc xa thêm) một
bậc(Sơn Tinh làm cho núi cao mỗi khi Thủy Tinh cho nước dâng lên). Kết quả,
nhóm nào đứng cao hơn (hoặc xa hơn) - nhóm tìm được nhiều từ nhất là nhóm
thắng cuộc.
*Trò chơi : Thi tìm tên cây bắt đầu bằng s hoặc x. Giáo viên cho các đội chơi
cùng trình độ thi tiếp sức, mỗi đội khoảng 4 em, viết các từ tìm được lên bảng.(Để
khắc sâu thêm kiến thức giáo viên cho các em đặt câu với các từ vừa tìm được)
* Trò chơi: Thi tìm cặp từ có thanh hỏi, thanh ngã.
Chẳng hạn: vui vẻ - vẽ vời
bửa cau - bữa cơm ......
* Trò chơi: Thi tìm tên con vật bắt đầu bằng ch hoặc tr.
* Trò chơi: Thi viết đúng d hoặc gi: Giáo viên đọc cho cả lớp nghe, sau đó
yêu cầu học sinh viết vào bảng con d hoặc gi. Ví dụ: Giáo viên đọc gia đình - học
sinh viết vào bảng con gi và giơ bảng.
* Trò chơi: "Hái hoa - viết chữ". Mỗi bông hoa mang một nội dung yêu cầu.
Học sinh hái bông hoa nào thì giải đáp yêu cầu của bông hoa đó. Ví dụ: Tìm và
viết lại một từ có vần oeo; Tìm và viết lại một từ có vần uynh …..
* Trò chơi: Điền Đ hoặc S vào ô trống:
say sưa
xào xạc
củ nghệ
cũ sắn
kỹ sư
ngẹn ngào
sấu điểm
trăn châu
Qua việc tổ chức trò chơi nhằm giúp các em một lần nữa khắc sâu được kiến
thức đã học.
2.7. Yêu cầu học sinh chép lại chữ viết đúng.
16
Đối với học sinh hay mắc lỗi chính tả, tôi yêu cầu em chép lại chữ viết đúng.
Đó là một cách tôi thấy khắc phục được lỗi chính tả đưa lại hiệu quả.
Ví dụ: Không phân biệt được s - x
Khi viết câu: Tiếng trống buổi sáng trong trẻo ấy là tiếng trống trường đầu
tiên, âm vang mãi trong đời đi học của tôi sau này.
Học sinh thường viết sai trong trẻo thành chông chẻo, sau thành sâu.
Sau khi viết xong yêu cầu học sinh đọc lại bài và tự soát lỗi, chữa bài bằng
cách dùng bút chì gạch chân những lỗi mà mình viết sai, làm sai. Giáo viên khuyến
khích học sinh tự đánh giá bài viết hay bài tập chính tả của mình. Sau đó giáo viên
thu bài xem kết quả mà học sinh đã tự chữa bài, đánh giá và dùng bút mực đỏ gạch
chân những chỗ sai mà học sinh chưa phát hiện rồi yêu cầu học sinh đọc, phát âm
lại hoặc giáo viên giải nghĩa từ cho học sinh nhận ra được lỗi sai sau đó tôi yêu cầu
chép lại chữ viết đúng từ 5 đến 10 dòng (tùy theo mức độ).
Cách này giúp học sinh ít khi lặp lại lỗi đã mắc. Đây không phải là việc
phạt khi học sinh viết sai mà chỉ yêu cầu các em về nhà viết lại, mục đích viết như
thế là để nhớ lâu.
2.8. Hướng dẫn học sinh đọc nhiều - nhớ lâu.
Sách báo, truyện thiếu nhi giúp các em học tốt hơn và đặc biệt tránh viết sai
chính tả. Ở lớp tôi chủ nhiệm hằng tuần đều có 2 buổi đọc báo Đội vào 15 phút đầu
giờ. Rồi đến thứ sáu, tôi thường hay tổ chức cho các em thi đọc báo Nhi đồng, thi
viết lại những bài thơ hay lên bảng hoặc vào giấy (thi chữ viết đẹp), thi làm các bài
tập chính tả mà báo đưa ra. Những em ham đọc sách báo thường chăm học và viết
chính tả thường đạt điểm cao.
2.9. Khuyến khích học sinh chép các bài thơ vui, những câu thơ hay để rèn
chính tả. Đồng thời khắc phục lỗi thông qua giao tiếp.
Đọc thơ giúp các em nhớ nhanh và nhớ lâu. Ở lớp tôi chủ nhiệm, hằng tuần
các em đều được cô giáo đọc cho chép bài thơ ngắn có các chữ cần rèn viết đúng
chính tả (hoặc có thể giáo viên khuyến khích tự học sinh sưu tầm các câu thơ, bài
thơ hay để viết - nếu câu thơ có tác dụng rèn kĩ năng viết đúng chính tả thì càng
tốt). Mỗi bài thơ, câu thơ do giáo viên cung cấp sẽ giúp các em luyện viết đúng các
tiếng có âm r, d, gi hoặc s, x, …điều này hỗ trợ rất tốt cho kĩ năng viết đúng chính
tả của học sinh. Cách này tôi thấy học sinh làm việc rất tích cực và nhiệt tình. Sau
đây tôi đưa ra vài ví dụ mà tôi đã áp dụng:
Ví dụ 1 :
Để giúp HS phân biệt r/d/gi tôi đọc cho học sinh thi viết đẹp và đúng chính
tả một đoạn trong bài đồng dao " Vè nói ngược" như sau:
"Vườn rộng thì thả rau rong
Ao sâu vãi cải lấy ngồng làm dưa
Voi kia nằm ở gậm giường
Cóc kia đánh giặc bốn phương nhọc nhằn."
Ví dụ 2:
Để giúp HS phân biệt tr/ch, tôi đọc cho học sinh thi viết đẹp và đúng chính
tả một đoạn thơ như sau:
"Quê hương là cầu tre nhỏ
17
Mẹ về nón lá nghiêng che
Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài thềm."
Ví dụ 3:
Để giúp học sinh phân biệt s/x, viết đúng "trong","bóng" (Vì do ảnh hưởng
phương ngữ địa phương học sinh đọc và viết là "trông", "bống") tôi đọc cho học
sinh thi viết đẹp và đúng chính tả hai dòng thơ như sau:
"Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa"
Hoặc bài đồng dao sau:
" Chim ri là dì sáo sậu
Sáo sậu là cậu sáo đen
Sáo đen là em tu hú
Tu hú là chú bồ các
Bồ các là bác chim ri
Chim ri là dì sáo sậu..."
Thường khi học sinh giao tiếp, nói thế nào viết như thế. Chính vì thế khi các
em trao đổi một vấn đề nào đó tôi chú ý lắng nghe, nếu các em mắc lỗi chính tả tôi
nhắc nhở em nói đúng. Nhưng sửa như thế nào để học sinh không nhàm chán. Do
đó, bên cạnh việc chú ý lắng nghe học sinh tôi luôn tạo một không khí thân thiện
giữa thầy và trò, giữa trò và trò, nhắc nhở kịp thời những lúc các em nói sai và dặn
các em cũng nên chú ý nhắc nhở bạn nói đúng. Từ đó tôi yêu cầu học sinh vận
dụng việc phát âm đúng vào trong giao tiếp hàng ngày. Vì từ lời nói đến việc ghi
lại lời nói sẽ chính xác, tôi nhận thấy các em hạn chế được việc mắc lỗi chính tả.
2.10. Tích hợp việc dạy chính tả qua các môn học khác
Việc rèn viết đúng chính tả cho học sinh không chỉ rèn trong giờ chính tả mà
còn tích hợp trong tất cả các môn học khác như: Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập
làm văn, Tập viết….
Khi học sinh đã mắc lỗi chính tả thì trong học tập ở bất cứ môn học nào học
sinh cũng đều nói sai, viết sai lỗi chính tả.
Chẳng hạn đối với phân môn Tập làm văn khi học sinh viết các đoạn văn
thường học sinh dễ mắc lỗi nhất. Chính vì thế khi chấm, chữa bài cho học sinh tôi
gạch chân, yêu cầu học sinh viết lại sau đó tôi kiểm tra. Vì lẽ đó tôi luôn rèn cho
các em đọc đúng, viết đúng, trả lời đúng sau những câu hỏi gợi ý từ đó giúp các em
đọc đúng, viết đúng.
Ví dụ:
Đề bài: Viết lại những điều em kể về buổi đầu em đi học thành một đoạn văn
ngắn (từ 5 đến 7 câu).
Học sinh thường viết là: Vào một buổi xáng trông lành. Thời tiết mát mẻ.
Mẹ đưa tôi đến trường….
Trong quá trình chấm bài giáo viên cần sửa ngay "xáng" thành "sáng", do
ảnh hưởng của tiếng địa phương học sinh còn viết sai "trong" thành "trông", yêu
cầu học sinh đọc thành tiếng, phân tích cấu tạo tiếng và viết lại.
Trong giờ Tập viết các em chỉ tập trung rèn viết chữ đẹp thường hay viết sai
lỗi chính tả. Chủ yếu các em viết sai câu ứng dụng.
18
Ví dụ:
" Hải Vân bát ngát ngìn trùng
Hòn Hồng xừng xững đứng trong vịnh Hàn."
Học sinh viết "nghìn" thành "ngìn", "sừng sững" thành "xừng xững". Giáo viên khi
chấm bài cần sửa ngay, ngoài ra cho các em hiểu nghĩa từ để phân biệt từ đúng.
Ví dụ:
+ Môn Đạo đức: Chăm sóc cây trồng, vật nuôi
Học sinh lại viết: Chăm xóc cây chồng, vật nuôi
+ Môn Thủ công: Gấp, cắt, dán ngôi sao năm cánh và lá cờ đỏ sao vàng.
Học sinh lại viết: Gấp, cắt, dán ngôi xao năm cánh và lá cờ đỏ xao vàng..
+ Môn Tự nhiên và Xã hội: Hoạt động công nghiệp
Học sinh lại viết: Hoạt động công ngiệp.
+ Môn Toán: Câu lời giải đúng: Số viên gạch cần để lát nền 7 căn phòng là:
Học sinh lại viết: Số viên ghạch cần để lát nền 7 căn phồng là:
Với môn Toán giáo viên giúp học sinh viết đúng câu lời giải trong khi giải
toán có lời văn bằng cách nhắc nhở, sửa sai khi chấm bài. Chỉnh sửa cho học sinh
đọc đúng khi trả lời miệng bài toán giải.
2.11. Làm tốt công tác phối kết hợp với phụ huynh học sinh.
Để dễ dàng trao đổi với phụ huynh những thông tin cần thiết, ngay từ đầu
năm học tôi đã chủ động xin số điện thoại của từng phụ huynh để dễ trao đổi. Đồng
thời tôi cũng tranh thủ trao đổi với phụ huynh tình hình học tập của con em mình
trong giờ phụ huynh đưa đón con đi học.
Giáo viên chủ nhiệm phải biết vận động, động viên phụ huynh, cùng với phụ
huynh bàn bạc một số giải pháp nhằm giúp con học tốt, giáo dục đạo đức ở gia
đình. Cùng chi hội phụ huynh của lớp thăm hỏi học sinh đau ốm, học sinh gặp khó
khăn kịp thời, thường xuyên để có hướng giúp đỡ. Luôn thông tin để phụ huynh
biết tình hình học tập của con em mình từ đó có định hướng để giáo dục tốt con
em. Yêu cầu phụ huynh nên sử dụng tiếng chung trong giao tiếp với con cái hàng
ngày.
2.12. Kịp thời động viên, khích lệ học sinh.
Khi dạy học sinh tiểu học cần đặc biệt chú trọng đến tuyên dương, khen
thưởng: Học sinh rất thích được khen vì đó là món quà tinh thần rất lớn đối với các
em. Đặc biệt theo thông tư 30 giáo viên dạy học cần tăng cường việc khen, tuyên
dương, khích lệ học sinh.
Tùy theo tâm lí của các em mà có mức độ khen khác nhau. Khen để khích lệ
tinh thần học tập của các em, tránh lạm dụng làm cho các em không coi trọng lời
khen của giáo viên hoặc rơi vào tự mãn.
Nhận xét, đánh giá kết quả học tập của các em phải dựa vào mức độ tiến bộ
của các em ở từng thời điểm thích hợp (Có thể đề nghị tuyên dương dưới cờ hoặc
trong giờ sinh hoạt lớp hàng tuần)
Cụ thể trong lớp tôi có học sinh tên Kiên, đầu năm tôi nhận lớp em đọc viết
chậm, đọc viết sai nhiều lỗi chính tả. Trong quá trình học tập tôi nhận thấy em tiếp
thu bài chậm (ví dụ: Để giúp em viết đúng chính tả phân biệt được ch - tr, chữ viết
chưa đúng độ cao con chữ tôi phải nhắc nhở em rất nhiều). Tuy nhiên, nhờ sự kiên
trì, sự động viên của cô giáo và gia đình em đã học rất tiến bộ. Chỉ cần em có một
sự tiến bộ rất nhỏ như viết chữ rõ ràng hơn, hoặc làm đúng một bài chính tả điền
19
âm hoặc vần thì tôi đều khen trước lớp, đôi khi có thể cho cả lớp cùng tuyên dương
sự tiến bộ của em. Từ đó sẽ tạo động lực, tạo thêm hứng thú cho các em cố gắng
hơn.
2.13. Tham mưu với nhà trường, tổng phụ trách Đội tổ chức các hoạt động
ngoài giờ lên lớp có nội dung liên quan đến việc viết chính tả của học sinh.
Giáo viên chủ nhiệm là người phối hợp cùng nhà trường để giáo dục học
sinh. Trong năm học nhà trường cùng Liên đội tổ chức các hoạt động, các câu lạc
bộ cho học sinh giao lưu, học hỏi lẫn nhau. Nhà trường có tổ chức thi Rung chuông
vàng, Kiến thức phổ thông, sinh hoạt các Câu lạc bộ, ....
Thông qua các hoạt động đó giáo viên cùng phối hợp với nhà trường, liên
đội giúp các em Học mà chơi - Chơi mà học.
Ví dụ:
Khi tổ chức sinh hoạt Câu lạc bộ Tiếng Việt, Liên đội tổ chức cho các em
trong khối 3 giao lưu với nhau. Đưa ra các hệ thống câu hỏi để kiểm tra năng lực
học tập, vốn hiểu biết của các em.
+ Để giúp các em nắm chắc các tiếng bắt đầu bằng r, d, gi và các từ chứa tiếng bắt
đầu bằng ghi hoặc g. Giáo viên phát phiếu có nội dung như sau:
Điền vào chỗ chấm r, d, gi và giải câu đố:
Hòn gì bằng đất nặn ..a
Xếp vào lò lửa nung ba bốn ngày,
Khi ...a, ...a đỏ hây hây
Thân hình vuông vắn đem xây cửa nhà.
(Là ......................................)
- Đáp án đúng:
Hòn gì bằng đất nặn ra
Xếp vào lò lửa nung ba bốn ngày,
Khi ra, da đỏ hây hây
Thân hình vuông vắn đem xây cửa nhà.
(Là viên gạch.)
- Nhưng có học sinh điền chưa đúng. Ví dụ: ra viết da, da viết gia, viên gạch viết
viên ghạch.
Như vậy, việc giúp học sinh viết đúng chính tả giáo viên có thể lồng ghép
khắc phục lỗi chính tả cho học sinh thông qua tất cả các hoạt động học tập.
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Qua thời gian nghiên cứu và áp dụng vào thực tế giảng dạy tôi đã áp dụng
một số biện pháp trên để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh và thu được những
kết quả như sau:
+ Chất lượng học tập phân môn Chính tả nâng lên rõ rệt.
+ Về cơ bản học sinh đã khắc phục được lỗi chính tả khi viết.
Qua bài kiểm tra cuối năm về việc viết đúng chính tả và đã thu được kết quả
như sau:
Tổng
số
Sai
0-1 lỗi
Tỉ lệ
(%)
Sai
2 - 3 lỗi
Tỉ lệ
(%)
Sai
4 - 5 lỗi
Tỉ lệ
(%)
Sai
6 - 7 lỗi
Tỉ lệ
(%)
Sai trên
7 lỗi
Tỉ lệ
(%)
20
15em 12em
80
3em
20
0
0
0
0
0
0
+ Học sinh ghi nhớ được một số mẹo luật chính tả.
+ Khả năng giao tiếp của học sinh tăng lên, học sinh khắc phục được lỗi
chính tả do ảnh hưởng của phương ngữ địa phương trong khi giao tiếp.
+ Tạo được hứng thú cho học sinh trong giờ học Chính tả.
+ Chất lượng học tập các môn học khác cũng đạt kết quả cao, đặc biệt là
môn Tiếng Việt.
+ Trong đợt kiểm tra chất lượng Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp cấp huyện lớp
tôi chủ nhiệm mang đi 15 bộ (100%) kết quả thu được là:
Loại A: 11bộ = 73,3%
Loại B: 4 bộ = 26,7%
Không có loại C.
Đặc biệt có 3/3 học sinh (đạt 100%) được công nhận danh hiệu cá nhân Giữ
vở sạch - Viết chữ đẹp (Em: Huyền, Hằng, Ngọc).
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
Chữ viết là một công cụ dùng để giao tiếp và trao đổi thông tin, là phương
tiện để ghi chép và tiếp nhận những tri thức văn hóa, khoa học và đời sống…Vì
vậy, việc giúp học sinh viết đúng chính tả là một điều vô cùng quan trọng. Khi học
sinh học tốt, khắc phục được những lỗi chính tả mà các em thường mắc, giúp các
em đọc thông viết thạo tiếng việt, đó là cơ sở vững chắc giúp các em viết đúng
chính tả ở những cấp học sau và viết chính xác tiếng việt trong suốt cuộc đời.
Qua quá trình giảng dạy và nghiên cứu để giúp học sinh lớp mình khắc phục
các lỗi chính tả để viết đúng, tôi rút ra được một số kinh nghiệm sau:
+ Giáo viên phát hiện lỗi chính tả, tìm hiểu nguyên nhân gây ra những lỗi
đó, từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục.
+ Bản thân giáo viên phải là người nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng
của việc viết sai lỗi chính tả của học sinh. Nêu cao tinh thần tự học, tự rèn luyện,
tâm huyết với nghề, nắm chắc kiến thức. Trong quá trình giảng dạy giáo viên luôn
giám sát, kiểm tra.. từ đó phát hiện ra những lỗi mà học sinh thường mắc để kịp
thời sửa chữa, uốn nắn, đưa ra các quy tắc chính tả, mẹo luật chính tả khắc phục lỗi
một cách có hiệu quả.
+ Giáo viên tăng cường sự linh hoạt, sáng tạo trong giảng dạy, cụ thể trong
việc xây dựng bài sao cho sát hợp với đối tượng học sinh lớp mình dạy.
+ Giúp học sinh giữ gìn cuốn Sổ tay chính tả.
+ Khuyến khích học sinh chép các bài thơ vui, những câu thơ hay, bài ca
dao, tục ngữ, đồng dao, tổ chức các trò chơi …để rèn chính tả.
+ Tích hợp về việc khắc phục lỗi chính tả trong dạy học các phân môn khác
của Tiếng Việt và các môn học khác.
+ Việc ôn luyện vào các buổi học tăng buổi với các dạng bài tập chính tả sẽ
góp phần nâng cao chất lượng việc rèn viết đúng chính tả cho học sinh.
Qua thực tế áp dụng các biện pháp giúp học sinh lớp mình khắc phục lỗi
chính tả, tôi nghĩ, nếu giáo viên thực hiện tốt các biện pháp ấy thì chắc chắn học
sinh không còn viết sai chính tả. Viết đúng chính tả sẽ giúp học sinh học tốt môn
Tiếng Việt và các môn học khác giúp chất lượng giáo dục được nâng lên.
21
II. Kiến nghị, đề xuất:
1. Đối với nhà trường:
- Ban giám hiệu cần triển khai nhiều hơn nữa hội nghị sáng kiến kinh nghiệm để
tất cả các đồng chí giáo viên được tham gia trao đổi, học hỏi kinh nghiệm của nhau
góp phần vào công tác giảng dạy được tốt hơn.
- Xây dựng các tiết dạy mẫu và tổ chức thao giảng các tiết của phân môn Chính tả
tạo cơ hội để giáo viên học tập kinh nghiệm dạy tốt phân môn Chính tả.
- Căn cứ vào điều kiện xã hội của địa phương làm tốt hơn nữa công tác xã hội hóa
giáo dục giảm bớt khó khăn cho giáo viên trong việc kèm cặp học sinh.
2. Đối với giáo viên:
- Luôn tâm huyết, hết lòng với nghề.
- Dự giờ, thăm lớp học hỏi đồng nghiệp nhất là các tiết dạy học phân môn Chính
tả.
- Cần rèn đọc chuẩn, rèn chữ viết của mình. Học hỏi, nghiên cứu tài liệu để nắm
vững kiến thức về tiếng Việt.
3. Đối với phụ huynh:
- Quan tâm hơn nữa đến việc học tập của con em mình. Cần đảm bảo có góc học
tập riêng cho các em. Mua đầy đủ sách, vở và đồ dùng học tập.
- Nhắc nhở các em tự học bài ở nhà.
- Bản thân phụ huynh cũng phải tự rèn cách đọc, cách nói chuẩn tiếng phổ thông.
- Rèn cho các em thói quen nói từ đúng, nói câu hay khi giao tiếp trong gia đình
bằng tiếng phổ thông.
Trên đây là toàn bộ những kinh nghiệm mà tôi đã tích lũy được trong việc
đưa ra Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3 khắc phục một số lỗi sai chính tả. Với kinh
nghiệm nhỏ nhoi này tôi hi vọng sẽ phần nào thúc đẩy quá trình học tập của học
sinh ngày càng tốt hơn. Kinh nghiệm, tuổi nghề còn ít nên trong sáng kiến kinh
nghiệm không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của
Hội đồng khoa học để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Thạch Thành, ngày 2 tháng 6 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Trịnh Thị Loan
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Tiếng Việt 3, Vở Bài tập Tiếng Việt 3 - NXB GD
22
2. Sách Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học Lớp 3 - NXB GD.
3. Hướng dẫn chung về điều chỉnh nội dung học các môn học cấp Tiểu học của Bộ
GD&ĐT.
4. Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học.
5. Giáo trình Tâm lí học Tiểu học.
6. Giáo trình Giáo dục học Tiểu học.
23