Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

skkn một số giải pháp chỉ đạo có hiệu quả việc thực hiện phong trào”xây dựng trư

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (176.23 KB, 20 trang )

I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời kì đổi mới hiện nay đất nước của chúng ta đã và đang bước
vào thời kì công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, việc cơ bản có ý nghĩa quyết
định của quá trình đó là nhân tố con người, con người vừa là mục tiêu vừa là
động lực của sự phát triển xã hội, trong việc xây dựng con người mới thì gia
đình giữ vai trò hết sức to lớn vì gia đình là tế bào, là nền tảng của xã hội, gia
đình góp phần tích cực vào sự phồn vinh của đất nước, là chiếc nôi hình thành
và nuôi dưỡng nhân cách. Như chúng ta đã biết quan hệ xã hội bắt nguồn từ
quan hệ gia đình, gia đình giữ vị trí đặc biệt trong suốt cuộc đời của mỗi con
người, các nhân tài của đất nước cũng từ giáo dục của gia đình, với gia đình mà
nên; giai đoạn trẻ em từ 0 đến 5 tuổi là giai đoạn cơ thể trẻ phát triển rất nhanh,
mạnh mẽ về thể lực và trí lực cũng như toàn bộ cơ thể. Đó là giai đoạn khám
phá, trải nghiệm, hình thành những kỹ năng cần thiết cho cả cuộc đời, vì vậy trẻ
rất hiếu động và luôn có sự tò mò tìm hiểu trong cuộc sống hằng ngày, chính khả
năng hiếu động, tính tự tin và tò mò trong khi trẻ đang còn non nớt, hoàn toàn
chưa có kinh nghiệm trong việc tự phòng tránh tai nạn và đảm bảo an toàn cho
chính mình sẽ dẫn tới việc trẻ bị tai nạn bất cứ lúc nào.
Đối với việc chăm sóc, giáo dục trẻ không đúng hoặc không có phương
pháp tốt cũng ảnh hưởng tới tâm lý, gây ra các tai nạn về tinh thần đối với trẻ.
Do vậy, chỉ đạo các nhà trường quản lý tốt việc bảo vệ an toàn, phòng, chống tai
nạn cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi mà đặc biệt đối với các trường mầm non là vô
cùng quan trọng nó ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của trẻ.
Hiện nay vấn đề tai nạn thương tích đối với trẻ em là một vấn đề luôn
được các cấp, các ngành quan tâm, là vấn đề vô cùng quan trọng đòi hỏi toàn xã
hội phải có những hành động thiết thực để ngăn chặn những nguy cơ tai nạn
thương tích đe dọa đến tính mạng và sức khỏe của trẻ em. Do vậy, công tác bảo
vệ, chăm sóc trẻ em luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan chức
năng, gia đình và toàn xã hội quan tâm đặc biệt. Các điều kiện để trẻ em được
học tập, vui chơi giải trí, chăm sóc sức khỏe ngày càng tốt hơn. Công tác phòng,
chống tai nạn, thương tích cho trẻ em cũng được tăng cường hơn.


Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị
cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm
sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần
thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn,
đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 13/2010/TTBGDĐT, ngày 15/4/2010 về quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng,
chống tai nạn, thương tích trong cơ sở giáo dục mần non.
1


Trong Thông tư nêu rõ trường học an toàn, phòng, chống tai nạn, thương
tích là trường học mà các yếu tố nguy cơ gây tai nạn, thương tích cho trẻ được
phòng, chống và giảm tối đa hoặc loại bỏ. Toàn bộ trẻ em trong trường được
chăm sóc, nuôi dạy trong một môi trường an toàn. Quá trình xây dựng trường
học an toàn phải có sự tham gia của trẻ em độ tuổi mầm non, các cán bộ quản lý,
giáo viên của nhà trường, các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn
thể của địa phương và các bậc phụ huynh của trẻ.
Nhiều năm qua, bậc học mầm non huyện Lang Chánh đã thực hiện tốt
Thông tư số 13/2010/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về xây dựng
trường học an toàn, phòng, chống tai nạn, thương tích trong các cơ sở giáo dục
mần non, với tinh thần chỉ đạo của Sở giáo dục và Đào tạo, phòng Giáo dục và
Đào tạo huyện đã chỉ đạo và hướng dẫn các trường mầm non trên địa bàn huyện
thực hiện công tác quản lý, chăm sóc sức khỏe và đảm bảo an toàn cho trẻ em,
xác định đây là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác chăm sóc nuôi dạy trẻ
và bảo đảm an toàn cho trẻ trong các nhà trường. Triển khai nhân rộng những
điển hình tốt trong quá trình quản lý, chỉ đạo thực hiện tốt Thông tư nhằm tăng
cường các giải pháp đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ em trong các trường mầm
non trên toàn huyện và cũng coi đây là tiêu chí quan trọng hàng đầu trong đánh
giá chất lượng và xếp loại thi đua của các đơn vị trường học hàng năm.

Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng trường học an toàn,
phòng, chống tai nạn, thương tích đối với sự phát triển của giáo dục mầm non.
Trước thực trạng ở địa phương, là người lãnh đạo phụ trách bậc học của huyện,
tôi luôn trăn trở suy nghĩ: Mình phải làm gì? Làm như thế nào? để tìm ra giải
pháp hữu hiệu, chỉ đạo các trường tránh và tuyệt đối tránh các tai nạn thương tích
xảy ra tại trường để từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục trẻ và đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ, tạo niềm tin cho các cấp ủy Đảng,
chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể của địa phương và các bậc phụ huynh. Để
trẻ đến trường mầm non được an toàn về mọi mặt tôi đã chọn đề tài sáng kiến
kinh nghiệm: “Một số giải pháp chỉ đạo có hiệu quả việc thực hiện phong trào
“Xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn, thương tích” cho trẻ
trong các trường mầm non tại huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề ra các giải pháp chỉ đạo các đơn vị trường mầm non thực hiện tốt việc
“Xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích” cho trẻ tại các
trường mầm non ở huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.
3. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp chỉ đạo các đơn vị trường mầm non thực hiện có hiệu quả việc
“Xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích” cho trẻ tại các
trường mầm non ở huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.
2


4. Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng
cơ sở thực tiễn của đề tài. Gồm các phương pháp cụ thể sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu các văn bản.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế các nhà trường
- Phương pháp tổng kết so sánh các tiêu chí
II. NỘI DUNG

1. Cơ sở lý luận
Nhiều văn bản của các cấp đã ban hành trong việc tăng cường công tác
bảo vệ, chăm sóc trẻ em như: Chỉ thị số 1408/CT-TTg ngày 01/9/2009; Thông tư
số 13/2010/TT-BGDĐT; Thông tư số 22/2013/TTLT-BGDĐT-BYT; Công văn
số 6221/BGDĐT-GDMN ngày 10/9/2013 về đảm bảo an toàn cho trẻ em tại các
cơ sở giáo dục mầm non và Bộ Chính trị cũng đã ra Chỉ thị số 20-CT/TW ngày
05/11/2012 về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc,
giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới.
Trong chỉ thị nêu rõ: Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em là vấn đề có
tính chiến lược, lâu dài, góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị và nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Để tăng cường công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong thời
gian tới. Bộ chính trị yêu cầu các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các đoàn thể cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục và vận
động để mọi người dân thấy được tính cấp bách và tầm quan trọng của công tác
chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em.
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Trường mầm non với nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ độ tuổi từ
03 tháng đến 72 tháng tuổi. Giáo dục mầm non phải đảm bảo tính khoa học, tính
vừa sức, tính liên thông giữa các độ tuổi, thống nhất giữa nội dung giáo dục với
cuộc sống hiện thực, chuẩn bị cho trẻ tâm thế trước khi vào học lớp 1.
Để việc tạo môi trường an toàn với đầy đủ cơ sở vật chất cho trẻ hoạt
động, vui chơi, học tập là điều rất cần thiết nhằm giúp các nhà trường thực hiện
tốt chương trình giáo dục mầm non, giúp cho trẻ vui chơi, học tập, sinh hoạt
trong một môi trường lành mạnh, trường lớp Xanh - Sạch - Đẹp và an toàn giúp
trẻ phát triển toàn diện trong giai đoạn đầu đời. Đây là nơi khởi điểm rất quan
trọng và cần thiết cho trẻ.
2. Thực trạng của việc thực hiện phong trào “Xây dựng trường học
an toàn, phòng, chống tai nạn, thương tích” cho trẻ trong các trường mầm
non ở huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.

Lang Chánh là huyện miền núi cao nằm ở phía tây của tỉnh Thanh Hóa,
cách trung tâm Thành phố Thanh Hóa gần 100 km, có hơn 7 km đường biên giới
3


với nước bạn Lào. Phía Bắc giáp huyện Bá Thước; Phía Nam giáp huyện
Thường Xuân; Phía Đông giáp huyện Ngọc Lặc; Phía Tây giáp huyện Quan Sơn
và huyện Sầm Tớ nước CHDCND Lào. Tổng diện tích tự nhiên của huyện
58.659,18 ha. Huyện có 3 con sông chính chảy qua là sông Âm, sông Cảy và
sông Sạo, địa hình bị chia cắt nhiều.
Huyện có 11 đơn vị hành chính gồm 10 xã và 01 thị trấn, trong đó có 01 xã
biên giới và có 8 xã, 3 thôn đặc biệt khó khăn. Tổng dân số toàn huyện là 49.311
người, có 3 dân tộc chủ yếu sinh sống là Thái, Mường, Kinh và một số ít dân tộc
khác. Mạng lưới trường, lớp mầm non được quy hoạch phù hợp, đảm bảo 11 xã,
thị trấn có 11 trường mầm non, trường đạt Chuẩn quốc gia có 6/11 đạt 54,5%;
Đảm bảo 100% trẻ được chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ, vệ sinh và
phòng tránh bệnh tật tốt. Vệ sinh an toàn thực phẩm tốt; Nước uống và nước
sinh hoạt dùng cho trẻ đảm bảo đầy đủ và hợp vệ sinh.
a) Thuận lợi
Các trường mầm non được bổ nhiệm đủ cán bộ quản lý và tương đối đủ
số lượng giáo viên theo quy định, trình độ trên chuẩn cao đạt 76,9%, có nhiều
kinh nghiệm trong việc thực hiện nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ;
Đội ngũ giáo viên luôn thương yêu và tạo môi trường an toàn về tình cảm
cho trẻ: Đối với trẻ, lần đầu tiên đến lớp mẫu giáo thì đó là một sự khó khăn lớn đối
với trẻ cũng như đối với mẹ. Bởi vì ở nhà mẹ con gắn bó nhau gần như suốt ngày,
còn khi đến trường, đứa trẻ phải vào một môi trường hoàn toàn mới; Lần đầu tiên
bé đi học không phải là chuyện đơn giản đi từ nhà đến trường mà bé phải rời xa
điểm tựa tinh thần vững chắc để làm quen với một thế giới mới hoàn toàn xa lạ.
Vì vậy, giáo viên cần tư vấn cho bố mẹ, các thành viên của gia đình biết cách chuẩn
bị cho trẻ tiếp nhận sự thay đổi đó để tránh cho trẻ lười đi học. Ở lớp, cô giáo cần

tạo môi trường làm sao cho trẻ cảm thấy thân thiện, an toàn ở lớp cũng như ở nhà,
khuyên các bà mẹ không nên để lộ sự lo âu, quá lưu luyến khi đưa trẻ đến
trường,...Lúc về nhà, bố mẹ nên lắng nghe những câu chuyện của trẻ về trường lớp,
các bạn hoặc hỏi han trẻ về những gì đã xảy ra ở lớp, cố gắng động viên và khuyến
khích trẻ để tạo cho trẻ cảm giác tự tin khi đến lớp. Gia đình cũng cần thiết phải
trao đổi với giáo viên những đặc điểm riêng của con mình, ví dụ như thói quen ăn
uống, sức khỏe, cá tính...để giáo viên có biện pháp chăm sóc - giáo dục phù hợp.
Bởi vậy, chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ mầm non ở Lang Chánh có bề dày về uy
tín và độ tin cậy đã thu hút ngày càng đông trẻ trong độ tuổi đến trường.
Công tác xã hội hóa giáo dục đã được chú trọng hơn, lãnh đạo các cấp và
nhân dân quan tâm, chăm lo đầu tư cho sự nghiệp giáo dục, nhân dân tích cực
đóng góp xây dựng trường, lớp, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng dạy học.
b) Khó khăn

4


Lang Chánh là một huyện nghèo, điều kiện kinh tế - xã hội gặp nhiều
khó khăn, quy hoạch thiết kế còn nhiều bất cập. Cơ sở vật chất, thiết bị các
trường Mầm non tuy đã được cải thiện, nâng cấp nhưng vẫn chưa đáp ứng được
yêu cầu ngày càng cao về chăm sóc, giáo dục trẻ tại các nhà trường;
Hiện tại các trường chưa có nhân viên y tế chuyên trách, hầu hết tại các
trường mầm non giáo viên đang kiêm nhiệm thêm công tác y tế…Vì kiêm nhiệm
nên kiến thức về chuyên môn, chuyên ngành còn nhiều bất cập, dẫn đến chưa
đáp ứng yêu cầu đề ra, đảm bảo về chất lượng, khi có tai nạn xảy ra đối với trẻ
thường xử lý theo kinh nghiệm cá nhân, không đảm bảo an toàn cho trẻ;
c) Kết quả khảo sát thực trạng
Căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, để có kế hoạch chỉ đạo các
trường mầm non thực hiện tốt nội dung của phong trào sát với thực tế, tôi đã khảo sát
ở 4 tiêu chuẩn theo bảng kiểm kết quả thực hiện “Xây dựng trường học an toàn,

phòng, chống tai nạn, thương tích” cho trẻ trong trường mầm non của Bộ giáo dục
và Đào tạo quy định với 11 trường mầm non, 169 nhóm, lớp và 259 giáo viên.
* Kết quả khảo sát thực trạng vào thời điểm tháng 9/2015 như sau:
TT

Nội dung

I
1

TỔ CHỨC NHÀ TRƯỜNG
Có ban chỉ đạo công tác y tế trường học.
Có cán bộ y tế chuyên trách hoặc cán bộ, giáo viên kiêm
nhiệm công tác y tế trường học.
Các thành viên trong nhà trường được cung cấp những
kiến thức về yếu tố nguy cơ và cách phòng, chống tai
nạn, thương tích.
Có kế hoạch xây dựng trường học an toàn.
Có các quy định về việc phát hiện và xử lý khi xảy ra tai
nạn thương tích.
Có lồng ghép nội dung phòng, chống tai nạn thương tích
vào chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ.
Có các khẩu hiệu, tranh, áp phích, tài liệu về phòng
chống tai nạn thương tích.
Có tủ thuốc và các dụng cụ sơ cứu ban đầu.
Thường xuyên kiểm tra phát hiện và khắc phục các
yếu tố có nguy cơ thương tích.
Có hồ sơ, sổ sách ghi chép, giám sát lý do, cách phòng
chống, xử lý khi tai nạn thương tích xảy ra.
Số trẻ/ lớp theo quy định của Điều lệ trường mầm non.

Đón, trả trẻ đúng giờ quy định, người đón trẻ phải là người
có trách nhiệm để tránh hiện tượng trẻ bị thất lạc.

2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12

Số
lượng
đạt

Tỷ lệ

11

100

11

100

11


100

10

90,9

6

54,5

6

54,5

6

54,5

6

54,5

6

54,5

6

54,5


11

100

11

100
5


II
a)
13
14
15
16
17
18
19
20
b)
21
22
23
24
25
26
27
28

29
30
31
c)
32
33
34
35

Đánh giá tiêu chuẩn 1: 9/11 trường
CƠ SỞ VẬT CHẤT
Vị trí.
Trường, lớp được đặt tại khu dân cư phù hợp với quy
hoạch chung, thuận lợi cho trẻ em đến trường/lớp.
Đảm bảo các quy định về an toàn và vệ sinh môi trường.
Khuôn viên của cơ sở có tường bao ngăn cách với bên ngoài.
Cổng trường phải chắc chắn, đóng, mở theo quy định.
Ở vùng sông nước, trường, lớp có thuyền, phao cứu sinh.
Không có hàng quà, bánh bán trong trường.
Có biển báo giảm tốc độ ở đoạn đường gần cơ sở và có biện
pháp chống ùn tắc giao thông vào giờ đón và trả trẻ.
Cơ sở có số điện thoại của cơ quan y tế nơi gần nhất
(hoặc bác sỹ nhi khoa).
Khối các phòng (phòng học, phòng ngủ, phòng chơi)
Không bị dột nát, được xây dựng kiên cố hoặc bán kiên
cố, đảm bảo an toàn.
Đảm bảo lối thoát hiểm khi có sự cố.
Đảm bảo cho trẻ em khuyết tật thuận tiện khi sử dụng.
Cửa sổ có chấn song chắc chắn và an toàn.
Nền nhà (phòng) luôn khô ráo, không bị trơn trựợt.

Cầu thang phải có tay vịn, có cửa chắn ở đầu hoặc cuối
cầu thang.
Lan can có chấn song chắc chắn, đảm bảo kích thước quy
định, trẻ không chui, trèo qua được.
Các vật sắc nhọn (dao, kéo...) phải để ở nơi quy định và
trẻ không với tới.
Phích nước nóng được đặt ở nơi an toàn ngoài tầm với
của trẻ.
Đồ dùng chăm sóc, dạy trẻ được sắp xếp gọn gàng, an
toàn cho trẻ.
Hệ thống điện trong lớp học phải đảm bảo an toàn, Tất cả ổ
cắm điện cố định và di động được đặt ở nơi trẻ không với tới.
Nhà bếp (phòng bếp)
Những nơi có tổ chức ăn cho trẻ phải có bếp riêng, bếp
đặt xa lớp mẫu giáo, nhóm trẻ.
Bếp đun bằng than tổ ong không được gần phòng học,
ngủ, chơi của trẻ.
Nhà bếp được sắp xếp ngăn nắp, gọn gàng, sạch sẽ.
Quy trình chế biến, nấu nướng, chia ăn được sắp xếp theo
nguyên tắc bếp ăn một chiều.

8

72,7

11

100

8

11
8
3
11

72,7
100
72,7
27,3
100

0

0

6

54,5

9

81,8

11
11
11
8

100
100

100
72,7

1

9,1

11

100

7

63,6

6

54,5

8

72,7

6

54,5

11

100


11

100

6

54,5

6

54,5
6


36
37
38
39
40
41
42
43
d)
44
45
46
47
48
49

e)
50
51
52
53
f)
54
55
56
57
58
59
60
61

Thực phẩm đảm bảo vệ sinh, rõ nguồn gốc, còn thời hạn
sử dụng.
Thực hiện lưu mẫu thức ăn hàng ngày theo quy định.
Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Có đủ nước sạch sử dụng.
Đảm bảo việc xử lí các chất thải đúng quy định.
Nhân viên nấu ăn được tập huấn về an toàn vệ sinh thực
phẩm và khám sức khỏe định kỳ theo quy định.
Trẻ em không được vào bếp.
Có phương án, dụng cụ, phương tiện để xử lý khi có sự
cố cháy, nổ xảy ra.
Sân vườn
Sân trường, bãi tập bằng phẳng, không trơn trượt, mấp mô.
Các cây cao, cây cổ thụ ở sân trường được chặt tỉa cành
trước mùa mưa bão.

Chậu hoa, cây cảnh được đặt ở vị trí an toàn, chắc chắn.
Không trồng những cây có vỏ, lá, hoa chứa chất độc hại
và mùi hôi thối.
Đường đi lại bằng phẳng, khô ráo, thuận tiện.
Lối đi ra suối, ao, hồ, hố sâu… phải có rào chắn.
Công trình chứa nước, công trình vệ sinh
Giếng nước, bể nước, chum, vại nước cần phải có nắp đậy chắc
chắn, độ cao phải đảm bảo an toàn cho trẻ khi sử dụng.
Công trình vệ sinh phù hợp với độ tuổi của trẻ (bậc lên,
chỗ ngồi, tay vịn).
Nền nhà vệ sinh luôn khô ráo, dễ cọ rửa.
Công trình vệ sinh ở vị trí cô giáo quan sát được trẻ khi
trẻ đi vệ sinh.
Phương tiện phục vụ, vật nuôi (nếu có)
Không có những đồ chơi dễ gây ra tai nạn thương tích cho trẻ.
Bàn, ghế chắc chắn, mặt bàn không được trồi đinh, góc bàn nhẵn.
Giường, tủ, giá, kệ chắc chắn, kê xếp hợp lý, an toàn,
thuận tiện cho trẻ khi sử dụng.
Đồ dùng, đồ chơi phù hợp với độ tuổi của trẻ.
Đồ dùng, đồ chơi làm bằng chất liệu không gây độc hại cho trẻ.
Đồ chơi ngoài trời phải thường xuyên được kiểm tra, tu
sửa, bảo dưỡng.
Đồ dùng chăm sóc dạy trẻ được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp,
thuận tiện, hợp lý và an toàn cho trẻ khi sử dụng.
Dụng cụ đựng hoá chất (các chất tẩy rửa..), các loại thuốc
phải có nhãn rõ ràng để đúng nơi quy định. Chỉ sử dụng các

9

81,8


7
7
11
8

63,6
63,6
100
72,7

8

72,7

11

100

3

27,2

11

100

11

100


8

72,7

11

100

6
9

54,5
81,8

11

100

6

54,5

6

54,5

6

54,5


8
8

72,7
72,7

8

72,7

8
9

72,7
81,8

6

54,5

7

63,6

8

72,7

7



62
III
63
64
65
66
IV
67
68

chất tẩy rửa trong danh mục quy định của Nhà nước.
Chó nuôi phải được tiêm phòng và được nhốt trong thời
gian trẻ ở trường.
Đánh giá tiêu chuẩn II: 7/11 trường
GIÁO VIÊN/ NGƯỜI TRÔNG TRẺ
Có chuyên môn về công tác chăm sóc, nuôi, dạy trẻ.
Được dự các lớp tập huấn về phòng, chống tai nạn
thương tích cho trẻ.
Luôn quan sát tới trẻ mọi lúc, mọi nơi, không làm việc
riêng, không được bỏ lớp.
Biết cách sơ cứu, cấp cứu khi tai nạn xảy ra.
Đánh giá tiêu chuẩn III: 187/259 người
QUAN HỆ GIỮA GIA ĐÌNH VÀ NHÀ TRƯỜNG
Cha mẹ/người chăm sóc trẻ được tuyên truyền về phòng,
chống tai nạn, thương tích cho trẻ.
Thường xuyên có sự trao đổi giữa nhà trường và gia đình
của trẻ về tình hình sức khỏe của trẻ nói chung và việc
phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ.

Đánh giá tiêu chuẩn 4: 11/11 trường

11

100

8
259
225

72,7
100
86,9

144

55,6

235

90,7

144
187

55,6
72,2

11


100

11

100

11

100

Nhận xét: Qua khảo sát chất lượng đầu năm về các tiêu chí trong bảng
kiểm ta thấy kết quả chưa cao.
Tiêu chuẩn 1: 11/11 trường có Quyết định cho cán bộ, giáo viên kiêm
nhiệm công tác y tế học đường, chưa có cán bộ y tế chuyên trách; mới có một số
trường có hồ sơ, sổ sách ghi chép, giám sát lý do, cách phòng chống, xử lý tai
nạn thương tích xảy ra (Kết quả tiêu chuẩn 1: 8/11 trường đạt tỷ lệ 72,7%)
Tiêu chuẩn 2: Cơ sở vật chất hàng năm cũng được các nhà trường bổ
sung, sửa chữa. Trang thiết bị được chú trọng mua sắm theo hướng chuẩn hóa,
hiện đại hóa nhưng do nhiều điểm trường nên số loại đồ chơi ngoài trời ở từng
khu còn ít; Tất cả các trường chưa có biển báo giảm tốc độ ở đoạn đường gần
khu vực trường còn ùn tắc giao thông vào giờ đón trả trẻ, có 8/11 trường đạt tỷ
lệ 72,7 %.
Tiêu chuẩn 3: Giáo viên đều có chuyên môn về công tác chăm sóc, giáo
dục trẻ; nhưng vẫn còn một số giáo viên chưa tham dự các lớp tập huấn về
phòng, chống tai nạn thương tích, mới đạt tỷ lệ 72,7%.
Tiêu chuẩn 4: Công tác tuyên truyền và phối hợp với phụ huynh được
đánh giá cao đạt tỷ lệ 100%.
Tất cả các trường trong tiêu chuẩn 1, 2, 3 vẫn còn nhiều tiêu chí chưa đạt.
Qua khảo sát thực trạng đầu năm, với vai trò và trách nhiệm của người lãnh đạo
trực tiếp quản lý bậc học, bản thân tôi luôn xác định rõ nhiệm vụ, mục đích yêu

8


cầu về an toàn tại các trường mầm non. Do vậy, cần phải tìm ra những giải pháp
để chỉ đạo trực tiếp các nhà trường cần thay đổi cách nghĩ, cách làm, hạn chế
những tồn tại để đưa phong trào “Xây dựng trường học an toàn, phòng, chống
tai nạn, thương tích” cho trẻ có hiệu quả hơn.
3. Một số giải pháp chỉ đạo thực hiện phong trào “Xây dựng trường
học an toàn, phòng, chống tai nạn, thương tích” cho trẻ trong các trường
mầm non ở huyện Lang Chánh có hiệu quả.
3.1. Giải pháp 1: Chỉ đạo các trường kiện toàn ban chỉ đạo, làm tốt
công tác lập kế hoạch xây dựng thực hiện phong trào.
Xác định rõ, việc xây dựng kế hoạch là một vấn đề quan trọng, kế hoạch
phải chi tiết, cụ thể, phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương, của trường,
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý trẻ là coi như đã thành công được một nửa
công việc.
Đầu năm học tôi đã nghiên cứu các văn bản và xây dựng kế hoạch để triển
khai các văn bản chỉ đạo về phong trào thi đua “Xây dựng trường học an toàn,
phòng, chống tai nạn, thương tích” của các cấp đến cán bộ quản lý và giáo viên
cốt cán của các nhà trường về các Chỉ thị, kế hoạch nhiệm vụ năm học của Bộ
giáo dục và đào tạo, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của Sở Giáo dục và
đào tạo, Phòng Giáo dục và đào tạo huyện Lang Chánh. Hướng dẫn các trường
kiện toàn lại ban chỉ đạo. Ban chỉ đạo xây dựng trường học an toàn, phòng,
chống tai nạn, thương tích gồm: Hiệu trưởng làm trưởng ban; Phó hiệu trưởng,
Chủ tịch Công đoàn làm phó ban; Bí thư đoàn thanh niên, Tổ trưởng chuyên
môn làm ban viên, đây là những thành phần cốt cán của nhà trường. Thông qua
đó chỉ đạo các nhà trường tùy vào thực tế của trường mình để tổ chức cam kết
đăng ký thi đua và xây dựng kế hoạch cụ thể cho cả năm học đáp ứng được các
tiêu chuẩn về “Xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn, thương
tích”. Khi xây dựng kế hoạch cho cả năm học phải đảm bảo những yếu tố sau:

- Đối với nhà trường:
Treo tranh ảnh áp phích, băng zôn về phòng, chống tai nạn, thương tích.
Yêu cầu kiểm tra lại các đồ chơi ngoài trời, kịp thời sửa chữa, hạn chế trẻ vấp
ngã gây thương tích trong trường. Kiểm tra tường rào bao xung quanh trường;
Cổng trường nếu chưa an toàn phải sửa lại; Kiểm tra các thiết bị sử dụng điện,
trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy yêu cầu đặt nơi thuận tiện khi sử dụng.
Giáo viên kiêm nhiệm làm công tác y tế trường học nắm vững kiến thức
về yếu tố, nguy cơ và cách phòng, chống tai nạn thương tích. Có tủ thuốc, có
đầy đủ thuốc và dụng cụ sơ cứu ban đầu theo quy định. Cuối năm học nhà
trường được đăng ký kiểm tra để cấp giấy chứng nhận đạt chuẩn “ Trường học
an toàn, phòng, chống tai nạn, thương tích”.
9


Nhà trường trực tiếp kiểm tra việc thực hiện công tác phòng, chống tai
nạn, thương tích trong từng nhóm, lớp. Lập hệ thống ghi chép, theo dõi và báo
cáo xây dựng trường học an toàn phòng, chống tai nạn, thương tích. Hồ sơ đề
nghị công nhận trường học an toàn.
Phối hợp với trạm y tế khám sức khỏe cho trẻ đúng định kỳ; nhân viên
cấp dưỡng được khám sức khỏe theo định kỳ và tập huấn để nâng cao kiến thức
về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Chỉ đạo các trường quản lý tốt vệ sinh bếp ăn ngăn nắp, gọn gàng, sạch
sẽ. Nguồn thực phẩm cung cấp đảm bảo vệ sinh an toàn, lưu mẫu thức ăn hàng
ngày, quy trình chế biến thức ăn theo nguyên tắc bếp ăn một chiều. Quản lý tốt
hồ sơ bếp ăn, có hợp đồng mua bán thực phẩm đảm bảo chất lượng và có cam
kết trách nhiệm về vệ sinh an toàn thực phẩm. Nhà trường triển khai kế hoạch,
nội dung giáo dục tới các tổ chuyên môn, các nhóm, lớp để thống nhất nội dung
trọng tâm cần giáo dục cho trẻ ở các nhóm, lớp.
- Đối với từng nhóm, lớp:
Chỉ đạo cán bộ quản lý các nhà trường tổ chức cho giáo viên ký cam kết

100% trẻ được đón, trả đúng giờ, không để thất lạc trẻ; Đảm bảo 100% trẻ an
toàn tính mạng, không có tai nạn thương tích xảy ra trong lớp mình phụ trách,
100% trẻ được cân đo chấm biểu đồ để theo dõi sự phát triển của trẻ về cân nặng
và chiều cao đúng quy định, khám sức khỏe định kỳ 2 lần/năm
- Công tác theo dõi, đánh giá của nhà trường:
Chỉ đạo các nhà trường phải phân công cụ thể công việc cho từng bộ phận
theo kế hoạch như:
Bảo vệ cần phải đóng khóa cổng trường không để trẻ ra khỏi trường trong
giờ học và không cho người lạ vào;
Thường xuyên kiểm tra tủ thuốc sơ cứu đầy đủ thuốc cần thiết để cấp cứu
khi xảy ra tai nạn;
Hàng ngày phân công kiểm tra công tác vệ sinh an toàn thực phẩm tại bếp
ăn bán trú theo quy định;
Hàng tháng thông qua các buổi sinh hoạt của nhà trường, nghe ý kiến trao
đổi của giáo viên về cơ sở vật chất, lớp học không đảm bảo an toàn để kịp thời
có giải pháp.
Hàng năm tổ chức đánh giá kết quả hoạt động xây dựng trường học an
toàn, phòng, chống tai nạn, thương tích; khen thưởng kịp thời cho các nhóm, lớp
thực hiện tốt phong trào.
3.2. Giải pháp 2: Tạo môi trường an toàn, thân thiện, lành mạnh, đảm
bảo an toàn cho trẻ học tập, vui chơi.
Như chúng ta đã biết, việc xây dựng môi trường giáo dục trong trường
mầm non là thực sự cần thiết và quan trọng, giáo viên hướng dẫn cho trẻ vui
10


chơi và hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của trẻ. Thông qua đó, nhân cách của
trẻ được hình thành và phát triển toàn diện về thể chất, ngôn ngữ, trí tuệ, tình
cảm - kỹ năng xã hội, khả năng thẩm mỹ, sáng tạo.
Môi trường sạch sẽ, an toàn, có sự bố trí khu vực chơi và học trong lớp và

ngoài trời phù hợp, thuận tiện có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với sự phát triển
thể chất của trẻ, mà còn thỏa mãn nhu cầu nhận thức, mở rộng hiểu biết của trẻ,
kích thích trẻ hoạt động tích cực, sáng tạo. Môi trường giao tiếp cởi mở, thân
thiện giữa cô với trẻ, giữa trẻ với trẻ và giữa trẻ với môi trường xung quanh sẽ
tạo cơ hội cho trẻ được chia sẻ, các hoạt động phối hợp nhịp nhàng hơn và hiệu
quả hoạt động cũng cao hơn, trẻ yêu trường, yêu lớp yêu cô giáo và bạn bè hơn.
Đối với giáo viên, việc xây dựng môi trường giáo dục phù hợp sẽ là
phương tiện, là điều kiện để phát triển phù hợp với từng trẻ và từng lứa tuổi.
Môi trường giáo dục tốt sẽ thu hút được sự tham gia của các phụ huynh và
sự đóng góp của cộng đồng xã hội để thỏa mãn mong đợi của họ đối với sự phát
triển của trẻ, tạo được niềm tin với cha mẹ trẻ.
Môi trường cho trẻ hoạt động trong trường mầm non bao gồm: Môi trường
trong lớp và môi trường ngoài lớp. Cần bố trí các khu vực chơi, hoạt động trong
lớp và ngoài trời phù hợp, thuận tiện cho việc sử dụng của cô và trẻ. Để có môi
trường an toàn, thân thiện cho trẻ hoạt động ta cần một số yêu cầu đó là:
Tạo môi trường hoạt động trong lớp cần tính đến không gian thực tế của
trường để cân đối diện tích các khu vực; Đảm bảo tính mục đích có nghĩa là môi
trường giáo dục phải hướng vào việc phát triển toàn diện của trẻ nhằm đạt được
mục tiêu giáo dục mầm non nói chung và mục tiêu cuối độ tuổi nói riêng. Muốn
đạt được điều đó thì khi thiết kế môi trường phải phù hợp với mục đích tổ chức
các hoạt động.
Trang trí môi trường trong lớp học cần phù hợp với tính chất của các hoạt
động, phù hợp với từng lứa tuổi. Trong lớp cần bố trí không gian phù hợp dành
cho hoạt động chung của lớp và hoạt động theo sở thích, khả năng của nhóm
nhỏ hoặc cá nhân. Có khu vực dành riêng để chăm sóc đối với trẻ có nhu cầu
đặc biệt. Với mỗi độ tuổi, môi trường giáo dục sẽ có những nét riêng.
Với môi trường ngoài lớp học yêu cầu: Môi trường giáo dục phải thực sự
an toàn và có tính thẩm mỹ cao, đảm bảo vệ sinh về nguồn nước, không khí, vệ
sinh an toàn trong ăn uống. Các trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi phải được giữ
gìn vệ sinh và tạo sự hấp dẫn đối với trẻ. Có hàng rào bảo vệ xung quanh khu

vực trường. Ngoài ra, môi trường giáo dục cũng cần tạo cho trẻ cảm giác an toàn
về mặt tâm lý: được yêu thương, được tôn trọng và đáp ứng các nhu cầu của trẻ.
Các trang thiết bị ngoài trời có tác dụng kích thích các vận động khác
nhau của trẻ; phản ánh màu sắc văn hóa dân tộc bởi những đồ dùng, trang phục,
các phong tục tập quán… cung cấp cho trẻ những hiểu biết về nền văn hóa địa
phương và của các dân tộc khác nhau.
11


Tuy nhiên cần cung cấp cho giáo viên hiểu rằng tạo môi trường an toàn
cho trẻ không chỉ đơn thuần là an toàn về thể lực sức khỏe và tính mạng mà còn
an toàn cả về tâm lý của trẻ. Vì thế mỗi giáo viên luôn tạo cho trẻ cảm giác an
toàn khi trẻ đến trường, lớp.
An toàn về tâm lý: Giáo viên luôn thương yêu và đáp ứng mọi yêu cầu
của trẻ; dành thời gian tiếp xúc vui vẻ với trẻ, tạo không khí thân thiện, gần gũi
như ở gia đình, tạo cảm giác yên tâm, tin tưởng cho trẻ. Đối với trẻ mới đến lớp
cô nên quan tâm đến nhu cầu của trẻ và chăm sóc trẻ nhiều hơn…
An toàn về tính mạng: Giáo viên không để xảy ra tai nạn và thất lạc trẻ;
Xung quanh khu vực trường có hàng rào bảo vệ; Sân chơi và đồ chơi ngoài trời
phù hợp với lứa tuổi, tránh trơn trượt, trường và lớp học bảo đảm đủ ánh sáng;
tạo không gian cho trẻ hoạt động trong lớp thật thoải mái, sắp xếp đồ dùng, đồ
chơi trong nhóm gọn gàng và hợp lý.
Đồ dùng, đồ chơi được vệ sinh thường xuyên sạch sẽ; các đồ dùng, đồ
chơi nguy hiểm cho trẻ phải được cất ngoài tầm với của trẻ. Khi cho trẻ sử dụng
các đồ chơi đó, phải có sự giám sát chặt chẽ của giáo viên. Nhà vệ sinh phù hợp
với lứa tuổi, tránh để nền nhà bị trơn gây trượt. Các thùng chứa nước, miệng
cống phải có nắp đậy kín. Giáo dục trẻ không tiếp xúc hoặc nhận quà từ người lạ
không quen biết.
Như vậy, môi trường an toàn đối với trẻ phải đảm bảo các yêu cầu đó là:
Môi trường vật chất và vui chơi luôn đảm bảo an toàn; Giáo viên phải là người

có kiến thức và hiểu biết về an toàn, phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ và
trẻ được giáo dục về an toàn để phòng tránh các tai nạn mọi lúc, mọi nơi, trẻ
luôn được giám sát bởi cô giáo; Có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình trong việc
chăm sóc, nuôi dạy trẻ.
3.3. Giải pháp 3: Nâng cao năng lực và kiến thức cho đội ngũ giáo
viên về an toàn, phòng, tránh tai nạn, thương tích cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi.
Vai trò của giáo viên vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ phòng, tránh
tai nạn, thương tích cho trẻ. Hàng năm, phòng giáo dục thường mở lớp tập huấn
kiến thức, kỹ năng về phòng và xử trí một số tai nạn thường gặp cho giáo viên
nhằm nâng cao năng lực hiểu biết và cách xử trí cho giáo viên. Chỉ đạo các nhà
trường phối hợp với y tế địa phương, tập huấn nhắc lại cho giáo viên về nội
dung “bảo vệ an toàn, phòng, tránh tai nạn, thương tích cho trẻ”. Để từ đó giáo
viên phối hợp giữa nhà trường và phụ huynh tạo cho trẻ một môi trường an toàn
về mọi mặt.
Chỉ đạo các nhà trường phải thường xuyên nhắc nhở giáo viên bao quát
trẻ ở mọi lúc, mọi nơi. Nếu không may trẻ bị tai nạn, phải bình tĩnh xử trí sơ cứu
ban đầu tại chỗ, đồng thời báo cho cha mẹ và cơ sở y tế gần nhất để cấp cứu kịp
thời cho trẻ, đây là điều cần thiết nhất đối với mỗi giáo viên. Ở trường mầm non
12


một số tai nạn thường gặp ở các thời điểm trong ngày đó là: Chơi tự do ở ngoài
trời, chơi trong lớp, giờ học, giờ ăn, giờ ngủ, khi trẻ đi vệ sinh, giờ đón trả trẻ...
Chúng ta thấy rằng ở bất kỳ thời điểm nào trong ngày trẻ cũng có thể xảy
ra tai nạn. Để đảm bảo trường lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn và thoáng mát nhà
trường cần phát động cho các nhóm lớp, giáo viên thi đua xây dựng lớp sạch,
trường đẹp và an toàn. Đối với các nhóm, lớp xây dựng môi trường trong và
ngoài lớp cho trẻ hoạt động theo hướng mở linh hoạt.
Môi trường ngoài lớp các nhà trường tận dụng khoảng không gian cầu
thang để vẽ về các hình ảnh giáo dục như: thực hiện luật lệ giao thông, Giáo dục

trẻ về ý thức bảo vệ môi trường (không vứt rác bừa bãi), chăm sóc cây xanh...
Giáo viên phải thực sự luôn gần gũi, yêu thương, tôn trọng và đối xử công
bằng đối với trẻ, đảm bảo an toàn về thể chất, tinh thần cho trẻ; luôn có ý thức
rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức nhà giáo, tự nâng cao trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ, cư xử đúng mực với cha mẹ trẻ.
3.5. Giải pháp 4: Công tác kiểm tra việc thực hiện phong trào phòng,
chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non.
- Phòng Giáo dục và Đào tạo: Xác định công tác kiểm tra, theo dõi, đánh
giá nội dung bảo vệ an toàn, phòng tránh tai nạn cho trẻ là việc làm thường
xuyên, chặt chẽ hàng năm. Kiểm tra, phát hiện và khắc phục các nguy cơ gây
thương tích cho trẻ. Đưa nội dung tiêu chuẩn xây dựng trường học an toàn
phòng, chống tai nạn, thương tích là một trong những tiêu chí đánh giá, xếp loại
thi đua về công tác y tế trường học ở các trường mầm non.
Cuối năm chỉ đạo các trường tổ chức đánh giá quá trình triển khai và kết
quả hoạt động xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn, thương tích
theo bảng kiểm tự đánh giá của cơ sở giáo dục mầm non.
- Các trường mầm non: Hàng năm thành lập tổ công tác đánh giá theo
bảng tự đánh giá của cơ sở giáo dục mầm non về kết quả phòng, chống tai nạn,
thương tích theo bảng kiểm trường học an toàn, phòng, chống tai nạn, thương
tích. Làm văn bản báo cáo về huyện đề nghị kiểm tra và cấp giấy chứng nhận.
Trong nhiều năm qua phong trào xây dựng trường học an toàn, phòng,
chống tai nạn, thương tích của huyện Lang Chánh, hầu hết các cơ sở giáo dục
mầm non đều đạt tiêu chuẩn và được cấp giấy chứng nhận.
3.4. Giải pháp 5: Phối hợp phụ huynh trong việc phòng, tránh tai nạn
thương tích cho trẻ
Với câu nói của Bác Hồ: “Muốn cho người mẹ sản xuất tốt, cần tổ chức
tốt những nơi giữ trẻ”. Xác định rằng thời gian trẻ ở trường mầm non nhiều hơn
thời gian trẻ ở nhà với gia đình. Trẻ có được an toàn, tránh được các tai nạn
thương tích và phát triển toàn diện hay không là phụ thuộc rất nhiều vào các
điều kiện phục vụ và ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân

13


viên của các trường mầm non. Một số hình thức tuyên truyền đến phụ huynh mà
tôi cho rằng có hiệu quả được các trường áp dụng trên địa bàn huyện:
- Giáo viên cần trao đổi trực tiếp với phụ huynh qua giờ đón, trả trẻ:
Đón trẻ là khoảng thời gian ngắn gặp gỡ giữa giáo viên và cha mẹ trẻ, có
thể trao đổi về sức khỏe cũng như những điều xảy ra với trẻ khi ở nhà, tận dụng
những tình huống phụ huynh đưa ra có thể trao đổi nhanh về những nguyên
nhân và cách phòng tránh tai nạn thương tích mà trẻ thường gặp phải và có thể
xảy ra với trẻ khi trẻ ở nhà, từ đó xây dựng được sự tin tưởng của phụ huynh và
được họ thường xuyên trao đổi thông tin của trẻ trong khoảng thời gian ở nhà.
Không để trẻ nghịch diêm, bật lửa và các chất khác gây cháy, bỏng. Để
diêm, bật lửa, nến, đèn dầu, bàn là, vật nóng xa tầm với của trẻ hoặc nơi an toàn đối
với trẻ. Giáo dục cho trẻ nhận biết đồ vật và nơi nguy hiểm không nên đến gần.
- Thông qua bảng tuyên truyền: Bảng tuyên truyền là nơi trao đổi thông
tin gián tiếp giữa nhà trường, lớp với phụ huynh về các nội dung trong quá trình
chăm sóc giáo dục và nuôi dạy trẻ, yêu cầu làm bảng tuyên truyền đẹp, kích
thước to, các nội dung thông báo rõ ràng cho các phụ huynh chú ý và có thể đọc,
quan sát dễ dàng. Bởi đây là nơi trao đổi thông tin ý kiến của giáo viên với phụ
huynh rất hiệu quả nên theo từng chủ đề, từng tháng chọn những hình ảnh phù
hợp về nội dung tuyên truyền kỹ năng phòng, tránh tai nạn, thương tích để giáo
dục tuyên truyền.
Việc hình thành kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ không
chỉ dừng lại ở nhận thức của trẻ mà còn bao gồm cả việc bắt chước hành động
đúng của người lớn. Đồng tình với quan điểm này nên dù trong bất cứ hoàn
cảnh, thời điểm nào người lớn phải là tấm gương sáng cho trẻ noi theo.
Như đi bộ: dắt trẻ đi trên vỉa hè, đi phía bên phải để tạo thói quen cho trẻ, thói
quen đội mũ bảo hiểm khi ngồi lên xe máy; trong giờ ăn không nói chyện riêng,….
Có thể khẳng định rằng những chuyển biến tích cực trong nhận thức và sự

phối hợp chặt chẽ của phụ huynh đã tạo điều kiện nâng cao chất lượng hiệu quả
của việc giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ.
4. Hiệu quả
Năm học 2015 - 2016, với việc chỉ đạo sát sao đến các nhà trường về thực
hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn,
thương tích”; Qua kiểm tra thực tế tôi thấy có sự thay đổi rõ rệt về kết quả của
phong trào, góp phần quan trọng trong công tác nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện trong nhà trường đẩy mạnh việc dạy học có hiệu quả, phù hợp với lứa
tuổi trẻ, giúp trẻ tự tin trong học tập.
Cán bộ giáo viên có ý thức tham gia học hỏi, hiểu biết nắm bắt một số
kiến phù hợp; Có thể nói phong trào thi đua “Xây dựng trường học an toàn,
phòng, chống tai nạn, thương tích” đã tạo động lực mới cho các hoạt động giáo
14


dục tại các nhà trường. Việc xây dựng cảnh quan môi trường nhóm, lớp đã duy
trì xanh, sạch, đẹp, an toàn thu hút trẻ đến trường đảm bảo tỷ lệ huy động.
Phương pháp dạy học có nhiều đổi mới giúp trẻ chủ động, tích cực học tập, duy
trì việc tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi lành mạnh.
Kết quả của phong trào thi đua “Xây dựng trường học an toàn, phòng,
chống tai nạn, thương tích” đã tạo bước chuyển mới trong việc nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện trong các nhà trường cuối năm với kết quả như sau:
* Kết quả khảo sát thời điểm tháng 4/2016 cho thấy.
TT

Nội dung

I
1


TỔ CHỨC NHÀ TRƯỜNG
Có ban chỉ đạo công tác y tế trường học.
Có cán bộ y tế chuyên trách hoặc cán bộ, giáo viên kiêm
nhiệm công tác y tế trường học.
Các thành viên trong nhà trường được cung cấp những
kiến thức về yếu tố nguy cơ và cách phòng, chống tai
nạn, thương tích.
Có kế hoạch xây dựng trường học an toàn.
Có các quy định về việc phát hiện và xử lý khi xảy ra tai
nạn thương tích.
Có lồng ghép nội dung phòng, chống tai nạn thương tích
vào chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ.
Có các khẩu hiệu, tranh, áp phích, tài liệu về phòng
chống tai nạn thương tích.
Có tủ thuốc và các dụng cụ sơ cứu ban đầu.
Thường xuyên kiểm tra phát hiện và khắc phục các
yếu tố có nguy cơ thương tích.
Có hồ sơ, sổ sách ghi chép, giám sát lý do, cách phòng
chống, xử lý khi tai nạn thương tích xảy ra.
Số trẻ/ lớp theo quy định của Điều lệ trường mầm non.
Đón, trả trẻ đúng giờ quy định, người đón trẻ phải là người
có trách nhiệm để tránh hiện tượng trẻ bị thất lạc.
Đánh giá tiêu chuẩn 1: 11/11 trường
CƠ SỞ VẬT CHẤT
Vị trí.
Trường, lớp được đặt tại khu dân cư phù hợp với quy
hoạch chung, thuận lợi cho trẻ em đến trường/lớp.
Đảm bảo các quy định về an toàn và vệ sinh môi trường.
Khuôn viên của cơ sở có tường bao ngăn cách với bên ngoài.
Cổng trường phải chắc chắn, đóng, mở theo quy định.


2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
II
a)
13
14
15
16

Số
lượng
đạt

Tỷ lệ

11

100

11


100

11

100

11

100

11

100

11

100

11

100

11

100

10

90,9


11

100

11

100

11

100

11

100

11

100

11
11
11

100
100
100
15



17
18
19
20
b)
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
c)
32
33
34
35
36
37
38
39
40
41
42


Ở vùng sông nước, trường, lớp có thuyền, phao cứu sinh.
Không có hàng quà, bánh bán trong trường.
Có biển báo giảm tốc độ ở đoạn đường gần cơ sở và có biện
pháp chống ùn tắc giao thông vào giờ đón và trả trẻ.
Cơ sở có số điện thoại của cơ quan y tế nơi gần nhất
(hoặc bác sỹ nhi khoa).
Khối các phòng (phòng học, phòng ngủ, phòng chơi)
Không bị dột nát, được xây dựng kiên cố hoặc bán kiên
cố, đảm bảo an toàn.
Đảm bảo lối thoát hiểm khi có sự cố.
Đảm bảo cho trẻ em khuyết tật thuận tiện khi sử dụng.
Cửa sổ có chấn song chắc chắn và an toàn.
Nền nhà (phòng) luôn khô ráo, không bị trơn trựợt.
Cầu thang phải có tay vịn, có cửa chắn ở đầu hoặc cuối
cầu thang.
Lan can có chấn song chắc chắn, đảm bảo kích thước quy
định, trẻ không chui, trèo qua được.
Các vật sắc nhọn (dao, kéo...) phải để ở nơi quy định và
trẻ không với tới.
Phích nước nóng được đặt ở nơi an toàn ngoài tầm với
của trẻ.
Đồ dùng chăm sóc, dạy trẻ được sắp xếp gọn gàng, an
toàn cho trẻ.
Hệ thống điện trong lớp học phải đảm bảo an toàn, Tất cả ổ
cắm điện cố định và di động được đặt ở nơi trẻ không với tới.
Nhà bếp (phòng bếp)
Những nơi có tổ chức ăn cho trẻ phải có bếp riêng, bếp
đặt xa lớp mẫu giáo, nhóm trẻ.
Bếp đun bằng than tổ ong không được gần phòng học,
ngủ, chơi của trẻ.

Nhà bếp được sắp xếp ngăn nắp, gọn gàng, sạch sẽ.
Quy trình chế biến, nấu nướng, chia ăn được sắp xếp theo
nguyên tắc bếp ăn một chiều.
Thực phẩm đảm bảo vệ sinh, rõ nguồn gốc, còn thời hạn
sử dụng.
Thực hiện lưu mẫu thức ăn hàng ngày theo quy định.
Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Có đủ nước sạch sử dụng.
Đảm bảo việc xử lí các chất thải đúng quy định.
Nhân viên nấu ăn được tập huấn về an toàn vệ sinh thực
phẩm và khám sức khỏe định kỳ theo quy định.
Trẻ em không được vào bếp.

3
11

27,3
100

0

0

11

100

10

90,9


11
11
11
10

100
100
100
90,9

1

9,1

11

100

10

90,9

11

100

11

100


9

81,8

11

100

11

100

9

81,8

10

90,9

11

100

9
11
11
11


81,8
100
100
100

11

100

11

100
16


43
d)
44
45
46
47
48
49
e)
50
51
52
53
f)
54

55
56
57
58
59
60
61
62
III
63
64
65

Có phương án, dụng cụ, phương tiện để xử lý khi có sự
cố cháy, nổ xảy ra.
Sân vườn
Sân trường, bãi tập bằng phẳng, không trơn trượt, mấp mô.
Các cây cao, cây cổ thụ ở sân trường được chặt tỉa cành
trước mùa mưa bão.
Chậu hoa, cây cảnh được đặt ở vị trí an toàn, chắc chắn.
Không trồng những cây có vỏ, lá, hoa chứa chất độc hại
và mùi hôi thối.
Đường đi lại bằng phẳng, khô ráo, thuận tiện.
Lối đi ra suối, ao, hồ, hố sâu… phải có rào chắn.
Công trình chứa nước, công trình vệ sinh
Giếng nước, bể nước, chum, vại nước cần phải có nắp đậy chắc
chắn, độ cao phải đảm bảo an toàn cho trẻ khi sử dụng.
Công trình vệ sinh phù hợp với độ tuổi của trẻ (bậc lên,
chỗ ngồi, tay vịn).
Nền nhà vệ sinh luôn khô ráo, dễ cọ rửa.

Công trình vệ sinh ở vị trí cô giáo quan sát được trẻ khi
trẻ đi vệ sinh.
Phương tiện phục vụ, vật nuôi (nếu có)
Không có những đồ chơi dễ gây ra tai nạn thương tích cho trẻ.
Bàn, ghế chắc chắn, mặt bàn không được trồi đinh, góc bàn nhẵn.
Giường, tủ, giá, kệ chắc chắn, kê xếp hợp lý, an toàn,
thuận tiện cho trẻ khi sử dụng.
Đồ dùng, đồ chơi phù hợp với độ tuổi của trẻ.
Đồ dùng, đồ chơi làm bằng chất liệu không gây độc hại cho trẻ.
Đồ chơi ngoài trời phải thường xuyên được kiểm tra, tu
sửa, bảo dưỡng.
Đồ dùng chăm sóc dạy trẻ được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp,
thuận tiện, hợp lý và an toàn cho trẻ khi sử dụng.
Dụng cụ đựng hoá chất (các chất tẩy rửa..), các loại thuốc
phải có nhãn rõ ràng để đúng nơi quy định. Chỉ sử dụng các
chất tẩy rửa trong danh mục quy định của Nhà nước.
Chó nuôi phải được tiêm phòng và được nhốt trong thời
gian trẻ ở trường.
Đánh giá tiêu chuẩn II: 10/11 trường
GIÁO VIÊN/ NGƯỜI TRÔNG TRẺ
Có chuyên môn về công tác chăm sóc, nuôi, dạy trẻ.
Được dự các lớp tập huấn về phòng, chống tai nạn
thương tích cho trẻ.
Luôn quan sát tới trẻ mọi lúc, mọi nơi, không làm việc
riêng, không được bỏ lớp.

6

54,5


11

100

11

100

10

90,9

11

100

8
11

72,7
100

11

100

8

72,7


9

81,8

8

72,7

11
11

100
100

9

81,8

11
11

100
100

10

90,9

11


100

10

90,9

11

100

10
259
225

90,9
100
86,9

205

79,2

245

94,6
17


66
IV

67
68

Biết cách sơ cứu, cấp cứu khi tai nạn xảy ra.
Đánh giá tiêu chuẩn III: 220/259 người
QUAN HỆ GIỮA GIA ĐÌNH VÀ NHÀ TRƯỜNG
Cha mẹ/người chăm sóc trẻ được tuyên truyền về phòng,
chống tai nạn, thương tích cho trẻ.
Thường xuyên có sự trao đổi giữa nhà trường và gia đình
của trẻ về tình hình sức khỏe của trẻ nói chung và việc
phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ.
Đánh giá tiêu chuẩn 4: 11/11 trường

205
220

79,2
84,9

11

100

11

100

11

100


Nhận xét: Qua khảo sát chất lượng cuối năm tôi thấy kết quả cao hơn.
Tiêu chuẩn 1: 11/11 trường đã có hồ sơ, sổ sách ghi chép, giám sát lý do,
cách phòng chống, xử lý tai nạn thương tích xảy ra (100 % số trường MN đã đạt
tiêu chuẩn 1)
Tiêu chuẩn 2: Cơ sở vật chất được các nhà trường bổ sung, nhà vệ sinh
luôn được chú ý; Trang thiết bị mua sắm theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa;
Còn một số điểm lẻ của các trường vùng cao chưa đảm bảo một số yêu cầu tối
thiểu nên các tiêu chí chỉ đạt 10/11 trường đạt tỷ lệ 90,9%.
Tiêu chuẩn 3: Giáo viên đều có chuyên môn về công tác chăm sóc, giáo
dục trẻ; nhưng vẫn còn một số giáo viên chưa tham dự các lớp tập huấn về
phòng, chống tai nạn thương tích, qua hướng dẫn và yêu cầu số giáo viên đã
nghiên cứu tài liệu và nắm bắt được số kiến thức cơ bản về phòng, chống tai nạn
thương tích cho trẻ, tỷ lệ được nâng lên 84,9% %.
Tiêu chuẩn 4: Công tác tuyên truyền và phối hợp với phụ huynh được
đánh giá cao đạt tỷ lệ 100%.
* Bảng tổng hợp các tiêu chí kiểm tra tại các trường mầm non về phong
trào “Xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn, thương tích” như sau:
Tổng số tiêu
chí đạt
1 Trường MN Thị trấn
65/68
2 Trường MN Đồng Lương
66/68
3 Trường MN Quang Hiến
66/68
4 Trường MN Tân Phúc
65/68
5 Trường MN Tam Văn
60/68

6 Trường MN Lâm Phú
59/68
7 Trường MN Trí Nang
62/68
8 Trường MN Giao An
65/68
9 Trường MN Giao Thiện
60/68
10 Trường MN Yên Thắng
59/68
11 Trường MN Yên Khương
59/68

TT

Trường

Tỷ lệ %

Kết quả

95,6
97,0
97,0
95,6
88,2
86,8
91,2
95,6
88,2

86,8
86,8

Đạt
Đạt
Đạt
Đạt
Đạt
Đạt
Đạt
Đạt
Đạt
Đạt
Đạt

Ghi chú

18


Như vậy, so với đầu năm chất lượng các tiêu chuẩn đã thay đổi rõ rệt, kết
quả của phong trào “Xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn,
thương tích” cho trẻ đã có hiệu quả hơn.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Sau khi áp dụng các giải pháp trên, kết quả cho thấy có sự thay đổi rõ
ràng với sự chỉ đạo sát sao đến các nhà trường, tôi rút ra kết luận như sau:
Cần chỉ đạo các trường mầm non phải xác định rõ nội dung của công tác
bảo vệ an toàn, phòng tránh tai nạn thương; Biết cách lập kế hoạch thực tế tại đơn
vị về công tác bảo vệ an toàn, phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ… Bảng kế

hoạch được xây dựng nội dung chỉ là thống kê các công việc của nhân viên y tế
nhưng cũng là trách nhiệm của tất cả cán bộ giáo viên, nhân viên trong trường.
Xây dựng kế hoạch cụ thể và huy động sức mạnh tổng hợp của các lực
lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để xây dựng môi trường giáo dục an
toàn, phòng tránh tai nạn thương tích phù hợp với nhà trường, đáp ứng với yêu
cầu xã hội.
Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giáo viên trong trường mầm non là một trong
những công việc quan trọng của người quản lý nhằm nâng cao chất lượng chăm
sóc giáo dục trẻ.
Chỉ đạo thực hiện tốt công tác phối hợp với phụ huynh; Luôn tạo môi
trường an toàn cho trẻ đảm bảo trẻ tuyệt đối an toàn về thể lực sức khỏe, tính
mạng và an toàn về tâm lý. Tạo cảm giác an toàn cho trẻ trong trường mầm non
là một trong những yếu tố để phát triển tính tự tin độc lập của trẻ đây cũng là
một tiền đề trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ.
Như vậy, các giải pháp nêu trên chắc chắn chưa phải là một hệ thống giải
pháp đầy đủ. Nhưng các giải pháp này đã giúp các nhà trường thực hiện tốt
phong trào phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ, luôn nhắc nhở mỗi cán bộ
quản lý, mỗi giáo viên không được lơ lài dù chỉ một phút; tất cả chúng ta, người
thay cha mẹ trẻ trông giữ, nuôi dạy, chăm sóc, giáo dục trẻ hãy đem đến cho trẻ
sự an toàn ở mọi lúc, mọi nơi.
2. Kiến nghị
Đề nghị lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tham mưu với UBND tỉnh điều
chỉnh số trẻ/nhóm, lớp phù hợp để đảm bảo an toàn cho việc chăm sóc, giáo dục
trẻ có chất lượng cao hơn.
Biên chế nhân viên y tế có chuyên ngành cho các trường mầm non, để
đảm bảo an toàn và phù hợp với yêu cầu chung của bậc học.
Quá trình chỉ đạo bậc học mầm non trong nhiều năm qua, tôi đã dõi theo
và nhận thấy rằng việc thực hiện phong trào “Xây dựng trường học an toàn,
19



phòng, chống tai nạn, thương tích” cho trẻ trong các trường mầm non ở huyện
Lang Chánh, tỉnh Thanhh Hóa là rất quan trọng. Vì vậy, tôi đưa ra một số giải
pháp nêu trên xin được mạnh dạn trao đổi cùng các đồng nghiệp, chắc không
tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự bổ sung, góp ý của các bạn
đồng nghiệp và Hội đồng khoa học các cấp để tôi hoàn thiện hơn trong kinh
nghiệm chỉ đạo chuyên môn bậc học Mầm non huyện Lang Chánh trong những
năm tiếp theo./.
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
Trưởng phòng GDĐT

Lang Chánh, ngày 20 tháng 4 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác
Người thực hiện

Lê Minh Thư

Trịnh Thị Thủy

20



×