Tải bản đầy đủ (.docx) (20 trang)

Thực trạng tuân thủ thuế ở việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (183.98 KB, 20 trang )

Đề tài:
Quan điểm của nhóm về thực trạng tuân
thủ thuế tại Việt Nam hiện nay? Liên hệ thực
tế.
Lời mở đầu
Chúng ta đều đã được biết rất rõ về vai trò vô cùng quan trọng của
NSNN, việc có một nguồn thu Ngân sách tốt không chỉ tạo tiền đề
phát triển kinh tế xã hội trong nước mà còn là một thế mạnh trên
chính trường chính trị thế giới. Mà trong thu Ngân sách nhà nước, thì
thuế chiếm một tỷ trọng vô cùng lớn. Đơn cử như năm 2016, tổng thu
Ngân sách của nước ta đạt 1,1 triệu tỷ đồng, trong đó tổng nguồn thu
từ thuế là 884.399 tỷ đồng chiếm hơn 80% tổng thu. Vậy nên khi thực
hiện bài toán tăng tổng thu ngân sách nhà nước thì chính phủ luôn tập
trung mũi nhọn vào việc hoàn thiện công tác quản lý thu thuế để
mang lại hiệu quả cao nhất.
Đánh giá hiệu quả của công tác quản lý thuế, nhóm xét trên hai
khía cạnh: cơ quan quản lý thu thuế và các đơn vị thực hiện nghĩa vụ
nộp thuế. Một thực trạng không thể phủ nhận là ở cả hai nhân tố thì
chúng ta đều chưa hoàn thiện tốt. Phía cơ quan quản lý, rõ ràng mặt
nổi bên ngoài dễ thấy nhất là luật thuế của nước ta hiện nay đang có
quá nhiều lỗ hổng, bất hợp lý dẫn tới thường xuyên thay đổi luật thuế
điều này không chỉ bất lợi cho nhà lập pháp mà còn gây khó khăn cho
người chấp hành. Mặt khác, trên phương diện đơn vị phải nộp thuế thì
việc tuân thủ thuế cũng chưa cao, lợi dụng vào kẽ hở của luật thuế
mà nhiều cá nhân – tổ chức đã tìm cách để lách thuế, tránh thuế hay
thậm chí là trốn thuế!
Tử những lý luận trên ở bài phân tích này, nhóm xin phép đề cập
qua bộ máy quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay cũng như khó khăn
trong quản lý dẫn đến thực trạng tuân thủ thuế hiện nay tại Việt Nam
như thế nào? Bao gồm các nội dung sau:
Chương 1: Khái quát chung về công tác quản lý thuế


Chương 2: Thực trạng trong công tác quản lý và tuân thủ thuế tại
Việt Nam
Chương 3: Phân tích hành vi tránh thuế của Pepsico
Chương 4: Đề xuất giải pháp của nhóm để nâng cao việc tuân thủ
thuế


Chương I: Khái quát chung về công tác quản lý thuế

1. Khái niệm và nội dung quản lý thuế:
Quản lý thuế là khâu tổ chức, phân công trách nhiệm cho các bộ
phận trong cơ quan thuế; xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ
phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính sách thuế.
Phạm vi điều chỉnh: quy định việc quản lý các loại thuế, các khoản
thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý thuế quản lý
thu theo quy định của pháp luật.
Đối tượng áp dụng: Quy định về người nộp thuế, Cơ quan quản lý
thuế, Công chức quản lý thuế, Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân
khác có liên quan.

2. Nguyên tắc quản lý thuế:
Mỗi cấp cơ quan quản lý Nhà nước có nhiệm vụ khác nhau
trong quản lý thuế. Tuy nhiên, hoạt động quản lý thuế của các cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền đều phải tuân theo những nguyên tắc nhất
định:

• Tuân thủ pháp luật
Nguyên tắc này chi phối hoạt động của các cơ quan bên trong
quan hệ quản lý thuế bao gồm cả cơ quan Nhà nước và người nộp
thuế. Nội dung của nguyên tắc này là quyền hạn, trách nhiệm của cơ

quan quản lý; quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế đều do pháp luật
quy định. Trong quan hệ quản lý, các bên liên quan có thể được lựa
chọn những hoạt động nhất định nhưng phải trong phạm vi quy định
của pháp luật về quản lý thuế.


• Đảm bảo tính hiệu quả
Giống như mọi hoạt động quản lý khác, hoạt động quản lý thuế
phải tuân thủ nguyên tắc hiệu quả. Các hoạt động quản lý thuế được
thực hiện, các phương pháp quản lý được lựa chọn phải đảm bảo số
thu vào NSNN là lớn nhất theo đúng luật thuế. Đồng thời, chi phí quản
lý thuế là tiết kiệm nhất.

• Thúc đẩy ý thức tự tuân thủ thuế của người nộp thuế
Để đảm bảo hoạt động thu, nộp thuế đúng pháp luật, Nhà nước
nào cũng tăng cường các hoạt động quản lý đối với người nộp thuế.
Trong điều kiện quản lý thuế hiện đại sự tăng cường vai trò của Nhà
nước theo hướng tập trung vào kiểm tra, kiểm soát kết quả thực hiện
nghĩa vụ thuế phù hợp với quy định của Pháp luật (kiểm tra sau), đồng
thời tại điều kiện cho người nộp thuế chủ động lựa chọn cách thức
khai thuế và nộp thuế phù hợp với hoạt động kinh doanh của mình,
tôn trọng tính tự giác của người nộp thuế.

• Công khai, minh bạch
Công khai, minh bạch là một trong những nguyên tắc quan trọng
của quản lý thuế. Nguyên tắc công khai đòi hỏi mọi quy định về quản
lý thuế, bao gồm pháp luật thuế và các quy trình, thủ tục thu nộp thuế
phải công bố công khai cho người nộp thuế và tất cả những tổ chức,
cá nhân có liên quan được biết. Nguyên tắc minh bạch đòi hỏi các quy
định về quản lý thuế rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu và diễn đạt sao cho chỉ

có thể hiểu theo một cách nhất quán, không hiểu theo nhiều cách
khác nhau. Nguyên tắc minh bạch cũng đòi hỏi không quy định những
ngoại lệ trong thực thi pháp luật thuế.

• Tuân thủ và phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc
tế
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế
và mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế cho mỗi nước. Đồng thời, quá
trình hội nhập cũng đòi hỏi mỗi quốc gia cần có những thay đổi quy
định về quản lý, cũng như các chuẩn mực quản lý phù hợp với các
cam kết và thông lệ quốc tế. Việc thực hiện các cam kết và thông lệ
quốc tế tạo điều kiện cho hoạt động quản lý của các cơ quan Nhà
nước hội nhập với hệ thuốc quản lý thuế thế giới. Tuân thủ thông lệ
quốc tế cũng tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư
nước ngoài.

3. Đặc điểm của quản lý thuế:
So với các hoạt động quản lý khác, quản lý thuế có những đặc
điểm cơ bản sau đây:


• Quản lý thuế là quản lý bằng pháp luật đối với hoạt động
nộp thuế.
Hoạt động quản lý cơ quan thuế cũng như việc thực hiện nghĩa vụ
nộp thuế của các tổ chức, cá nhân đều phải trên cơ sở được đảm bảo
thực hiện bằng quyền lực Nhà nước. Việc quản lý thuế bằng pháp luật
đảm bảo sự thống nhất, minh bạch, công khai trong hoạt động quản lý
của các cơ quan Nhà nước. Qua đó, đảm bảo nguồn thu từ thuế vào
NSNN được tập trung đầy đủ, kịp thời nhằm đáp ứng cho nhu cầu chi
tiêu của Nhà nước; đồng thời, đảm bảo sự điều tiết qua thuế đối với

các tổ chức, cá nhân được công bằng, bình đẳng.

• Quản lý thuế được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp
hành chính.
Nội dung của phương pháp hành chính trong quản lý thuế là sự tác
động có tổ chức và điều chỉnh, là sự cần thiết lập mối quan hệ giữa
con người, giữa cơ quan thuế với các tổ chức, cá nhân trong xã hội;
giữa cơ quan thuế các cấp với nhau và với các cơ quan Nhà nước
khác, trong các quan hệ đó thì cơ quan Nhà nước cấp dưới phải phục
tùng mệnh lệnh của cấp trên theo thứ bậc hành chính, đối tượng bị
quản lý (người nộp thuế) phải chấp hành mệnh lệnh của các cơ quan
Nhà nước trong việc đảm bảo nguồn thu vào NSNN. Đồng thời, phương
pháp hành chính trong quản lý thuế còn thể hiện trong quy trình, thủ
tục thu, nộp thuế, đó là trình tự các bước công việc phải tiến hành và
các giầy tờ, tài liệu cần thiết ghi nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế
của người nộp thuế.

• Quản lý thuế là hoạt động mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ
chặt chẽ.
Đặc điểm này thể hiện ở chỗ các thủ tục hành chính và các chứng
từ kèm theo phục vụ cho quản lý thuế có quan hệ mật thiết với nhau,
phụ thuộc nhau do các yêu cầu kỹ thuật của việc xác định số thuế
phải nộp.
Chương II. Thực trạng trong công tác quản lý và tuân thủ
thuế tại VN

1. Thuế GTGT:
• Một là về diện hàng hóa dịch vụ không chịu thuế
GTGT:
Luật thuế GTGT hiện hành quy đinh có 28 nhóm hàng hóa dịch vụ

không chịu thuế GTGT. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện tuân thủ
thuế, một số nhóm hàng hóa dịch vụ nếu không chịu thuế GTGT sẽ
không còn phù hợp do không còn đảm bảo tính liên hoàn trong việc


khấu trừ thuế đầu vào, đâu ra cửa DN. Do đó cần rà soát, chuyển sang
đối tượng chịu thuế để đảm bảo tính liên hoàn của thuế GTGT và tạo
thuận lợi cho cơ sở sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó cũng cần cụ thể
hóa các dịch vụ tài chính mới chưa được quy định trong luật: như dịch
vụ hoán đổi lãi suất, các dịch vụ tài chính phái sinh và các giao dịch
chuyển nhượng vốn để đảm bảo cơ sở pháp lý trong quá trình thực
hiện và phù hợp với thông lệ quốc tế.
• Hai là về thuế suất GTGT
Trong luật thuế GTGT ngoài mức thuế suất 0% còn có 3 mức thuế
suất là 5%, 10% và 20%. Từ ngày 1/4/2004, áp dụng luật sửa đổi bổ
sung, bỏ thuế suất 20%, chỉ còn thuế 5% và 10%, Trong đó 5% là mức
thuế suất ưu đãi, được áp dụng với hàng hóa dịch vụ phục vụ nhu cầu
thiết yếu của người dân. Tuy nhiên, trong quá trình tuân thủ thuế, một
số doanh nghiệp sản xuất hàng hóa dịch vụ ở mức thuế suất này
không những không phải nộp thuế mà còn được hoàn thuế từ NSNN,
do đó, cần ra soát lại những diện áp dụng mức thuế suất này để tránh
thất thu thuế.
Mặt khác, tiêu chí phân định giữa 2 mức thuế suất trên vẫn chưa rõ
ràng: vừa theo tên hàng hóa dịch vụ vừa theo công dụng, tính chất,
dẫn đến những vướng mắc trong quá trình tuân thủ.
VD: sản phẩm cơ khí tiêu dùng áp mức thuế 10%, sản phẩm cơ khí
là tư liệu để sản xuất áp mực thuế 5%, nhưng trên thực tế có những
sản phẩm cơ khí không thể phân biệt được là dùng cho tiêu dùng hay
sản xuất.
• Ba là về điều kiện được khấu trừ hoàn thuế

Luật thuế GTGT hiện hành quy định căn cứ khấu trừ, hoàn thuế
GTGT đầu vào là hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ. Thực tiễn quản lý
thuế cho thấy, quy đinh nếu trên chưa đủ chặt chẽ, dễ bị lợi dụng
khấu trừ khấu hoặc hoàn thuế khống thông qua việc sử dụng hóa đơn
ghi chép không trung thực với thực tế giao dịch và các loại hóa đơn
bất hợp pháp khác để gian lận, làm giảm số thuế GTGT phải nộp hoặc
tăng số thuế GTGT khống được hoàn để rút tiền ngân sách, gây bất
bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các đối tượng nộp thuế. Thời gian
vừa qua đã xuất hiện 1 loại tội phạm kinh tế mới- tội phạm mua bán,
sử dụng hóa đơn bất hợp pháp để chiếm đoạt tiền thuế GTGT của Nhà
nước dựa vào sự thông thoáng của Luật DN về điều kiện được khấu trừ
thuế, được hoàn thuế nêu trên để thành lập doanh nghiệp nhằm mục
đích mua bán hóa đơn kiếm lời bất chính.
• Bốn là về hình thức văn bản
Thuế GTGT hiện tại được quy định bởi 3 văn bản Luật khác nhau là
Luật thuế 1997, Luật sửa đổi bổ sung một số điều luật của Luật thuế
2003, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc
biệt và Luật thuế GTGT năm 2005. Mặt khác, Luật quản lý thuế được
ban hành năm 2006 đã quy đinh các nội dung để thay thế cho ác quy


đinh về quản lý thuế đã được ban hành trước đây. Với nhiều văn bản
luật cùng quy định về thuế GTGT như vậy sẽ gây khó khăn cho việc
tra cưu áp dụng pháp luật.

2. Thuế xuất, nhập khẩu
Theo Tổng cục Hải quan, tính đến đầu tháng 8, tổng thu ngân
sách của ngành đạt hơn 149.870 tỷ đồng (bằng 55,5% dự toán), tăng
1,2% so với cùng kỳ năm 2015. Tuy nhiên, số thu ngân sách tháng 7
chỉ đạt 21.000 tỷ đồng, giảm 16,45 tỷ đồng so với tháng trước…Trong

những tháng cuối năm, ngành Hải quan phải tiếp tục nỗ lực mới đảm
bảo hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách 270.000 tỷ đồng.
• Do ảnh hưởng do thực hiện các cam kết Hiệp định
thương mại tự do (FTA)
Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết 12 Hiệp định thương mại tự do
trong và ngoài khu vực với mức độ tự do hóa trung bình khoảng 90%
(cắt giảm thuế suất về 0%) vào các thời điểm khác nhau tùy từng FTA
ảnh hưởng lớn đến tình hình thu thuế
• Buôn lậu
Đây là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những loại hàng
hoá cấm, không khai báo, tránh sự quản lý của hải quan và trốn nghĩa
vụ thuế. Thời gian qua, việc buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ hàng
nhập lậu, hàng cấm có diễn biến phức tạp, với những thủ đoạn ngày
càng tinh vi, xảo quyệt, khó kiểm soát. Hàng nhập lậu chủ yếu là hàng
tiêu dùng như quần áo, vải, giày dép, đồ chơi trẻ em, rượu, bia và các
loại nước giải khát, hàng điện máy gia dụng, điện lạnh, thực phẩm…
Sau khi nhập lậu vào Việt Nam, các mặt hàng này được xé nhỏ, vận
chuyển bằng xe khách, xe tải và được hợp pháp hoá bằng hệ thống
hoá đơn mua qua bán lại giữa các DN.Bên cạnh hoạt động buôn lậu
nêu trên, lợi dụng sự thông thoáng về thủ tục hải quan, nhiều chủ
hàng đã thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu nhưng không khai
báo đầy đủ các mặt hàng hoặc cố tình khai thiếu số lượng hàng xuất
khẩu, nhập khẩu để không phải nộp thuế.


Theo số liệu thống kê của Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội
phạm, Bộ Công an về tình hình vi phạm pháp luật về trật tự quản lý
kinh tế được phát hiện trên cả nước từ ngày 16/11/2012 - 15/11/2013
là 11.648 vụ với tổng số 17.091 đối tượng gây thiệt hại 1.386.401
triệu đồng. Trong đó số vụ về tội sản xuất, tàng trữ vận chuyển buôn

bán hàng cấm có 3.974 vụ chiếm 43,1%; tội buôn lậu có 3.745 vụ
chiếm 32,2%, đặc biệt số đối tượng chiếm tới 54,5%; tội sản xuất,
buôn bán hàng giả có 445 vụ chiếm 3,7%.
Theo số liệu của tổ chức International Tax and Investment Center
và Oxfords Economics, cho thấy trong ba năm 2012-2014, có hơn 61.2
tỉ điếu thuốc lá lậu nhập vào Việt Nam.Thuốc lá nhập lậu vào Việt Nam
trung bình hàng năm chiếm khoảng 20% thị phần trong nước và năm
2015 tăng lên đến 25%, tương đương khoảng 1 tỉ bao thuốc lá nhập
lậu trong năm.Số lượng thuốc lá nhập lậu gia tăng đã làm gia tăng
khoản thất thu thuế của nhà nước hàng năm, ước năm 2012 tương
đương 6.500 tỉ đồng, năm 2013 tăng lên 6.700 tỉ đồng và hai năm gần
đây tăng mạnh lên mức 10.000 tỉ đồng/năm.
• Khai sai chủng loại hàng hoá
Với sự gia tăng của khối lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
trong khi nguồn lực của cơ quan hải quan có hạn và thực hiện yêu cầu
đơn giản, nhanh chóng, thuận lợi trong thủ tục hải quan, cơ quan hải
quan chỉ tiến hành kiểm tra thực tế hàng hóa khi có nghi vấn hoặc có
mức độ rủi ro cao. Do đó, việc phân loại, khai báo và áp mã hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu để tính thuế phụ thuộc rất lớn vào mức độ tuân
thủ của người nộp thuế. Thực tế thời gian qua, nhiều chủ hàng đã lợi
dụng các vấn đề trên để thực hiện gian lận thuế nhập khẩu bằng việc
khai báo sai tên hàng, sai mã số hàng hóa.Theo thống kê của Tổng
cục Hải quan, tính trung bình hằng năm có khoảng 10.000 mẫu hàng
hóa được phân tích phân loại. Trong đó, mẫu khai đúng chiếm khoảng
47%, sai khoảng 53%, giảm thuế khoảng 7,4%. Các hành vi thường
gặp là:
Thứ nhất, Cố tình khai sai tên hàng hóa, chủng loại hàng hóa nhập
khẩu nhằm mục đích giảm số thuế phải nộp. Chủ yếu là khai sai mã



số hàng từ mã hàng có thuế suất cao sang mã hàng có thuế suất
thấp. Nhiều trường hợp, người nộp thuế lợi dụng sự phức tạp của các
hàng hóa là các hỗn hợp, các hóa chất khó phân biệt, xác định bằng
cảm quan để khai theo hướng có lợi cho mình.
Thứ hai, Người nộp thuế gian lận thuế bằng cách nhập khẩu hàng
hóa là sản phẩm hoàn chỉnh nhưng lại tháo bớt một số bộ phận để trở
thành hàng hóa chưa hoàn thiện nhằm hưởng thuế suất thấp của
hàng linh kiện.
• Khai sai xuất xứ hàng hóa nhập khẩu
Thuế suất thuế nhập khẩu của Việt Nam được phân biệt theo
xuất xứ hàng hóa nhập khẩu. Lợi dụng việc áp dụng thuế suất ưu đãi
hoặc thuế suất ưu đãi đặc biệt đối với các hàng hóa có xuất xứ từ các
nước, vùng lãnh thổ, khu vực thị trường đã có thỏa thuận về ưu đãi tối
huệ quốc hay ưu đãi đặc biệt với Việt Nam, các chủ hàng hóa cố tình
khai sai xuất xứ hàng hóa nhập khẩu và làm các giấy chứng nhận xuất
xứ (C/O) giả để được hưởng các mức thuế suất ưu đãi, ưu đãi đặc biệt.
• Gian lận thuế
Gian lận thuế trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu thông qua
giá tính thuế là hành vi rất phổ biến hiện nay. Các hành vi gian lận
thường được các chủ hàng thực hiện dưới các hình thức sau:
Thứ nhất, chủ hàng khai báo thấp trị giá đối với những mặt
hàng chịu thuế suất cao, chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, những mặt hàng
hay biến động về giá.
Thứ hai, chủ hàng dựa vào danh mục dữ liệu giá của cơ quan
hải quan để khai báo thấp trị giá của các lô hàng nhập khẩu giống
hệt, tương tự thấp hơn trị giá giao dịch thực tế, sau đó khai báo thấp
dần trị giá khai báo đối với các lô hàng cùng loại, tương tự đã nhập
khẩu trước. Bằng hành vi này, chủ hàng đã lợi dụng các quy định về
xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu theo phương pháp trị giá
giao dịch hàng nhập khẩu giống hệt/tương tự để được tính thuế với

mức giá thấp hơn so với trị giá giao dịch thực tế.
Thứ ba, chủ hàng khai báo thấp trị giá đối với lô hàng nhập thử
để thăm dò thái độ của cơ quan hải quan sau đó nhập khẩu ồ ạt liên
tục trong một khoảng thời gian ngắn theo mức giá thấp đã khai báo


trước đó và khi cơ quan hải quan chưa kịp xác minh, xử lý, chủ hàng
đã tiến hành giải thể DN hoặc bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh.
Thứ tư, do theo chính sách thuế đối với linh kiện hoặc nguyên
liệu nhập khẩu thấp hơn hàng nguyên chiếc nên DN thực hiện việc
“down” giá bằng thủ đoạn tháo rời hàng nguyên chiếc thành linh kiện
hoặc nguyên liệu nhập khẩu. Điều này được thực hiện qua việc chủ
hàng thành lập nhiều công ty khác nhau hoặc tiến hành móc nối với
nhiều công ty để mỗi công ty tiến hành nhập khẩu một bộ phận cấu
thành của hàng nguyên chiếc về các cửa khẩu khác nhau trong nhiều
thời điểm khác nhau để tránh sự kiểm soát của cơ quan hải quan.
Thứ năm, chủ hàng lợi dụng các quy định về chiết khấu, giảm
giá hoặc không khai báo tiền bản quyền, phí giấy phép, các khoản trợ
giúp, phí hoa hồng hoặc các khoản thanh toán gián tiếp để làm giảm
trị giá tính thuế hàng nhập khẩu.
Thứ sáu, chủ hàng khai tăng trị giá tính thuế so với giá trị thực
tế của hàng hóa nhập khẩu để tăng vốn đầu tư và chuyển lợi nhuận ra
nước ngoài…
• Giả mạo mục đích xuất khẩu, nhập khẩu để được hưởng
ưu đãi thuế
Chứng từ thường hay được các chủ hàng giả mạo với mục gian
lận thuế thường là các chứng từ nộp thuế (nhằm giải tỏa cưỡng chế
thuế của cơ quan hải quan) hoặc các hồ sơ hải quan (để hợp thức hóa
các lô hàng nhập lậu). Trong đó, các trường hợp phổ biến là gian lận
thuế qua việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư;

gian lận qua việc lợi dụng chính sách quản lý đối với hàng gia công;
gian lận thông qua việc lợi dụng hình thức tạm nhập tái xuất và tạm
xuất tái nhập...
Điển hình nhất là vụ buôn lậu xăng A92 lợi dụng hình thức tạm
nhập tái xuất, trị giá ước tính 27 tỷ đồng tại vùng biển Thanh Hoá vào
tháng 7/2012; hành vi buôn lậu của Công ty TNHH một thành viên
xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) dưới hình thức lợi dụng tạm
nhập tái xuất xăng dầu qua cửa khẩu đường bộ để buôn lậu 296,6 tấn
xăng A92, trị giá khoảng 8 tỷ đồng, số thuế DN gian lận ước tính 2,5 tỷ
đồng. Cũng theo thống kê của Hải quan, trong những năm qua cứ có 5


ôtô nhập vào Việt Nam theo hình thức tạm nhập tái xuất nhưng chỉ có
1 chiếc làm thủ tục xuất và nhập trở lại. Nghĩa là 4 chiếc không làm
thủ tục xuất và nhập trở lại mà lưu hành trong nội địa gây thất thu số
tiền thuế rất lớn cho Nhà nước.
Ngoài ra, nhiều chủ hàng lợi dụng quy định chuyển cửa khẩu để
gian lận thuế; lợi dụng chính sách ân hạn thuế để nợ thuế sau đó tẩu
tán bán hàng và bỏ trốn khỏi trụ sở kinh doanh mà không làm thủ tục
giải thể DN để tránh thực hiện nghĩa vụ nộp thuế...
• Chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI
Bên cạnh những đóng góp tích cực cho nền kinh tế, khu vực FDI
cũng đã và đang bộc lộ những vấn đề gây ảnh hưởng tiêu cực nổi bật
là chuyển giá, trốn thuế, tạo nên tình trạng lỗ giả, lãi thật, gây thất
thu ngân sách
Thống kê những năm qua cho thấy, cả nước có khoảng 50% DN
FDI kê khai lỗ, trong đó nhiều DN thua lỗ liên tục trong nhiều năm liên
tiếp. TP. Hồ Chí Minh có tới gần 60% trong số trên 3.500 DN FDI
thường xuyên kê khai lỗ trong nhiều năm; Tương tự tại tỉnh Lâm Đồng
với 104/111 DN FDI báo cáo lỗ liên tục; tỉnh Bình Dương, một trong

những tỉnh thu hút được nhiều dự án FDI, cũng có đến 50% DN FDI
báo cáo lỗ từ năm 2006 – 2011.Các DN FDI khai kinh doanh thua lỗ
thường tập trung trong lĩnh vực gia công may mặc, da giày; sản xuất,
kinh doanh chè xuất khẩu; công nghiệp chế biến…Đặc biệt, ở TP. Hồ
Chí Minh, có đến 90% DN FDI hoạt động trong lĩnh vực may mặc có
kết quả kinh doanh thua lỗ trong khi hầu hết các DN trong nước cùng
ngành nghề đều có lãi. Mặc dù thua lỗ triền miên song các DN FDI này
vẫn đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh.
• Những thủ đoạn tinh vi
Cụ thể, các nhà đầu tư nước ngoài thường góp vốn vào DN trong
nước bằng máy móc, thiết bị công nghệ lạc hậu hoặc đã khấu hao hết
nhưng được đẩy giá lên rất cao so với giá trị thực. Bằng cách này đã
giúp nâng khống giá trị vốn góp, gây thất thu cho ngân sách và bất lợi
cho DN trong nước.
Một hình thức chuyển giá khác được các DN FDI áp dụng là bán
hàng hóa, nguyên vật liệu cho các bên có quan hệ liên kết với giá


thấp hơn nhiều so với giá bán cho các bên không có quan hệ liên kết.
Đây là hành vi phổ biến nhất. Bởi với lợi thế nắm giữ phần vốn lớn tại
các DN Việt Nam, bên liên kết nước ngoài có quyền định đoạt giá
chuyển giao hàng hóa, nguyên liệu để chuyển được nhiều lợi nhuận
trước thuế ra nước ngoài.Các tập đoàn, công ty mẹ tại nước ngoài ký
hợp đồng sản xuất kinh doanh và dịch vụ với các công ty của các nước
với đơn giá gia công sản xuất dịch vụ rất cao. Sau đó, các tập đoàn
này giao lại cho các công ty con lập tại Việt Nam thực hiện sản xuất
gia công dịch vụ và xuất thẳng cho các đơn vị mà công ty mẹ đã ký
hợp đồng. Tuy nhiên, tiền không thu được trực tiếp từ các công ty đã
xuất hàng mà chỉ thu được theo đơn giá gia công, sản xuất dịch vụ do
công ty mẹ quy định, đơn giá này rất thấp.

Bên cạnh đó, một hình thức chuyển giá khác thông qua chi trả
lãi vay vốn sản xuất kinh doanh cũng được các nhà “ảo thuật” FDI vận
dụng. Hành vi này thông qua giá bán hàng hóa dịch vụ xuất khẩu cho
nước ngoài, chủ yếu bao tiêu sản phẩm qua công ty mẹ với giá bán
hoặc giá gia công thấp hơn giá vốn dẫn đến kết quả sản xuất kinh
doanh của DN FDI liên tục lỗ nhiều năm. Để tiếp tục hoạt động và mở
rộng kinh doanh, công ty mẹ thực hiện hình thức hỗ trợ vốn hoặc cho
vay không tính lãi.
Ngoài ra, các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ,
tiêu dùng có các nhãn hàng nổi tiếng ở nước ngoài thường xuyên có
hành vi chuyển giá thông qua định giá tiền bản quyền thương hiệu rất
cao so với giá trị thực. Thủ đoạn này giúp nhà đầu tư nước ngoài thu
được lợi nhuận từ nâng khống giá trị thương hiệu trong khi bên phía
Việt Nam vẫn phải chịu chi phí quảng cáo cho thương hiệu đó.Điều
đáng nói, quảng cáo tại thị trường trong nước với chi phí cao làm cho
thương hiệu này nổi tiếng hơn và bên nước ngoài có lý do yêu cầu bên
Việt Nam phải trả thêm tiền bản quyền thương hiệu, mặc dù thực chất
các khoản chi phí này phải do công ty mẹ tại nước ngoài trang trải.
3. Thuế TTĐB
• Về đối tượng chịu thuế và không chịu thuế


-Theo quy định hiện hành thuế tiêu thụ đặc biệt hiện chỉ thu vào 17
loại hàng hóa và dịch vụ. Nhìn chung, đối tượng chịu thuế thuế tiêu
thụ đặc biệt hiện nay ở nước ta còn khá hẹp, đi sâu nghiên cứu, cho
thấy: có nhiều loại hàng hóa, dịch vụ lẽ ra phải được điều chỉnh bởi
thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa được đưa vào diện chịu thuế như
các loại thiết bị điện, điện tử gia dụng cao cấp,nước uống có ga…;
Ngược lại, có trường hợp có loại hàng hóa đáng lý ra phải được khuyến
khích tiêu dùng do yêu cầu sức khỏe, văn minh đô thị thì lại chưa được

xem xét đưa ra khỏi diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt như xe ôtô từ 1624 chỗ ngồi; Có trường hợp lại thể hiện sự phân biệt đối xử giữa hàng
hóa có nguồn gốc nhập khẩu và hàng hóa sản xuất trong nước.
-Về hàng hoá nhập khẩu vào khu phi thuế quan: Theo quy định của
pháp luật về hải quan và về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, quan hệ
trao đổi hàng hoá từ thị trường nội địa và từ nước ngoài vào các khu
khu phi thuế quan là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu. Luật thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu của cũng đã có quy định hàng hoá từ thị trường
trong nước nhập khẩu vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan
thuộc diện không phải chịu các thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Thông lệ quốc tế cũng cho thấy hàng hoá thuộc diện này đều không
phải chịu các khoản thuế gián thu. Tuy nhiên, Luật thuế tiêu thụ đặc
biệt hiện hành lại chưa có quy định này nên đã dẫn đến một số vướng
mắc khi thực hiện.
4. Thuế thu nhập cá nhân
• Về công tác cấp mã số thuế cá nhân
Để triển khai Luật Thuế TNCN, bước đầu tiên là việc cấp mã số
thuế cá nhân. Mã số này sẽ gắn với mỗi cá nhân suốt đời và là cơ sở
để quản lý đối tượng nộp thuế TNCN. Do số lượng đối tượng nộp thuế
TNCN quá lớn nên công tác cấp mã số thuế gặp rất nhiều khó khăn.
Việc người nộp thuế chưa có mã số thuế sẽ gây thiệt hại cho chính
người nộp thuế vì phải nộp thuế TNCN với tỷ lệ trích cao hơn. Đặc biệt,
việc các cá nhân phụ thuộc không có mã số thuế dẫn đến khe hở và
khó kiểm soát chính xác vấn đề giảm trừ gia cảnh cho người phụ
thuộc, từ đó, gây thất thu thuế TNCN.


• Về công tác kê khai nộp thuế, quyết toán thuế TNCN
Thực tế cho thấy số đông người nộp thuế, kể cả những người có từ
2 nguồn thu nhập trở lên, đều ngại tự mình quyết toán thuế hoặc
không rõ thủ tục tiến hành, nên ủy quyền cho đơn vị chi trả thu nhập

thực hiện hộ. Từ đó, có thể làm thất thu ngân sách nhà nước hoặc gây
thiệt hại cho quyền lợi chính đáng của chính người nộp thuế.
Chưa kiểm soát được mọi nguồn thu nhập của từng cá nhân. Nguồn
hình thành TNCN quá đa dạng và phức tạp.
Nền kinh tế Việt Nam vẫn là một nền kinh tế ưa chuộng tiền mặt,
phần lớn các khoản thu nhập cá nhân đều được chi trả bằng tiền mặt,
do đó, khó có thể tạo ra cơ chế kiểm soát thu nhập cá nhân một cách
chính xác và hiệu quả.
5. Thuế tài nguyên
Thuế tài nguyên vẫn chưa đạt mục tiêu đặt ra là hạn chế việc khai
thác tài nguyên nguyên khai quá mức, khuyến khích đầu tư chế biến
quặng tinh nhằm đảm bảo nguồn tài nguyên.
Có thể NSNN đang chịu nhiều thất thoát từ các loại thuế ưu đãi
khác dành cho các doanh nghiệp khai khoáng. Nghiên cứu của viện
Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương( CIEM) cho biết, ưu đãi thuế đối
với doanh nghiệp FDI thuộc lĩnh vực khai khoáng là 279,6 tỷ đồng
2001 đã tăng lên 700 tỷ năm 2006. Điều này đồng nghĩa với việc
NSNN thất thu một khoản tương đương.
Nếu công thêm thuế và phí bảo vệ môi trường, giá bán của các loại
khoáng sản sẽ bị đẩy lên khá nhiều. Tuy nhiên so với thế giới, mức
thuế tài nguyên của VN vẫn còn thấp hơn khá nhiều.
6. Thuế thu nhập doanh nghiệp
Hệ thống thuế nước ta danh rất nhiều chính sách ưu đãi thuế nhằm
thu hút đầu tư. Tuy nhiên, những bất cập trong miễn giảm thuế đã vô
tình tạo ra những khe hở cho một số doanh nghiệp lợi dụng để trốn
thuế., gây thất thu cho nhà nước.
Doanh nghiệp sẽ lách luật bằng cách lấp trụ sở tại các tỉnh nằm
trong diện ưu đãi thuế để hưởng lợi, trong khi DN chỉ thực sự hoạt
động tại các thành phố lớn.
Ngoài ra còn kể đến những ưu đãi không kín kẽ như ưu đãi đầu tư

mở rộng, thành lập mới, ưu đã về ngành nghê đa khiến cho các vb


pháp luật ưu đãi của VN trở nên hỗn tạp, tạo ra kẽ hở cho DN lách
luật.
Chương III. Phân tích hành vi tránh thuế của Pepsico

1. Giới thiệu chung về công ty PepsiCo
PepsiCo là công ty thực phẩm đa quốc gia của Hoa Kỳ, trụ sở chính
tại thành phố Purchase, bang New York, Hoa Kỳ. PepsiCo thành lập
vào năm 1965 trên cơ sở hợp nhất giữa Pepsi-Cola và Frito-lay.
PepsiCo là một trong số các công ty sản xuất thức ăn và đồ uống
lớn nhất thế giới, với thu nhập trong năm 2006 trên 35 tỉ đô. PepsiCo
có hệ thống phân phối và mạng lưới bán hàng đại lý dày đặc ở gần
200 quốc gia, và thuê hơn 168000 nhân viên trên toàn thế giới. Bên
cạnh thương hiệu Pepsi trị giá hàng tỷ USD, tập đoàn này còn sở hữu
nhiều thương hiệu nước giải khát lừng danh khác như Mirinda, 7UP,
Mountain Dew hay nước khoáng Aquafina. PepsiCo tham gia vào thị
trường Việt Nam từ năm 1991. Đến năm 2005, PepsiCo trở thành công
ty nước giải khát có thị phần lớn nhất Việt Nam, thống lĩnh thị trường
nước giải khát nội địa.

2. Kết quả hoạt động kinh doanh của PepsiCo và nghi án
chuyển giá:
Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Bia-Rượu và Nước giải khát Việt
Nam, năm 2010, cùng với Coca-Cola, hai doanh nghiệp này chiếm tới
hơn 80% thị phần nước giải khát Việt Nam. Nhưng trên bản báo cáo
tài chính, cũng như quyết toán thuế của PepsiCo khiến dư luận không
khỏi giật mình vì nó khác quá xa so với tưởng tượng. Kể từ khi thành
lập cho tới năm 2007, PepsiCo cũng lỗ liên tục (năm 2006 vẫn lỗ 122

tỷ đồng). Lỗ kéo dài từ năm 1991, nên trên bảng cân đối tài sản của
PepsiCo, lỗ lũy kế tính đến ngày 31/12/2010 là 1.206 tỷ đồng.

 Năm 2007 là năm đầu tiên PepsiCo có lãi, với tổng thu nhập chịu
thuế là 58 tỷ đồng. Nhưng vì vẫn được điều chỉnh chuyển lỗ, nên
công ty vẫn chưa phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
 Năm 2008, PepsiCo lại lỗ 58 triệu đồng.
 Sang năm 2009 lãi 141 tỷ đồng. Con số này của năm 2010 là
137 tỷ đồng, năm 2011 là 191 tỷ đồng. Tuy nhiên, do vẫn được
điều chuyển lỗ, nên tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp mà
công ty này đã nộp từ năm 2009 cho đến nay chỉ là 40,2 tỷ
đồng.


Câu hỏi đặt ra là, khoản lãi này có tương xứng với doanh thu
của PepsiCo ở thị trường Việt Nam hay không?
Thực tế, năm 2009, PepsiCo đạt doanh thu 3.840 tỷ đồng, còn năm
2011 là 6.915 tỷ đồng. Tức là, tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu rất thấp,
chỉ trên 2%. Đúng là “không thể tin được”. Hơn 20 năm kinh doanh ở
thị trường Việt Nam, PepsiCo chỉ có một khoản lãi khiêm tốn. Vậy
nhưng, PepsiCo liên tục khai trương các nhà máy mới ở Đồng Nai (45
triệu USD), và mới đây nhất là Bắc Ninh (73 triệu USD). Tổng vốn đầu
tư của công ty vào Việt Nam cũng vào khoảng 500 triệu USD. Đây có
phải là dấu hiệu nghi ngờ của hiện tượng tránh thuế?
Đây không phải là một hành động trước đây chưa từng gặp phải,
trong cùng ngành với PepsiCo chúng ta cũng đã chứng kiến bài toán
thuế nan giải khác là Coca-Cola. Đây cũng là một trong các công ty
FDI vào tầm ngắm của cơ quan thuế về chuyển giá.



Năm 2012, Coca-Cola xác nhận lỗ lũy kế lên tới 3.768 tỷ đồng,
vượt số vốn đầu tư ban đầu là 2.950 tỷ đồng. Mặc dù liên tục thua lỗ
nhưng năm 2012, Chủ tịch kiêm tổng giám đốc điều hành Coca-Cola
tuyên bố sẽ rót thêm 300 triệu USD vào Việt Nam trong 3 năm tới, đưa
tổng vốn đầu tư lên nửa tỷ USD trong 5 năm.Năm 2014, Coca-Cola
đầu tư thêm 210 triệu USD để mở rộng kinh doanh tại Việt Nam. Qua
số liệu công bố của cục thuế Tp.HCM cho thấy doanh thu của tập đoàn
đa quốc gia này tại Việt Nam không ngừng tăng tuy nhiên luôn thua
lỗ.

3. Thủ đoạn chuyển giá của PepsiCo
Hành vi, thủ đoạn chuyển giá của các DN FDI đã được lực lượng
thanh tra thuế làm rõ. Cụ thể:
o Các nhà đầu tư nước ngoài thường góp vốn vào DN trong nước

bằng máy móc, thiết bị công nghệ lạc hậu hoặc đã khấu hao hết
nhưng được đẩy giá lên rất cao so với giá trị thực.
o Một hình thức chuyển giá khác được áp dụng là bán hàng hóa,

nguyên vật liệu cho các bên có quan hệ liên kết với giá thấp hơn
nhiều so với giá bán cho các bên không có quan hệ liên kết. Đây
là hành vi phổ biến nhất. Nguyên phụ liệu của PepsiCo Việt Nam
là do công ty mẹ độc quyền cung cấp, do đó sẽ không thể lấy chi
phí nguyên phụ liệu của doanh nghiệp Việt Nam cùng ngành để
so sánh vì PepsiCo là doanh nghiệp đặc thù.


o Các tập đoàn, công ty mẹ tại nước ngoài ký hợp đồng sản xuất

kinh doanh và dịch vụ với các công ty của các nước với đơn giá

giá công sản xuất dịch vụ rất cao. Sau đó, các tập đoàn này giao
lại cho các công ty con lập tại Việt Nam thực hiện sản xuất gia
công dịch vụ và xuất thẳng cho các đơn vị mà công ty mẹ đã ký
hợp đồng. Tuy nhiên, tiền không thu được trực tiếp từ các công
ty đã xuất hàng mà chỉ thu được theo đơn giá gia công, sản xuất
dịch vụ do công ty mẹ quy định, đơn giá này rất thấp.
o Ngoài ra, định giá tiền bản quyền thương hiệu rất cao so với giá

trị thực. Thủ đoạn này giúp nhà đầu tư nước ngoài thu được lợi
nhuận từ nâng khống giá trị thương hiệu trong khi bên phía Việt
Nam vẫn phải chịu chi phí quảng cáo cho thương hiệu đó. Điều
đáng nói, quảng cáo tại thị trường trong nước với chi phí cao làm
cho thương hiệu này nổi tiếng hơn và bên nước ngoài có lý do
yêu cầu bên Việt Nam phải trả thêm tiền bản quyền thương hiệu,
mặc dù thực chất các khoản chi phí này phải do công ty mẹ tại
nước ngoài trang trải.

4. Sự can thiệp của cơ quan Thuế
Trước bài ca liên tục "có lãi vẫn báo lỗ" của PepsiCo, vào tháng
7.2012, Tổng cục Thuế đã ra quyết định kiểm tra thuế tại công ty này.
Kết quả kiểm tra đã thu về ngân sách Nhà nước hơn 5 tỉ đồng, trong
đó truy thu thuế giá trị gia tăng 1,3 tỉ đồng; thuế thu nhập doanh
nghiệp hơn 4,4 triệu đồng, thuế giá trị gia tăng đối với nhà thầu nước
ngoài là trên 500 triệu đồng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với
nhà thầu nước ngoài là 3,2 tỉ đồng.
Tiếp đến vào ngày 9.2.2015, Cục Thuế TP.HCM đã ban hành Quyết
định số 488/QĐ-CT-XP xử phạt Công ty TNHH Nước giải khát Suntory
Pepsico Việt Nam (SPVB) 24.340.899.403 đồng. Trong đó, phạt
2.714.276.962 đồng vì hành vi khai sai thuế TNDN; truy thu thuế
TNDN số tiền 18.038.804.138 đồng và tiền chậm nộp tiền thuế

3.587.818.303 đồng vì hành vi kê khai sai dẫn đến thiếu số thuế phải
nộp. Gần đây nhất là vào ngày 6.9.2016, Chánh thanh tra Bộ Y tế
Đặng Văn Chính đã ký Quyết định thanh tra số 153/QĐ-TTrB để thanh
tra toàn diện Công ty TNHH Nước giải khát Suntory Pepsico Việt Nam.
Quyết định thanh tra Pepsico là theo kế hoạch, không phải thanh tra
đột xuất.
Ở Mỹ, với thuế thu nhập doanh nghiệp vào khoảng 35%, hầu hết
các công ty Mỹ đều muốn chuyển lợi nhuận ra khỏi quê hương mình.
Những DN công nghệ như Microsoft và HP đã chuyển không ít lợi


nhuận của mình sang Bermuda, Puerto Rico và những “thiên đường
thuế” khác, nơi thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức 0%.
Nó cho thấy một thực tế là chẳng có doanh nghiệp nào thích đóng
thuế cả, kể cả khi là đóng thuế “làm giàu quê hương”. Nghiên cứu cho
thấy dù thuế thu nhập doanh nghiệp ở các nước OECD đã giảm từ
mức trung bình 32,6% năm 2000 xuống còn 25,4% vào năm 2011,
việc chuyển giá để né thuế vẫn tiếp tục tăng.
Nếu Mỹ hay các quốc gia phát triển trong OECD còn bó tay trước
tình trạng này, thật khó để các quốc gia đang phát triển có thể tìm
được một biện pháp thích hợp. Trước khi những kẽ hở luật được khỏa
lấp, hàng năm, chúng ta vẫn thấy báo chí lên án hàng loạt các ông lớn
đa quốc gia đang "ăn nhờ ở đậu" tại Việt Nam mà quên mất chuyện
đóng góp.
Việc kêu gọi này cũng mang lại những kết quả tích cực. Chẳng hạn,
con số lợi nhuận 357 tỉ đồng năm 2014 của Coca Cola được Tổng cục
thuế công bố lớn hơn khá nhiều so với con số ban đầu mà công ty này
đưa ra. Áp lực lớn từ chính quyền và dư luận trong năm ngoái đã khiến
các công ty đa quốc gia này phải có những bước nhún nhường.
Các nhà làm luật chắc hẳn cũng sẽ không muốn một hành động

trừng phạt mạnh tay. Các DN đa quốc gia, dù không đóng thuế, nhưng
đang tạo hàng trăm nghìn việc làm cho lao động tại Việt Nam, và
đóng góp 1 phần không nhỏ vào GDP.
Chương IV. Đề xuất giải pháp để nâng cao việc tuân thủ
thuế:

1. Hiện đại hóa trong quản lý thuế:
• Quản lý thuế thông qua các ứng dụng công nghệ
Điều này đã được Việt Nam khá tốt khi trong ngành thuế ứng dụng
tốt với giao diện TNT. Điều này giúp giảm bớt chi phí quản lý, năng
suất làm việc hiệu quả hơn và rõ ràng minh bạch trong công tác quản
lý. Giúp giảm bớt phần nào tình trạng tham nhũng trong công tác
quản lý.

• Sử dụng tiền điện tử thay cho tiền mặt
Hiện nay ở các quốc gia phát triển thì việc này đã được ứng dụng
khá rộng rãi tuy nhiên ở Việt Nam thì chưa thực hiện được. Tuy nhiên,
hy vọng rằng trong tương lai chính phủ sẽ phổ cập được tiền điện tử.
Điều này sẽ giúp cho việc thu thuế TNCN trở nên rõ ràng và chính xác
hơn. Bên cạnh đó, việc quản lý thu thuế doanh nghiệp cũng sẽ trở nên


chính xác hơn khi các khoản luân chuyển tiền được thể hiện rõ trong
tài khoản điện tử của mỗi đơn vị.

• Hoàn thiện và rõ ràng hơn về các luật thuế ở Việt
Nam.
Kiến nghị của nhóm ở giai đoạn hiện tại không nên quá ưu ái các
doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam, cần rà soát, điều chỉnh theo
hướng thu hẹp khoảng cách về các ưu đãi thuế giữa các ngành, lĩnh

vực và vùng miền, địa phương. Việt Nam đã bước qua giai đoạn thu
hút FDI bằng mọi giá, do vậy nên cân nhắc, chỉ cho phép ưu đãi thuế
đối với một số ngành nghề, lĩnh vực, vùng miền và trong những trường
hợp có lợi nhất so với các hình thức ưu đãi khác.Vì mặc dù, những lợi
ích mà các doanh nghiệp này mang lại không thể phủ nhận, nhưng
trong dài hạn thì đây không phải là một giải pháp hợp lý vì hầu hết
các doanh nghiệp này chỉ chọn Việt Nam như địa điểm để xây dựng
nhà máy sản xuất sản phẩm không mang lại hiệu quả môi trường tốt.
Thay vào đó, nhà nước nên đẩy mạnh đầu tư vào các doanh nghiệp
nội địa về mảng phát triển khoa học – công nghệ.

• Cần phổ biến một cách rộng rãi hơn những thông tin về
các vụ trốn – tránh thuế của các đơn vị trong và ngoài
nước.
Thứ nhất, hoạt động này như là một cách răn đe đến các đối tượng
đã hoặc đang có ý định thực hiện các nghiệp vụ trốn và tránh thuế.
Thứ hai, là để phổ cập thông tin cho cả người dân, ví dụ đơn cử như vụ
Pepsico thì chính sức mạnh của dư luận cũng là một trong những lý do
để các công ty đa quốc gia này phải xem xét lại hành động của mình.

• Xây dựng một đội ngũ Luật chuyên về tỷ giá
Hiện nay trong bộ máy của cơ quan Thuế, nên có thêm một phòng
có nghiệp vụ chuyên môn là Thuế quốc tế nơi các cán bộ có chuyên
môn sẽ thụ lý và giải quyết các vụ án có liên quan đến hiện tượng
chuyển giá quốc tế. Bởi thực trạng hiện nay là trên đấu trường quốc
tế, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải chịu thuê thiệt khi bị kiện các
vụ kiện quốc tế vì không đủ năng lực để tham gia tranh kiện.




×