SỞ Y TẾ
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ
VIÊM QUANH KHỚP VAI BẰNG SÓNG XUNG KÍCH SÓNG SIÊU
ÂM KẾT HỢP VẬN ĐỘNG TRỊ LIỆU
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI :
THƯ KÝ :
1
DANH MỤC BẢNG
Tên bảng :
Trang
Chương 2 : Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Bảng 2.1 : Khám đánh giá mức độ đau (VAS) ……………………………19
Bảng 2.2 : Bảng điểm đau: 4 – 0 điểm……………………………………..20
Bảng 2.3 : Vận động thụ động: 4-0 điểm…………………………………..20
Bảng 2.4 : Vận động chủ động: 4-0 điểm………………………………......20
Bảng 2.5 : Sự ổn định trong vận động: 4 – 0 điểm…………….…………..21
Bảng 2.6 : Cách tính điểm………………………………………………….21
Chương 3 : Dự kiến kết quả nghiên cứu :
Bảng 3.1 : Tuổi và giới……………………………………………………..23
Bảng 3.2 : Tuổi……………………………………………………………..23
Bảng 3.3 : Vị trí tổn thương………………………………………………..24
Bảng 3.4 : Thời gian mắc bệnh……………………………………………..24
Bảng 3.5 : Triệu chứng lâm sang……………………………………………24
Bảng 3.6 : Xquang qui ước khớp vai……………………………………….25
Bảng 3.7 : Mức độ VAS khi bắt đầu điều trị………………………………...25
Bảng 3.8 : Liên quan giữa thời gian mắc bệnh và mức độ VAS……………..25
Bảng 3.9 : Mức độ đau đánh giá bằng dụng cụ trực quan tương ứng (VAS )
trước và sau điều trị………………………………………………………..…26
Bảng 3.10 : Bảng điểm đánh giá hoạt động khớp EFA trước và sau điều trị…26
2
Bảng 3.11 : Xquang quy ước sau điều trị…………………………………..…26
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
VQKV
Viêm quanh khớp vai
TG
Thời gian
PHCN
Phục hồi chức năng
VAS
Mức độ đau
EFA
Hoạt động khớp
BN
Bệnh nhân
NC
Nghiên cứu
ĐTNC
Đối tượng nghiên cứu
4
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ…………………………………………………………….1
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN TÀI LIỆU…………………………………..3
1.1. Đại cương về bệnh viêm quanh khớp vai………………….……….....3
1.2. Sóng xung kích………………………………………………………..10
1.3. Sóng siêu âm điều trị………………………………………………….13
1.4. Vận động trị liệu………………………………………………………16
CHƯƠNG II : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……..18
2.1. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………….18
2.2. Phương pháp nghiên cứu……….……………………………………...20
2.3. Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu…………………………..…22
2.4. Đạo đức trong nghiên cứu………... ……………………………….......22
CHƯƠNG III: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU................…………..23
CHƯƠNG IV: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...............…………...28
CHƯƠNG V: DỰ KIẾN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...............…………29
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC I: BỆNH ÁN
5
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm quanh khớp vai là thuật ngữ dùng chung cho tất cả các bệnh lý viêm
các cấu trúc phần mềm quanh khớp vai: viêm gân, cơ, dây chằng và bao khớp,
(không bao gồm các bệnh lý có tổn thương phần đầu xương, sụn khớp và màng
hoạt dịch như viêm khớp dạng thấp, viêm khớp nhiễm khuẩn…).
Viêm quanh khớp vai (VQKV) đã được nghiên cứu bởi Duplay từ năm
1872, tuy không ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng nhưng thường gây đau đớn dai
dẳng , ảnhhưởng nhiều đến hoạt động của cánh tay làm giảm chất lượng cuộc sống
của người bệnh.
Điều trị VQKV bằng nhiều phương pháp: giảm đau, dãn cơ, tiêm corticoit tại
chỗ…Tuy nhiên các thuốc này thường có các tác dụng phụ như: tổn thương gan,
thận, viêm loét dạ dày,tổn thương gân, loãng xương … làm bệnh nhân không thể
sử dụng dài ngày được hoặc thậm chí có bệnh nhân không thể sử dụng thuốc được.
Do đó, tìm phương pháp điều trị đơn giản, hiệu quả, an toàn là một vấn đề cần đặt
ra.
Trong những năm gần đây, Y học hiện đại của nhiều nước tiên tiến trên thế
giới đặc biệt quan tâm đến phương pháp điều trị không dùng thuốc, điều này làm
sóng siêu âm kết hợp vận động trị liệu đang được sử dụng rộng rãi như một trong
những phương pháp điều trị không dùng thuốc hiện đại được dùng để thay thế hay
kết hợp trong nhiều chuyên khoa khác nhau, đặc biệt hiệu quả trong điều trị đau
liên quan tới hệ cơ – xương – khớp.
Trong thực tế, có rất nhiều bệnh nhân sau khi đã được điều trị bằng phương
pháp dùng thuốc nhưng không khỏi hoàn toàn. Tại khoa Thần kinh - PHCN, chúng
tôi đã áp dụng điều trị kết hợp Sóng xung kích, sóng siêu âm và vận động trị liệu
cho thấy kết quả khả quan hơn, nhưng chưa có nghiên cứu về vấn đề này. Vì vậy
6
chúng tôi nghiên cứu đề tài “ BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ
VIÊM QUANH KHỚP VAI BẰNG SÓNG XUNG KÍCH, SÓNG SIÊU ÂM KẾT
HỢP VẬN ĐỘNG TRỊ LIỆU”
Đề tài nhằm hai mục tiêu sau:
1.
2.
Khảo sát đặc điểm lâm sàng của bệnh viêm quanh khớp vai.
Đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị viêm
quanh khớp vai bằng sóng xung kích, sóng siêu âm
kết hợp vận động trị liệu.
7
Chương I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đại cương về bệnh viêm quanh khớp vai
Tác giả đầu tiên nghiên cứu về bệnh viêm quanh khớp vai là Duplay từ năm
1872[1], [39], sau này rất nhiều tác giả đã nghiên cứu về vấn đề này, do triệu
chứng phong phú xuất hiện ở một khớp có sự tham gia của nhiều thành phần giải
phẫu, nên bệnh được mô tả rời rạc. Cho đến năm 1981 Welflinh và nhiều tác giả đã
thống nhất rằng viêm quanh khớp vai là một danh từ bao gồm tất cả mọi trường
hợp đau và hạn chế vận động của khớp vai mà tổn thương tại các cấu trúc phần
mềm quanh khớp bao gồm gân cơ, dây chằng và bao khớp[4]. Bệnh thường gặp ở
những người lao động chân tay, các vận động viên,đặc biệt ở người tuổi trung niên
và tuổi già, do quá trình thoái hóa gân cơ dâychằng của ổ khớp và các động tác gây
đè ép giữa các mỏm xương, dây chằngvà gân cơ gây nên[4],[11],[53].
1.1.1. Chức năng sinh lí khớp vai
Khớp vai là một khớp động, với nhiều động tác, biên độ vận động rất lớn.
Khớp vai giúp cho cánh tay có thể xoay theo 3 chiều trong không gian,đó là các
động tác đưa ra trước 180 độ, ra sau 50 độ, giạng tay 180 độ, và khép tay50 độ,
xoay vào trong được 90 độ, xoay ra ngoài 90 độ. Bao khớp có tác dụng giúp cho ổn
định các xương và được tăng cường bởi các dây chằng, khi vận độngthì các gân mũ
cơ quay (rotator cuff – Coiffe des rotateurs) giữ cho chỏm của xương cánh tay ổn
định tại ổ khớp[1],[4],[62].
1.1.2. Giải phẫu định khu khớp vai
Khớp vai là một khớp lớn gồm nhiều khớp, gân cơ và dây chằng tham
gia:
* Các khớp:
- Khớp vai chính thức bao gồm: khớp ức - đòn, khớp cùng vai - đòn, diện trượt bả
vai ngực, khớp ổ chảo - cánh tay ( Hình1.1).
8
Hình 1.1: Các khớp liên quan đến vận động khớp
vai [5]
1. Khớp vai
2. Khớp cùng vai- đòn
3. Khớp ức - đòn
- Khớp vai thứ 2: là phần dưới cùng vai - mỏ quạ (là phần bị tổn thương
trong viêm quanh khớp vai) bao gồm:
+ Phần cơ -xương ở nông: cơ delta ở ngoài,mỏm cùng vai và dây chằng
cùng vai - mỏm quạ ở trên.
9
+ Phần cơ – gân ở sâu: được tạo bởi mũ gân cơ quay ngắn của vai có gân cơ
nhị đầu dài, đi ngang qua. Mũ này được cấu tạo bởi các gân: gân trên gai ởtrên, gân
cơ ngực nhỏ và gân cơ dưới gai ở sau, gân cơ dưới gai ở dưới và ởtrước, các gân
này tập hợp lại và được dính chặt chẽ vào cực trên của bao khớp. Giữa các phần
nông và phần sâu là túi thanh mạc dưới mỏm cùng cơ delta.
- Khớp ổ chảo - xương cánh tay
- Gân cơ nhị đầu dài ở phần bờ trên của ổ chảo
*Các gân cơ (Hình 1.2)
Các gân cơ đến từ xương bả vai ôm lấy đầu trên của xương cánh tay, ởphía trước là
gân cơ dưới vai, ở phía trên là gân cơ trên gai, và ở phía sau làgân cơ dưới gai.
Nằm ở giữa gân cơ dưới vai và gân cơ trên gai là bó dài của gân cơ nhị đầu cánh
tay. Gân của các cơ trên gai, cơ dưới gai, cơ tròn nhỏ, cơdưới vai hợp thành chụp
của các cơ xoay (rotato cuff ) bao bọc chỏm xương cánh tay (Hình 1.2).
Hình 1.2. Cấu tạo gân mũ cơ quay và các cơ tham gia vào
hoạt động
10
của khớp vai
1. Nhóm gân mũ cơ quay
2. Mỏm cùng vai
3. Xương đòn
4. Cơ trên gai
5. Cơ nhị đầu cánh tay
6. Xương cánh tay
7. Cơ dưới vai
Động tác nâng cánh tay được thực hiện là nhờ sự phối hợp của cơ delta và các gân
mũ cơ xoay, ví dụ như phối hợp với gân trên gai giúp cho động tác dạng tay, gân
dưới vai giúp cho động tác xoay trong, gân dưới gai và gân cơtròn nhỏ để xoay
cánh tay ra ngoài. Chính vì vậy nên nhóm gân mũ cơ quay rất hay bị tổn thương
[4],[49],[62].
11
Hình 1.3. Các thành phần liên quan khớp vai qua diện cắt
đứng [5]
1. Bao thanh dịch dưới mỏm cùng
2. Bao khớp vai
3. Dây chằng mỏm quạ - cùng vai
4. Sụn viền ổ khớp
5. Khoang khớp
6. Bao khớp và nếp bao hoạt dịch
7. Cơ trên gai
8. Cơ delta.
9. Bao thanh dịch dưới cơ delta.
10. Gân nhị đầu
11. Dây chằng ngang cánh tay
* Hệ thống dây chằng khớp vai (hình1.3)
- Dây chằng ổ chảo - cánh tay: đi từ ổ chảo đến đầu trên xương cánh tay gồm có
các bó dây trên, giữa, dưới.
- Dây chằng cùng - quạ: đi từ mỏm cùng đến mỏm quạ.
- Dây chằng quạ - đòn: đi từ mỏm quạ tới xương đòn.
- Dây chằng quạ - cánh tay: đi từ mỏm quạ tới đầu trên xương cánh tay.
- Bao khớp đi từ gờ ổ chảo đến cổ giải phẫu, đường nối giữa mấu động lớn và mấu
động nhỏ của xương cánh tay.
* Hệ thống bao thanh mạc dưới mỏm cùng (hình1.3)
Hệ thống bao thanh mạc dưới mỏm cùng bao gồm bao thanh mạc dưới mỏm
cùng và bao thanh mạc dưới cơ delta, nằm giữa cơ delta và chụp của các cơ xoay,
chúng tạo điều kiện thuận lợi cho vận động của khớp và bảo vệ hệ thống gân mũ
cơ xoay tránh sự cọ xát và tì đè của mỏm cùng vai. Khi bị tổn thương bao thanh
12
mạc sẽ làm hạn chế vận động của khớp vai, khi các gân mũ cơ xoay có lắng đọng
can xi thì dễ gây di trú vào bao thanh dịch gây viêm cấp[26],[28].
* Hệ thốngmạch máu và thần kinh khớp vai
Nuôi dưỡng của khớp vai là các ngành bên và ngành tận của bó mạch, thần
kinh cánh tay. Ngoài ra vùng khớp vai còn liên quan đến các rễ thần kinh vùng cổ,
ngực và các hạch giao cảm cổ. Ở đây có các đường phản xạ ngắn vì vậy khi có một
tổn thương các đốt sống cổ, ngực và các tạng trong lồng ngực thì đều có thể kích
thích gây biểu hiện đau ở khớp vai [4],[22],[49].
1.1.3. Cơ chế bệnh sinh
Các tổn thương hay gặp trong viêm quanh khớp vai là tổn thương gân của
các cơ xoay: gân cơ trên gai, bó dài gân cơ nhị đầu và bao thanh mạc dưới mỏm
cùng vai [4],[17],[49]. Gân là tổ chức được dinh dưỡng kém và chủ yếu là do thẩm
thấu, do sự chật hẹp của khoang dưới mỏm cùng và sự bám chặt của gân vào
xương nên vùng gân ít được cung cấp máu và là vùng gần với điểm bám tận [4],
[53]. Sự giảm tưới máu sinh lí này sẽ nặng nề hơn theo tuổi tác do quá trình lão
hóa và một số bệnh lí về mạch máu như vữa xơ động mạch, đái tháo đường, các
bệnh tự miễn [4].
Khi thực hiện tư thế giạng tay và đưa tay lên cao quá đầu, mấu động lớn sẽ
cọ xát vào mặt dưới mỏm cùng vai làm cho mũ của các cơ xoay bị kẹp lại giữa hai
xương và lâu dần cùng với thời gian sẽ gây nên bệnh lý tổn thương gân cơ. Ở tư
thế khép tay, mặt tiếp xúc với ổ khớp của chụp các cơ xoay sẽ bị ép bởi chỏm của
xương cánh tay gây nên kích thích về cơ học và làm giảm lượng máu cho gân [4],
[53].
Gân của các cơ xoay thường bị tổn thương ở vị trí chuyển tiếp giữa tổ
chức cơ và tổ chức gân và gần điểm bám tận của gân vào xương [4],[47].
Một loại tổn thương khác gặp trong bệnh lý khớp vai là sự lắng đọng canxi
ở bề mặt của gân gây nên kích thích cơ học tại chỗ và gây đau [4],[26],[55].
1.1.4. Triệu chứng
13
Đau ở vai bị tổn thương. Khám lâm sàng sẽ thấy: ấn có điểm đau chói ở dưới
mỏm cùng vai ngoài hoặc ngay phía trước mỏm cùng vai, tương ứng với vị trí tổn
thương của gân. Đau tăng khi làm các động tác giạng đối kháng cánh tay, động tác
này làm căng các cơ quanh khớp vai. Đau khi giạng tay từ 70 độ- 90 độ khi vết rạn
của gân đi qua dưới mái che tạo bởi dây chằng cùng vai – mỏm quạ. Khi góc giạng
vượt quá 90 độ, đau biến mất và đau lại xuất hiện khi qua góc đó theo chiều
ngược lại hiện tượng này được gọi là hội chứng cung đau (painful arc syndrome ) .
Nghiệm pháp Jobe (+)
1.1.5. Các thể lâm sàng: Theo Welfling (1981) có 4 thể lâm sàng của viêm quanh
khớp vai:
- Đau vai đơn thuần thường do bệnh lý gân.
- Đau vai cấp do lắng đọng vi tinh thể.
- Giả liệt khớp vai do đứt các gân của bó dài gân nhị đầu hoặc đứt các gân mũ cơ
quay khiến cơ delta không hoạt động được.
- Cứng khớp vai do viêm dính bao hoạt dịch, co thắt bao khớp, bao khớp dày, dẫn
đến giảm vận động khớp ổ chảo - xương cánh tay.
1.1.6. Nguyên nhân:
- Thoái hóa gân do tuổi tác: Bệnh thường xảy ra ở người trên 50 tuổi.
- Nghề nghiệp lao động nặng có các chấn thương cơ học lặp đi lặp lại, gây tổn
thương các gân cơ quanh khớp vai như gân cơ trên gai, cơ nhị đầu cánh tay.
- Tập thể thao quá sức, chơi một số môn thể thao đòi hỏi phải nhấc tay lên quá vai
như chơi cầu lông, tennis, bóng rổ, bóng chuyền.
- Chấn thương vùng vai do ngã, trượt, tai nạn ô tô, xe máy.
- Một số bệnh lý khác (tim mạch, hô hấp, tiểu đường, ung thư vú, thần kinh, lạm
dụng thuốc ngủ…).
14
1.1.7. Cận lâm sàng
- X.Quang: thường không có tổn thương, đôi khi thấy có vài điểm canxi
hóa ở gân.
- MRI là phương tiện chẩn đoán hình ảnh giúp phát hiện tình trạng viêm gân.
- Siêu âm: hình ảnh gân cơ dầy lên so với bình thường và giảm âm. Có thể có vôi
hóa, hoặc có hình ảnh đứt gân 1 phần hoặc hoàn toàn.
1.1.8. Chẩn đoán
- Lâm sàng:
+ Cơ năng: Bệnh nhân đau vùng vai, đau có tính chất cơ học, đau tăng về
đêm, khiến bệnh nhân không ngủ được, đau tăng khi vận động.
+ Có điểm đau chói ở dưới mỏm cùng vai ngoài hoặc ngay phía trước
mỏm cùng vai không lan
+ Có hội chứng cung đau (painful arc syndrome, hình 6),
+ Nghiệm pháp Jobe (+)
- Siêu âm: có hình ảnh tổn thương gân cơ trên gai: gân dầy, giảm âm.
1.1.9. Điều trị [4]
* Điều trị nội khoa
- Các thuốc Chống viêm , giảm đau, giãn cơ.
- Tiêm tại chỗ corticosteroid (corticoid) .
* Các phương pháp điều trị không dùng thuốc
- Phục hồi chức năng khớp vai: Tập vận động khớp vai, sóng siêu âm, sóng xung
kích…
- Châm cứu, bấm huyệt
* Điều trị ngoại khoa
15
Chỉ định ở thể giả liệt, đặc biệt là ở người trẻ tuổi có đứt các gân vùng khớp
vai do chấn thương. Ở người lớn tuổi đứt gân do thoái hóa, chỉ định ngoại khoa cần
thận trọng
16
1.2. Sóng xung kích
1.2.1. Khái niệm:
Sóng xung kích là dạng sóng âm có áp lực biến đổi đột ngột, biên độ lớn và
ngắt quãng.
Sóng xung kích có dạng sóng đơn với xung áp lực dương là chính theo sau là
phần sóng nhỏ dãn ra với một pha áp suất âm nhỏ hơn rất nhiều (bằng 10%) so với
áp suất đỉnh. Như vậy khác với sóng siêu âm là các dao động tuần hoàn với độrộng
xung hạn chế thì sóng xung kích có biên độ áp suất rộng đặc biệt, tạo thuận lợi cho
sóng được hấp thu tốt hơn trong môi trường cơ thể.
1.2.2. Lịch sử điều trị sóng xung kích
Sóng xung kích lần đầu tiên sử dụng trong y khoa là lĩnh vực ngoại khoa.
Cuối những năm 60 ý tưởng sử dụng sóng xung kích phá vỡ các cấu trúc bên
trong cơ thể như sỏi thận, sỏi mật từ bên ngoài cơ thể mà không tiếp xúc nảy
sinh.Quy trình được xây dựng lần đầu tiên tại Đức bởi Dornier năm 1970.Tháng 2
năm 1980, sỏi thận được nghiền nát thành công từ bên ngoài cơ thể bằng công
nghệ sóng xung kích mà không phải phẫu thuật.
Ý tưởng sử dụng sóng xung kích làm tan vôi hóa ở vai hay dính dây chằng
được phát triển và thật bất ngờ các điều trị đều thành công. Điều này chứng minh
một tác dụng mới của sóng xung kích trên mô sống, đó là sự khởi đầu của quá trình
lành thương nhờ cải thiện quá trình biến dưỡng và gia tăng tuần hoàn.
Năm 1988, thông báo đầu tiên sóng xung kích điều trị thành công chậm liền
xương ở người.Năm 1990 điều trị thành công viêm gân, vôi hóa.Ngày nay, sóng
xung kích được sử dụng để điều trị các rối loạn của hệ cơ xương khớp trong lĩnh
vực như chấn thương thể thao, chấn thương chỉnh hình, vật lý trị liệu.
17
Tại Việt Nam máy sóng xung kích đầu tiên được nhập và sử dụng từ năm
2012. Đến nay đã có hàng trăm bệnh nhân được điều trị rất hiệu quả theo phương
pháp này.
1.2.3. Tác dụng sinh học của sóng xung kích:
- Kích thích quá trình sửa chữa và tái tạo mô:
+ Tăng cường sản xuất collagen tạo thuận lợi cho quá trình sửa chữa các cấu
trúc bị hư hỏng của hệ cơ xương và dây chằng.
+ Cải thiện chuyển hóa và vi tuần hoàn: Sóng xung kích kích thích quá trình
tái tạo mạch máu, hình thành mạch máu mới, cải thiện tình trạng cấp máu tại khu
vực tổn thương tạo thuận lợi cho quá trình tái tạo lại mô.
- Giảm đau do giảm căng cơ, ức chế sự co thắt; tăng cường phân tán chất P ( chất
trung gian dẫn truyền đau)
- Phục hồi vận động do làm tan sự vôi hóa của các nguyên bào sợi
1.2.4. Chỉ định
- Tình trạng viêm, canxi hóa của gân vùng khớp vai.
- Viêm cân gan chân.
- Viêm gân Achille.
- Gai xương gót.
- Viêm lồi cầu xương cánh tay.
- Viêm gân bánh chè
- Hội chứng đau xương bánh chè, đau cơ chày trước.
- Đau vùng khớp háng và dải chậu chày.
- Đau vùng khớp cùng-chậu.
18
- Đau vùng gân khoeo chân.
- Hội chứng ống cổ tay.
- Đau do các chồi xương nhỏ bàn tay.
- Điểm đau chói.
- Căng dãn/co thắt cơ cấp tính sau hoạt động thể thao…
1.2.5. Chống chỉ định
- Có nguy cơ chảy máu: chấn thương cấp, rối loạn đông máu.
- U ác tính.
- Nhiễm trùng, sưng, viêm cấp, vết thương hở.
- Đầu xương đang phát triển ở trẻ em.
- Thiếu máu cục bộ.
- Có thai
1.2.6. Tác dụng phụ
- Xuất huyết dưới da vùng điều trị, tự hồi phục.
- Đau tăng thường gặp trong lần điều trị đầu tiên
- Sưng nề vùng điều trị, hiếm khi xảy ra.
1.2.7. Phương pháp điều trị bằng sóng Xung kích
Xung kích trực tiếp qua da: đặt đầu phát sóng xung tiếp xúc với da thông
qua một môi trường trung gian để dẫn truyền sóng (thường dùng chất gel, dầu, mỡ
thuốc, vaselin…).
Áp suất điều trị: 1 – 3 bar
19
Tần số điều trị: 1 – 10 Hz
Số shock điều trị: 300 – 2000 ( shock )
Số lần điều trị: 3 ngày/ lần
20
1.3. Sóng siêu âm điều trị
1.3.1. Khái niệm
Quá trình lan truyền giao động trong môi trường đàn hồi dưới dạng sóng dọc
(phương dao động củacác phần tử trong môi trường đàn hồi trùng với phương
truyền của sóng) gọi là sóng âm.
Các âm có tần số trong khoảng 16 - 20.000Hz, tai người có thể nghe được
thì được gọi là âm thanh.
Các âm có tần số dưới 16Hz, tai người không nghe được thì gọi là hạ âm.
Các âm có tần số trên 20.000Hz, tai người cũng không nghe được thì gọi là
siêu âm
Trong điều trị người ta dùng siêu âm có tần số từ 0,7-3MHz.
1.3.2. Tác dụng điều trị của siêu âm
Trong các khoa Vật lý trị liệu, siêu âm được sử dụng trong điều trị có công
suất từ 0,1 - 3W/cm2. Khi tác động lên tổ chức, chúng gây ra ba hiệu ứng: hiệu
ứng cơ học, hiệu ứng hóa học và hiệu ứng nhiệt. Từ các hiệu ứng cơ bản trên, siêu
âm có các tác dụng sau:
- Tăng tuần hoàn máu cục bộ do tăng nhiệt độ, tăng tính thấm của mạch máu và tổ
chức.
- Giãn cơ do kích thích trực tiếp của siêu âm lên các cảm thụ thần kinh.
- Tăng tính thấm của màng tế bào, tăng tính khuếch tán và thẩm thấu qua màng do
tăng giao động của các phần tử và biến đổi áp suất luân phiên giữa các vùng tổ
21
chức. Do đó siêu âm có tác dụng làm tăng hấp thu dịch nề, tăng trao đổi chất, tăng
dinh dưỡng và tái sinh tổ chức.
- Giảm đau do tác dụng trực tiếp lên cảm thụ thần kinh.
1.3.3. Chỉ định
- Chỉ định trong các bệnh co thắt cơ do thần kinh:
+ Co thắt phế quản: hen phế quản, viêm phế quản co thắt; điều trị vào vùng
liên sống bả.
+ Co thắt các mạch máu ngoại vi: hội chứng Reynaud.
+ Co thắt cơ do đau, lạnh.
+ Đau do phản xạ thần kinh, viêm dây thần kinh.
- Các bệnh có nguyên nhân giảm dinh dưỡng chuyển hóa:
+ Các chấn thương sau 3 ngày, các vùng sẹo xấu kém nuôi dưỡng.
+ Các vùng sưng nề do chấn thương giai đoạn hấp thu dịch nề, do các ổ
viêm cũ.
- Làm mềm sẹo
- Siêu âm dẫn thuốc:
Dưới tác dụng của siêu âm làm tăng tính thấm và khuếch tán của các ion qua
các màng bán thấm. Người ta pha các thuốc vào chất tiếp xúc giữa đầu phát siêu
âm và da rồi dùng siêu âm để đưa thuốc vào tại chỗ. Các ion thuốc được đẩy vào
và tích lũy lại ở biểu bì và khuếch tán dần vào cơ thể giống như làm điện di ion
22
thuốc bằng dòng điện một chiều. Các thuốc thường dùng là mỡ hydrocortisol, mỡ
nọc rắn, mỡ profenid, mỡ kháng sinh...
1.3.4. CHỐNG CHỈ ĐỊNH
- Không sử dụng sóng siêu âm điều trị mắt, tai, viêm buồng trứng, viêm tinh hoàn.
- Tử cung người đang có thai.
- Vùng da mất cảm giác nóng lạnh.
- Đang chảy máu nội tạng.
- Bệnh lao tiến triển (Lao phổi, lao da, lao xương khớp vv...)
- Bệnh ung thư.
- Nhiễm trùng lan rộng.
- Không siêu âm qua não, qua tim
1.3.5. Phương pháp điều trị bằng sóng siêu âm:
- Siêu âm trực tiếp qua da: đặt đầu siêu âm tiếp xúc với da thông qua một môi
trường trung gian để dẫn truyền siêu âm (thường dùng chất gel, dầu, mỡ thuốc,
vaselin…).
- Siêu âm qua nước: nước là môi trường truyền âm tốt, nên người ta có thể dùng
làm môi trường trung gian truyền âm: cả đầu phát và bộ phận cơ thể đều ngập
trong nước, hướng đầu phát vuông góc với da và cách da khoảng 1-5cm. Thường
dùng cho những vùng cơ thể lồi lõm dùng kỹ thuật qua da khó khăn như ngón tay,
ngón chân, khớp cổ tay, cổ chân…
- kỹ thuật phát siêu âm có hai cách:
23
+ Cố định đầu phát siêu âm: thường dùng với vùng điều trị nhỏ. Chỉ dùng
liều thấp <0,3w/cm2 với siêu âm liên tục và 1w/cm2 với siêu âm xung.
+ Di động đầu phát: đầu phát siêu âm được di động chậm theovùng đều trị
- Liều điều trị:
Số lần điều trị: 1 lần/ngày
Công suất điều trị: 1 – 3 Wat
Thời gian điều trị: 7 – 10 phút
Tần số điều trị: 1 or 3 MHz
24
1.4. Vận động trị liệu
1.4.1. Các hình thức vận động trị liệu
- Kéo giãn và di động khớp nhằm làm tăng tầm vận động khớp
- Tập chủ động với các dụng cụ: các bài tập với gậy, dây, thang tường, ròng rọc
nhằm tăng tầm vận động khớp và tập mạnh các nhóm cơ vùng vai.
- Bài tập Codman đong đưa khớp vai: bài tập này giúp bệnh nhân giảm đau vai rất
tốt, đồng thời làm cải thiện tình trạng giới hạn tầm vận động khớp vai.
1.4.2. Tác dụng của vận động trị liệu
- Làm tăng tính đàn hồi của gân cơ, phát triển khối lượng cơ, tăng sức cơ.
- Tăng tuần hoàn dinh dưỡng cơ để phòng chống teo cơ, cứng khớp.
- Lấy lại tầm vận động của khớp
1.4.3.Liều trị liệu:
- Số lần trị liệu: 1 lần/ngày
- Thời gian: 30 phút/lần
25