Tải bản đầy đủ (.pdf) (97 trang)

So sánh chủ đề gia đình trong một số truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học (LV thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (763.83 KB, 97 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

VÕ THỊ THU HUẾ

SO SÁNH CHỦ ĐỀ GIA ĐÌNH TRONG MỘT SỐ
TRUYỆN NÔM BÌNH DÂN VÀ TRUYỆN NÔM BÁC HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

VÕ THỊ THU HUẾ

SO SÁNH CHỦ ĐỀ GIA ĐÌNH TRONG MỘT SỐ
TRUYỆN NÔM BÌNH DÂN VÀ TRUYỆN NÔM BÁC HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Ngô Thị Thanh Nga

THÁI NGUYÊN - 2017




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ
công trình nào khác.
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 04 năm 2017
Tác giả luận văn

VÕ THỊ THU HUẾ
Xác nhận của khoa chuyên môn

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn

i


LỜI CẢM ƠN
Trước hết, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn tới
TS Ngô Thị Thanh Nga – người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình tìm
hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các quý thầy cô trong Ban Giám hiệu; Khoa Ngữ
Văn; Ban Chủ nhiệm; quý thầy cô trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt thời gian
học tập, nghiên cứu khoa học.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến người thân, bạn bè đã giúp đỡ, tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thiện luận văn.
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 04 năm 2017
Tác giả luận văn

VÕ THỊ THU HUẾ


ii


MỤC LỤC
Trang
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ ii
MỤC LỤC .................................................................................................................iii
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ......................................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................... 5
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................................. 5
6. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................... 6
7. Đóng góp của luận văn............................................................................................ 6
8. Cấu trúc của luận văn .............................................................................................. 6
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .................................................... 7
1.1 Một số vấn đề lý luận chung ................................................................................. 7
1.1.1 Thể loại truyện Nôm .......................................................................................... 7
1.1.2 Chủ đề trong tác phẩm văn học .......................................................................... 9
1.1.3 Chủ đề gia đình dưới góc nhìn Nho giáo ......................................................... 11
1.2 Cơ sở thực tiễn .................................................................................................... 13
1.2.1 Vài nét về một số truyện Nôm bình dân ......................................................... 13
1.2.2 Vài nét về một số tác giả và tác phẩm truyện Nôm bác học ........................... 16
Chương 2. NỘI DUNG CỦA CHỦ ĐỀ GIA ĐÌNH TRONG MỘT SỐ
TRUYỆN NÔM BÌNH DÂN VÀ TRUYỆN NÔM BÁC HỌC ........................... 24
2.1 Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong truyện Nôm bình dân và truyện Nôm

bác học ...................................................................................................................... 24
2.1.1 Nét tương đồng ................................................................................................ 24
2.1.2 Nét dị biệt ......................................................................................................... 29
2.2 Tình nghĩa vợ chồng trong truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học ........ 42

iii


2.2.1 Nét tương đồng ................................................................................................ 42
2.2.2 Nét dị biệt ......................................................................................................... 46
Chương 3. NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CHỦ ĐỀ GIA ĐÌNH TRONG MỘT
SỐ TRUYỆN NÔM BÌNH DÂN VÀ TRUYỆN NÔM BÁC HỌC..................... 58
3.1 Cách xây dựng nhân vật trong việc thể hiện chủ đề gia đình ............................. 58
3.1.1 Nét tương đồng ................................................................................................ 58
3.1.2 Những nét dị biệt .............................................................................................. 61
3.2 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện trong việc thể hiện chủ đề gia đình ................. 76
3.2.1 Nét tương đồng ................................................................................................ 76
3.2.2 Nét dị biệt ......................................................................................................... 80
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 89

iv


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Truyện Nôm được coi là một “hiện tượng đặc biệt, độc đáo, khá phức tạp
và lý thú ” [10,tr.21] trong dòng chảy của Văn học Việt Nam. Đây là thể loại giàu
giá trị, là đóa hoa nhiều hương sắc góp phần tạo nên diện mạo văn học Trung đại
Việt Nam. Truyện Nôm phát triển rực rỡ và đạt được nhiều thành tựu to lớn tạo

thành một kho tàng khá phong phú và đa dạng. Trong sự phong phú và đa dạng ấy,
truyện Nôm được nhiều nhà nghiên cứu thống nhất phân loại thành hai kiểu truyện
là truyện Nôm bình dân với các tác phẩm: Phạm Tải Ngọc Hoa, Tống Trân Cúc
Hoa, Thạch Sanh, Phương Hoa, Lý Công…và truyện Nôm bác học gồm các tác
phẩm như: Truyện Kiều (Nguyễn Du), Hoa Tiên ký (Nguyễn Huy Tự), Sơ kính tân
trang (Phạm Thái), Truyện Song Tinh (Nguyễn Hữu Hào)…
1.2 Với vai trò và vị trí quan trọng trong sự phát triển của văn học trung đại
Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung, hiện nay các tác phẩm thuộc
thể loại truyện Nôm đã và đang được giảng dạy tại chương trình giáo dục phổ thông
và các bậc học Cao đẳng, Đại học. Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra những giá trị mới
trong các tác phẩm càng trở nên cần thiết, góp phần hữu ích vào việc nâng cao chất
lượng dạy và học hiện nay.
1.3 Truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân có sự khác biệt từ nhiều
góc độ, để tìm ra những giá trị ấy đòi hỏi phải có cái nhìn đa chiều về các tác phẩm.
Vì vậy, để thấy những giá trị về phương diện nội dung làm nên sự khác biệt đó,
chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: So sánh chủ đề gia đình trong một số truyện
Nôm bình dân và truyện Nôm bác học để đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống
chủ đề gia đình được các tác giả xây dựng trong tác phẩm, từ đó có những lý giải
sâu sắc hơn về nguyên nhân của sự khác biệt trên.
Việc đi sâu tìm hiểu những yếu tố làm nên sự khác biệt giữa truyện thơ Nôm
bác học và truyện thơ Nôm bình dân là vấn đề cần thiết. Nó không chỉ giúp chúng ta
có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về thể loại này mà còn tạo ra hướng đi mới
trong việc tiếp cận chiều sâu nội tại của các tác phẩm.
1


Đề tài này được thực hiện sẽ làm phong phú hướng tiếp cận nội dung và
nghệ thuật của truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân, tạo ra cái nhìn toàn
diện về chủ đề gia đình trong văn học trung đại Việt Nam.
2. Lịch sử vấn đề

Chữ Nôm là một trong những sáng tạo độc đáo, đặc sắc của cha ông ta nhằm
thoát khỏi sự gò bó, tính quy phạm và chính sách đồng hóa dân tộc của phong kiến
phương Bắc. Với những giá trị sâu sắc cả về nội dung và nghệ thuật, truyện Nôm
luôn dành được sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu và phê bình văn học.
Trước năm 1945, các nhà nghiên cứu đã nhìn thấy giá trị to lớn của thể loại
này. Người có công mở đầu là tác giả Dương Quảng Hàm với công trình Việt Nam
văn học sử yếu (1941). Tiếp bước là các tác giả Nguyễn Đổng Chi, Đào Duy Anh…
Sau khi cách mạng tháng Tám, việc nghiên cứu truyện Nôm được chú trọng
hơn. Các công trình nghiên cứu được đầu tư kỹ lưỡng, các vấn đề về nội dung,
nguồn gốc, giá trị nghệ thuật… có chiều sâu hơn.
Về các vấn đề chung mang tính khái quát ta có thể kể đến công trình của Lê
Hoài Nam trong Lịch sử văn học Việt Nam (1965), Nguyễn Lộc trong Văn học Việt
Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX (1978), Kiều Thu Hoạch với
Truyện Nôm nguồn gốc và bản chất thể loại (1992), Truyện Nôm bình dân của
người Việt – Lịch sử hình thành và bản chất thể loại (1996) hay các bài chuyên
khảo như Truyện Nôm khuyết danh – một hiện tượng đặc biệt của Văn học Việt
Nam của Bùi Văn Nguyên (nghiên cứu văn học, số 7-1960), Một số vấn đề xã hội
trong truyện nôm bình dân của Nguyễn Lộc (tạp chí văn học, số 4-1969),… Các tác
giả đã tập trung chủ yếu vào các vấn đề thuộc thể loại, đi sâu tìm ra và lý giải
nguyên nhân, quá trình hình thành phát triển từ đó thấy được đặc điểm chi phối làm
nên giá trị của truyện Nôm. Đây là cái nhìn bao quát khá toàn diện và là bước đi
định hướng đúng đắn để khai thác chiều sâu nội tại tác phẩm.
Các truyện Nôm bác học như Hoa tiên kí, Sơ kính tân trang, Truyện Song Tinh
là những tác phẩm đầu mùa của thể loại truyện Nôm, chính vì vậy, từ lâu những tác
phẩm này đã được nghiên cứu ở nhiều khía cạnh.

2


Cụ thể về tác phẩm Hoa tiên kí, tác giả Lại Ngọc Cang trong cuốn Truyện

Hoa tiên - khảo thích và giới thiệu đã dày công nghiên cứu truyện Hoa tiên một
cách khá toàn diện, trên nhiều phương diện như: Tác giả Nguyễn Huy Tự, nguồn
gốc truyện Hoa tiên, vấn đề nhuận sắc Hoa tiên kí và những giá trị của tác phẩm.
Trong giáo trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII - hết thế kỉ XIX, tác giả
Nguyễn Lộc cũng đưa ra những nghiên cứu và lý giải riêng của mình một cách
tương đối đầy đủ về các mặt khác nhau của tác phẩm Hoa tiên kí … Bên cạnh đó,
còn nhiều các công trình khác nghiên cứu theo hướng đi sâu khai thác vào những
vấn đề cụ thể hơn như bài viết Hoa tiên và những vấn đề của nó trong lịch sử truyện
Nôm của tác giả Trần Đình Hượu, Xung đột nghệ thuật và tư tưởng thẩm mỹ của
Hoa tiên của tác giả Nguyễn Phạm Hùng, vấn đề Con người và thế giới trong truyện
Hoa tiên của tác giả Trần Nho Thìn, Ngôn ngữ nhân vật của Nguyễn Huy Tự trong
Hoa tiên của tác giả Đinh Thị Khang…
Truyện Song Tinh của Nguyễn Hữu Hào ra đời khá sớm (khoảng 1704 –
1713), sau đó tác phẩm bị thất lạc nhiều năm. Vì vậy, việc nghiên cứu về tác phẩm
này gặp nhiều khó khăn. Người có công đầu trong việc “cứu” Truyện Song Tinh,
để tác phẩm đến được với bạn đọc ngày nay là thi sĩ Đông Hồ. Bên cạnh việc tìm
lại tác phẩm, tác giả Đông Hồ còn viết nhiều bài đánh giá về Truyện Song Tinh
trên các báo như báo Khai trí tiến đức, báo Nhân loại… Sau này Hoàng Xuân Hãn
có cuốn sách Biên khảo và giới thiệu Truyện Song Tinh, trong tác phẩm của mình
ông đã có sự so sánh Truyện Song Tinh với Truyện Kiều của Nguyễn Du:
“…Mạch lạc Truyện Song Tinh không uẩn khúc như Truyện Kiều, về tình cảm để
cho độc giả ấn tượng kém sâu sắc” [8,tr.6]. Trên tạp chí Văn học nghệ thuật số
323 (6/2011), trong bài viết Về ngôn ngữ sắc dục trong văn học trung đại Việt
Nam, tác giả Trần Thanh Thủy đã nghiên cứu khá công phu về ngôn ngữ sắc dục
trong Truyện Song Tinh bằng việc so sánh ngôn ngữ của tác phẩm với một loạt tác
phẩm trung đại khác như Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ), Phan Trần (khuyết
danh), Truyện Kiều (Nguyễn Du)…
Truyện Nôm Sơ kính tân trang là tác phẩm mang tính chất tự truyện của tác
giả Phạm Thái. Hoàng Hữu Yên trong Sơ kính tân trang – giới thiệu và chú thích đã


3


khẳng định đây là một bản tình ca độc đáo, là bức tranh đất nước và con người đặc
sắc. Lại Ngọc Cang đã khảo thích và giới thiệu tác phẩm đến với bạn đọc trên nhiều
góc độ cả về tác giả, nội dung và nghệ thuật. Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Lộc trong
Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX đã có cái nhìn khách
quan toàn diện về tác phẩm. Ngoài nét đặc sắc nhất của tác phẩm là câu chuyện của
con người Việt Nam, diễn ra trên khung cảnh đất nước, xã hội Việt Nam, tác giả
còn chỉ ra những yếu tố tiêu cực trong tác phẩm như nhân vật mang chủ nghĩa tâm
lý bi quan, một số tình tiết truyện còn khiên cưỡng, sự gán ghép tâm lý tác giả vào
nhân vật…
Về các tác phẩm truyện Nôm bình dân như Câu chuyện cái Tấm cái Cám
(truyện Nôm Tấm Cám), Phương Hoa, Tống Trân Cúc Hoa, vấn đề nghiên cứu
trong tương quan so sánh với truyện Nôm bác học trên phương diện chủ đề gia đình
chưa thật cụ thể.
Các bài viết đi sâu vào những vấn đề của từng tác phẩm có thể kể đến bài
khảo luận về Truyện Phương Hoa của Nguyễn Cảnh, Phạm Tải Ngọc Hoa - một
truyện Nôm có giá trị của Lê Hoài Nam…
Mối quan hệ giữa truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học không phải
là vấn đề mới. Tác giả Kiều Thu Hoạch cho rằng: “Xu hướng chung của truyện Nôm
là đề cao trung, hiếu, tiết, nghĩa, nhưng trong đa số truyện Nôm, nhất là truyện
Nôm gốc ở truyện dân gian thì đó là thứ trung, hiếu, tiết, nghĩa theo quan điểm dân
gian…” [10,tr.22]. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này chỉ dừng lại ở những vấn
đề chung chưa đi sâu vào thực tế từng tác phẩm. Bên cạnh đó, còn những đóng góp
của tác giả Nguyễn Lộc với những nhận định sâu sắc trong giáo trình Văn học Việt
Nam nửa cuối thế kỉ XVIII - hết thế kỉ XIX hay bài viết Những vấn đề xã hội trong
truyện Nôm bình dân của tác giả Vũ Tố Hảo…
Qua sự khảo sát trên, chúng tôi nhận thấy rằng việc tìm hiểu truyện Nôm
bình dân và truyện Nôm bác học trong tương quan so sánh đã có nhiều công trình

hướng tới. Tuy nhiên, vấn đề chủ đề gia đình dường như chỉ dừng lại ở mức nghiên
cứu khái quát mà chưa thật cụ thể và sâu sắc. Kế thừa thành tựu của những nhà
nghiên cứu đi trước, ở luận văn này, chúng tôi mong muốn thông qua nghiên cứu so

4


sánh một phương diện cụ thể là chủ đề gia đình giữa hai loại truyện Nôm bình dân
và truyện Nôm bác học nhằm góp phần tìm hiểu sự phong phú của thể loại đồng
thời góp phần tô điểm thêm bức tranh nghiên cứu về thể loại giàu thành tựu này của
văn học trung đại Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của chúng tôi trong việc thực hiện đề tài này là chỉ ra những nét
tương đồng và dị biệt trên phương diện chủ đề gia đình của hai kiểu truyện Nôm
bác học và kiểu truyện Nôm bình dân nhằm tạo ra một cái nhìn sâu sắc, mới mẻ và
toàn diện hơn. Qua đó, chúng ta có thể thấy rõ hơn các yếu tố ảnh hưởng tới chủ đề
gia đình trong tác phẩm trên cả phương diện nội dung và nghệ thuật.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chủ đề gia đình trong một số truyện Nôm bình dân
và truyện Nôm bác học.
- Phạm vi nghiên cứu:
Chúng tôi chọn các tác phẩm truyện Nôm bác học là: Hoa tiên kí (Nguyễn
Huy Tự), Truyện Song Tinh (Nguyễn Hữu Hào), Sơ kính tân trang (Phạm Thái) bởi
đây là những truyện Nôm đầu mùa của kiểu loại truyện Nôm bác học. Trên phương
diện chủ đề gia đình, những tác phẩm này và truyện Nôm bình dân có sự phát triển
tiếp nối nhau, gần gũi nhau hơn, sự so sánh giữa hai kiểu loại sẽ tránh được sự khập
khiễng về giá trị.
Chúng tôi chọn các tác phẩm truyện Nôm bình dân là: Tống Trân Cúc Hoa,
Phương Hoa, Câu chuyện cái Tấm cái Cám vì đây là những truyện Nôm quen
thuộc, gần gũi với đời sống của nhân dân. Chủ đề gia đình trong các tác phẩm này

được thể hiện khá rõ nét, có nhiều khía cạnh cần phân tích, đối sánh với truyện Nôm
bác học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục tiêu đã đề ra, trong luận văn này chúng tôi sẽ thực hiện nhiệm vụ so
sánh, phân tích, đánh giá và nhận xét những điểm tương đồng và khác biệt giữa các
tác phẩm trên phương diện chủ đề gia đình từ đó thấy được sự thể hiện chủ đề gia
đình của văn học ở các tầng lớp khác nhau trong xã hội với từng hoàn cảnh cụ thể.

5


6. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận văn, chúng tôi vận dụng đồng bộ các phương pháp nghiên
cứu sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Trên cơ sở văn bản tác phẩm chúng tôi
tiến hành thống kê và phân loại các câu thơ, đoạn thơ, chi tiết…mang chủ đề gia
đình trong các tác phẩm
- Phương pháp so sánh: Chỉ ra nét tương đồng và dị biệt giữ truyện Nôm
bình dân và truyện Nôm bác học trên phương diện chủ đề tác phẩm
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Tìm ra những vấn đề chung sâu sắc nhất
từ những phân tính, so sánh đã thực hiện.
7. Đóng góp của luận văn
- Luận văn đi vào so sánh một cách hệ thống chủ đề gia đình của một số
truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học cả về mặt nội dung và nghệ thuật biểu
hiện; từ đó thấy được vai trò của nhà văn và sự ảnh hưởng của các yếu tố tư tưởng
xã hội trong việc xây dựng chủ đề của tác phẩm. Qua luận văn này, chúng tôi mong
muốn góp thêm một góc nhìn mới về sự tương đồng và dị biệt giữa hai tiểu loại
truyện Nôm.
- Góp thêm một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc học tập, nghiên cứu các
truyện Nôm bình dân tiêu biểu như: Câu chuyện cái Tấm cái Cám, Truyện Phương

Hoa, Truyện Tống Trân Cúc Hoa và các tác phẩm truyện Nôm bác học tiêu biểu
như: Hoa tiên kí, Sơ kính tân trang, Truyện Song Tinh.
8. Cấu trúc của luận văn
Luận văn của chúng tôi ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo,
phần Nội dung được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Nội dung của chủ đề gia đình trong một số truyện Nôm bình dân
và truyện Nôm bác học
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện chủ đề gia đình trong một số truyện Nôm
bình dân và truyện Nôm bác học

6


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Một số vấn đề lý luận chung
1.1.1 Thể loại truyện Nôm
1.1.1.1 Khái niệm
Truyện Nôm là một thể loại độc đáo làm nên diện mạo của văn học trung đại
Việt Nam. Truyện Nôm ra đời và phát triển mạnh mẽ trong lòng xã hội phong kiến
vì thế từ trước đến nay có khá nhiều cách hiểu khác nhau về truyện Nôm. Tác giả
Đặng Thanh Lê thì gọi chúng là “tiểu thuyết”,“thuộc hệ thống tự sự,…sử dụng
ngôn ngữ văn tự dân tộc: chữ Nôm” và “đại bộ phận các tác phẩm đều sử dụng một
thể loại thơ dân tộc – lục bát ” [17,tr.56]. Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học
nhóm tác giả Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi định nghĩa truyện Nôm
là:“Thể loại tự sự bằng thơ dài rất tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam, nở rộ
vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, do viết bằng tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm
nên được gọi là truyện Nôm” [7, tr.372].
Có thể nói, với tư duy và hiểu biết của mình mỗi nhà nghiên cứu đã đưa ra

những định nghĩa riêng về truyện Nôm. Dù khác nhau về cách diễn đạt và biểu thị
nhưng các tác giả đều thống nhất cho rằng: Truyện Nôm thuộc loại hình văn học tự
sự, thường được viết bằng thể thơ lục bát và ngôn ngữ dân tộc (chữ Nôm). Mỗi
truyện đều có cốt truyện hoàn chỉnh bao gồm một hệ thống các tình tiết, sự kiện kể
lại những biến cố xoay quanh cuộc đời của những nhân vật trung tâm trong mối
quan hệ với các nhân vật khác. Với việc sử dụng chữ Nôm làm văn tự và sáng tác
theo thể thơ lục bát, truyện Nôm là một sáng tạo độc đáo của cha ông ta nhằm thoát
khỏi những ảnh hưởng văn hóa của Trung Hoa.
1.1.1.2 Phân loại
Vấn đề phân loại truyện Nôm là vấn đề phức tạp. Với những căn cứ khá hợp lý,
các nhà nghiên cứu đã đưa ra cách phân loại của riêng mình. Tuy nhiên, cho đến thời
điểm hiện nay, cách phân loại truyện Nôm được chú ý và đồng thuận hơn cả là căn cứ
vào nội dung phản ánh và trình độ nghệ thuật. Từ căn cứ này, các nhà nghiên cứu chia
truyện Nôm thành hai tiểu loại: truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học.
7


Truyện Nôm bình dân là những chuyện hầu hết không có tên tác giả, được
sáng tác chủ yếu từ các cốt truyện dân gian. Qua quá trình sáng tác và lưu truyền,
truyện Nôm bình dân được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Một số truyện Nôm
bình dân tiêu biểu là: Thạch Sanh, Tống Trân – Cúc Hoa, Lý Công, Tấm Cám,
Thoại Khanh – Châu Tuấn,…Truyện Nôm bình dân mang trong mình quan niệm
của nhân dân lao động, nó phản ánh ước mơ, khát vọng của nhân dân. Nội dung đấu
tranh bảo vệ quyền sống, giá trị hạnh phúc của con người trước các thế lực xã hội là
nội dung xuyên suốt và gần như bao trọn tác phẩm của thể loại này. Truyện Nôm
bình dân thường có một cái kết có hậu và viên mãn cho cuộc đời, số phận của nhân
vật chính.
Hầu hết truyện Nôm bình dân đều được viết trên cơ sở truyện dân gian,
truyện cổ tích. Mục đích sáng tác của truyện Nôm bình dân là để phục vụ nhân dân
lao động nên ngôn ngữ được sử dụng rất dễ hiểu, giản dị, không có nhiều điển tích,

điển cố và gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân.Truyện Nôm bình
dân sống trong lòng văn học dân tộc bền bỉ bởi những giá trị đặc biệt của chúng. Nó
rất gần với truyện dân gian nhưng không phải là văn học dân gian. Truyện Nôm
bình dân chính là cây cầu nối liền văn học dân gian với truyện Nôm bác học, là thể
loại gìn giữ bản sắc dân tộc tạo nền tảng cho sự phát triển rực rỡ của văn học trung
đại Việt Nam giai đoạn sau.
Về truyện Nôm bác học, ta có thể thấy đây hầu hết là những truyện Nôm
hữu danh, chỉ có một bộ phận nhỏ là khuyết danh. Tác giả của truyện Nôm bác
học thường là những trí thức thuộc tầng lớp trên, có học vấn uyên thâm và sự hiểu
biết sâu rộng cả về văn chương và đời sống. Truyện Nôm bác học có thể được viết
dựa trên việc vay mượn cốt truyện nước ngoài, mà chủ yếu là vay mượn cốt truyện
của văn học cổ điển Trung Quốc như Hoa tiên kí, Truyện Kiều, Truyện Song
Tinh… Bên cạnh đó, một số ít tác giả đã hư cấu từ cuộc đời, tâm tư, tình cảm của
mình và thực tế xã hội Việt Nam đưa vào tác phẩm. Tiêu biểu là Sơ kính tân trang
của Phạm Thái.
Về nội dung, truyện Nôm bác học chủ yếu phản ánh khát vọng tự do yêu
đương, hạnh phúc lứa đôi của các cặp nhân vật tài tử giai nhân. Tình yêu tự do, thân

8


phận cá nhân của con người, đã mâu thuẫn gay gắt với thiết chế phong kiến đang
suy thoái. Ví dụ qua mối tình đầy ảo mộng của Phạm Kim và Trương Quỳnh Thư
trong Sơ kính tân trang. Trương Quỳnh Thư đã tỏ ý chống đối quyết liệt với trật tự
phong kiến, chế độ phong kiến thối nát đó đã vùi dập bao nhiêu ước mơ về một mối
tình đầy trong sáng và thơ mộng của tài tử giai nhân. Truyện Nôm bác học ở giai
đoạn đỉnh cao, bao gồm những nội dung phi chính thống rất rộng lớn và mang tính
nhân văn cao cả. Ngoài vấn đề phản ánh tình yêu, khát vọng hạnh phúc của con
người, nó còn đặt ra vấn đề thân phận con người một cách rất rõ ràng, cụ thể gắn
chặt với các vấn đề đạo đức, tư tưởng của xã hội. Với dung lượng khá lớn, truyện

Nôm bác học phản ánh nhiều chủ đề thuộc các phương diện khác nhau. Mỗi chủ đề
tạo nên những giá trị khác nhau làm phong phú nội dung của tác phẩm.
Về hình thức, truyện Nôm bác học đạt đến trình độ nghệ thuật cao, các tác
giả rất có ý thức trau chuốt gọt rũa câu văn, lời thơ. Hơn nữa, do được giáo dục
trong nền giáo dục phong kiến, chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa, nên các
tác giả thường sử dụng nhiều điển tích, điển cố, từ Hán Việt trong tác phẩm của
mình. Đặc biệt ngôn ngữ trong truyện Nôm bác học trở thành tiêu biểu cho trình độ
diễn đạt của văn học dân tộc.
Như vậy, trải qua quá trình hình thành, phát triển, truyện Nôm tạo ra dấu ấn
riêng với những đặc trưng thể loại rõ nét, đồng thời khẳng định sự tồn tại của mình
bên cạnh những thể loại khác lúc bấy giờ và trở thành thể loại chính tạo nên diện
mạo của văn học trung đại Việt Nam.
1.1.2 Chủ đề trong tác phẩm văn học
Chủ đề là một phương diện hết sức quan trọng của tác phẩm văn học. Khái
niệm chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu. Theo nhóm tác giả Lê Bá Hán,
Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử thì “chủ đề là vấn đề cơ bản, vấn đề trung tâm
được tác giả nêu lên, đặt ra cụ thể trong tác phẩm….” [7,tr.61]. Hiểu một cách đơn
giản chủ đề chính là vấn đề cơ bản của tác phẩm, là phương diện chính yếu của đề
tài. Khi phản ánh hiện thực, nhà văn chẳng những xác định một phạm vi của hiện
tượng đời sống mà còn tập trung soi rọi một số vấn đề có ý nghĩa hàng đầu trong
phạm vi đó. Tác giả Gorki đại ý cho rằng: chủ đề là tư tưởng manh nha trong kinh

9


nghiệm của tác giả, do cuộc sống gợi lên. Chủ đề thể hiện bản sắc tư duy, chiều sâu
tư tưởng của tác giả. Cùng một đề tài nhưng cách nhìn nhận của mỗi nhà văn sẽ tạo
nên chủ đề khác nhau. Cùng viết về đề tài người phụ nữ trong xã hội phong kiến,
nếu Nguyễn Du chọn chủ đề về người phụ nữ tài hoa bạc mệnh thì Nguyễn Gia
Thiều lại viết về nỗi đau của người cung nữ…

Thông thường, mỗi một tác phẩm bao giờ cũng được bao quanh bởi một chủ
đề nhất định, từ đó ngưng kết thành chỉnh thể nghệ thuật. Chủ đề văn bản văn học là
loại ẩn ý bão hoà tình cảm thẩm mĩ của tác giả, hoà làm một với hình tượng nghệ
thuật, cũng chính là ý thức thẩm mĩ do hình tượng nghệ thuật chứa đựng. Chính vì
vậy, chủ đề góp phần quan trọng trong việc làm cho tác phẩm trở nên sâu sắc và có
tầm ảnh hưởng đối với độc giả.
Trong một tác phẩm, hệ thống chủ đề có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, bổ
sung cho nhau. Chủ đề chính có ý nghĩa trung tâm quán xuyến toàn bộ tác phẩm.
Bên cạnh đó, có những chủ đề bộ phận, góp phần bổ sung làm nổi bật chủ đề
chính.Tính đa chủ đề trong tác phẩm văn học thường thấy ở những văn bản lớn có
tính tự sự. Do trong loại tác phẩm này, nội dung cuộc sống xã hội được phản ánh
tương đối phong phú, phức tạp, dung lượng tư tưởng tương đối dồi dào, có thể từ
những góc độ, phương diện khác nhau để biểu hiện nhận thức, bình giá thẩm mĩ của
tác giả đối với cuộc sống, từ đó mà có thể làm hiển hiện ý thức thẩm mĩ đa phương
diện, khiến cho tác phẩm hiện lên trong tình huống phức tạp đa chủ đề. Trong kiệt
tác Truyện Kiều của Nguyễn Du ta có thể thấy một hệ thống chủ đề khá phong phú.
Bên cạnh chủ đề chính là số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến còn các
chủ đề phụ bổ sung, tăng giá trị của chủ đề chính như sự bất công trong xã hội đồng
tiền, sự chi phối của Nho giáo tới đời sống, lòng tham và sự ích kỷ của con
người…Trong các truyện thơ Nôm trung đại, hiện tượng đa chủ đề cũng được thể
hiện khá rõ. Phần lớn truyện Nôm trung đại có chủ đề chính là tình yêu tài tử - giai
nhân song bên cạnh đó ta vẫn thấy sự chi phối của các chủ đề khác như chủ đề gia
đình và xã hội dưới ảnh hưởng của Nho giáo… Tính đa nghĩa của chủ đề là hiện
tượng chủ đề của một tác phẩm có thể nắm bắt từ nhiều góc độ, cho phép có rất
nhiều cách hiểu khác nhau. Sự biểu hiện hiện thực của chủ đề văn bản là quá trình
động của một kiến trúc liền mạch. Vì thế, muốn tìm giá trị đích thực của tác phẩm
10


người nghiên cứu không thể chủ quan tìm hiểu chủ đề chính mà còn phải đào sâu

tìm hiểu chủ đề phụ của văn bản.
1.1.3 Chủ đề gia đình dưới góc nhìn Nho giáo
Nho giáo rất coi trọng vai trò và vị trí của gia đình. Trong học thuyết của
Nho giáo, để “trị quốc” việc cần thiết là phải biết “tề gia”. Nho giáo chủ trương xây
dựng gia đình để xây dựng xã hội lý tưởng. Vì thế, “Gia đình được Nho giáo đặc
biệt chú ý không chỉ vì nó quan tâm nhiều đến việc xây dựng gia đình, đề cao vai
trò của gia đình trong đời sống xã hội mà còn vì nó chủ trương tổ chức nhà nước và
xã hội theo mẫu gia đình” [13; tr.232]. Nho giáo quy định rất rõ về tôn ti trật tự
trong gia đình, quyền lực và trách nhiệm lớn nhất thuộc về người cha, người chồng.
Trong mối quan hệ phụ – tử thì cha là người bề trên quyết định, con cái phải nghe
theo. Đây là mối quan hệ thể hiện rất sâu sắc bản chất về chữ hiếu của Nho gia. Cha
mẹ có ơn sinh thành dưỡng dục, con cái phải có trách nhiệm đền đáp công ơn đó.
Không phải ngẫu nhiên khi phải chọn “bên tình bên hiếu” để xem “bên nào nặng
hơn” nàng Kiều lại phải đau đớn hi sinh mối tình mặn nồng với chàng Kim Trọng
để bán mình chuộc cha. Đó là sự chi phối của đạo hiếu với con người.
Tư tưởng Nho giáo về mối quan hệ phụ - tử được nhấn mạnh qua phạm trù
của chữ Từ và chữ Hiếu.
Từ là cha mẹ phải yêu thương, nuôi dưỡng giáo dục con cái. Hiếu là con cái
phải kính trọng cha mẹ. Hiếu được coi trọng là gốc của Nhân, con cái không được
cãi lời cha mẹ “cha mẹ mắng cửa trước thì con cái phải luồn cửa sau”. Chữ Hiếu
chính là bổn phận của người con đối với cha mẹ. Nó đã trở thành mối quan hệ vững
vàng, thành trụ cột duy trì trật tự trong gia đình nhiều thế hệ và đã trở thành đạo lý
làm người.
Bên cạnh những nét tích cực, quan niệm này còn mang những nét tiêu cực
như: con cái tuyệt đối không được làm trái lời cha mẹ “phụ sử tử vong, tử bất vong
bất hiếu”, hôn nhân của con cái là do cha mẹ sắp đặt “cha mẹ đặt đâu con ngồi
đấy”. Rõ ràng, trong mối quan hệ phụ - tử theo quan niệm Nho giáo, tính công bằng
bình đẳng đã bị triệt tiêu. Văn học giai đoạn này hấp thụ và phản ánh khá trung thực
những giáo lý này của Nho học.


11


Đối với mối quan hệ phu – phụ, Nho giáo lại coi đây là mối quan hệ trung
tâm của ngũ luân, là nền tảng cho các mối quan hệ khác. Bởi gia đình trước hết là
sự kết hợp, chung sống hòa thuận giữa người chồng và người vợ. Với quan niệm
“nam tôn nữ ti” (trọng nam khinh nữ) thì vai trò của người chồng trong gia đình là
rất lớn. Nho giáo trao quyền hành và trách nhiệm chèo chống gia đình vào tay người
chồng. Đồng thời tạo ra những người phụ nữ bị phụ thuộc hoàn toàn vào mối quan
hệ này. Người phụ nữ khi lấy chồng phải thực hiện đúng những khuôn khổ hà khắc
như: “xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” (lấy chồng thì phải theo chồng, chồng chết
phải theo con) hay “phu xướng” thì “phụ tùy” (chồng nói vợ phải nghe
theo)…Quan niệm này đã thấm nhuần trong con người và hệ tư tưởng của họ. Vì
vậy dù đó là những quy định gò bó thì người phụ nữ trong xã hội cũ vẫn tuân thủ
khá nghiêm ngặt. Từ hình ảnh người phụ nữ trong ca dao: “Lấy chồng thì phải theo
chồng / Chồng vô hang rắn, hang hùm cũng theo” đến hàng loạt tấm gương tiết
hạnh trong văn học trung đại đều là những hình mẫu chuẩn mực thể hiện mối quan
hệ này. Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương là hình mẫu tiêu biểu
cho quan niệm này. Khi Trương Sinh đi lính, nàng thay chồng phụng dưỡng mẹ già,
tần tảo nuôi con đến khi bị hiểu lầm nàng phải tự vẫn để chứng mình lòng chung
thủy, phẩm chất tiết hạnh của mình…
Mối quan hệ huynh – đệ cũng được Nho giáo coi trọng. Nếu trong mối quan
hệ phụ – tử, Nho giáo lấy chữ hiếu làm đầu, trong mối quan hệ phu – thê chữ tòng
được đề cao thì trong mối quan hệ anh em chữ đễ trở thành đầu mối chi phối cách
ứng xử của anh em trong gia đình:
“Chữ đễ có nghĩa là nhường
Nhường anh nhường chị lại nhường người trên”
Với ý nghĩa, đó mối quan hệ huynh – đệ nhiều khi được mở rộng mà
theo GS.Trần Đình Hượu “quan hệ bạn bè bị đồng nhất với quan hệ anh em”
[13,tr.216].

Hệ thống ba mối quan hệ trên trong gia đình đã thắt chặt mối quan hệ giữa
các thành viên, buộc họ vào trong một khuôn khổ nhất định. Sự chi phối của ba mối
quan hệ này sẽ tạo ra một gia đình với cách ứng xử theo quan niệm Nho giáo góp

12


phần ổn định xã hội, phục vụ lợi ích tối cao cho giai cấp cầm quyền. Quan niệm
Nho giáo về các mối quan hệ trong gia đình khá chặt chẽ. Bên cạnh mặt tích cực
những quan niệm này khó tránh được những điều khô cứng, gò bó. Chủ đề gia đình
trong truyện Nôm chịu ảnh hưởng nhất định từ quan niệm tư tưởng này song ở
truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học sự ảnh hưởng này có độ đậm nhạt
khác nhau.
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Vài nét về một số truyện Nôm bình dân
1.2.1.1 Tác phẩm “Câu chuyện cái Tấm cái Cám”
Câu chuyện cái Tấm cái Cám (hay còn gọi là Truyện Nôm Tấm Cám) là
truyện Nôm Bình dân mang dấu ấn khá đậm đặc của văn học dân gian. Cốt truyện
được mượn từ câu truyện cổ tích Tấm Cám đã quen thuộc với biết bao thế hệ chúng
ta. Trong tiềm thức mỗi người dân Việt Nam, hình ảnh cô Tấm hiền lành, nhân hậu
phải đấu tranh giành sự sống và công bằng, phải trải qua bao biến cố cuộc đời để
vươn tới hạnh phúc đã trở thành hình ảnh bất tử. Đi vào thế giới truyện Nôm, nhân
vật và cốt truyện hầu như không có sự thay đổi lớn song điều làm nên giá trị của tác
phẩm chính là cách tác giả truyện Nôm truyền tải những thông điệp mang ý nghĩa
nhân văn sâu sắc, những quan niệm và cách nhìn nhận của con người đương thời về
các vấn đề của xã hội.
Về nội dung, truyện Nôm Câu chuyện cái Tấm cái Cám phản ánh những mâu
thuẫn trong gia đình, cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, cùng ước mơ “ở hiền
gặp lành” của người Việt Nam. Mối quan hệ trong gia đình với mâu thuẫn dì ghẻ con chồng được phản ánh khá trung thực. Những giá trị nội dung đi từ văn học dân
gian vào truyện Nôm đã trở thành bài học đạo đức quý báu mà cha ông ta muốn gửi

gắm tới thế hệ sau. Những lời thơ Nôm răn dạy sinh động và giàu ý nghĩa chính là
nội dung mới mẻ làm nên vẻ đẹp của tác phẩm như câu thơ cuối truyện:
Cuộc đời luận đến bây giờ
Nhân tâm thế đạo mây mờ móc xa
Thương đời khóc ráo lệ hoa
Mượn câu chuyện cũ để mà ngụ ngôn

13


Về nghệ thuật, so với cốt truyện dân gian, truyện Nôm Câu chuyện cái Tấm
cái Cám không có nhiều thay đổi. Tuy nhiên để phù hợp với mục đích sáng tác,
phần kết của tác phẩm Tấm không chỉ trở thành hoàng hậu được nhân dân yêu mến
kính trọng mà khi nàng mất đi, cảm phục tấm lòng nhân hậu, nghị lực kiên cường
của nàng nhân dân đã lập đền để “Năm năm dân cứ lệ thường/ Lễ nghi đền cũ hành
hương phụng thờ”. Nhân vật trong tác phẩm được miêu tả kỹ lưỡng hơn về ngôn
ngữ, ngoại hình và hành động. Không gian trong tác phẩm cũng cụ thể không còn
mang tính phiếm chỉ như trong truyện cổ tích. Bên cạnh cách xây dựng ngôn ngữ
nhân vật, ngôn ngữ kể của truyện Nôm Câu chuyện cái Tấm cái Cám cũng mang
tính hình ảnh, ước lệ. Các từ ngữ gợi thanh, gợi hình được sử dụng trong nhiều câu
thơ đã góp phần tạo nên sự thành công cho tác phẩm cả về nội dung và nghệ thuật.
Có thể thấy, từ truyện cổ tích đến truyện Nôm là cả một quá trình sáng tạo
không ngừng nghỉ của cha ông. Tuy còn những hạn chế nhất định như một số câu
thơ còn khiên cưỡng, ngôn ngữ đôi lúc còn thô nhưng Truyện Nôm Câu chuyện cái
Tấm cái Cám thực sự đã mang văn học dân gian đến gần với văn học viết hơn. Trên
cơ sở những giá trị mới mà truyện Nôm Câu chuyện cái Tấm cái Cám mang lại,
chúng ta có thế thấy được bước phát triển của văn học trung đại giai đoạn đầu.
1.2.1.2 Tác phẩm “Phương Hoa”
Phương Hoa là một truyện thơ Nôm khuyết danh được viết dựa theo truyền
thuyết dân gian. Với dung lượng hơn một nghìn câu, tác phẩm kể về cuộc đời của

nàng Trần Phương Hoa. Mối lương duyên của nàng và Trương Cảnh Yên đã có sự
hứa hẹn của hai gia đình. Biến cố xảy ra khi gia đình họ Trương gặp nạn. Với tấm
lòng nhân hậu và sự chân thành, Phương Hoa đã hết lòng giúp đỡ họ Trương vượt
qua sóng gió. Khi Cảnh Yên gặp nạn, bằng tài trí của mình, Phương Hoa đã giúp
chàng thoát khỏi nguy biến. Cuối truyện, hai người đoàn tụ, hạnh phúc bên nhau.
Về nội dung, truyện Phương Hoa thể hiện cuộc đấu tranh giữa chính nghĩa
và phi nghĩa. Nét đặc sắc của tác phẩm này so với các truyện Nôm khác là quá trình
chiến thắng hoàn toàn dựa vào tài trí thông minh và phẩm hạnh của một người con
gái. Thông qua chủ đề thiện thắng ác, tác giả tố cáo những thế lực tàn bạo trong xã
hội phong kiến đã chà đạp lên hạnh phúc, quyền sống của con người, và khẳng định

14


vị trí xứng đáng của người phụ nữ. Phương Hoa chính là hình mẫu phụ nữ tài sắc
vẹn toàn, là hình mẫu mang theo quan điểm của nhân dân: “Người ta sống ở đời
phải trung hiếu tiết nghĩa. Nàng Phương Hoa là hiện thân của cái luân lý cổ điển
ấy, dù cảnh đời có thay đổi điên đảo” (Thanh Lãng).
Về nghệ thuật, kết cấu truyện nhìn chung khá chặt chẽ. Nét đặc sắc nhất của
Truyện Phương Hoa chính là tính cách bình dân. Ngôn ngữ truyện mộc mạc giản dị
rất gần gũi với ca dao. Những câu thơ Nôm không cầu kỳ với những điển cố điển
tích mà vẫn tao nhã, nhẹ nhàng, thanh thoát. Cách miêu tả nhân vật và không gian
cũng đậm chất Việt Nam. Tuy nhiên, ở truyện Nôm Phương Hoa, mặc dù có lối kể
chuyện giản dị hồn nhiên được nhiều người dân ưa thích và truyền tụng, song nó
vẫn còn khá nhiều nhược điểm: một số chi tiết chưa nhất quán, bút pháp miêu tả có
chỗ sơ lược, chưa chú ý khai thác đời sống nội tâm nhân vật.
1.2.1.3 Tác phẩm “Tống Trân Cúc Hoa”
Xuất hiện vào khoảng giữa thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, truyện thơ Nôm
khuyết danh Tống Trân Cúc Hoa đề cập những chủ đề quen thuộc: tình nghĩa gia
đình, tình vợ chồng thuỷ chung; sự tài ba, trí tuệ và lòng dũng cảm của những người

chân chính; thói tham lam của danh vọng tiền tài của tầng lớp trưởng giả. Tác phẩm
Tống Trân Cúc Hoa lên án những thế lực tàn bạo đã ngăn cản, chà đạp lên tình yêu;
đồng thời ngợi ca tấm lòng son sắt kiên trinh, ý chí phấn đấu vì hạnh phúc, vì tình
yêu của những con người biết chống lại những thế lực bạo tàn và những lễ tục khắc
nghiệt. Bên cạnh đó, Tống Trân Cúc Hoa còn là câu chuyện đi sứ, phản ánh mối
bang giao phức tạp giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ngoài ra, tác phẩm cũng đã xây
dựng tương đối thành công một số mẫu người Việt Nam truyền thống, đặc biệt là
người phụ nữ với tâm hồn phong phú và đặc sắc.
Về mặt nghệ thuật, Tống Trân Cúc Hoa là câu chuyện thuần túy Việt Nam.
Khác với nhiều truyện Nôm khác, truyện này hầu như không sử dụng điển cố hoặc
từ Hán Việt, nhưng lại sử dụng khá nhiều "môtíp" của truyện dân gian Việt Nam.
Ngôn ngữ trong truyện cũng rất giản dị, rất gần lời ăn tiếng nói của con người bình
dân. Thế nhưng, mạch đi của truyện còn rườm rà, do kết cấu chưa thật chặt chẽ,
ngôn ngữ quá đơn giản, thiếu trau chuốt, chưa phải là thứ ngôn ngữ giàu nhạc điệu,

15


hình ảnh. Mặc dù vậy, truyện vẫn được quần chúng lúc bấy giờ yêu thích và phổ
biến rộng rãi.
1.2.2 Vài nét về một số tác giả và tác phẩm truyện Nôm bác học
1.2.2.1 Nguyễn Huy Tự và tác phẩm “Hoa tiên kí”
Nguyễn Huy Tự còn có tên nữa là Yên, tự là Hữu Chi, hiệu là Uẩn Trai quê ở
làng Trường Lưu, xã Thạch Lai, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn (Can Lộc) tỉnh Hà Tĩnh.
Quê hương ông được coi là một trong những cái nôi văn hóa của dân tộc với
truyền thống lịch sử - văn hóa lâu đời. Chính mảnh đất Can Lộc – Hà Tĩnh đã góp
phần không nhỏ tạo nên con người và tài năng của Nguyễn Huy Tự. Miền sông
Lam, núi Hồng là quê hương của biết bao nhân tài trong suốt các thế kỷ như: Đời
Trần (Đặng Dung, Đặng Tất…), Lê Sơ (Bùi Cầm Hổ,…), Hậu Lê (Nguyễn Văn
Giai, Phan Kính, Nguyễn Thiếp,…). Đặc biệt trong vùng văn hóa ấy có hai dòng họ

nổi tiếng: Họ Nguyễn ở Tiên Điền và họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu, bởi vậy dân
gian mới có câu ca ngợi:
“Trường Lưu hàng xóm thanh bình
Nguyễn Du xưa vốn nặng tình nơi đây
Nổi danh gái sắc trai tài
Nghìn năm văn vật ngời ngời sử xanh.”
Gia đình có truyền thống làm quan với nhiều người đỗ đạt và đặc biệt sự nở
rộ của các tài năng văn học từ đời Nguyễn Huy Tựu trở đi (Nguyễn Huy Tự,
Nguyễn Huy Hổ, Nguyễn Huy Vinh)... cho thấy truyền thống văn hoá - văn học sâu
sắc trong gia đình Nguyễn Huy Tự .
Bản thân Nguyễn Huy Tự là người nổi tiếng ham học, học rộng biết nhiều.
Năm 1759 (16 tuổi), Nguyễn Huy Tự đậu kỳ thi Hương và theo cha đi trợ giảng,
được bổ chức thị nội văn chức. Từ đó, con đường công danh của Nguyễn Huy Tự
khá thuận lợi. Ông giữ nhiều chức quan trong triều đình. Khi nạn kiêu binh xảy ra,
(1784) ông lấy cớ xin về chịu tang rồi không ra làm quan nữa. 1790, khi vua Quang
Trung triệu ông vào Phú Xuyên để bổ chức Hữu thị lang thì ông bệnh nặng và qua
đời vào ngày 27/7 năm ấy.
Nguyễn Huy Tự có hai bà vợ là Nguyễn Thị Bành và Nguyễn Thị Đài đều
là con gái của Nguyễn Khản. Mối tình của Nguyễn Huy Tự với Nguyễn Thị Đài

16


khá đặc biệt. Sau khi vợ cả là bà Nguyễn Thị Bành qua đời, ông đã kết duyên với
em gái của vợ là bà Đài. Bà Nguyễn Thị Đài là người đã có chồng nhưng vì mến
mộ tài năng và phẩm chất của Nguyễn Huy Tự mà bà đã bỏ chồng và con theo về
với ông. Đây có thể coi là hành động vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến và “chắc
đã làm thức tỉnh cái phần sâu sắc nhất trong tâm hồn nghệ sĩ của Nguyễn Huy
Tự và có thể đây là một bản mẫu quan trọng giúp nhà thơ sáng tạo nên những
hình ảnh đẹp đẽ trong truyện thơ Hoa tiên kí ” [34;tr.16].

Có thể thấy, gia đình và quê hương là những yếu tố hết sức quan trọng tạo
nên con người và tài năng của Nguyễn Huy Tự - đó là con người mà theo sách
Nguyễn Thị Gia Tàng ca ngợi thì ông “đọc rộng hiểu nhiều, tinh thông cả thư họa,
thanh luật, thạo phép dùng binh, giỏi việc án thư. Tính tình phóng khoáng, hòa nhã
nhưng giữ gìn gia pháp rất nghiêm. Khi chết xóm làng ai cũng thương tiếc”
[34;tr.7]. Chính tính cách, lối sống và quan niệm đó đã hằn in trong các sáng tác của
ông tạo nên dấu ấn đặc sắc cho truyện thơ Hoa tiên kí nói riêng và các tác phẩm
khác nói chung.
Nằm trong mạch truyện Nôm viết về đề tài tình yêu giữa tài tử và giai nhân
trong lòng xã hội phong kiến, Hoa tiên kí là câu chuyện tình xoay quanh hai nhân
vật chính là Lương Sinh và Dao Tiên.
Có thể thấy toàn bộ câu chuyện đều xoay quanh tình yêu của Lương Sinh và
Dao Tiên. Đó là tình yêu vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến là “sự đấu tranh giữa
tình cảm và lý trí, giữa cái khát vọng yêu đương tha thiết với những quan niện chật
hẹp của lễ giáo và đạo đức phong kiến” [18,tr.219]. Tình yêu trong Hoa tiên kí là
một tình yêu “phóng túng song không dám theo đến cùng, chân trời tình yêu trong
truyện dần thu gọn vào khuôn khổ của lễ giáo” [18,tr.219]. Vì vậy Lại Ngọc Cang
còn gọi đó là “một bài học gượng gạo về đạo đức phong kiến” [34, tr.39].
Nội dung chính của Hoa tiên kí là câu chuyện tình yêu nhưng đó là tình yêu
có sự hài hòa giữa cảm xúc cá nhân và những chuẩn mực đạo đức phong kiến.
Người đọc cảm nhận được nét phóng túng, sôi nổi trong nhân vật Lương Sinh thì
cũng cảm nhận được tiếng nói của giáo lý trong con người chàng. Mọi suy nghĩ
hành động của Dao Tiên trong tình yêu dù tha thiết, say đắm vẫn không thiếu sự ý

17


nhị, đoan trang. Còn Ngọc Khanh lại hiện lên như hình mẫu lý tưởng của đạo đức
Nho gia. Việc giải quyết những mâu thuẫn trong bản thân mỗi nhân vật một cách
hài hòa chính là nội dung cơ bản nhất của tác phẩm và cũng chính điều đó đã xây

dựng lên một nội dung tư tưởng rất riêng ở tác phẩm này.
Về nghệ thuật, Hoa tiên kí là tác phẩm mở đầu cho sự phát triển của truyện
thơ Nôm ở Đàng Ngoài. Trước kiệt tác Đoạn trường tân thanh của đại thi hào
Nguyễn Du thì Hoa tiên kí của Nguyễn Huy Tự được coi là truyện Nôm thành
công hơn cả.
Thứ nhất về phương diện kết cấu: Hoa tiên kí có một kết cấu gọn gàng,
chặt chẽ “tình tiết phong phú mà không rườm rà, câu chuyện nhẹ nhàng, mạch
lạc, có ý vị trữ tình rõ rệt” [18,tr.229]. Truyện được chia làm 59 hồi có chi tiết,
sự kiện, có đoạn tả cảnh, có đoạn tả tình đan xen hợp lý không có sự rối loạn.
“Toàn truyện được kể thành một hơi dài, mạch lạc nhất khí, từ hồi này sang hồi
khác có những câu chuyển tài tình, tóm trước mở sau, gọn gàng mà đầy đủ”
[34,tr.47].
Thứ hai về phương diện ngôn ngữ: Đây được coi là một thành công lớn của
Nguyễn Huy Tự. Tác giả Đinh Thị Khang đã có bài chuyên luận nghiên cứu khá sâu
sắc và đầy đủ về Ngôn ngữ nhân vật trong truyện Hoa tiên, từ ngôn ngữ đối thoại
đến ngôn ngữ độc thoại đã tạo nên “hình thái nghệ thuật quan trọng trong truyện
Hoa tiên” [39,tr.316]. Qua hệ thống ngôn ngữ nhân vật đó một mặt ta thấy được
tính cách độc đáo của nhân vật và chiều sâu tâm lý nhân vật, mặt khác ta còn thấy
nét mới mẻ khác hẳn với ngôn ngữ tự sự trong các tác phẩm truyện thơ Nôm ra đời
trước đó. Tính trữ tình trong ngôn ngữ thơ được phát huy tạo nên hiệu quả nghệ
thuật đặc sắc.
Song, thành công nhất của truyện Hoa tiên kí phải kể đến hệ thống nhân
vật. Là một truyện thơ viết theo thể lục bát dài hơn 1530 câu, Nguyễn Huy Tự đã
xây dựng lên một thế giới nhân vật đa dạng, độc đáo. Các nhân vật trong truyện
không chỉ có ngôn ngữ riêng, hành động riêng, cử chỉ riêng mà còn có một đời
sống nội tâm vô cùng phong phú. Hiện lên trong tác phẩm là một Lương Sinh
với “Gấm hoa tài mạo gồm hai / Đua tay nhảy phượng sánh vai cưỡi kình”. Đó
là chàng công tử phóng túng sôi nổi và hết sức chân thành trong tình cảm. Đó
18



còn là nàng Dao Tiên đoan trang, ý nhị, tinh tế, phức tạp nhưng cũng nồng nàn,
tha thiết khi yêu. Và một Lưu Ngọc Khanh cứng nhắc, khô khan trong vòng kiềm
tỏa của chế độ phong kiến. Nàng tỳ nữ Bích Nguyệt thì nét hồn nhiên, tinh
nghịch, sắc sảo, thiết thực, một Vân Hương hiền lành, lạc quan, chân thành….
Những nhân vật này tạo cho người đọc những dấu ấn khó phai đã trở thành một
thành công lớn về nghệ thuật cho tác phẩm.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công lớn về mặt nghệ thuật Hoa tiên kí của
Nguyễn Huy Tự vẫn tồn tại những mặt hạn chế nhất định. Có thể khẳng định đây
chưa phải là một tác phẩm hoàn thiện về mặt nghệ thuật. Nó chỉ là “một nền nghệ
thuật cổ điển đang vươn tới sự hoàn chỉnh” [34,tr.39]. Chính vì vậy những hạn chế
còn tồn tại trong tác phẩm như: còn nhiều điển cố khó hiểu, nhiều từ Hán Việt, lời
văn có đoạn chưa thật trong sáng, một số chi tiết ngẫu nhiên chưa hợp lý…
1.2.2.2 Nguyễn Hữu Hào và tác phẩm “Truyện Song Tinh”
Nguyễn Hữu Hào (? - 1713) là một vị tướng có tài dưới thời chúa Nguyễn ở
Đàng Trong. Ông là người có tài dùng binh, ngoài ra ông còn là một danh sĩ có
hiểu biết khá rộng về văn chương, là tác giả của truyện thơ Nôm Song Tinh.
Những tài liệu viết về cuộc đời và sự nghiệp của ông đến nay không còn
nhiều, điều này đã tạo không ít khó khăn cho các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về tác
giả cũng như tác phẩm. Nguyễn Hữu Hào sinh ra ở làng Gia Miêu, huyện Tống
Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Đây là miền quê giàu truyền thống văn hóa văn học.
Ông là cháu đời thứ chín của Nguyễn Trãi. Năm 1609, ông nội của Nguyễn
Hữu Hào là tham tướng trưởng cơ Nguyễn Triều Văn theo chúa Nguyễn Hoàng vào
Nam và định cư ở Thuận Hóa (Thừa Thiên – Huế). Cha ông là Nguyễn Hữu Dật
(1614 - 1691), danh thần bậc nhất triều chúa Nguyễn, văn võ toàn tài được triều
đình trọng dụng. Nguyễn Hữu Hào là con đầu, dưới ông là em trai Nguyễn Hữu
Cảnh cũng là một tướng giỏi có công đầu trong việc khai khẩn đất hoang mở mang
bờ cõi.
Gia đình với truyền thống quan lại là điều kiện giúp tài năng văn chương và
quân sự của ông được phát triển. Ngay từ thời còn trẻ, ông đã được theo cha tham

dự các trận đánh lớn. Năm 1689 ông đượ bổ nhiệm làm cai cơ, thống binh của quân
đội chúa Nguyễn. Năm 1690, Nguyễn Hữu Hào bị chúa Ngãi Nguyễn Phúc Trăn kết
19


×