Phân tích tính tất yếu của Quản trị Đa quốc gia tại tập đoàn Toyota Motor
ĐỀ TÀI
1. Hãy trình bày tính tất yếu của Quản trị đa quốc gia với Doanh nghiệp của
Anh/Chị
2. Đa văn hóa là gì? Quản trị Đa văn hóa là gì? Hãy trình bày tính tất yếu của
Quản trị Đa văn hóa đối với bản thân Anh/Chị
3. Hãy trình bày thực trạng của đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội hiện
nay của các Doanh nghiệp Việt nam. Theo Anh/Chị, các nhà chức trách cần phải
làm gì để giải quyết các thực trạng đó.
1
MỤC LỤC
MỤC LỤC.............................................................................2
TABLE OF CONTENT............................................................3
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................6
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU....................................................7
1. Giới thiệu chung Toyota Motor Corporation.........................................................7
1.1 Tổng quan về Toyota Motor Corporation........................................................7
1.2 Hoạt động kinh doanh chủ yếu........................................................................7
1.3 Triết lý của công ty Toyota Motor Corporation...............................................8
1.4 Các thế mạnh của Toyota Motor Corporation..................................................8
2. Tính tất yếu của Quản trị đa quốc gia với Toyota Motor Corporation...................8
3. Đa văn hóa, Quản trị Đa văn hóa, tính tất yếu của Quản trị Đa văn hóa..............10
3.1 Khái niệm văn hóa.........................................................................................10
3.2 Khái niệm đa văn hóa....................................................................................11
3.3 Khái niệm quản trị đa văn hóa.......................................................................11
3.4 Tính tất yếu của Quản trị Đa văn hóa............................................................12
4. Thực trạng của đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội hiện nay của các
Doanh nghiệp Việt nam. Biện pháp để giải quyết các thực trạng đó.......................12
4.1 Thực trạng của đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội hiện nay của các
Doanh nghiệp Việt nam.......................................................................................12
4.2 Biện pháp để giải quyết các thực trạng đó.....................................................14
KẾT LUẬN..........................................................................16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................17
INTRODUCTION.................................................................17
RESEARCH OF CONTENT...................................................19
1. General introduction Toyota Motor Corporation.................................................19
1.1 Overview of Toyota Motor Corporation........................................................19
2
1.2 Major business activities...............................................................................19
1.3 The philosophy of the company Toyota Motor Corporation..........................20
1.4 The strength of Toyota Motor Corporation....................................................20
2. The inevitability of Intercultural Management with Toyota Motor Corporation. 20
3. Intercultural, Intercultural Management, the inevitability of Intercultural
Management............................................................................................................22
3.1 The concept of culture...................................................................................22
3.2 The concept of Intercultural...........................................................................23
3.3 The concept of Intercultural Management.....................................................23
3.4 The inevitability of Intercultural Management..............................................23
4. Be present reality of business ethics and social responsibility of the enterprise in
Vietnam, now. The authorities need to do to resolve this situation..........................24
4.1 Be present reality of business ethics and social responsibility of the enterprise
in Vietnam, now...................................................................................................24
4.2 Measures to resolve this reality......................................................................25
CONCLUSION.....................................................................28
LIST OF REFERENCES........................................................29
TABLE OF CONTENT
MỤC LỤC.............................................................................2
TABLE OF CONTENT............................................................3
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................6
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU....................................................7
1. Giới thiệu chung Toyota Motor Corporation.........................................................7
1.1 Tổng quan về Toyota Motor Corporation........................................................7
1.2 Hoạt động kinh doanh chủ yếu........................................................................7
3
1.3 Triết lý của công ty Toyota Motor Corporation...............................................8
1.4 Các thế mạnh của Toyota Motor Corporation..................................................8
2. Tính tất yếu của Quản trị đa quốc gia với Toyota Motor Corporation...................8
3. Đa văn hóa, Quản trị Đa văn hóa, tính tất yếu của Quản trị Đa văn hóa..............10
3.1 Khái niệm văn hóa.........................................................................................10
3.2 Khái niệm đa văn hóa....................................................................................11
3.3 Khái niệm quản trị đa văn hóa.......................................................................11
3.4 Tính tất yếu của Quản trị Đa văn hóa............................................................12
4. Thực trạng của đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội hiện nay của các
Doanh nghiệp Việt nam. Biện pháp để giải quyết các thực trạng đó.......................12
4.1 Thực trạng của đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội hiện nay của các
Doanh nghiệp Việt nam.......................................................................................12
4.2 Biện pháp để giải quyết các thực trạng đó.....................................................14
KẾT LUẬN..........................................................................16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................17
INTRODUCTION.................................................................17
RESEARCH OF CONTENT...................................................19
1. General introduction Toyota Motor Corporation.................................................19
1.1 Overview of Toyota Motor Corporation........................................................19
1.2 Major business activities...............................................................................19
1.3 The philosophy of the company Toyota Motor Corporation..........................20
1.4 The strength of Toyota Motor Corporation....................................................20
2. The inevitability of Intercultural Management with Toyota Motor Corporation. 20
3. Intercultural, Intercultural Management, the inevitability of Intercultural
Management............................................................................................................22
3.1 The concept of culture...................................................................................22
3.2 The concept of Intercultural...........................................................................23
4
3.3 The concept of Intercultural Management.....................................................23
3.4 The inevitability of Intercultural Management..............................................23
4. Be present reality of business ethics and social responsibility of the enterprise in
Vietnam, now. The authorities need to do to resolve this situation..........................24
4.1 Be present reality of business ethics and social responsibility of the enterprise
in Vietnam, now...................................................................................................24
4.2 Measures to resolve this reality......................................................................25
CONCLUSION.....................................................................28
LIST OF REFERENCES........................................................29
5
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay vấn đề đạo đức kinh doanh là tiêu chí
khá quan trọng để các doanh nghiệp kinh doanh và chinh phục thị trường thế giới. Tuy
nhiên, những vụ việc vi phạm về đạo đức kinh doanh ngày lại càng gia tăng.
Các nghiên cứu và kinh nghiệm hiện thời của nhiều quốc gia cho thấy mối
quan hệ chặt chẽ giữa hành vi có đạo đức và sự hài lòng của khách hàng. Các hành vi
vô đạo đức có thể làm giảm lòng trung thành của khách hàng và khách hàng sẽ chuyển
sang mua hàng của các thương hiệu khác.
Ngược lại hành vi đạo đức có thể lôi cuốn khách hàng đến với sản phẩm của
công ty. Các khách hang thích mua sản phẩm của các công ty có danh tiếng tốt, quan
tâm đến khách hàng và xã hội. Khách hàng nói rằng họ ưu tiên những thương hiệu nào
làm điều thiện nếu giá cả và chất lượng các thương hiệu như nhau. Các công ty có đạo
đức luôn đối xử với khách hàng công bằng và liên tục cải tiến chất lượng sản phẩm
cũng như cung cấp cho khách hàng các thông tin dễ tiếp cận và dễ hiểu, sẽ có lợi thế
cạnh tranh tốt hơn và dành được nhiều lợi nhuận hơn. Điểm mấu chốt ở đây là chi phí
để phát triển một môi trường đạo đức có thể có một phần thưởng là sự trung thành của
khách hàng ngày càng tăng.
Đối với các doanh nghiệp thành công nhất, thu được những lợi nhuận lâu dài
thì việc phát triển mối quan hệ tôn trọng lẫn nhau và hợp tác cùng nhau với khách
hàng là chìa khoá mở cánh cửa thành công. Bằng việc chú trọng vào sự hài lòng của
khách hàng, doanh nghiệp đó tiếp tục làm cho sự phụ thuộc của khách hàng vào công
ty ngày càng sâu sắc hơn, và khi niềm tin của khách hàng tăng lên thì doanh nghiệp ấy
sẽ có tầm hiểu biết sâu hơn về việc làm thế nào phục vụ khách hàng để phát triển mối
quan hệ đó. Một môi trường đạo đức vững mạnh thường chú trọng vào các giá trị cốt
lõi đặt các lợi ích của khách hàng lên trên hết.
6
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Giới thiệu chung Toyota Motor Corporation
1.1 Tổng quan về Toyota Motor Corporation
Toyota Motor Corporation (gọi tắt là Toyota) là một tập đoàn sản xuất ô tô
xuyên quốc gia có trụ sở chính đặt tại Nhật Bản. Toyota được thành lập vào ngày
28/08/1937 bởi Kiichiro Toyota từ một phần tách ra khỏi Toyota Industries. Sau một
thời gian dài phát triển, đến nay Toyota đã vươn lên trở thành tập đoàn sản xuất xe lớn
nhất thế giới xét về doanh số bán hàng. Theo báo cáo thường niên năm tài chính 2009
(từ ngày 01/04/2008 tới ngày 31/03/2009), Toyota cung cấp việc làm cho 320.808
người lao động, có 529 công ty con, với tổng số vốn của công ty lên tới 397,05 tỷ yên.
1.2 Hoạt động kinh doanh chủ yếu
Hoạt động chủ yếu của công ty là thiết kế, lắp ráp và bán các loại xe hơi, xe
đua, xe tải, xe chuyên chở và các loại phụ tùng liên quan. Toyota được biết đến với
những nhãn hiệu xe nổi tiếng như Prius (dòng xe nhiên liệu sạch hybrid), Lexus và
Scion (dòng xe sang trọng), Tundra (dòng xe tải)…Toyota sở hữu một lượng cổ phần
lớn trong các hãng xe hơi Daihatsu và Hino, Fuji Heavy Industries, Isuzu Motors,
Yamaha Motors, và tập đoàn Mitsubishi Aircraft. Ngoài sản xuất xe ô tô, Toyota còn
cung cấp các dịch vụ tài chính (Toyota Financial Services), tham gia chế tạo robot,
công nghệ sinh học…
Thị phần của Toyota trải rộng toàn thế giới. Trong số đó 26% tại Nhật Bản,
29% tại Bắc Mỹ, 14% tại Châu Âu… Toyota xây dựng những nhà máy tại mọi nơi
trên thế giới, sản xuất hoặc lắp ráp xe phục vụ nhu cầu tại chính thị trường đó. Những
nhà máy này có mặt tại Apan, Úc, Ấn độ, Sri Lanka, Canada, Indonesia, Ba Lan, Nam
Phi, Thổ Nhĩ Kỳ, Colombia, Anh, Mỹ, UAE, Pháp, Brazil, Bồ Đào Nha, Argentina,
Cộng hòa Séc, Mexico, Malaysia, Thailand, Pakistan, Ai Cập, Trung Quốc, Việt Nam,
Venezuela, Philippine, và Nga.
Toyota bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2010. Với
Toyota 2009 là năm thua lỗ đầu tiên trong vòng 70 năm trở lại đây. Toyota ngập trong
nợ và phải vay 270 tỷ từ ngân hàng tài trợ bởi chính phủ Nhật Bản. Trong năm 2010,
hình ảnh Toyota bị giảm sút nặng nề khi công ty buộc phải thực hiện những vụ thu hồi
xe lớn trên toàn Châu Âu và Châu Mỹ do các lỗi ở chân ga và phanh xe.
7
1.3 Triết lý của công ty Toyota Motor Corporation
Công ty Toyota toàn tâm toàn ý để cung cấp xe ôtô cho khách hàng. Việc bán
xe chỉ có thể được coi là hoàn tất khi khách hàng đã sử dụng xe và hoàn toàn hài lòng
về nó. Triết lý của Toyota đặt ra những thứ tự ưu tiên như sau:
- Khách hàng
- Đại lý/Nhà phân phối
- Nhà sản xuất
1.4 Các thế mạnh của Toyota Motor Corporation
Trong bất cứ một ngành công ngiệp nào thì uy tín về chất lượng cũng là vấn đề
được đặt lên hàng đầu. Đối với người dẫn đầu họ có thể đặt ra các tiêu chuẩn một ôt ô
như thế nào là đạt yêu cầu về chất lượng hay học ó khả năng tiếp cận với những nhà
cung cấp đầu vào giá rẻ thậm chí họ cũng có thể giành được sự ưu đãi từ phía chính
phủ . Để có được uy tín đó thì Toyota đã phải bỏ ra hàng thập kỉ cần mẫn đầu tư,
nghiên cứu và chinh phục thị trường. Toyota, một trong những công ty lớn hàng đầu
của Nhật bản luôn được chính phủ nước này dành cho rất nhiều ưu đãi về thuế. Bên
cạnh đó, do quy mô và uy tín của mình, Toyota đã xây dựng được hệ thống khách
hàng và nhà cung cấp trung thành nhằm giảm thiểu chi phí sản xuất và phát triển thị
trường xe của công ty.
2. Tính tất yếu của Quản trị đa quốc gia với Toyota Motor Corporation
Nền kinh tế thế giới đang phát triển theo hướng toàn cầu hóa ngày càng mạnh
mẽ. Cùng với nó là sự phát triển nhanh chóng của mô hình công ty đa quốc gia. Các
công ty này - hoạt động trên phạm vi quốc tế - thành công nhờ khả năng quản lý xuất
sắc giúp họ kết hợp sự đa dạng cũng như kiểm soát những biến động và thay đổi đến
từ yếu tố “đa quốc gia” của nó.
Trong cuộc sống luôn diễn ra những xu thế nhất định như công nghiệp hóa –
hiện đại hóa hoặc toàn cầu hóa. Chính vì vậy, mà bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt động
cũng theo quy luật của cuộc sống. Một doanh nghiệp sau một quãng thời gian nhất
định sẽ lớn dần lên, phát triển lên. Doanh nghiệp sẽ có nhu cầu mở rộng sản xuất kinh
doanh, mở rộng thị trường tiêu thụ. Doanh nghiệp phải tìm kiếm một thị trường mới
( những thị trường từ khu vực đến các vùng lân cận ra đến thị trường nước ngoài)
nhằm tăng thị phần, doanh thu cũng như lợi nhuận. Khi doanh nghiệp phát triển thành
công ty đa quốc gia thì thị trường kinh doanh mở rộng, kéo theo đó là thị trường vốn
8
mở rộng. Doanh nghiệp tham gia vào quá trình quản trị. Doanh nghiệp sẽ phát triển
sản xuất, mở rộng thị trường nhân sự, thuê các chuyên gia nước ngoài về tư vấn nguồn
nhân lực. Như vậy, doanh nghiệp sẽ có sự tham gia của nhiều người nước ngoài, có
nền văn hóa khác nhau. Do vậy, quản trị đa văn hóa là điều tất yếu đối với doanh
nghiệp đa quốc gia. Quản trị đa quốc gia là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện,
rà soát, đánh giá và điều chỉnh nếu cần để đạt được mục tiêu của tổ chức trên cơ sở
các nguồn lực nhất định ( con người, công việc, tài chính).
Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC (Multinational Corporation) là
công ty tham gia vào quá trình sản xuất và bán sản phẩm hoặcdịch vụ ở nhiều nước.
Ban đầu nó gồm một công ty mẹ đặt tại chính quốc và có ít nhất năm hoặc sáu công ty
con ở nước ngoài, đặc biệt có mức độ hợp tác hỗ trợ lẫn nhau cao và mang tính chiến
lược giữa các công ty con của nó. Các công ty đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả
ngân sách của nhiều quốc gia. Các công ty này có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối
quan hệ quốc tế và đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hoá. Một số
công ty đa quốc gia có tới 100 công ty con ở nước ngoài trên khắp thế giới. Liên hiệp
quốc dự đoán rằng có ít nhất 35.000 công ty con trên thế giới có thể xem là công ty đa
quốc gia. Dù theo đuổi chiến lược thâm nhập nước ngoài hay mở rộng toàn cầu, đặc
trưng của một công ty đa quốc gia là quy mô và phạm vi phân bổ tài sản của nó. Sự
tồn tại thực sự của các công ty đa quốc gia là dựa vào khả năng dễ di chuyển của một
số nhân tố sản xuất nhất định giữa các nước.
9
Toyota luôn hướng tới việc đáp ứng nhu cầu của từng đất nước và khu vực.
Theo đó, chiến dịch sản phẩn cơ bản từ 2000 đến nay của Toyota là cung cấp mọi loại
xe cho tất cả các nước, tất cả các khu vực. Tính đến năm 2009 Toyota đã hình thành
nên một mạng lưới toàn cầu với 11 trung tâm nghiên cứu phát triển, 75 trung tâm sản
xuất tại Nhật Bản và nước ngoài; mạng lưới bán hàng đã có mặt tại hơn 170 nước và
vùng miền. Tuy nhiên, giữa những điều kiện thị trường ô tô khắc nghiệt như ngày nay,
việc mở rộng theo cách thức này trở nên khó khăn hơn trong khi Toyota vẫn phải thực
hiện vai trò của mình như một nhà sản xuất ô tô góp phần vào một xã hội phong phú,
tăng trưởng kinh tế và tương lai môi trường của trái đất. Vì vậy, trong thời gian tới
Toyota phải xác định nơi nó muốn cạnh tranh và những vùng cần có những bước đi
cẩn thận. Hiện nay, Toyota đã xây dựng chiến lược riêng dành cho mỗi mảng thị
trường lớn trên thế giới: với các nước đang phát triển (đặc biệt là Trung Quốc) cạnh
tranh bằng chiến lược giá, thị trường nội địa tập trung vào chất lượng sản phẩm, thị
trường Bắc Mỹ phát triển theo hướng tự cung tự cấp, thị trường Châu Âu sử dụng lợi
thế của dòng xe nhiên liệu sạch.
Bởi vì các lợi thế về chi phí có thể thực hiện từ việc sản xuất ở nước ngoài hoặc
các cơ hội thu nhập có thể có từ nhu cầu của thị trường nước ngoài, tiềm năng phát
triển trở nên lớn hơn đối với các công ty quan tâm đến hoạt động kinh doanh quốc
tếNhững đầu tư quốc tế phát triển mạnh mẽ qua thời gian, chúng được thúc đẩy bởi sự
tổng hợp của các nhân tố: Sự dỡ bỏ hoặc giảm bớt những rào cản đối với đầu tư nước
ngoài; các chi phí vận tải và thông tin giảm mạnh; các thị trường vốn quốc tế và nội
địa hoạt động tự do hơn, trong đó các công ty có thể huy động những khoản vốn
khổng lồ, những rủi ro tiền tệ và các rủi ro khác có thể bảo hiểm được. Tuy nhiên
không phải tất cả các công ty đa quốc gia đều có chung một câu trả lời cho câu hỏi tại
sao chúng lại tấn công ra thị trường quốc tế.
3. Đa văn hóa, Quản trị Đa văn hóa, tính tất yếu của Quản trị Đa văn hóa
3.1 Khái niệm văn hóa
Thuật ngữ “văn hóa” chỉ những giá trị, tín ngưỡng và nguyên tắc bên trong tạo
thành nền tảng của hệ thống quản lý của doanh nghiệp cũng như một loạt các thủ tục
quản lý và hành vi ứng xử minh chứng và củng cố cho những nguyên tắc cơ bản này.
Văn hoá tượng trưng cho một hệ thống độc lập bao gồm các giá trị và cách ứng xử
chung trong một cộng đồng và có khuynh hướng được duy trì trong một thời gian dài.
10
Văn hóa là một tập hợp các giá trị, chuẩn mực mà các thành viên trong cộng
đồng, trong tổ chức và trong xã hội thu nhỏ, tuân thủ một cách tự nguyện. Điều này
thường đúng với các nước phát triển. Để có những giá trị, những chuẩn mực này.
Những giả định phải tuân thủ theo thời gian, những giả định này được gọt giũa, trở
thành những chuẩn mực định hướng.
Với tôi, từ văn hoá có nghĩa là các tín ngưỡng mà các nhà quan lý trong một
doanh nghiệp thống nhất với nhau để điều hành Công ty. Những tín ngưỡng này
thường vô hình nhưng chúng có tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành động của họ.
3.2 Khái niệm đa văn hóa
Nói đến văn hoá của một tổ chức là nói đến một hình thể duy nhất với các tiêu
chuẩn, giá trị, tín ngưỡng, cách đối xử… được thể hiện qua việc các thành viên liên
kết với nhau để làm việc. Nét đặc biệt của một tổ chức cụ thể nào đó được thể hiện ở
lịch sử của nó với những ảnh hưởng của hệ thống cũ, lãnh đạo cũ trong việc xây dựng
con người. Điều này được chứng tỏ ở sự khác nhau giữa việc đi theo thói quen và luật
lệ, hệ tư tưởng cũ và mới, cũng như những sự lựa chọn chiến lược của toàn tổ chức.
Đa văn hóa là sự đa dạng về văn hóa của các thành viên trong một tổ chức, đơn
vị hay mở rộng ra là một cộng đồng nào đó. Đối với nhân loại tính đa dạng văn hóa
cũng giống như tính đa dạng trong giới tự nhiên là một điều kiện không thể thiếu để
duy trì sự cân bằng của sự sống.
Tính đa dạng là di sản chung của loài người. Tính đa dạng văn hóa có hai tầng
bậc, một là đa dạng trên phạm vi thế giới, đó là đa dạng về văn hóa các dân tộc. Hai là
trong phạm vi một dân tộc văn hóa cũng đa dạng, không chỉ đa dạng về sắc tộc, mà đa
dạng về các hình thức biểu hiện đa dạng theo các loại chủ thể. Văn hóa ngoại biên của
các quần thể dân cư là biểu hiện nổi bất của tính đa dạng và hình thức biểu hiện trong
một nền văn hóa dân tộc.
3.3 Khái niệm quản trị đa văn hóa
Quản trị đa văn hóa là quá trình quản trị một tổ chức bình thường kết hợp với
khai thác các yếu tố đa văn hóa một cách hiệu quả nhất.
Đây là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá và điều
chỉnh nếu cần thiết để kết hợp một cách tốt nhất các cá nhân có nền văn hóa khác nhau
và còn phát huy tối đa năng lực, phẩm chất của họ, hạn chế các đặc điểm có tính tiêu
cực của mỗi một nền văn hóa.
11
3.4 Tính tất yếu của Quản trị Đa văn hóa
Mỗi một quốc gia, dân tộc đều mang trong mình những giá trị cốt lõi riêng về
văn hóa, từ đó tạo nên đất nước, con người với những nét riêng của chính họ.
Quản lý trong thời đại đa văn hóa là tìm kiếm sức mạnh cộng hưởng thay vì
những xung đột. Trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay, các nhà quản lý phải có khả
năng nhận diện và làm việc với nhiều loại hình văn hóa tồn tại đồng thời trong một tổ
chức hay mạng lưới kinh doanh. Những nhà quản lý thành công trong thực tế kinh
doanh quốc tế có khả năng đương đầu với những khác biệt văn hóa. Những người thực
sự làm việc hiệu quả còn thấu hiểu rằng những nền văn hóa khác nhau tồn tại song
song như một lẽ tất yếu.
Trong bối cảnh Việt Nam, một nền kinh tế đang hội nhập sâu rộng vào thế giới
kinh doanh toàn cầu, các doanh nhân, doanh nghiệp đang đứng trước những cơ hội
hợp tác với nước ngoài lớn hơn bao giờ hết. Không chỉ có những đối tác, những hợp
đồng quốc tế, việc một công ty của Việt Nam sở hữu nhân sự nước ngoài, hay các tập
đoàn quốc tế do người Việt Nam tham gia điều hành đã trở nên ngày càng phổ biến
hơn. Việc trau dồi những kỹ năng, kiến thức liên văn hóa để có thể ứng xử tự tin,
giành được lòng tin của đối tác và cộng sự là hành trang không thể thiếu trên con
đường dẫn tới thành công. Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa
nói chung và các chiến lược quản trị kinh doanh trong bối cảnh văn hóa quốc tế. Tuy
nhiên, lĩnh vực này ở Việt Nam vẫn còn khá mới mẻ và chưa được khai thác đúng
mức. Quản trị đa văn hóa cho các doanh nghiệp – văn hóa với vai trò là một nhân tố
quan trọng trong các chiến lược quản lý và phát triển nguồn nhân lực, giúp các doanh
nghiệp hiểu được tầm quan trọng của quản trị đa văn hóa và các ứng dụng của nó tại
các công ty trên thế giới, gợi ý những bước tiến đầu tiên trong việc đưa quản trị đa văn
hóa đồng hành với quá trình kinh doanh cốt lõi của doanh nghiệp.
4. Thực trạng của đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội hiện nay của các
Doanh nghiệp Việt nam. Biện pháp để giải quyết các thực trạng đó.
4.1 Thực trạng của đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội hiện nay của các
Doanh nghiệp Việt nam
Đạo đức kinh doanh có tính đặc thù của hoạt động kinh doanh - do kinh doanh
là hoạt động gắn liền với các lợi ích kinh tế, do vậy khía cạnh thể hiện trong ứng xử
về đạo đức không hoàn toàn giống các hoạt động khác: Tính thực dụng, sự coi trọng
12
hiệu quả kinh tế là những đức tính tốt của giới kinh doanh nhưng nếu áp dụng sang
các lĩnh vực khác như giáo dục, y tế... hoặc sang các quan hệ xã hội khác như vợ
chồng, cha mẹ con cái thì đó lại là những thói xấu bị xã hội phê phán. Song cần lưu ý
rằng đạo đức kinh doanh vẫn luôn phải chịu sự chi phối bởi một hệ giá trị và chuẩn
mực đạo đức xã hội chung. Các trường hợp vi phạm đạo đức kinh doanh bao gồm:
Trước việc Vinaphone dùng clip những trẻ em chết vì sởi ra kinh doanh, nhiều
người đều cho rằng việc trục lợi trên nỗi đau của người khác, đặc biệt với trẻ em, là
một hành động thiếu sự suy nghĩ, thiếu đi sự kiểm tra, kiểm soát của nhà mạng. Hành
động lần này của Vinaphone ít nhiều đã ảnh hưởng đến uy tín của Bộ Y tế và các cơ sở
khám chữa bệnh.
Công ty Vedan tháng 9/2008 đã đổ nước thải ra song Thị Vải và đã bị chính
quyền địa phương phát hiện buộc phải bồi thường thiệt hại. Những thiệt hại cho Vedan
gây ra là ô nhiễm nặng khu vực bán kính 10km, ảnh hưởng 2100 ha nuôi trồng thủy
hải sản, còn Vũng Tàu thiệt hại 600 ha. Đối với Vedan, chính quyền địa phương buộc
Vedan phải bồi thường thiệt hại do vi phạm pháp luật là lẽ đương nhiên. Nhưng sự
việc không chỉ là thiệt hại mà Vedan phải bồi thường. Khi đã xong trách nhiệm pháp
lý, Vedan còn chịu hậu quả nặng nề do vi phạm tính liêm chính, đạo đức kinh doanh
khi hầu hết các siêu thị và người tiêu dùng tẩy chay không sử dụng sản phẩm Vedan.
Những thiệt hại cho cộng đồng người tiêu dùng tẩy chay gây thiệt hại hơn rất nhiều so
với những gì mà Vedan phải bồi thường do vi phạm pháp luật.
Trường hợp khai lỗ liên tục 10 năm của Coca Cola. Đây là trường hợp bị dư
luận lên tiếng gay gắt gần đây nhất khi Coca Cola, một công ty hàng đầu về thức uống
tại thị trường Việt Nam, Coca Cola xuất hiện từ ngang cùng ngõ hẻm trong từng ngôi
nhà của người dân Việt Nam nhưng… chưa đóng thuế 1 đồng nào vì luôn lỗ.
Trước tình hình chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm - Vấn đề “báo động đỏ”
hiện nay. Có thể nói, chúng ta đang đứng trước một nghịch lý hài hước mà chua xót:
Những thứ nuôi sống cơ thể lại tiềm ẩn nguy cơ trở thành thủ phạm tàn phá, huỷ hoại
cơ thể. Hầu như không ai có đủ niềm tin về cái gọi là “thực phẩm sạch”. Bởi nếu “bỏ
phiếu” cho rau thì không ít loài rau đã nhiễm chì và “ngậm” thuốc trừ sâu trầm trọng,
“bỏ phiếu” cho quả thì khá nhiều loại quả đã “ngấm” hoá chất bảo quản độc hại để
tươi ngon lạ lùng hàng tháng trời. Thậm chí, đến lọ nước tương khiêm nhường cũng
13
đe dọa gieo rắc mầm họa ung thư vì sự có mặt quá tiêu chuẩn cho phép của chất 3MCPD trong đó...
4.2 Biện pháp để giải quyết các thực trạng đó.
Pháp luật phải tỏ ra cứng rắn, nghiêm khắc với những hành vi sản xuất, kinh
doanh bất chính. Các cơ quan có thẩm quyền phải tăng cường kiểm tra, giám sát và xử
lý nghiêm minh, kiên quyết những trường hợp vi phạm. Trên một nền tảng pháp luật
chắc chắn, trong một môi trường pháp lý thuận lợi, kêu gọi đạo đức kinh doanh từ các
doanh nghiệp và những người sản xuất kinh doanh khác là điều cần thiết.
Để giáo dục đạo đức có hiệu quả, trước hết người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải
là tấm gương cho quần chúng noi theo. Ngày nay, trong quá trình đổi mới, thực hiện
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, người lãnh đạo, quản lý phải
có phẩm chất trong sạch, là tấm gương cho quần chúng noi theo. Tấm gương đạo đức
của cán bộ lãnh đạo là giá trị đạo đức được truyền từ người này sang người khác, từ
thế hệ này sang thế hệ khác.
Người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải không ngừng tự rèn luyện, tự tu dưỡng
đạo đức. Để nêu gương cho nhân dân, Khổng Tử yêu cầu người cầm quyền phải tu
thân. Ngày nay để hoàn thành nhiệm vụ của mình, người cán bộ lãnh đạo, quản lý
phải không ngừng tu dưỡng đạo đức cá nhân, tự rèn luyện, tự đánh giá, tự điều chỉnh
mình theo các giá trị đạo đức. Thực tế chứng minh rằng, sự tác động có mục đích của
giáo dục chỉ bắt đầu phát huy tác dụng khi có sự hưởng ứng của đối tượng một cách tự
giác. Khổng Tử khuyên mọi người muốn thực hiện lý tưởng của mình phải thường
xuyên tu dưỡng và học tập. Ông thường nhấn mạnh việc học tập, học để hiểu biết, học
để giúp đời. Ông rèn luyện mình phải học, học không biết chán, dạy không biết mỏi.
Lời nói ấy, tấm gương ấy đã cổ vũ chúng ta trong thời đại cách mạng khoa học và
công nghệ hôm nay là phải thường xuyên nâng cao trí tuệ của mình. Muốn dân tộc
phát triển thịnh vượng thì mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải ham mê học tập và ứng
dụng những điều đã học theo tấm gương của Khổng Tử. Không chỉ tu dưỡng đạo đức
trong học tập, trau dồi đạo đức cách mạng mà còn phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức
trong tất cả các lĩnh vực.
Cần xây dựng một chương trình tuân thủ đạo đức hiệu quả. Khi cơ hội tham gia
vào những hành vi vô đạo đức xuất hiện, các công ty nhiều khi phải đối mặt không chỉ
với các vấn đề đạo đức mà còn phạm vào các vi phạm pháp lý khi những người làm
14
việc cho các công ty này không biết cách nào để có thể đưa ra những quyết định đúng
đắn. Các vấn đề pháp lý thường là những nỗ lực nhằm giải quyết các vấn đề rắc rối
hoặc những tranh chấp đạo đức. Một chương trình đạo đức sẽ giúp các công ty giảm
những khả năng bị phạt và những phản ứng tiêu cực của công chúng đối với những
hành động sai trái. Trách nhiệm đối với các hành động kinh doanh nằm trong tay các
cán bộ quản lý cao cấp. Một công ty cần phải có một chương trình đạo đức hiệu quả
để đảm bảo rằng tất cả các nhân viên của mình hiểu được những tiêu chuẩn đạo đức
kinh doanh và tuân theo những chính sách và quy định về nhân cách.Chính điều này
sẽ tạo ra môi trường đạo đức của doanh nghiệp ấy, bởi vì các nhân viên đến từ các
doanh nghiệp khác nhau, có sự giáo dục và gia đình khác nhau nên khó có thể có cùng
một tầm nhìn chung và biết ngay các hành vi nào là đúng đắn khi họ mới được nhận
vào một công ty mới hay được giao một công việc mới.
15
KẾT LUẬN
Đạo đức đã được con người nghiên cứu từ rất lâu. Nó gắn liền với cuộc sống,
nó có mặt trong tất cả các hoạt động của con người. các vấn đề về đạo đức không
được qui đinh rõ trong một bộ luật nào nhưng con người xem nó như những chuẩn
mực chung, những qui tắc xử sự chung của toàn xã hội. Bắt đầu từ khi xuất hiện sự
trao đổi hàng hóa, thì mối quan hệ giữa xon người trở nên phức tạp hơn. Đạo đức xã
hội nói chung không đủ để giải thích những hiện tượng phức tạp nay sinh trong những
mối quan hệ mới này, và cần có thêm những qui tắc ứng xử mới phù hợp để hướng
dẫn hành vi con người trong mối quan hệ mới, khi đó một ngành khoa học mới xuất
hiên đó là đạo đức kinh doanh. Vậy đạo đức kinh doanh cũng đã xuất hiên từ rất lâu
nhưng nó chỉ bắt đầu được nghiên cứu nghiêm túc, và phát triển thành một ngành
khoa học vào nửa sau thế kỷ XX.
Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng
điều chỉnh, đánh giá và kiểm soát hành vi của chủ thể kinh doanh. Các chuẩn mực về
đạo đức kinh doanh đặt ra để điều chỉnh các hành vi kinh doanh theo khuôn khổ pháp
luật và theo những chuẩn mực đạo đức xã hội vốn có từ rất lâu của con người. Ngày
nay đạo đức kinh doanh rất được nhiều người quan tâm, khi trên thị trường số hành vi
vi phạm đạo đức kinh doanh ngày một tăng. Rất nhiều các doanh nghiệp vì lợi nhuận
mà đã có những hành vi phi đạo đức trong kinh doanh.
Các doanh nghiệp dường như bỏ ngoài tai các qui tắc xử sự chung của xã hội,
các chuẩn mực đạo đức xã hội. ở đây ta không thể chờ sự tự giác của mỗi doanh
nghiệp nũa. Theo tôi, nhà nước ngoài việc lập ra những chính sách và luôn tìm cách
tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất và cạnh tranh công bằng theo
pháp luật thì cần phải qui định thêm những biện pháp xử phạt nghiêm minh hơn đói ới
những hành vi vi phạm và nhất là những hành vi đó có liên quan tới lợi ích của người
tiêu dùng.
16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Bài giảng môn học Quản trị đa văn hóa, TS. Đặng Ngọc Sự, 2014.
2) Quản trị chiến lược đa quốc gia, Ngô Bảo Châm, 2014.
3) Phương thức quản trị đa văn hóa, Nguyễn Minh Phong, 2014.
4) Quản trị kinh doanh đa quốc gia, Lê Thu Hương, 2014.
5) Cẩm nang cho các lãnh đạo trẻ, Ngô Mỹ Hân, 2014.
6) />INTRODUCTION
In the trend of globalization as the current issues of business ethics is an important
criterion for the business enterprise market and conquer the world. However, the
violation of ethical business day was heightened.
Studies and experience of many countries currently showing close relationship
between ethical behavior and customer satisfaction. The immoral behavior can reduce
customer loyalty and customers will switch to buying other brands.
Conversely ethical behavior can attract customers to the company's products.
Customers prefer to buy products of companies with good reputation, attention to
customers and society. Customers say that they prioritize how to do good brand if the
price and quality of the same brand. Ethical companies have always treated customers
fairly and continuously improve product quality and provide customers with the
information accessible and easy to understand, will have better competitive advantage
and spend are more profitable. The key point here is that the cost to develop an ethical
environment can have a reward customer loyalty increased.
For the most successful businesses, obtained the long-term profitability, the
development of relations of mutual respect and cooperation together with the
customer is the key to success. By focusing on customer satisfaction, the business
continues to make customer's dependence on companies increasingly deeper, and the
confidence of customers increased, now he will have a deeper understanding of how
17
to serve customers in order to develop that relationship. A strong ethical environment
often focus on the core values of putting the clients' interests first.
18
RESEARCH OF CONTENT
1. General introduction Toyota Motor Corporation
1.1 Overview of Toyota Motor Corporation
Toyota Motor Corporation (hereinafter referred to as Toyota) is an automobile
manufacturing corporation transnational headquartered in Japan. Toyota was founded
on August 28, 1937 by Kiichiro Toyota from partially separated from Toyota
Industries. After a long development time, Toyota has now risen to become the vehicle
manufacturing group world's largest in terms of sales. According to the annual report
2009 fiscal year (from April 1, 2008 to March 31, 2009), Toyota provides jobs for 320
808 employees, with 529 subsidiaries, with total capital of the company up to 397.05
billion yen.
1.2 Major business activities
Main activities of the company is to design, assemble and sell cars, race cars, trucks,
transport and related spare parts. Toyota is known for the famous brands such as the
Prius (hybrid car clean fuel), Lexus and Scion (luxury cars), Tundra (truck),etc,...
Toyota owns a large stake in the carmaker Daihatsu and Hino, Fuji Heavy Industries,
Isuzu Motors, Yamaha Motors, and Mitsubishi Aircraft Corporation. In addition to
manufacturing automobiles, Toyota provides financial services (Toyota Financial
Services), participated in robotics, biotechnology,etc,...
Toyota's market share worldwide spread. Of which 26% in Japan, 29% in North
America, 14% in Europe,etc,... Toyota to build factories anywhere in the world,
manufacturing or assembling vehicles to meet the needs in the market there. These
plants are present in Apan, Australia, India, Sri Lanka, Canada, Indonesia, Poland,
South Africa, Turkey, Colombia, UK, USA, UAE, France, Brazil, Portugal, Argentina,
Czech Republic, Mexico, Malaysia, Thailand, Pakistan, Egypt, China, Vietnam,
Venezuela, the Philippines, and Russia.
Toyota was hit hard by the financial crisis in period of 2007-2010. In 2009, The
Toyota was the year with its first loss in 70 years. Toyota awash in debt and had to
borrow from banks 270 billion financed by the Japanese government. In 2010,
Toyota's image severely reduced when companies are forced to make large vehicle
recalls over Europe and America due to errors in the accelerator and brake.
19
1.3 The philosophy of the company Toyota Motor Corporation
Toyota wholeheartedly to provide cars for customers. The sale of vehicles can only be
considered complete when the customer has used the car and totally happy about it.
The philosophy of Toyota sets the priority order as follows:
- Customers
- Agents / Distributors
- Manufacturers
1.4 The strength of Toyota Motor Corporation
In any industry, the prestigious public ngiep quality is also a matter to be placed on
top. For a leader they can set standards of how a trailer trucks is satisfactory in terms
of quality or access ó study with input suppliers cheap even they can win the priorities
of the government. To get that reputation, Toyota spent decades painstakingly
investment, research and market conquest. Toyota, one of the most leading companies
of Japan has always been the government for so many tax incentives. Besides, due to
the scale and their reputation, Toyota has built a network of customers and loyal
suppliers to reduce costs of production and development of the company car market.
2. The inevitability of Intercultural Management with Toyota Motor Corporation
The world economy is developing in the direction of globalization increasingly strong.
Along with it is the rapid development of models multinational companies. These
companies - operate on an international scale - success through excellent management
capabilities to help them incorporate diversity as well as control the fluctuations and
changes come from factors " Intercultural " of it .
In life always takes place certain trends such as industrialization - modernization or
globalization. Therefore, that any business that works well as a rule of life. A business
after a certain period of time will grow up, grow up. Enterprises will need to expand
production and business, expand markets. Enterprises must seek new markets (the
markets from the region to the neighborhood out to foreign markets) in order to
increase market share, revenue and profit. When businesses develop successful
multinational business market is expanding, which is pulled by the capital market
expansion. Enterprises involved in the governance process. Enterprises will develop
production, expanding labor market, hiring foreign experts on human resource
consulting. Thus, enterprises will have the participation of many foreigners, have
20
different cultures. Therefore, multiculturalism governance was essential for
multinational enterprises. Managing multinational process of planning, implementing,
reviewing, evaluating and adjusting as necessary to achieve the objectives of the
organization on the basis of certain resources (people, work, Financial).
Multinational Corporation, often abbreviated as MNC (Multinational Corporation) is a
company engaged in the manufacture and sale of products or a commercial service in
many countries. Initially it consists of a parent company located in the country and has
at least five or six subsidiaries abroad, especially with the level of cooperation and
mutual support strategic high between its subsidiaries. The large multinational
companies have the budget to exceed the budget of many countries. These companies
may have significant impact on international relationships and play a vital role in the
process of globalization. Some multi-national companies and 100 overseas
subsidiaries around the world. The UN estimates that there are at least 35,000
subsidiaries of the world can see the multinational company. Whether pursuing
strategies to penetrate foreign or global expansion, characterized by a multi-national
company is the scale and scope of its asset allocation. Real existence of multinational
companies are based on the ability to easily move of some certain factors of
production between countries.
21
Toyota always aim to meet the needs of each country and region. Accordingly, the
portion of the basic campaign from 2000 to the present is to provide all of Toyota
vehicles for all countries, all regions. As of 2009 Toyota has formed a global network
of 11 research and development centers, 75 production centers in Japan and abroad;
sales network in more than 170 countries and regions. However, among the conditions
for harsh automotive market today, expanding in this way becomes more difficult
while Toyota still has to perform its role as an automobile manufacturer contributing
to a rich society, economic growth and environmental future of our planet. So the next
time Toyota must determine where it wants to compete and the region should take
steps carefully. Currently, Toyota has developed its own strategy for each market
segment in the world: with the developing countries (especially China) competition by
pricing strategy, local market focus on product quality, North American market
development towards self-sufficiency, the European market using advantage of clean
fuel vehicles.
Because the cost advantage can be done from the production abroad or income
opportunities may demand from foreign markets, the potential becomes larger for
companies interested in international business investment, which, however strong
international development over time, we are driven by a combination of factors: The
removal or reduce the barriers to foreign investment; the cost of transport and
communication fell sharply; international capital markets and domestic work more
freely, which companies can raise huge amounts of capital, currency risks and other
risks can be insured. However, not all multinational companies have a common
answer to the question why they attack the international market.
3. Intercultural, Intercultural Management, the inevitability of Intercultural
Management
3.1 The concept of culture
The term "culture" only the values, beliefs and principles form the foundation within
the system of corporate management as well as a range of management procedures
and behavior demonstrates and reinforces This basic principle. Culture represents an
independent system include the values and common behavior in a community and
tend to be maintained for a long time. Culture is a set of values and standards that
members of the community, in institutions and in society in miniature, to comply
22
voluntarily. This is often true for developing countries. To have value, these standards.
These assumptions must comply with time, these assumptions are castigate, become
the norm orientation.
For me, from cultural beliefs mean that the managers in an enterprise unified together
to run the company. These beliefs are often invisible, but they have a strong impact on
thinking and their actions.
3.2 The concept of Intercultural
Speaking to the culture of an organization refers to a single shape with standards,
values, beliefs and behavior ... is expressed by members linked together to work. A
distinctive feature of a particular organization is represented in its history with the
influence of the old system, the old leadership in building human. This is
demonstrated in the difference between the following of routines and rules, old and
new ideologies, as well as the choice of organizational strategy.
Multiculturalism is the cultural diversity of the members of an organization, unit or
expand to a certain community. For human cultural diversity, like diversity in the
natural world is an indispensable condition for maintaining the balance of life.
This diversity is the common heritage of mankind. Cultural diversity has two stages,
one is diversified across the world, it is the cultural diversity of peoples. Two are
within a cultural ethnic diversity, not just racial diversity, but diversity of diverse
forms of expression according to the type of subject. Peripheral Culture of the
population is remarkable expression of the variety and form of expression in an ethnic
culture.
3.3 The concept of Intercultural Management
Intercultural Management is the process an organization normally associated with
exploiting the multicultural element most effective way.
This is the process of planning, implementing, monitoring, evaluating and adjusting as
necessary to combine the best of individuals with different cultures and also to
maximize the capabilities, their nature, limited the negative characteristics of each
culture.
3.4 The inevitability of Intercultural Management
Every nation, ethnic group in her own core values of culture, which make up the
country, people with their own distinctions.
23
Managing in a multicultural era is searching resonant power instead of conflict. In the
global economy today, managers must be able to identify and work with many types
of cultures coexist in an organization or business network. Successful managers in
international business practices capable to cope with cultural differences. These
people really work effectively alone understand that different cultures coexist as a
probably inevitable.
In the context of Vietnam, an economy that is deeply integrated into the global
business world, entrepreneurs, enterprises are facing the opportunity of cooperation
with major foreign than ever. Not only do the partners, international contracts, the
company's ownership of Vietnam foreign, or international corporations engaged by the
operator Vietnam has become increasingly more popular. The hone these skills,
intercultural knowledge to be able to behave confidently, win the trust of partners and
collaborators is indispensable baggage on the road to success. Around the world there
have been many studies on culture in general and the business management strategy in
an international cultural context. However, this sector in Vietnam is still relatively new
and has not been properly exploited. Managing multicultural businesses - culture as an
important factor in the strategic management and development of human resources, to
help businesses understand the importance of multiculturalism and governance its
applications in the company of the world, suggesting the first step in bringing
multicultural governance accompanies the core business processes of the enterprise.
4. Be present reality of business ethics and social responsibility of the enterprise
in Vietnam, now. The authorities need to do to resolve this situation.
4.1 Be present reality of business ethics and social responsibility of the enterprise in
Vietnam, now.
Business ethics have characteristics of business operations - from business operations
is tied to the economic benefits, thus showing aspects of ethical behavior is not quite
the same in other activities: Pragmatism, respect the economic effect is the virtue of
the business world, but if applied to other fields such as education, health care,etc,...
or to other social relations as husband and wife, parents and children, it is the social
bad habits are critical. But it should be noted that business ethics must always be
governed by a value system and ethical standards common society. Cases of violation
of business ethics include:
24
Previous work using clips Vinaphone children die from measles out of business, many
of them for that profiteering on the pain of others, especially children, is a poorly
thought out actions, lack of inspection and control of the network. Vinaphone action
this time more or less affect the reputation of the Ministry of Health and medical
institutions.
In September, 2008, Vedan company sewage poured out Thi Vai River and local
governments have been detected must pay damages. The damage caused is Vedan
polluted 10km radius area, affecting 2,100 hectares of aquaculture seafood, and Vung
Tau damage 600 hectares. For Vedan, forcing local authorities to pay damages Vedan
for violating the law for granted. But it is not only the damage that Vedan to
compensate. Once done Liability, Vedan also bear heavy consequences for breach of
integrity, business ethics at most supermarkets and consumer boycott Vedan unused
product. The damage to the consumer community boycotting much more damaging
than what Vedan pay compensation for breach of law.
Where continuous opening hole 10 years of Coca Cola. This is a case of public
opinion voiced most recent acrimonious as Coca Cola, a leading company in the
market drinks Vietnam, Coca Cola appeared from across the alley in each house of the
people of Vietnam, but not one dime because taxpayers always holes.
Faced with quality food safety - issue a "red flag" present. Have to say, we are facing a
paradox that bitter humor: Everything feed body to potentially become perpetrators
devastated, ruined body. Almost no one has enough faith in the so-called "clean food."
Because if the "vote" for many species of vegetables, the vegetables were
contaminated with lead and "suck" severe pesticide, "vote" for the many fruits fruit
has "absorbed" toxic chemicals to preserve freshness odd months. Even relatively
modest bottle to also threatens to sow the hotbed for the presence of cancer than the
standard allows the substance 3-MCPD in which,etc,...
4.2 Measures to resolve this reality.
Legislation must appear tough, tough on the act of producing, trading illegal. The
competent authorities should strengthen inspection and supervision and strictly
handled resolutely cases of violation. On a legal basis to make sure, in a favorable
legal environment, business ethics calls from businesses and the producer of business
is essential.
25