Tải bản đầy đủ (.docx) (13 trang)

Tiểu luận lý thuyết thông tin bất cân xứng, vận dụng trên thị trường tài chính

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (108.49 KB, 13 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH
LỚP VB19AFN01 – NHÓM 09

Đề tài 02:

LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG,
VẬN DỤNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Giảng viên: Ths. Trương Minh Tuấn
Thành Viên:
Phạm Anh Duy (06)
Nguyễn Thị Thanh Vân (50)
Nguyễn Thị Lý (27)

1


MỤC LỤC:

1.THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG
1.1 GIỚI THIỆU
“Không đầu tư vào những gì mà bạn không hiểu” (Warren Buffett)
Bạn là một nhà đầu tư, có bao giờ bạn quyết định đặt cược tài sản của mình vào một
doanh nghiệp hoặc một ngành nghề mà bạn chưa hiểu rõ về nó? Trong tài chính, mội
thứ mang lại lợi nhuận đều đi kèm những rủi ro, và bạn là một nhà đầu tư, có thể
không lỗi lạc nhưng ít nhất cũng mong muốn có được thành công từ thứ mà mình
“chăm bón và vun đắp”.
Trong ngành tài chính đều có rất nhiều rủi ro có thể ngăn cản con đường bước đến
vinh quang của bạn, giới hạn và giảm bớt tối thiểu được nó cũng có nghĩa là bạn đã
đặt một chân đến cánh cửa của sự thành công.
Rủi ro trong đầu tư kinh doanh xuất phát từ nhiều nguyên nhân, tuy nhiên trong đề tài


này, mình sẽ giới thiệu một nguyên nhân có thể dẫn đến thất bại trong đầu tư kinh
doanh của bạn. Đó là “Lý Thuyết Thông Tin Bất Cân Xứng”

1.2 LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG LÀ GÌ ?
Thông tin bất cân xứng (asymmetric information) là trạng thái bất cân bằng trong cơ
cấu thông tin – giữa các chủ thể giao dịch có mức độ nắm giữ thông tin không ngang
2


nhau. Một người sẽ có thông tin nhiều hơn người khác về đối tượng được giao dịch.
(theo Wikipedia).
Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên đối tác nắm giữ thông tin còn bên khác thì
không biết đích thực mức độ thông tin ở mức nào đó (theo Nguyễn Trọng Hoài, 2006)
Theo ý kiến cá nhân mình, thông tin bất cân xứng là hành vi xảy ra trước khi xuất
hiện giao dịch, lúc đó một chủ thể có hành vi không minh bạch trong thông tin đối với
chủ thể còn lại nhằm tạo lợi thế ngay tại giao dịch đó.

1.3

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

2.

G.A.Akerlof :
• Nhà kinh tế học người Mỹ đoạt giải Nobel. Năm 1970, ông đã công bố
đề tài ngiên cứu của mình với tên gọi “The Market for ‘lemons’: Quality
Uncertainty and the Market Mechanism “ trên tạp chí Quarterly Journal
of Economics.
• Ngiên cứu này đề cập đến vấn đề mua bán xe cũ. Đại ý là: Trên thị
trường ô tô cũ, người bán xe luôn biết rõ về chiếc xe của mình hơn so với

người mua. Với tâm lý luôn muốn bán với giá cao nên họ sẽ cố gắng bán
với giá cao nhất có thể mặc dù giá trị của chiếc xe không thể đến mức đó.
Người mua không rành về chiếc xe bằng người bán nên họ bị mua “hớ”
những chiếc xe cũ có chất lượng thấp. Về sau những người mua xe sẽ
không mua với giá cao nữa mà chỉ mua với giá thấp do họ mất niềm tin
vào những chiếc xe cũ. Điều đó dẫn đến việc những người bán xe cũ mặc
dù có chất lượng còn tốt nhưng không bán được giá mà mình mong
muốn mà chỉ có thể bán với giá của chiếc xe cũ chất lượng xấu vì bán giá
cao hơn chẳng ai mua. Như vậy họ sẽ không bán nữa mà để sử dụng còn
tốt hơn. Từ đó thị trường chỉ còn toàn xe ô tô cũ chất lượng xấu, xe ô tô
cũ chất lượng tốt dần dần bị đào thải.

3.

Michael Spence
• Nhà kinh tế học người Mỹ đoạt giải Nobel năm 2001. Nghiên cứu về
luồn thông tin di động và thị trường của ông (bao gồm cả lý thuyết
thông tin bất cân xứng) được thực hiện tại đại học Harvard.
• Spence đã tiếp tục nghiên cứu và phát triển lý thuyết của Akerlof trên
thị trường lao động (1973)
3




4.

Đối với Spence, việc thuê lao động của là một cuộc giao dịch giữ
người chủ và người lao động. Người chủ không thể biết được năng
lực của người làm công là như thể nào, có đáp ứng được công việc

hay không. Một trong những cách để giải quyết vấn đề trên là người
lao động sẽ tự phát ra “tín hiệu” của riêng mình, ví dụ như bằng cấp,
kinh nghiệm làm việc, chứng chỉ phụ….của chính người lao động.

Joseph Stiglitz
 Nhà kinh tế học người Mỹ và là một giáo sự tại đại học Columbia.
Ông nhận giải Nobel kinh tế năm 2001 và giải Join bates Clark
năm 1979.
 Cơ chế sang lọc (1975) của ông là phát triển từ lý thuyết của
Michael Spence.
 Đại ý: Mọi chủ thể đều có giá trị nội tại khác nhau, chủ thể đó có
thể bổ sung thông tin của mình cho đối phương bằng việc được
phân loại, đánh giá khác nhau. Ví dụ công ty tuyển dụng nhiều vị
trí khác nhau, bản thân người lao động sẽ tự đánh giá mình để nộp
đơn vào vị trí mà mình cho là phù hợp.

2.HỆ QUẢ CỦA THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG
2.1 HỆ QUẢ
Thông tin bất cân xứng là một loại “dịch bệnh” ảnh hưởng và phá hoại thị trường.
Những tác động của nó bao gồm: Sự lựa chọn ngược (lựa chọn bất lợi), Rủi ro đạo
đức (tâm lý ỷ lại), Vấn đề người ủy quyên – người thừa hành.
a)

Sự lựa chọn ngược (lựa chọn bất lợi) – Adverse Selection – AS
Là một tình trạng kinh tế nảy sinh do tồn tại tình trạng thông tin bất cân xứng,
người lựa chọn thứ tốt lại chọn phải cái không tốt, đây là một loại bất bai thị
trường (theo Wikipedia)
Ví dụ: khách hàng mua Iphone ở một cửa hàng nhỏ (không phải store chính
hãng) được quảng cáo là hàng đã qua sử dụng do khách bán lại nhưng mới
99%, khách hàng mua hàng vì nghĩ rằng đây là hàng chính hãng nên trả giá cao

(thấp hơn store chính hãng), nhưng vấn đề ở đây là cửa hàng này bán hàng
4


dựng (hàng đã độ lại thay thế linh kiện khác vào) . Khách hàng sử dụng Iphone
không tốt được như mong muốn so với cái giá mà họ bỏ ra – Lựa chọn ngược.

b)

c)

Rủi ro đạo đức (tâm lý ỷ lại) – Moral hazard – MH
Là một thuật ngữ kinh tế học và tài chính được sử dụng để chỉ một loại rủi ro
phát sinh khi đạo đức của chủ thể kinh tế bị suy thoái. Rủi ro đạo đức là một
kiểu thất bại thị trường nảy sinh trong môi trường thông tin bất cân xứng (theo
Wikipedia)
Rủi ro đạo đức nảy sinh khi giao dịch đã xảy ra, một bên chủ thể có nhiều
thông tin hơn chủ thể còn lại tự hành động theo hướng làm cho cuộc giao dịch
có lơi cho bản thân (hoặc tổ chức) của mình bất chấp việc nó trực tiếp hoặc
gián tiếp làm tổn hại đến lợi ích của chủ thể giao dịch còn lại. Đây là một hành
vi không đứng đắn làm sát sinh rủi ro về kinh tế (hoặc những gì liên quan đến
cuộc giao dịch) cho bên giao dịch còn lại (bên ít thông tin hơn).
Ví dụ: khách hàng mua bảo hiểm thường có xu hướng hiểu rõ bệnh tình của bản
thân hơn công ty bào hiểm, dẫn tới việc người mua bảo hiểm cố ý lừa công ty
bào hiểm để có nhiều tiền hơn. Hoặc một chủ thể mua bảo hiểm cho chiếc xe
hơi của mình, sau đó lấy lý do mất cắp (đem đi giấu) để đòi tiền bảo hiểm.
Vấn đề người ủy quyền – người thừa hành (Principal – agent – PA)
Là trường hợp một chủ thể (ủy quyền) trao một phần quyền hạn cho một chủ
thể khác (thừa hành) để thay chủ thể (ủy quyền) hoàn thành công việc nhất
định.

Vấn đề xày ra khi chủ thể (thừa hành) lạm dụng quyền hạn của mình để thay
đổi nội dung công việc được chủ thể (ủy quyền) giao phó hoặc để tác động đến
một hoạt động khác mà chủ thể (ủy quyền) không biết hoặc không mong muốn.
Người thừa hành luôn nắm nhiều thông tin về các hoạt động hơn người ủy
quyền do đó có thể có những tác động không mong muốn đến lợi ích của tổ
chức hoặc của bản thân người ủy quyền.
Ví dụ: tại công ty cổ phần, giám đốc (người thừa hành) được sự ủy nhiệm của
cổ đông(người ủy quyền) về chức vụ và quyền hạn để đem lại lợi nhuận cho
công ty. Giám đốc có được sự ủy quyền có thể làm những việc vì lợi ích của cá
nhân mà ảnh hưởng đến lợi ích của công ty và của các cổ đông.

5


2.2 BIỆN PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG THÔNG TIN BẤT
CÂN XỨNG
1.

Giải pháp cho vấn đề lựa chọn ngược
Tình trạng thông tin bất cân xứng – vấn đề lựa chọn ngược có thể xảy ra ở
nhiều môi trường – ngành nghề khác nhau, trong đó môi trường kinh
doanh,thương mại … chiếm tỷ lệ nhiều nhất. Để đối phó với vấn đề này, ta có
thể sử dụng theo cơ chế phát tín hiệu của Spence, cơ chế sang lọc của Stiglitz
Dùng cơ chế phát tín hiệu: chủ thể tham gia giao dịch cần bổ sung thông
tin từ đối phương để tự bảo vệ bản thân đồng thời phát tín hiệu cho chủ thể giao
dịch khác biết những thông tin mà mình có để có thể tiến hành giao dịch. Ví dụ:
công ty cung cấp thiết bị vi tính có thể cung cấp giấy phép kinh doanh (do cơ
quan nhà nước cung cấp), giấp chứng nhận sản phẩm chính hãng, tem bảo hành
chính hãng… cho đối tác giao dịch.
Các mua bán trên các trang thương mại điện tử có thể sử dụng đánh giá

của người mua, số “sao”, thương hiệu… để coi đó là giấy chứng nhận cho hoạt
động kinh doanh của mình…
Với doanh nghiệp trong việc tuyển dụng lao động, bằng cấp của ứng viên
(hợp lệ) là cơ chế phát tín hiệu của ứng viên đó đến nhà tuyển dụng.
Với các ngân hàng hoặc các công ty tài chính, bảo hiểm… việc thẩm
định giá trị hợp đồng là việc hết sức quan trọng. Cần kiểm tra kỹ thông tin của
đối tác (tình hình tài chính, bệnh tật, khả năng trả nợ…) trước khí ký kết hợp
đồng. Ngoài ra bản thân của người vay nợ cũng cần trang bị kỹ năng kinh tế cơ
bản (biết về lãi suất ngân hàng,hiểu về hợp đồng giao dịch, sự khác biệt khi vay
bảo hiểm hoặc vay ngân hàng…) để có thể vay được số tiền hợp lý mà không
phải trả chi phí về sau quá cao hoặc có thể bị kiện vì vi phạm hợp đồng.
Dùng cơ chế sang lọc Stiglitz : Phân loại khách hàng để có thể nắm được
thông tin của họ một cách cơ bản nhất. Ví dụ các công ty bảo hiểm có các gói
bảo hiểm khác nhau cho nhiều loại khách hàng khác nhau, khách hàng sẽ tự
chọn cho mình gói bảo hiểm hợp lý hoặc nhờ nhân viên của công ty bảo hiểm
để tư vấn. Với gói bảo hiểm rủi ro càng cao thì giá trị càng cao và ngược lại.
Các công ty có cơ chế tuyển dụng ở nhiều vị trí khác nhau với các bài
kiểm tra và các yêu cầu năng lực khác nhau. Các ứng viên sẽ phải tìm hiểu về
vị trí phù hợp cho công việc của mình rồi mới nộp đơn ứng tuyển, qua đó nhà
tuyển dụng sẽ có khái quát về trình độ chuyên môn của người ứng tuyển. Ví dụ
tuyển nhân viên ngành quản trị kinh doanh có bằng MBA được chứng nhận ở
Mỹ hoặc Châu Âu, từ đó những ứng viên không đủ tiêu chuẩn sẽ không nộp
đơn vào vị trí này nếu họ không thỏa mãn đủ yêu cầu của nhà tuyển dmà sẽ
chọn công ty khác hoặc ví trí khác.
6


2.

Giải pháp cho vấn đề rủi ro đạo đức

Đây là rủi ro khách quan hình thành sau các cuộc giao dịch. Đối với loại rủi ro
này, ngoài các biện pháp như trên ta còn phải tang cường quản lý, kiểm soát
chặt chẽ chủ thể giao dịch bằng luật pháp, hoặc bằng các bồi thường kinh tế.
Ngoài ra còn khuyến khích doanh nghiệp hạn chế rủi ro đạo đức bằng các
chứng nhận có giá trị cao (cấp nhà nước) để doanh nghiệp tốt khẳng định giá trị
thương hiệu của mình trước sự xâm lấn của các doanh nghiệp xấu.
Ví dụ: Cấp giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm cho các công ty trong
ngành thỏa đủ điều kiện.
Thành lập hội bảo vệ người tiêu dung để bảo vệ quyền lợi chính đáng của cá
thể ở đây mà người mua.
Có các biện pháp chế tài mạnh (dựa trên pháp luật) đối với các cá nhân, tổ chức
có hành vi đạo đức không chuẩn mực.

3.

Giải pháp cho vấn đề người ủy quyền – người thừa hành
Người ủy quyền khuyến khích người thừa hành bằng các biện pháp vật chất
hoặc phi vật chất để người thừa hành cố gắng hoàn thành mục tiêu mà họ đã
được đề ra.
Ngoài việc ủy quyền cho người thừa hành, người ủy quyền còn phải có các biện
pháp quy kết trách nhiệm, hình phạt tương ứng để người thừa hành dựa theo đó
mà hoàn thành công việc nghiêm túc, đúng tiến độ và hạn chế làm nảy sinh các
vấn đề ngoài dự kiến hoặc không mong muốn của người ủy quyền.
Giáo dục tư tưởng cho người thừa hành về những vấn đề mà học có thể gặp
phải hoặc những tỉnh huống có thể xày ra để họ biết mà có thể hành động một
cách đúng mực.
Xây dựng hệ thống kiểm tra đánh giá thường xuyên trong tổ chức, theo kỳ hoặc
theo năm để xem xét thăng chức hoặc kiểm điểm cá nhân có sai phạm.

3.CÁC VỤ BÊ BỐI CỦA CÁC TẬP ĐOÀN NỔI TIẾNG

TRÊN THẾ GIỚI ẢNH HƯỜNG ĐẾN CỐ ĐÔNG,
NGƯỜI TIÊU DÙNG TRÊN THẾ GIỚI.
1.

Vụ bê bối Toshiba
7


Tập đoàn Toshiba của Nhật Bản vừa cho biết sẽ điều chỉnh giảm lợi nhuận một
khoản ít nhất 152 tỷ Yên, tương đương 1,2 tỷ USD, sau khi bị phát hiện “thổi
phồng” lợi nhuận trong suốt nhiều năm liên tiếp.
Theo hãng tin Bloombers, trong vụ bê bối kế toán làm sứt mẻ hình ảnh của một
trong những thương hiệu nổi tiếng nhất Nhật Bản, các nhà điều hành của
Toshiba đã đặt ra những mục tiêu lợi nhuận phi thực tế, từ đó dẫn đến những sai
lệch trong kế toán. Vụ bê bối này bị phát hiện bởi một cuộc điều tra do một bên
thứ ba độc lập tiến hành và được công bố ngày 20/7.
Báo cáo điều tra cho biết, các sai lệch trong báo cáo lợi nhuận của Toshiba đã
được che giấu “một cách điệu nghệ” khỏi giới quan sát bên ngoài.
Đương kim chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành (CEO) của Toshiba, ông Hisao
Tanaka và hai người tiền nhiremj trong đó có ông Norio Sanaki đã tìm cách trì
hoãn đưa các khoản thua lỗ vào sổ sách, trong khi cấp dưới của họ không thể
chống lại chỉ đạo của cấp trên, theo báo cáo. Với kết quả điều tra này, Toshiba
cho biết sẽ cắt giảm lợi nhuận đã được báo cáo của mình hơn 6 năm.
Đây là vụ bê bối kế toán lớn nhất của doanh nghiệp Nhật kể từ vụ bê bối 1,7 tỷ
USD của tập đoàn Olympus hồi năm 2011. (theo vneconomy.vn)
2.

Vụ bê bối Enron
Qua nhiều vụ làm ăn man trá, hối lộ, những ông chủ công ty Enron đã gây ra vụ
phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ. Nhà đầu tư mất trắng hàng tỷ USD. 20.000

nhân viên mất việc làm và khoản tiền dành dụm cả đời.
Năm 1985, Kenneth Lay sáp nhập Houston Natural Gas và InterNorth để thành
lập công ty năng lượng Enron. Đến năm 1992, Enron đã lớn mạnh thành nhà
buôn khí tự nhiên lớn nhất Bắc Mỹ. Giá cổ phiếu Enron tăng vùn vụt từ thập
niên 1990 đến cuối 1998 đã nhảy vọt 311%, vượt trội so với tỷ lệ tăng trưởng
của chỉ số S&P 500.
Khi Jeffrey Skilling được thuê vào công ty và sau đó đảm nhận vị trí CEO
Enron, dưới sự dung túng của Lay, Skilling đã tập trung vào việc đáp ứng
những kỳ vọng của phố Wall bằng cách phát triển ban điều hành che giấu hàng
tỷ USD thua lỗ và nợ nần từ những thương vụ và dự án thất bại. Họ khai thác
kẽ hở kế toán, sử dụng các thể chế có mục đích đặc biệt (những “đối tác” do
Enron kiểm soát) và các báo cáo tài chính không trung thực.
Họ thậm chí gây áp lực để công ty kiểm toán Arthur Andersen (một trong 5
công ty kiểm toán lớn nhất thế giới) bỏ qua các vấn đề kế toán nhiều rủi ro ở
Enron. Ngoài những lời tự đánh bóng về khả năng quản lý, Enron được quảng
8


cáo rất hiệu quả qua Arthur Andersen và các nhà phân phân tích phố Wall, nhờ
vậy mà số người mua cổ phiếu của công ty cao kỷ lục.
Chi nhánh Houston của Arthur Andersen nhận 1 triệu USD/tuần còn tham gia
cả việc tìm kiếm đối tác cho Enron. Số tiền kếch xù trên đã làm mờ mắt các
nhân viên kiểm toán và họ dễ dàng bỏ qua nguyên tắc. Theo đó, những báo cáo
tài chính không minh bạch đã không mô tả rõ ràng hoạt động và tình hình tài
chính của Enron cho các cổ đông và giới phân tích, thay vào đó, chúng tô vẽ
hiệu quả hoạt động của công ty. Vụ việc vỡ lở vào tháng 10/2001.
Cổ phiếu Enron từ đỉnh cao 90 USD vào giữa năm 2000 đã tuột dốc không
phanh xuống chỉ còn chưa tới USD vào cuối tháng 11/2001. Ủy ban Chứng
khoán và giao dịch Hoa Kỳ (SEC) bắt đầu điều tra. Đối thủ cạnh tranh Dynegy
đề nghị mua lại Enron nhưng thương vụ bất thành và ngày 2/12/2001, Enron

nộp đơn xin bảo hộ phá sản. Với tài sản lên tới 63,4 tỷ USD, đây là vụ phá sản
lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ tính đến thời điểm đó.
(theo kinhdoanh.vnexpress.net)
3.

Vụ bê bối WorldCom
Công ty viễn thông đường dài lớn thứ hai Hoa Kỳ WorldCom đã bùng nổ thần
tốc thông qua các vụ thôn tính, đạt tới giá trị thị trường 180 tỷ USD, thuê mướn
80.000 lao động… nhưng phải nộp đơn phá sản vào ngày 21-7-2002 vì nợ nần
và gian lận kế toán hàng tỷ USD. Vụ phá sản của WorldCom với số tài sản gần
110 tỷ USD, lớn gấp đôi kỷ lục của Enron năm 2001.
Năm 1998, ngành công nghiệp viễn thông bắt đầu hạ nhiệt, cổ phiếu WorldCom
mất giá. CEO Ebbers chịu nhiều áp lực từ các ngân hàng buộc phải trang trải
các khoản tài chính dành cho những mảng kinh doanh khác. Trong lúc đó, lợi
nhuận WorldCom lại bị tác động tiêu cực khi bị buộc phải từ bỏ thương vụ
Sprint.
Trong năm 2001, Ebbers đã thuyết phục ban giám đốc WorldCom cung cấp cho
ông các khoản vay và bảo đảm có tổng trị giá hơn 400 triệu USD. Tháng 42002, Ebbers mất chức CEO. WorldCom cũng nợ đến 41 tỷ USD từ các vụ thôn
tính rầm rộ, mà các chủ nợ lớn nhất bao gồm những đại gia ngân hàng như
JPMorgan Trust (17,2 tỷ USD), Mellon Bank (6,6 tỷ USD), CitiBank (3,3 tỷ
USD).
Bắt đầu từ năm 1999 kéo dài tới tháng 5-2002, WorldCom đã dùng những
phương pháp kế toán mờ ám để che giấu tình trạng tài chính suy yếu, giả tạo
9


tăng trưởng tài chính và lợi nhuận nhằm nâng giá cổ phiếu. Tháng 6-2002, ban
kiểm toán nội bộ WorldCom phát hiện che giấu khoản chi phí 3,8 tỷ USD kể từ
năm 2001, đồng thời, lợi nhuận 1,4 tỷ USD năm 2001 và 130 triệu USD trong
quý I-2002 đều là báo cáo sai.

Giám đốc Tài chính Scott D. Sullivan bị sa thải. Ủy ban Chứng khoán và Hối
đoái (SEC) buộc tội WorldCom gian lận và Bộ Tư pháp bắt đầu một cuộc điều
tra hình sự các hành vi của WorldCom.
Trong khi đó, Công ty Arthur Andersen kiểm toán cho WorldCom (và cả Enron)
cho biết khi Andersen phát hiện các chi phí đã được báo cáo láo thành vốn đầu
tư, Andersen đã báo động cho ban kiểm toán nội bộ của WorldCom rằng báo
cáo tài chính 2001 không đáng tin cậy, Andersen có đủ sổ sách chứng tỏ mình
minh bạch trong vụ bê bối này.
Giá trị cổ phiếu WorldCom từ đỉnh 63,5USD/cổ phiếu vào ngày 18-6-1999 đã
lao dốc xuống 6,74USD/cổ phiếu và tiếp tục giảm chỉ còn 20 cent cho đến ngày
WorldCom tuyên bố phá sản. WorldCom đêm 21-7-2002 đã nộp hồ sơ phá sản.
Hồ sơ WorldCom liệt kê hơn 107 tỷ USD tài sản, vượt xa Enron (Những vụ án
kinh tế chấn động - Kỳ 2), lập kỷ lục vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ
tính đến thời điểm đó. Việc nộp đơn của WorldCom đã được dự báo từ khi công
ty thừa nhận vào cuối tháng 6 rằng họ đã gian lận hơn 3,8 tỷ USD.
Các cổ đông WorldCom từ chỗ sở hữu một trong những công ty lớn nhất thế
giới với vốn hóa thị trường 180 tỷ USD ở thời kỳ đỉnh cao bỗng chốc gần như
trắng tay. Quyền kiểm soát WorldCom về tay các ngân hàng và trái chủ.
WorldCom sụp đổ đã khiến các thị trường tài chính hoảng hốt, gây chấn động
nền kinh tế rộng lớn hơn, các ngân hàng, nhà cung cấp và các công ty điện
thoại khác phải đề ra các chiến lược để đối phó.
Năm 2003, WorldCom đổi tên thành MCI, và hoàn tất thủ tục phá sản 1 năm
sau đó. Ngày 13-7-2005, cựu CEO Bernie Ebbers bị tuyên án 25 năm tù giam
với tội danh lừa đảo chứng khoán, gian lận sổ sách. Liên quan đến vụ bê bối
gian lận ở WorldCom, nhiều cựu lãnh đạo khác của WorldCom như CFO
Sullivan, kiểm soát viên David Myers, Giám đốc Kế toán Buford Yates… cũng
bị buộc tội hình sự.
Ngoài tổn thất cho công ty, vụ bê bối WorldCom xói mòn niềm tin vào thực lực
tài chính của các công ty lớn, khiến hàng triệu người chùn tay đầu tư, làm kinh
tế Hoa Kỳ thiệt hại nhiều tỷ USD.

(theo saigondautu.vn – những vụ án kinh tế chấn động kỳ 9)
10


4.

THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG VẬN DỤNG TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

4.1 THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN – KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán
có giá (trung hạn và dài hạn).
Chứng khoán là thuật ngữ dung để chỉ các giấy tờ có giá, tức là ghi nhận khoản tiền
mà người sở hữu chúng bỏ ra sẽ được quyền hưởng những khoản lợi tức nhất định
theo ký hạn. (theo sách lý thuyết tiền tệ - ngân hàng)
Căn cứ vào phương diện pháp lý thì thị trường chứng khoán được chia làm 2 loại:
Thị trường chứng khoán chính thức (The Stock exchange).
Thị trường chứng khoán phi chính thức (Over the counter market)
Căn cứ vào quá trình luân chuyển của chứng khoán, thị trường chứng khoán bao gồm
2 bộ phận cấu thành:
Thị trường chứng khoán sơ cấp (Primary Market)
Thị trường chứng khoán thứ cấp (Secondary Market)
Căn cứ vào phương thức giao dịch, thị trường chứng khoán được chia làm 2 loại:
Thị trường giao ngay (Sport market)
Thị trường tương lai (Future Market)
Các sản phẩm lưu hành trên thị trường chứng khoán:
• Cổ phiếu (Stock/Share)
o Cổ phiếu thường (Common Stocks)
o Cổ phiếu ưu đãi (Preferred Stocks)
• Trái phiếu công ty (Corporate Bonds)

• Trái phiếu dài hạn kho bạc (Treasury Bonds)
• Trái phiếu đô thị (Municipal Bonds)
• Công trái nhà nước (State Bonds)
• Trái phiếu cầm cố (Mortgage Bonds)

11


4.2 THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN
Hiện tường thông tin bất cân xứng xảy ra trên thị trường chứng khoán là khi doanh
nghiệp không minh bạch thông tin của mình một cách có có chủ ý như che giấu các
thông tin bất lợi và thổi phồng các thông tin có lợi hoặc làm giả các thông tin … Điều
đó làm ảnh hưởng tới các nhà đầu tư trực tiếp lẫn gián tiếp (nếu có).
Các doanh nghiệp sau khi phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu với mục đích là sử dụng
chính trái phiếu cổ phiếu đó để làm giá trên thị trường, thổi phồng giá trị thực của
công ty để làm tang lợi nhuận thay vì tập trung vào sản xuất. Ngoài ra doanh nghiệp
cũng có thể tung tin đồn một cách có chủ ý để làm tăng giá trị của cổ phiếu nhằm tạo
cung cầu ảo trên thị trường nhằm trục lợi…
Việc này có ảnh hưởng vô cũng nghiêm trọng đến sự ổn định và phát triển của thị
trường, nó làm các nhà đầu tư quyết định, lựa chọn sai, nguồn vốn không đến được
nơi nó cần để gia tang quy mô sản xuất, việc cổ phiếu bị xoay vòng quá nhiều thể hiện
rõ của tình trạng đầu cơ, gây ra trình trạng bong bóng ảo dẫn đến dự đổ vỡ của thị
trường.
Đồi với thị trường chứng khoán phi chính thức (OTC)
Do đặc thù của loại hình thị trường này là giao dịch bên ngoài sở giao dịch chứng
khoán, nơi giao dịch không phải là địa điểm cố định, không có sự kiểm soát từ đội
đồng chứng khoán mà chỉ là sự đồng thuận giữa người mua và người bán. Do đó, tình
trạng thông tin bất cân xứng diễn ra vô cùng phổ biến. Các nhà đầu tư tại thị trường
này hầu như không nắm được tình hình hoạt động, kinh doanh của công ty từ đó dẫn

đến vấn đề lựa chọn ngược, không mong muốn.
Đối với thị trường chứng khoán chính thức:
Đây là thị trường chủ yếu nên tồn tại rất nhiều vấn đề bất cập xảy ra.
Đầu tiên, khi các công ty lần đầu phát hành trái phiếu, cổ phiếu ra thị trường. Ban
quản trị có xu hướng “dìm giá” của cổ phiếu, trái phiếu sao cho người nội bộ của
mình có thể mua được giá thấp nhất. Thể hiện rõ lợi ích nhóm của công ty không đặt
lợi ích của tổ chức lên hàng đầu và làm ảnh hưởng đến các nhà đầu tư tiếp sau.
Thứ hai, để rò rỉ các thông tin mật chưa được phép công khai hoặc không được công
khai cho một số các nhân hoặc tập thể để trục lợi. Những người biết trước thông tin
mật có thể dự đoán trước được sự tăng giảm giá trị cổ phiếu để có quyết định hợp lý
nhất là mua trước cổ phiếu, khi giá lên thì hưởng lợi, còn những nhà đầu tư khác khi
12


biết được thì đã quá muộn, từ đó làm ảnh hưởng đến toàn bộ những nhà đầu tư còn lại
cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của công ty.
Thứ ba, gây ra rò rỉ thông tin một cách có chủ đích nhằm tạo tin đồn có lợi cho công
ty hoặc bôi nhọ công ty của đối thủ. Tạo tin đồn có lợi trên thị trường chứng khoán
nhằm thu hút đầu tư, gây sốt ảo trên thị trường chứng khoán. Ngoài ra còn tung tin bôi
nhọ công ty của đối thủ với mục đích làm các nhà đầu tư công ty đối thủ rút vốn và
quay sang đầu tư vào công ty tung tin đồn.
Thứ tư, sự tiếp tay của các cơ quan truyền thông tạo thông tin sai lệch, hoặc không
đầy đủ. Từ đó ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư. Ví dụ báo Tiền Phong
đăng tin SJS “sập sàn” vào ngày 12/01/2007.
Thứ năm, hiện tượng lừa đảo: đây là hiện tượng rất thường thấy ở thị trường OTC, đối
tượng chủ yếu của hiện tượng này là những nhà đầu tư có hiểu biết về thị trường
chứng khoán còn thấp, muốn làm giàu nhanh và không kiểm tra kỹ thông tin trước khi
đầu tư vào loại cổ phiếu bị thao túng nào đó. Ví dụ lừa đảo bán cổ phiểu giả tại Hải
Phòng với thiệt hại ước tính lên đến 800 tỷ đồng. Vụ án khởi tố vào năm 2007.


PHỤ LỤC

13



×