Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

THỐNG NHẤT GIỮA lý LUẬN và THỰC TIỂN lý luận suông

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (71.09 KB, 11 trang )

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỂN NHẰM KHẮC PHỤC BỆNH KINH NGHIỆM VÀ BỆNH GIÁO ĐIỀU
Hồ Chí Minh dùng nhiều cách diễn đạt khác nhau: "Lý luận đi đôi với thực tiễn",
"Lý luận kết hợp với thực hành", "Lý luận và thực hành phải luôn luôn đi đôi với
nhau”, "Lý luận phải liên hệ với thực tế (Hồ Chí Minh, 1995, tập 9, tr. 292). Dù nói
"đi đôi", "gắn liền", "kết hợp” nhưng điều cốt lõi nhất mà Người muốn nhấn mạnh
là: "Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa
Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù
quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông" (Hồ Chí
Minh, 1995, tập 8, tr. 496). Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được Hồ
Chí Minh hiểu trên tinh thần biện chứng: thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn
dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lý
luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệ với thực
tiễn, nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều. Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến
nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau.
Hồ Chí Minh cho rằng, để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm thì trước hết cần khắc phục bệnh kém lý
luận, bệnh khinh lý luận. Bởi lẽ, kém lý luận, khinh lý luận nhất định sẽ dẫn tới
bệnh kinh nghiệm. Hơn nữa, không có lý luận thì trong hoạt động thực tiễn người
ta dễ chỉ dựa vào kinh nghiệm, dễ dẫn tới tuyệt đối hoa kinh nghiệm, cho kinh
nghiệm là yếu tố quyết định thành công trong hoạt động thực tiễn. Nếu không có lý
luận hay trình độ lý luận thấp sẽ làm cho bệnh kinh nghiệm thêm trầm trọng, thêm
kéo dài. Thực tế cho thấy, ở nước ta có không ít cán bộ, đảng viên "chỉ bo bo giữ
lấy kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành
cách mạng. Vì vậy, họ cứ cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc của
cách mạng" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 247). Những cán bộ ấy quên rằng, "kinh
nghiệm của họ tuy tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về
một mặt mà thôi. Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một
mắt mờ" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 234). Thực chất là họ không hiểu vai trò
của lý luận đối với thực tiễn. Theo Hồ Chí Minh, lý luận có vai trò hết sức to lớn
đối với thực tiễn, lý luận "như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta


trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi" (Hồ
Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 234 - 235). "Làm mà không có lý luận thì không khác gì
đi mò trong đêm tối vừa chậm chạp vừa hay vấp váp" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6,
tr. 47). Làm mò mẫm chính là biểu hiện của bệnh kinh nghiệm. Kém lý luận, khinh
lý luận không chỉ dẫn tới bệnh kinh nghiệm mà còn dẫn tới bệnh giáo điều. Bởi lẽ,
do kém lý luận, khinh lý luận nên không hiểu thực chất lý luận, chỉ thuộc câu chữ
lý luận và do đó cũng không thể hiểu được bản chất những vấn đề thực tiên mới
nảy sinh. Do đó, không vận dụng được lý luận vào giải quyết những vấn đề thực
tiễn mới nảy sinh. Nếu có vận dụng thì cũng không sát thực tế không phù hợp với
thực tiễn.


Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở rằng, có lý luận rồi thì phải kết hợp
chặt chẽ với kinh nghiệm thực tế, liên hệ với thực tiễn nếu không lại mắc phải bệnh
lý luận suông, tức bệnh giáo điều. Người khẳng định, "Lý luận cũng như cái tên
(hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để hắn. Có tên mà không bắn, hoặc
bắn lung tung, cũng như không có tên" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 235). Như
vậy cũng có nghĩa là lý luận suông, lý luận sách vở thuần túy. "Lý luận cốt để áp
dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào công việc thực tế là lý
luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem
ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5 tr.
234). Do đó, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn phải xuất phát từ thực tiễn, nếu
không cũng mắc phải bệnh giáo điều. Như vậy, lý luận chỉ có ý nghĩa đính thực khi
được vận dụng vào thực tiễn phục vụ thực tiễn, đóng vai trò soi đường, dẫn đắt, chỉ
đạo thực tiễn. Đồng thời, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn thì phải phù hợp điều
kiện thực tiễn. Rõ ràng, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Hồ Chí Minh phải
được hiểu là, thực tiễn - lý luận, lý luận - thực tiễn luôn hòa quyện, thống nhất với
nhau, đòi hỏi nhau, cần đến nhau, tạo tiền đề cho nhau phát triển.
Hồ Chí Minh không để lại những tác phẩm chuyên khảo về sự thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn, nhưng ở nhiều bài viết, bài nói Người luôn luôn đề cập tới

nguyên tắc cơ bản này bằng nhiều cách nói, cách viết, cách diễn đạt khác nhau
nhằm giúp cán bộ, đảng và quần chúng nhân dân dễ nhớ, dễ hiểu, dễ vận dụng. Cả
cuộc đời của Người là tấm gương sáng về việc quán triệt nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn. Một trong những biểu hiện sinh động ấy là, trong hoạt
động cách mạng Người luôn luôn sâu sát thực tế, gắn bó với cơ sở, gần gũi với
nhân dân. Trong khoảng 10 năm từ 1955 - 1965, Hồ Chí Minh đã thực hiện trên
700 lượt đi thăm, tiếp xúc với cán bộ, bộ đội, công nhân, giáo viên, bác sĩ, nông
dân, các cụ phụ lão, các cháu thanh, thiếu niên nhi đồng, các đơn vị bộ đội, thanh
niên xung phong, các hợp tác xã, bệnh viện, trường học... Như vậy, mỗi năm có tới
hơn 70 lần xuống cơ sở, gặp gỡ tiếp xúc với quần chúng nhân dân. Điều này đủ
thấy Hồ Chí Minh gắn bó với quần chúng, sâu sát với cơ sở, thực tế như thế nào.
Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, Đảng viên rằng, quán triệt tốt nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn là góp phần trực tiếp ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh
nghiệm và bệnh giáo điều. Để làm tốt điều này thì một mặt, phải ra sức học tập,
nâng cao trình độ lý luận cũng như chuyên môn nghiệp vụ. Mặt khác, phải có
phương pháp học tập đúng đắn, học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với
thực tế. Nếu không, chưa khắc phục được bệnh kinh nghiệm thì đã mắc phải bệnh
giáo điều, bệnh sách vở. Người chỉ rõ, "lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học
tập không đúng thì sẽ không có kết quả. Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng ta
cần nhấn mạnh: lý luận phải liên hệ với thực tế (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 496).
Điều quan trọng nữa theo Người là phải thống giáo điều ngay trong học tập chủ
nghĩa Lênin. Khi còn sống Người luôn phê phán kiểu học học thuộc lòng chủ nghĩa
Mác- Lênin, "học sách vở Mác - Lênin nhưng không học tinh thần Mác - Lênin"
(Hồ Chí Minh, 1995, tập 9 tr. 292). Đó là học theo kiểu "mượn những lời của Mác,


Lênin dễ làm cho người ta lầm lẫn" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 247). Theo Hồ
Chí Minh, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là "phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác
- Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin
để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những

vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8,
tr. 497). "Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối
với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ
nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước
ta. Học để mà làm" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 9, tr. 292). Hồ Chí Minh cũng căn dặn
cán bộ, đảng viên "học tập lý luận thì nhằm mục đích để vận dụng chứ không phải
học lý luận vì lý luận, hoặc để tạo cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra
mặc cả với Đảng" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 498). Như vậy, học tập chủ nghĩa
Mác - Lênin không phải vì chủ nghĩa Mác - Lênin, cũng không phải vì học tập
thuần túy, càng không phải học tập vì mục đích cá nhân nhằm có cái để mặc cả với
tổ chức. Học tập trước hết là để làm người, rồi mới làm cán bộ và phụng sự Tổ
quốc, nhân dân, giai cấp. Cho nên người cán bộ, đảng viên phải có thái độ học tập
đúng đắn mới có thể khắc phục được bệnh giáo điều trong nghiên cứu, học tập chủ
nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng này của Hồ Chí Minh cho tới nay vẫn giữ nguyên ý
nghĩa lý luận và thực tiễn đối với chúng ta. Người cũng lưu ý rằng, không nên coi
chủ nghĩa Mác - Lênin là kinh thánh, là những công thức có sẵn, cứng nhắc (Hồ
Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 247). Có như vậy thì việc nghiên cứu, học tập vận dụng
chủ nghĩa Mác - Lênin mới có hiệu quả. Cùng với việc chống giáo điều trong học
tập chủ nghĩa Mác - Lênin thì còn phải chống giáo điều trong vận dụng lý luận
cũng như kinh nghiệm của nước khác, ngành khác. Người căn dặn cán bộ, đảng
viên: "Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh
nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều
(Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 449). Để chống cả hai loại giáo điều này, theo Hồ
Chí Minh thì biện pháp cơ bản là phải gắn lý luận với thực tiễn cách mạng nước
nhà. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tiễn cách mạng, khi vận
dụng kinh nghiệm và lý luận phải xuất phát từ thực tiễn nước nhà. Người cũng
nhấn mạnh rằng, cùng với việc chống bệnh giáo điều thì phải đề phòng, ngăn ngừa
chủ nghĩa xét lại. Bởi lẽ, nếu không có quan điểm đúng đắn trong việc quán triệt
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thì người ta dễ nhấn mạnh thái quá
những đặc điểm dân tộc để phủ nhận những giá trị phổ biến của chủ nghĩa Mác Lênin. "Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến

của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm
nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại, (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 449). Đồng thời,
Người còn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải biết dùng lý luận đã học được để tổng
kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác. "… công việc gì bất
kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần nghiên cứu cội rễ, phân tách thật rõ ràng
rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái chìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán
bộ tiến tới" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 243). Người còn nhấn mạnh " ...cần phải


nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để
phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ dồi dào thêm" (Hồ Chí Minh, 1995,
tập 5, tr. 417). Đó chính là quá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh
nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm được như vậy cũng có nghĩa
là làm cho lý luận cần được "bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực
tiễn sinh động" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 496). Đồng thời, thực tiễn mới sẽ
được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới. Cứ như vậy, lý luận luôn được bổ
sung, hoàn thiện, phát triển bởi những kết luận mới được rút ra từ tổng kết thực
tiễn. Còn thực tiễn luôn được chỉ đạo, soi đường dẫn dắt bởi lý luận đã được bổ
sung bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới. Đây là biểu hiện sinh động của việc
quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Hồ Chí Minh. "Làm
như thế theo Người là tổng kết để làm cho nhận thức của chúng ta đối với các vấn
đề đó được nâng cao hơn và công tác có kết quả hơn" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8,
tr. 498).
Qua những nhận định ở trên, chúng ta thấy rằng, để quán triệt tốt nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và
bệnh giáo điều có hiệu quả thì phải không ngừng học tập lý luận, nâng cao trình độ
lý luận. Khi có lý luận thì phải vận dụng vào thực tiễn, phải biết tổng kết thực tiễn
để làm giàu lý luận bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới. Chỉ thông qua quy trình
như vậy thì lý luận mới gắn với thực tiễn, mới không trở thành giáo điều. Đồng thời
thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo bồi lý luận sẽ không bị mò mẫm, vấp váp, hay chệch

hướng. Như vậy thì bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều cũng không còn chỗ đúng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một biện pháp
cơ bản để ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều có ý nghĩa hết
sức to lớn hiện nay, khi mà chúng ta đang tìm lời giải đáp cho nhiều vấn đề thực
tiễn đổi mới đặt ra. Bởi lẽ, để tìm lời giải cho những vấn đề đó chúng ta phải tìm ở
cả trong chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như ở chính thực tiễn
đổi mới hiện nay ở nước ta. Nghĩa là phải bằng phương pháp, quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh tổng kết những vấn đề thực tiễn hôm
nay một cách có lý luận.

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH SOI
SÁNG VAI TRÒ CỦA LÝ LUẬN HIỆN NAY
Tác giả : Th.s. Trần Viết Quang - Trường Đại học Vinh
File đính kèm: Không có
Trong các bài viết, bài nói chuyện của mình, Hồ Chí Minh đề cập rất nhiều đến
vấn đề lý luận và vai trò của lý luận đối với thực tiễn. Tư tưởng Hồ Chí Minh về


bản chất của lý luận có ý nghĩa to lớn, định hướng cho công tác tư tưởng, lý luận
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
1. Theo Hồ Chí Minh, "lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài
người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên, xã hội tích lũy lại trong quá trình
lịch sử" (1). Và lý luận Mác - Lênin là sự tổng kết kinh nghiệm đấu tranh cách
mạng của giai cấp công nhân thế giới. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí
Minh nói một cách cụ thể: "lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm,
trong các cuộc đấu tranh, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng, rõ ràng, làm thành kết
luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế" (2) Lý luận được khái quát từ những
kinh nghiệm thực tiễn, nhưng lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh
nghiệm. Tri thức lý luận thể hiện trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, qui luật.
Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao, nhờ đó, nó

đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, tính tất nhiên, tính qui luật của các sự vật,
hiện tượng khách quan. Lý luận thể hiện tính chân lý sâu sắc hơn, chính xác hơn,
hệ thống hơn, nghĩa là có tính bản chất sâu sắc hơn và do đó, phạm vi ứng dụng của
nó cũng phổ biến hơn, rộng hơn nhiều so với tri thức kinh nghiệm. Chính C.Mác và
Ph.Ăngghen cũng từng chỉ rõ: “Sự quan sát theo kinh nghiệm tự nó không bao giờ
có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu và nhiệm vụ của nhận thức lý luận là
đem quy sự vận động bề ngoài chỉ biểu hiện trong hiện tượng về sự vận động bên
trong thực sự” (3)
Lý luận có vai trò rất lớn đối với thực tiễn, tác động trở lại thực tiễn, góp phần
làm biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con người. Lý luận một khi thâm
nhập vào quần chúng thì biến thành "lực lượng vật chất". V.I.Lênin khẳng định:
“Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng” (4) Lý
luận có thể dự kiến được sự vận động trong tương lai, từ đó vạch ra phương hướng
cho thực tiễn, chỉ rõ những phương pháp hành động có hiệu quả nhất để đạt mục
đích của thực tiễn. Nhờ có lý luận khoa học mà hoạt động của con người nên chủ
động, tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm, tự phát. Đánh giá vai trò và ý nghĩa lớn
lao của lý luận đối với thực tiễn, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: "Lý luận như cái kim chỉ
nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận
thì lúng túng như nhắm mặt mà đi" (5) "Làm mà không có lý luận thì không khác gì
đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp" (6). Ngay sau khi nước nhà
giành được độc lập từ tay Thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã cảnh báo rằng, do "kém
về lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông "mà nhiều cán bộ, đảng viên của
ta mắc phải bệnh chủ quan. Cũng vì kém lý luận mà cán bộ ta "gặp mọi việc không
biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều
kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất
bại"(7)
Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao trong sự
phản ánh hiện thực, do sự chi phối của hệ tư tưởng và thái độ không khoa học nên
lý luận có nguy cơ xa rời cuộc sống và trở nên ảo tưởng, giáo điều. Vì vậy, trong
khi nhấn mạnh vai trò quan trọng của lý luận, Hồ Chí Minh cũng đồng thời nhắc



nhở chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ: lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó
là "kim chỉ nam" cho hành động cách mạng; và "…lý luận không phải là một cái gì
cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo; lý luận luôn cần được bổ sung bằng những kết
luận mới được rút ra từ thực tiễn sinh động"(8). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ:
"Lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ không có kết quả.
Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần nhấn mạnh: lý luận phải liên hệ với
thực tế. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù
quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông"(9). Lý luận mà xa
rời thực tiễn, tách khỏi thực tiễn thì sớm muộn sẽ trở nên giáo điều, sách vở, là lý
luận suông. Đồng thời, thực tiễn mà không được hướng dẫn, chỉ đạo, soi sáng bởi
lý luận thì dễ trở thành "mảnh đất màu mỡ" cho bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa nảy
sinh và phát triển.
Bệnh kinh nghiệm là khuynh hướng tư tưởng tuyệt đối hóa kinh nghiệm, coi
thường, hạ thấp vai trò lý luận lý luận khoa học. Chúng ta đi lên từ một nước nông
nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến, trình độ dân trí thấp, khoa học - kỹ thuật
chưa phát triển. Đây chính là điều kiện thuận lợi cho bệnh kinh nghiệm nảy sinh.
Hồ Chí Minh nhận xét rằng, trong Đảng ta còn "có những cán bộ, những đảng viên
cũ, được làm việc, có kinh nghiệm. Cố nhiên, những anh em đó rất qúi báu cho
Đảng. Nhưng họ lại mắc phải cái bệnh coi khinh lý luận. Họ quên rằng: kinh
nghiệm của họ tuy tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về
một mặt mà thôi. Có kinh nghiệm mà không có lý luận thì cũng như một mắt sáng,
một mắt mờ" (10). Bởi vậy, Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải ra sức
học tập lý luận, nâng cao trình độ lý luận cũng như chuyên môn, nghiệp vụ.
Bệnh giáo điều là khuynh hướng tư tưởng tuyệt đối hóa vai trò của lý luận, tách
lý luận với thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử - cụ thể. Biểu hiện của bệnh giáo điều
là bệnh sách vở, nắm lý luận chỉ dừng ở câu chữ theo kiểu “tầm chương trích cú”,
hiểu lý luận một cách trừu tượng mà không thâu tóm được thực chất cách mạng và

khoa học của nó, nặng về diễn giải những gì đã có sách vở mà không bám sát thực
tiễn, thoát ly đời sống hiện thực; tiếp nhận những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội
khoa học một cách đơn giản, phiến diện mang tính chất cảm tính, từ đó, biến chúng
trở thành những tín điều. Hồ Chí Minh phê phán kiểu học thuộc lòng sách vở về
chủ nghĩa Mác - Lênin mà không học tinh thần Mác - Lênin. Theo Hồ Chí Minh,
học tập lý luận Mác - Lênin là "phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin,
học lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập
trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế
trong công tác cách mạng của chúng ta"(11). Như vậy, nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lênin để nắm được linh hồn sống, bản chất khoa học và cách mạng của nó chứ
không phải đơn thuần là học thuộc lòng, học vẹt. Đồng thời, "chúng ta phải luôn
luôn nhấn mạnh nguyên tắc lý luận phải liên hệ với thực tế" để chống chủ nghĩa
giáo điều.
Một biểu hiện khác của bệnh giáo điều là áp dụng một cách rập khuôn, máy móc


kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước khác; là áp dụng kinh nghiệm
tiến hành chiến tranh cách mạng vào quá trình xây dựng kinh tế trong thời kỳ hòa
bình; áp dụng máy móc kinh nghiệm của địa phương này vào địa phương khác, v.v..
ở đây, bệnh giáo điều thể hiện thành "giáo điều kinh nghiệm". Hồ Chí Minh lưu ý
rằng, "không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh
nghiệm của các nước anh em là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều"
(12)
Khắc phục bệnh giáo điều là công việc khó khăn, phức tạp, thường xuyên, liên
tục vì căn bệnh này luôn có nguy cơ tái phát dưới những hình thức mới. Hiện nay
không ít người có lối tư duy bắt chước, sao chép, rập khuôn những "cái mới" từ
nước ngoài, bất chấp thực tế lịch sử, truyền thống, văn hóa và hoàn cảnh cụ thể của
dân tộc ta. Sao chép cái mới như vậy không phải là đổi mới tư duy, mà là "bệnh
giáo điều mới" và nó cũng tai hại không kém các biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều
từ trước đến nay.
Sự yếu kém và coi khinh lý luận, bệnh lý luận suông là nguyên nhân làm cho

con người mắc cả bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều. Vì vậy, theo Hồ
Chí Minh phải chấm dứt được "bệnh kém lý luận, bệnh coi khinh lý luận, bệnh lý
luận suông" trong cán bộ, đảng viên. Hồ Chí Minh ý thức sâu sắc rằng, biện pháp
cơ bản để khắc phục và ngăn ngừa bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều là phải
thường xuyên quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
2. Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng đã thu được những thành
tựu bước đầu rất quan trọng. Tuy nhiên, tính chất khó khăn và phức tạp của sự
nghiệp đổi mới cũng như chiều sâu và tầm cỡ của nó đang đặt ra rất nhiều vấn đề lý
luận lớn lao và gay cấn, đòi hỏi phải được giải quyết. Có thể nói, chúng ta đang
sống trong một thời kỳ mà thực tiễn đang đặt ra rất nhiều vấn đề đòi hỏi lý luận
luận phải lí giải một cách thấu đáo, có căn cứ khoa học; hơn nữa lý luận phải mở
đường cho thực tiễn phát triển. Chưa bao giờ lý luận lại cần thiết và có tầm quan
trọng lớn lao như hiện nay. Lý luận trở thành thiết thân đối với sự nghiệp đổi mới
nói riêng, đối với toàn bộ vận mệnh của chủ nghĩa xã hội nói chung. Giai đoạn hiện
nay của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi “Đảng phải nắm vững, vận
dụng sáng tạo và góp phần phát triển lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, bản lĩnh chính trị và năng lực tổ chức của
mình để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra” (13)
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của lý luận, trong những năm qua,
công tác tư tưởng, lý luận được Đảng ta hết sức chú trọng. Chúng ta coi đổi mới tư
duy lý luận là khâu đột phá, là điều kiện và tiền đề cho những đổi mới trong hoạt
động thực tiễn. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đặt ra vấn đề
phải đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, coi đó là điểm khởi đầu để đi đến
xác định đường lối đổi mới của Đảng. Nhiệm vụ đổi mới tư duy đòi hỏi chúng ta
phải không ngừng bồi dưỡng tư duy lý luận để khắc phục tư duy giáo điều, tư duy
kinh nghiệm, những căn bệnh làm cho chúng ta không nhận thức được đúng những
vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ đó


đến nay, các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng và các Hội nghị của Ban Chấp

hành Trung ương đều đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với công tác lý luận. Đảng ta đã
có hai nghị quyết riêng về công tác tư tưởng, lý luận: Nghị quyết 01 - NQ/TW ngày
28 tháng 3 năm 1992 của Bộ Chính trị khóa VII "Về công tác lý luận trong giai
đoạn hiện nay" và Nghị quyết 16 - NQ/TW ngày 18 tháng 3 năm 2002 của Ban
Chấp hành Trung ương khóa IX (Hội nghị Trung ương 5) "Về nhiệm vụ chủ yếu
của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hìmh mới".
Đánh giá về tình hình tư tưởng, lý luận, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX chỉ ra rằng: từ Đại hội lần thứ VI của Đảng
đến nay, trình độ lý luận của Đảng ta đã có bước phát triển rõ rệt. Đảng đã không
ngừng đổi mới phương pháp tư duy, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác
- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, mở ra bước chuyển biến quan trọng trong trong
tư duy lý luận. "Tuy nhiên, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội mới dừng lại ở những nét khái quát chung, còn không ít vấn đề cụ thể
được đặt ra từ thực tiễn cha có lời giải đáp hoặc giải đáp chưa có sức thuyết phục;
nhiều cán bộ, đảng viên nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh còn giản đơn, hiểu biết về chủ nghĩa tư bản hiện đại chưa sâu sắc, có mặt còn
lệch lạc; phương pháp tư duy chưa vươn tới tầm biện chứng, còn dừng lại ở trình
độ cảm tính, ở chủ nghĩa kinh nghiệm hoặc thực dụng"(14). "Công tác tư tưởng, lý
luận của Đảng trong hơn 15 năm qua đã đạt được thành tựu quan trọng: những kết
quả nghiên cứu lý luận gắn với tổng kết thực tiễn đã cung cấp nhiều luận cứ khoa
học cho việc xây dựng, bổ sung và phát triển đường lối đổi mới của Đảng; góp
phần tăng cường sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội"(15). Tuy
vậy, công tác tư tưởng, lý luận, công tác tổ chức, cán bộ nhìn chung vẫn có nhiều
yếu kém, bất cập. "Công tác lý luận chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn và yêu
cầu của cách mạng"(16), chưa làm sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng trong công cuộc
đổi mới để phục vụ việc hoạch định chiến lược, chủ trương, chính sách của Đảng,
tăng cường sự nhất trí về chính trị, tư tưởng trong xã hội.
Nguyên nhân của những yếu kém, bất cập nêu trên là do "Đảng ta chưa đặt đúng
mức việc chỉ đạo đổi mới nội dung, phương pháp công tác tư tưởng, lý luận trong
giai đoạn mới. Chưa xây dựng được quy chế bảo đảm dân chủ, phát huy tự do tư

tưởng trong hoạt động lý luận và công tác tư tưởng. Chậm tăng cường, đổi mới
công tác xây dựng đội ngũ làm công tác tư tưởng, lý luận. Cơ sở vật chất kỹ thuật,
điều kiện làm việc ở nhiều cơ quan, đơn vị làm công tác tư tưởng, lý luận còn nhiều
thiếu thốn, lạc hậu"(17).
Vì vậy, Hội nghị chỉ ra rằng, để đẩy nhanh quá trình đổi mới đất nước, chúng ta
cần phải tăng cường công tác lý luận. Công tác lý luận phải theo kịp sự phát triển
và yêu cầu của cách mạng; góp phần khơi dậy mạnh mẽ các nguồn lực trong xã hội,
tận dụng thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, tiếp tục làm sáng tỏ hơn lý luận


về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là nhiệm vụ
chủ yếu, thường xuyên của công tác lý luận trong thời kỳ đổi mới.
Qua ba năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa IX, nhiều vấn đề nóng hổi, quan trọng nảy sinh từ thực tiễn đã
được quan tâm nghiên cứu và đã có những kết luận kịp thời như: phát triển kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa
theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị; xây
dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện mới, phát triển văn hóa, con người và nguồn
nhân lực, v.v.. Có những vấn đề được tổ chức nghiên cứu và thảo luận sổi trong mọi
tầng lớp nhân dân như vấn đề đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân.
Để việc tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận có hiệu quả, cần phải bảo đảm
được các yêu cầu cơ bản sau:
- Tính khách quan. Trong tổng kết thực tiễn và nghiên cứ lý luận đòi phải có thái
độ trung thực, tránh tổng kết thực tiễn theo kiểu "tô hồng" hoặc "bôi đen"; không
được lấy ý đồ sắn có để áp đặt cho việc tổng kết thực tiễn; không được lấy việc
tổng kết thực tiễn để chứng minh cho suy nghĩ chủ quan cá nhân.
- Tính khái quát cao. Khi phân tích, đánh giá, khái quát thục tiễn phải rút ra

được những kết luận có tính quy luật, chỉ ra được các mối liên hệ có tính bản chất.
Đó là những kết luận có tính phổ biến, tính điển hình và phải có giá trị thực tiễn
cao.
- Tính mục đích đúng đắn. Công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận cần
phải đạt những yêu cầu như: phát triển lý luận, sớm làm rõ và kết luận những vấn
đề mới, bức xúc nảy sinh từ thực tiễn, từng bước cụ thể, bổ sung, phát triển đường
lối, chính sách của Đảng. Nói một cách khác, tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý
luận phải hướng tới mục đích xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, phát triển chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới.
Trong giai đoạn hiện nay của cách mạng, việc nâng cao vai trò của lý luận cần
tập trung vào mấy nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, lý luận phải thật sự làm cơ sở khoa học cho sự lãnh đạo của Đảng và
quản lý của Nhà nước. Lý luận phải cung cấp được những căn cứ khoa học đáng tin
cậy cho việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước.
Muốn vậy, Đảng và Nhà nước cần coi trọng lý luận, coi trọng đội ngũ cán bộ lý
luận, cán bộ khoa học, biết sử dụng họ vào công tác nghiên cứu, đề xuất các chủ
trương, đường lối, chính sách.
Thứ hai, lý luận phải làm cơ sở khoa học cho việc định hướng xã hội chủ nghĩa
của công cuộc đổi mới đất nước. Đổi mới là tất yếu, nhưng đổi mới không phải là
từ bỏ con đường phát triển xã hội chủ nghĩa, mà ngược lại phải khẳng định con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội với những bước đi, hình thức, biện pháp phù hợp. Lý
luận cần làm sáng tỏ, giải đáp đúng đắn những vấn đề quan trọng hiện nay như:
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm tăng trưởng
kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội; đổi mới và hoàn thiện hệ thống
chính trị; xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện mới; kiên trì chủ nghĩa Mác -


Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, v.v..
- Thứ ba, lý luận phải dự báo xu hướng vận động của sự nghiệp đổi mới. Sự
nghiệp đổi mới của chúng ta diễn ra trong điều kiện khó khăn, phức tạp, trong bối

cảnh thế giới có nhiều biến động khó lường. Lý luận phải biết dự kiến nhiều khả
năng có thể xảy ra để có những biện pháp tác động, các phương án giải quyết chủ
động, thích hợp nhất.
- Thứ tư, lý luận phải định hướng cho hoạt động thực tiễn của cán bộ, đảng viên.
Lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn, làm "kim chỉ nam" cho hoạt động của
cán bộ, đảng viên. Trong điều kiện hiện nay, nếu không có sự định hướng đúng đắn
của lý luận khoa học thì hoạt động thực tiễn của cán bộ, đảng viên sẽ trở nên mò
mẫm, mất phương hướng. Để lý luận phát huy vai trò định hướng cho hoạt động
thực tiễn của cán bộ, đảng viên, chúng ta phải thường xuyên bổ sung, phát triển lý
luận; kết hợp nghiên cứu lý luận với tuyên truyền, giáo dục, học tập lý luận; vận
dụng lý luận để giải đáp những vấn đề do thực tiễn đổi mới đặt ra./.
Chú thích:
1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, t.17, tr.789.
2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia,1995, t.5, tr.233.
3. C.Mác, Ăngghen: Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1981, t.25, ph.I, tr.343.
4. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.30.
5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia,1995, t.5, tr.233-234.
6. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia,1995, t.6, tr.47.
7. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia,1995, t.6, tr. 233-.234.
8. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, 2000, t.8, tr.496.
9. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 2002, t.8, tr.496.
10. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật Hà Nội, 2002, t.5, tr.234.
11. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật Hà Nội, 2002, t.8, tr.497.
12. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật Hà Nội, 2002, t.8, tr.499.
13. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb. Sự thật,
Hà Nội, 1991, tr.5.
14. Văn kiện Hội nghị lần thứ năm BCH Trung ương Đảng khóa IX, Nhà xuất bản
CTQG, H, 2002, tr.132.
15. Văn kiện Hội nghị lần thứ năm BCH Trung ương Đảng khóa IX, Nhà xuất bản
CTQG, H, 2002, tr.132.

16. Sđd, tr.133.
17. Văn kiện Hội nghị lần thứ năm BCH Trung ương Đảng khóa IX, Nhà xuất bản
CTQG, H, 2002, tr.132.

MỌI LÝ THUYẾT TRÊN ĐỜI ĐỀU MÀU XÁM,
CÒN CÂY ĐỜI THÌ MÃI MÃI XANH TƯƠI (Gơt)
..."


Đây là một câu thơ nhưng chứa đựng một triết lý sâu xa. Tác giả câu thơ cho rằng
mọi triết lý, luận thuyết dù thế nào đi nữa cũng không thể phản ảnh tuyệt đối đúng
được hiện thực khách quan, hiểu đúng hoàn toàn được bản chất của sự sống trên thế
giới này.
Có thể các nhà triết học phương tây và các nhà khoa học thực nghiệm không thể
đồng ý với ý kiến này. Vì họ ra sức kiếm tìm để hiểu bản chất của sự sống, của thế
giới để làm chủ thế giới...
Nhưng nền triết học phương đông không giống với phương tây. Trong khi vẫn xây
dựng các học thuyết, lý luận, phương pháp để tìm hiểu và đi đến sự nhận biết thế
giới khách quan, bản thể của sự sống nhưng các nhà triết học phương đông không
coi lý luận và phương pháp đó là gương soi phản chiếu đúng bản thể sự vật. Lấy ví
dụ như đạo Phật coi các luận thuyết (Pháp) chỉ là phương tiện chỉ đường, còn để
đạt được chân lý, người hành giả phải tự mình thực hành và chỉ có thông qua thực
hành ở chính họ mới có thể tìm ra được đường đi đúng cho chính bản thân, đi đến
ánh sáng của chân lý (khách quan).
Không phải vô lý mà Đức Phật Thích Ca sau 45 năm thuyết pháp không ngừng
nghỉ, trước khi nhập diệt lại nói với đệ tử rằng: cả đời ta, Như lai chưa hề nói một
câu nào! Ý nói là các pháp hữu vi đều vô thường, không phải là bất biến, người ta
chỉ nên coi Pháp (lý thuyết) là phương tiện chỉ đường, không được trói buộc mình
vào giáo lý lý thuyết một cách chết cứng xám sịt. Có nhận thức được như vậy
chúng ta mới không đi đến các trạng thái cực đoan: hoặc phủ định sạch trơn các lý

luận, lý thuyết, hoặc cứng nhắc giáo điều và bảo thủ. Có như vậy chúng ta mới có
được một cuộc sống sáng tạo đẹp đẽ như cây đời mãi xanh tươi!



×