bộ giáo dục và đào tạo
bộ nông nghiệp và ptnt
trường đại học lâm nghiệp
----------------***--------------
lương thế dũng
Bước đầu nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng
thâm canh Keo tai tượng ở vùng Đông Bắc Bộ
để cung cấp gỗ lớn
luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp
Hà Nội - 2008
1
mở đầu
i. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu:
Keo tai tượng (Acacia mangium Wild) tuy mới được gây trồng từ những
năm đầu thập kỷ 80 nhưng diện tích rừng trồng Keo tai tượng tăng rất nhanh
do có các đặc điểm ưu việt về khả năng sinh trưởng, tính chất gỗ phù hợp
trong công nghiệp chế biến gỗ, cũng như cải thiện độ phì của đất. Cho đến nay
Keo tai tượng đã được trồng phổ biến ở nhiều vùng trong cả nước và đã trở
thành một trong những loài cây trồng rừng kinh tế chủ lực.
Để phát huy vai trò, tác dụng của Keo tai tượng góp phần đáp ứng nhu
cầu sử dụng gỗ ngày càng tăng và đa dạng hiện nay của xã hội, vấn đề đặt ra là
phải trồng rừng thâm canh tăng năng suất cây trồng, cung cấp gỗ nguyên liệu
có chất lượng và giá trị cao. Song từ thực tiễn của công tác trồng rừng những
năm qua cho thấy thành quả đạt được trên cả ba phương diện năng suất, chất
lượng và hiệu quả vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được các yêu cầu thực
tiễn đang đòi hỏi. Nguyên nhân chính là do chưa hiểu biết một cách toàn diện
về điều kiện gây trồng, đặc điểm sinh trưởng của Keo tai tượng làm cơ sở để
xây dựng các biện pháp kỹ thuật thích hợp, vì vậy chưa phát huy được tiềm
năng đất đai, ưu thế của cây trồng và thị trường.
Nhằm góp phần giải quyết vấn đề nêu trên, đáp ứng yêu cầu trồng rừng
kinh doanh gỗ lớn hiện nay, đề tài Bước đầu nghiên cứu kỹ thuật trồng
rừng thâm canh Keo tai tượng ở vùng Đông Bắc Bộ để cung cấp gỗ lớn
được triển khai thực hiện.
Đề tài tập trung xác định điều kiện hoàn cảnh vùng trồng và các biện
pháp kỹ thuật thâm canh Keo tai tượng ở vùng Đông Bắc Bộ nhằm kinh doanh
gỗ lớn.
2
ii. Những đóng góp mới của đề tài:
- Về khoa học: Xác định được một số căn cứ bổ sung cho cơ sở lý luận
về mức độ thích hợp của điều kiện hoàn cảnh và đặc điểm sinh trưởng của Keo
tai tượng để chọn vùng trồng rừng và xác định biện pháp kỹ thuật trồng rừng
thâm canh Keo tai tượng ở vùng Đông Bắc Bộ để cung cấp gỗ lớn.
- Về thực tiễn: Xác định được vùng trồng Keo tai tượng thích hợp và đề
xuất biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh Keo tai tượng ở vùng Đông Bắc
Bộ để cung cấp gỗ lớn.
iii. Bố cục của luận văn:
Luận văn gồm 2 phần và 4 chương là:
Mở đầu
Chương 1- Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2- Mục tiêu, nội dung, giới hạn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
Chương 4- Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết luận, tồn tại, khuyến nghị
Ngoài ra, có hệ thống các bảng biểu; tài liệu tham khảo tiếng Việt, tiếng
Anh và các phụ lục.
3
Chương 1
tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1. Một số thông tin chung về Keo tai tượng
Keo tai tượng có tên khoa học là Acacia mangium Wild, là cây họ đậu
(Fabaceae), họ phụ trinh nữ (Mimosoideae), tên gọi khác là Keo lá to hay
Tràm lá to. ở Australia Keo tai tượng có tên là Brownsalwood, Black Wattle,
Hickory Wattle, ở Papua New Guinea có tên là Papua Wattle, ở Indonesia có
tên là Mangge Hutan, ở Malaysia có tên Mangium, Kysafoda, ở Thái Lan có
tên là Kra thintepa [37].
Keo tai tượng là cây gỗ trung bình đến lớn, sinh trưởng nhanh, có thể đạt
tăng trưởng hàng năm về D1.3 đến 5 cm và chiều cao Hvn lên đến 5m trong 4
hoặc 5 năm đầu. Tuy nhiên tăng trưởng này giảm nhanh sau tuổi 7 và tuổi 8.
Keo tai tượng cao từ 20 - 30m, đường kính trung bình 20 - 40cm, có thể đạt
tới 60cm. Đoạn thân dưới cành chiếm ưu thế cao 15 - 20 m. Tuy nhiên ở lập
địa xấu cây chỉ có thể đạt chiều cao 7 - 10 m. Thân cây có nhiều cành nhánh,
tán dày, rộng, thường xanh, màu xanh đen. Vỏ thân lúc non có màu xanh, vỏ
thân nhẵn, phần dưới (gần già) có màu nâu. Khi cây 2 - 3 tuổi vỏ thân bắt đầu
có vết nứt dọc, dày và xù xì, thịt vỏ dày, đôi khi tạo thành rãnh [37].
Lá cây lúc còn nhỏ (dưới 1 tuổi) có lá kép lông chim 2 lần, cuống
thường bẹt. Khi cây trưởng thành có lá đơn, phiến lá hình trứng hoặc trái xoan
dài, đầu có mũi lồi tù, đuôi men cuống, dài 14 - 25 cm, rộng 6 - 9 cm, khá
dày, hai mặt xanh đậm. Có 4 gân dọc song song nổi rõ (Lê Mộng Chân, Lê
Thị Huyên, 2000) [2].
Hoa hình chùm dài khoảng 10 cm, mọc thành từng đôi từ nách lá, cụm
hoa gồm nhiều hoa nhỏ màu trắng hoặc màu kem [37]. Hoa tự hình bông dài
gần bằng lá, mọc lẻ hoặc tập trung 2 - 4 hoa tự ở nách lá. Hoa đều lưỡng tính
mẫu 4, tràng hoa màu vàng, nhị nhiều vươn dài ra ngoài hoa (Lê Mộng Chân,
Lê Thị Huyên, 2000) [2]. Sau khi thụ phấn, hoa trở thành quả màu xanh lá
4
cây, lúc chín có màu đen. Lúc đầu thì thẳng, sau quả xoắn lại bện vào nhau
thành những bó không đều (Bộ Lâm nghiệp - Phụ san năm 1990) [1].
Quả đậu, dẹt và mỏng lúc non thẳng, khi già cong, cuộn xoắn lại. Hạt
dẹt, hình dạng thay đổi từ dài đến ô van hay hình elíp, kích thước 3 - 5 x 2 - 3
mm, nằm ngang trong vỏ quả. Khi chín màu đen bóng, hạt có vỏ dày, cứng, có
dính dải màu đỏ. Mỗi kg hạt có từ 52.000 - 95.000 hạt [37]. Vỏ quả chín nứt
ra theo mép vỏ và khi chín hạt cứng có màu đen (dài 3 - 5 mm) vẫn treo ở dải
nhỏ màu vàng. Sau một số ngày đặc biết là những ngày gió mạnh, những dải
này đứt khỏi vỏ, hạt rơi xuống đất vẫn đem theo cả những dải nhỏ màu vàng.
Những dải màu sặc sỡ đã hấp dẫn kiến và chim giúp cho việc phát tán hạt
giống đi xa (Bộ Lâm nghiệp - Phụ san năm 1990) [1].
Keo tai tượng có khả năng cố định đạm trong đất nhờ cộng sinh với vi
khuẩn Rhizobium tạo ra nốt sần ở rễ vì vậy nó có khả năng cải tạo đất, phát
triển được trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, thậm chí là hoàn cảnh khắc
nghiệt mà ở đó ít có những loài khác mọc. Do có khả năng thích ứng rộng từ
vùng nhiệt đới ẩm đến vùng cận nhiệt đới ẩm nên nó được sử dụng trồng lại
rừng ở các lập địa khó khăn ở nhiều nước và đã thành công, như ở Malaysia,
Trung Quốc, Lào, Philipin, Việt Nam, Thái Lan, [37].
Hiện nay gỗ Keo tai tượng được dùng rộng rãi trên thị trường để đóng
đồ gia dụng thông thường, cung cấp nguyên liệu cho ngành sản xuất ván dăm,
ván bóc và đặc biệt là làm nguyên liệu giấy. Keo tai tượng có hiệu suất bột
giấy cao, khối lượng thể tích nhỏ hơn Keo lai và Keo lá tràm, nhưng nó lại có
ưu điểm sinh trưởng nhanh hơn Keo lá tràm và khả năng đổ gãy ít hơn keo lai
nên vẫn được coi là một trong những loài chính sử dụng trồng rừng nguyên
liệu giấy (Lê Đình Khả, 1996) [9].
Keo tai tượng mọc tự nhiên ở phía Bắc Australia, Papua New Guinea,
phía Đông Inđônêsia (Moluccas và Iran Jaya). Vùng mở rộng giới hạn ở phía
Bắc khoảng vĩ độ 0050 Nam thuộc vùng Iran Jaya đến vĩ độ 190 Nam ở
5
Queensland (Australia). Quần thụ nổi tiếng nhất ở Australia, ở đó Keo tai
tượng mọc không liên tục dọc theo bờ biển phía Đông của Queensland giữa
Ingham và sông Jadine. Tại vùng này, Keo tai tượng mọc ở độ cao dưới 100m,
nhưng có hai quần thụ mọc ở độ cao 450m và 720m, trong khi ở Inđônêsia,
Papua New Guinea nó cũng chỉ mọc ở độ cao thấp so với mặt biển. Quần thụ
Keo tai tượng trải ra từ Taliabu thuộc Moluccas (Inđônêsia) đến Wuroi và
sông Oriôm trong tỉnh phía Tây của Papua New Guinea.
Trong vùng phân bố tự nhiên, Keo tai tượng mọc ven rừng ngập mặn và
gần quần thụ cây tràm cũng như rừng ở ven sông xen lẫn với đồng cỏ. Keo tai
tượng không mọc trong rừng mưa nhưng phần lớn thấy mọc ven rừng. Thông
thường Keo tai tượng mọc thành đám nhỏ thỉnh thoảng mới mọc thành diện
tích lớn.
Keo tai tượng là loài cây tiên phong mọc trên đất rừng đã bị tàn phá, có
khi mọc bên lề đường và dọc theo bờ cánh đồng mía ở Queensland. Lửa rừng,
một đặc điểm của môi trường tự nhiên, thường làm cháy lớp cỏ, ảnh hưởng
đến môi trường sống và tái sinh tự nhiên của Keo tai tượng.
1.2. Quan điểm về gỗ lớn
Khái niệm gỗ lớn được hiểu trong đề tài này là: gỗ đến khi thành thục
công nghệ phải đạt được đường kính tối thiểu 20 - 30cm với chu kỳ kinh
doanh 10 - 15 năm.
1.3. Lược sử trồng rừng thâm canh
1.3.1. Trên thế giới
Từ trước năm 1900, trên thế giới chưa có nhu cầu trồng rừng thâm canh
cho mục đích công nghiệp, mặc dù đã có một số nước quan tâm đến do thiếu
gỗ từ rừng tự nhiên. Trong giai đoạn này biện pháp kỹ thuật lâm sinh đáng
được chú ý và có đóng góp quan trọng cho đến nay là việc trồng thử nghiệm
các loại cây ngoại lai như Tếch (Tectona grandis) và một số loài Bạch đàn E.
tereticornis, E. robusta (Jacobs, 1981); ứng dụng trồng thử nghiệm hệ thống
6
trồng rừng Taungya (Mac Gillivray, 1990).
Giai đoạn 1900 - 1945, việc trồng rừng đã được tiến hành ở nhiều nước
trên thế giới với nhiều loài cây trồng và có xu hướng trồng rừng bán thâm
canh như ở Brazil vào những năm 20 và 30 thế kỷ trước đã trồng hàng trăm
ngàn ha rừng Bạch đàn E. saligna; E. camaldulensis; E. tereticornis (Penfold
and Willis, 1961). Nhiều tiến bộ về kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho trồng rừng
trong thời kỳ này, như nghiên cứu của Craib ở Nam Phi vào những năm 1930
về tỉa thưa và tỉa cành (Craib 1934, 1939, 1947); hệ thống trồng rừng
Taungya được sử dụng rộng rãi ở Kenya vào năm 1910 (FAO 1967b), ở
Trinidad là phương pháp chính để trồng rừng Tếch (Lamb, 1955).
Giai đoạn 1945 - 1965, trồng rừng thâm canh bắt đầu được quan tâm,
việc sử dụng giống cây ngoại lai trồng ở các nước nhiệt đới được đề xuất tại Hội
nghị Lâm nghiệp Thế giới 1954 và các chương trình trồng rừng thương mại ở
FiJi, Papua New Guinea đã được thực hiện. Đến giai đoạn 1966 - 1980 các diện
tích rừng trồng thâm canh được mở rộng nhanh chóng để phục vụ cho công
nghiệp chế biến và các nhu cầu khác, các kỹ thuật lâm sinh đã được áp dụng và
đặc biệt là công tác chọn, nhân giống áp dụng vào sản xuất được quan tâm, như
ở Brazil có nơi đã chuyển đổi hơn 400.000 ha rừng kém chất lượng thành rừng
trồng các loài cây Thông caribê (Pinus caribaea) và Bạch đàn E. saligna [35].
Từ sau năm 1980, diện tích rừng trồng công nghiệp ngày càng được mở
rộng, hơn 14 triệu ha rừng đã được trồng trong 15 năm, Sedio (1987) ước
lượng diện tích rừng trồng ở Châu Mỹ la tinh giữa 1980 - 1990 tăng gấp 3 lần
và sản lượng gỗ công nghiệp tăng gấp 4 lần từ rừng trồng và có thể thoả mãn
50% tổng yêu cầu của khu vực; Touzet (1985) khẳng định rằng rừng trồng
cần được phát triển và sẽ là nguồn gỗ chủ yếu cho tất cả các ngành công
nghiệp sử dụng gỗ. Tầm quan trọng đặc biệt và là bước đột phá trồng rừng
trong giai đoạn này là việc nghiên cứu và thử nghiệm thành công kỹ thuật
nhân giống bằng nuôi cấy mô và giâm hom.
7
Như vậy, lịch sử phát triển rừng trồng theo hướng trồng rừng thâm canh
đã được quan tâm từ lâu, đặc biệt trong vài thập kỷ trở lại đây, nhiều quốc gia
đã tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu cải thiện giống và nhân giống cây rừng,
vì vậy năng suất rừng trồng bằng một số loài cây mọc nhanh như keo, bạch
đàn và một số cây trồng rừng khác đã đạt được những thành tựu đáng kể. Điển
hình như ở Công Gô, Trung Quốc đã chọn được giống bạch đàn có năng suất
từ 40 - 50 m3/ha/năm; Cộng hoà Nam Phi cũng đã tuyển chọn được dòng của
loài E. grandis năng suất đạt trên 40 m3/ha/năm; ở các nước Bồ Đào Nha, Tây
Ban Nha, Brazil thông qua con đường lai tạo giữa các loài bạch đàn, đã lựa
chọn được một số tổ hợp lai cho năng suất từ 40 - 60 m3/ha/năm (Zobel et al.,
1993) [32], một số rừng bạch đàn thí nghiệm bình quân đạt 100 m3/ha/năm.
Kết hợp với công tác cải thiện giống, nhân giống, nhiều nước đã có các
công trình nghiên cứu đồng bộ áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hiện
đại trong trồng rừng thâm canh như chọn lập địa, làm đất, bón phân và chăm
sóc rừng, .... Vì vậy, năng suất rừng trồng cũng được tăng lên rõ rệt.
1.3.2. ở Việt Nam
ở Việt Nam, trồng rừng đã xuất hiện từ thời Pháp thuộc nhưng đến giai
đoạn trước năm 1986, mới bắt đầu thực hiện các chương trình trồng rừng gắn
mục tiêu kinh tế với phòng hộ, bảo vệ môi trường. Trồng rừng cung cấp
nguyên liệu cho công nghiệp, chủ yếu là nguyên liệu giấy được ưu tiên phát
triển, tập trung ở hai khu vực Trung tâm Bắc Bộ và Đông Nam Bộ, một số loài
cây ưa sáng, mọc nhanh đã được gây trồng như Bồ đề, Mỡ, nhưng tỷ lệ
thành rừng thấp chỉ đạt từ 40% - 60% theo diện tích trồng, năng suất bình
quân chỉ đạt từ 4 - 6 m3/ha/năm với sản lượng bình quân đạt được từ 40 - 60
m3/ha trong một chu kỳ kinh doanh [18]. Nguyên nhân chính là do đầu tư cho
trồng rừng hạn chế; công tác chọn giống và khảo nghiệm giống còn ít; chọn
đất trồng rừng không phù hợp với loài cây trồng; kỹ thuật trồng rừng yếu kém,
8
chủ yếu vẫn là trồng rừng mang tính chất quảng canh,...
Giai đoạn từ năm 1986 đến 1990, các mục tiêu trồng rừng công nghiệp
về đầu tư và thâm canh bắt đầu được thực hiện, song hiệu quả của trồng rừng
còn thấp. Trong giai đoạn này đã xác định được 92 loài cây trồng theo các
mục tiêu khác nhau cho 9 vùng sinh thái. Phương thức trồng rừng thâm canh
được thực hiện thông qua chương trình hợp tác Việt Nam - Thuỵ Điển; các cây
gỗ mọc nhanh có năng suất cao được chú ý gây trồng, tỷ lệ thành rừng đạt
khoảng 60%, năng suất rừng trồng vào cuối giai đoạn này đã tăng lên, bình
quân đạt 7 m3/ha/năm [18].
Từ năm 1991 đến nay, vấn đề trồng rừng và kinh doanh rừng trồng
ngày càng được quan tâm, đã chú trọng đẩy mạnh trồng rừng sản xuất theo
hướng thâm canh và đa mục đích, tập đoàn cây trồng cũng phong phú và đa
dạng hơn, vì vậy năng suất rừng trồng cũng đã được cải thiện một bước. Tuy
nhiên, phần lớn rừng trồng ở nước ta hiệu quả còn thấp chưa phát huy hết tiềm
năng của đất đai, khí hậu nhiệt đới và chưa đáp ứng được yêu cầu cung cấp gỗ
nguyên liệu nói chung và nguyên liệu cho công nghiệp nói riêng.
Theo báo cáo đánh giá làm căn cứ xây dựng kế hoạch trồng mới 5 triệu
ha rừng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 1997 về thống kê
năng suất rừng trồng sản xuất cho thấy rất thấp. Cây mọc nhanh cung cấp gỗ
nguyên liệu cho công nghiệp như Bồ đề, Mỡ, Thông đuôi ngựa, bạch đàn và
keo các loại,... năng suất đạt bình quân 7,5 m3/ha/năm với chu kỳ bình quân
10 năm. Cây mọc nhanh cung cấp gỗ lớn như Sao đen, Dầu rái, Tếch năng
suất bình quân đạt 6 m3/ha/năm với chu kỳ bình quân 40 năm.
Mặc dù vậy, trong gần thập kỷ trở lại đây việc phát triển trồng rừng
theo hướng trồng rừng thâm canh để đáp ứng nhu cầu gỗ nguyên liệu không
ngừng được cải thiện, bên cạnh những loài cây bản địa được gây trồng thành
công như Bồ đề, Mỡ, Tre, Luồng, ... thì một số loài cây mọc nhanh như các
loài bạch đàn và keo, ... với rất nhiều xuất xứ cũng đã khẳng định được vai trò
9
và vị trí của chúng tham gia vào cơ cấu cây trồng chính trong lâm nghiệp.
Khoảng 70% giống cho trồng rừng sản xuất đã có chất lượng tốt, tỉ lệ thành
rừng đạt trên 80% và năng suất rừng trồng đạt 15 - 20 m3/ha/năm [5].
Trong những năm qua, các nghiên cứu tập trung vào khâu kỹ thuật
nhằm tạo nên các bước đột phá về năng suất và đã đạt được kết quả nhất định.
Công tác cải thiện giống đã có nhiều giống được công nhận là giống quốc gia
như một số dòng Keo lai (BV10, BV16, BV32), Bạch đàn urophylla (PN2,
PN14, U6); các dòng Bạch đàn urophylla và nhiều xuất xứ Bạch đàn
camaldulensis, Keo lá tràm, Thông caribaea, Phi lao và hàng chục dòng Keo lai,
Bạch đàn lai, Tràm,... cũng đã được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật.
Các biện pháp kỹ thuật thâm canh cũng được tăng cường nghiên cứu,
như các biện pháp làm đất, bón phân, ... vì vậy, năng suất rừng trồng cũng
được nâng cao. Trong một số khảo nghiệm về Keo lai năng suất đạt được trên
25 m3/ha/năm; Bạch đàn urophylla trồng thâm canh cũng cho năng suất từ 18
- 25 m3/ha/năm; một số dòng Bạch đàn PN2 và PN14 sau 8 năm trồng ở Tây
Nguyên bình quân đạt 21 m3/ha/năm [11]. Đây chính là những cơ sở, tiền
đề cho việc nghiên cứu chọn giống và áp dụng các biện pháp trồng rừng
thâm canh.
Như vậy, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh đã có tác dụng căn
bản đến sản lượng và năng suất rừng trồng. Năng suất rừng trồng được cải thiện
và tăng gấp 2 - 3 lần so với cùng một số loài cây trồng trước đây. Qua kết quả
đánh giá cho thấy, tiềm năng để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế của rừng
trồng theo hướng áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng trồng đang
được rộng mở.
Cùng với những tiến bộ đó, quan niệm về trồng rừng thâm canh cũng được
hoàn thiện hơn. Từ phương thức canh tác truyền thống, trồng rừng với các biện
pháp kỹ thuật thông thường, đầu tư thấp (trồng rừng quảng canh), chuyển sang
đầu tư áp dụng một số biện pháp kỹ thuật để cải thiện năng suất rừng trồng
10
(trồng rừng bán thâm canh) và đến thời gian gần đây đã quan tâm đầu tư trồng
rừng theo hướng thâm canh để nâng cao năng suất cây trồng. Theo Nguyễn
Xuân Quát (1999) [18] Trồng rừng thâm canh là một phương thức canh tác
dựa trên cơ sở được đầu tư cao, bằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng
hợp liên hoàn. Các biện pháp đó phải tận dụng cải tạo, phát huy được mọi
tiềm năng của tự nhiên cũng như của con người nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sinh
trưởng của rừng trồng để thu được năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt với
giá thành hạ để cho hiệu quả lớn, đồng thời cũng phải duy trì và cải thiện được
tiềm năng đất đai và môi trường đảm bảo an toàn sinh thái đáp ứng yêu cầu
phát triển trồng rừng ổn định, lâu dài và bền vững.
Như vậy, trồng rừng thâm canh đạt hiệu quả cao phải đáp ứng hiệu quả
tổng hợp của một phương thức kinh doanh thoả mãn các lợi ích về kinh tế môi trường và xã hội cao nhất, thể hiện trên các mặt: (i) Hiệu quả kinh tế: là
hiệu quả về đầu tư và thu nhập trên mô hình sử dụng đất hay mô hình trồng
rừng thâm canh; (ii) Hiệu quả xã hội: tạo giá trị sản phẩm sản xuất ra trên một
đơn vị diện tích lớn, nó mang lại lợi ích cho người sản xuất và tiêu dùng, giải
quyết vấn đề lao động, tạo vùng chuyên canh phát triển kinh tế hàng hoá ....;
(iii) Hiệu quả môi trường: bảo vệ và cải thiện điều kiện đất đai để sử dụng đất
lâu dài, ổn định, bảo vệ môi trường và duy trì cân bằng sinh thái....
Từ những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn của công tác trồng rừng
sản xuất nói chung và trồng rừng thâm canh nói riêng trong những năm qua
cho thấy nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng bằng giống đã được cải
thiện, chọn lập địa phù hợp và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tiên
tiến đang là đòi hỏi cấp bách, đặc biệt là trồng rừng thâm canh để cung cấp gỗ
nguyên liệu cho công nghiệp giấy, ván thanh, ván dăm và gỗ gia dụng.
Như vậy, trên thế giới, trồng rừng thâm canh đã đạt được nhiều thành
tựu to lớn theo hướng trồng rừng công nghiệp, đặc biệt ở các nước phát triển.
Tuy nhiên, do kết quả nghiên cứu áp dụng trên các vùng địa lý, khí hậu và
11
kinh tế - xã hội rất khác nhau, vì vậy để áp dụng các biện pháp đó vào điều
kiện cụ thể của từng vùng, từng quốc gia là rất khó khăn. Những kết quả đó là
nguồn tài liệu tham khảo tốt trong quá trình nghiên cứu.
ở Việt Nam các nghiên cứu về trồng rừng thâm canh đã đạt được một
số thành tựu đáng kể, nhưng cũng mới chỉ dừng ở việc áp dụng các biện pháp
kỹ thuật đơn lẻ. Nhìn chung, chưa có những căn cứ khoa học đầy đủ, chắc
chắn và chưa áp dụng hệ thống các biện pháp liên hoàn, tổng hợp trong thâm
canh rừng trồng. Tham gia góp phần giải quyết các vấn đề trên chính là hướng
nghiên cứu của đề tài.
1.4. Tổng quan về Keo tai tượng
1.4.1. Trên thế giới
1.4.1.1. Các nghiên cứu về điều kiện gây trồng Keo tai tượng
Phân hạng, đánh giá đất là một trong những chuyên ngành nghiên cứu
quan trọng và đặc biệt gần gũi với các nhà quy hoạch và người sử dụng đất.
Trong hoàn cảnh hiện nay, dân số tăng nhanh chóng, diện tích đất đai bình
quân đầu người suy giảm kết hợp với tình trạng suy thoái dần những vùng đất
thích hợp cho canh tác là những vấn đề mang tính nóng bỏng toàn cầu. Để giải
quyết, các nhà tổ chức quốc tế và các nhà khoa học nhiều quốc gia tiến hành
điều tra và đánh giá tài nguyên đất không chỉ trên quy mô quốc gia mà còn
trên phạm vi toàn cầu làm cơ sở cho việc xây dựng các chương trình phát triển
và tối ưu hoá sử dụng đất đai ở mức độ quốc tế.
Trong nông nghiệp, các yếu tố dùng để phân hạng đất thường là loại đất
và các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cây trồng như độ pH, hàm lượng chất
hữu cơ, hàm lượng N, P, K dễ tiêu, Trong lâm nghiệp các yếu tố phân hạng
đất thường là loại đất, độ dày tầng đất, thành phần cơ giới, độ pH, thực bì chỉ
thị cho độ phì hoặc mức độ thoái hoá đất. Điều quan trọng đối với phân hạng
đất đai là cần phải có tư liệu về năng suất cây trồng và tìm mối quan hệ của
chúng với các tính chất đất đai.
12
Việc phân hạng và đánh giá đất đai đã được thực hiện từ khá lâu ở nhiều
nước trên thế giới. Từ những năm 1950, việc đánh giá tiềm năng sử dụng đất
đã được nhiều nhà khoa học và các tổ chức Quốc tế quan tâm. Đây được xem
như là bước nghiên cứu kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm đất. Ngày
nay công việc này đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng của các
nhà quy hoạch, hoạch định chính sách và người sử dụng. Tuỳ theo mục đích
cụ thể, mỗi quốc gia đã đề ra nội dung, phương pháp đánh giá đất của mình.
* ở Liên Xô và các nước Đông Âu dựa vào Thuyết phát sinh đất của
V.V Docuchaev trong đó chỉ ra quá trình hình thành đất rất phức tạp do tác
động của 5 yếu tố tự nhiên là khoáng vật, thực vật, động vật, không gian và
thời gian.
- Những năm thập niên 1960 việc phân hạng và đánh giá đất đai được
thực hiện, bao gồm ba bước là: (i) so sánh các hệ thổ nhưỡng theo tính chất tự
nhiên (đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng); (ii) đánh giá tiềm năng sản xuất của đất
đai và (iii) đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá tiềm năng sản xuất hiện tại
của đất).
- Tuy nhiên, phương pháp này chỉ mới thuần tuý quan tâm đến khía
cạnh tự nhiên của đối tượng đất đai mà chưa xem xét đầy đủ đến khía cạnh
kinh tế - xã hội của việc sử dụng đất đai.
* ở Mỹ, hai phương pháp đánh giá đất đai được ứng dụng khá rộng rãi
là:
- Phương pháp tổng hợp: lấy năng suất cây trồng nhiều năm làm tiêu
chuẩn và phân hạng đất đai cho từng cây trồng cụ thể, trong đó lấy cây lúa mì
là đối tượng chính.
- Phương pháp yếu tố: bằng cách thống kê các yếu tố tự nhiên, kinh tế
để so sánh, lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm (hoặc 100%) để làm mốc so sánh
với các đất khác.
- Trong quá trình phân hạng và đánh giá đất đai ở Mỹ đã đưa ra các
13
khái niệm:
+ Phân loại khả năng thích nghi đất có tưới (Irrigation Land Suitability
Classification) của Cục cải tạo đất đai - Bộ nông nghiệp Mỹ (USBR) xuất bản
năm 1951. Phân loại này dựa vào độ phì của đất để đánh giá. Phân loại này
gồm 6 lớp (classes), từ lớp có thể canh tác được (arable) đến lớp có thể trồng
trọt một cách giới hạn (limited arable) và lớp không thể trồng trọt được (non
arable). Trong phân loại này, nhiều đặc điểm đất đai, một số chỉ tiêu kinh tế
định lượng cũng được đề cập nhưng giới hạn ở phạm vi thuỷ lợi.
+ Tiềm năng đất đai (Land Capability) do Clingebiel và Naontgomery
thuộc Vụ Bảo tồn đất đai - Bộ Nông nghiệp cũng đưa ra (năm 1964) trong
công tác đánh giá đất đai ở Hoa Kỳ. Trong việc đánh giá này, các đơn vị bản
đồ đất đai (Land Mapping Units) được nhóm lại dựa vào khả năng sản xuất
của một loại cây nào đó, chỉ tiêu chung là các hạn chế của lớp phủ thổ nhưỡng
đối với mục tiêu canh tác được đề nghị. Hệ thống đánh giá đất đai này mang
tính chất sơ lược, gắn đất với hiện trạng sử dụng đất hay còn gọi là "Loại hình
sử dụng đất".
* ở ấn Độ và các nước vùng nhiệt đới ẩm châu Phi thường áp dụng
phương pháp tham biến để xác định mối quan hệ giữa các yếu tố đất đai và
cây trồng. Các mối quan hệ này được biểu thị dưới dạng phương trình toán
học. Kết quả phân hạng được thể hiện dưới dạng % hoặc điểm.
* ở các nước Châu Âu việc phân hạng và đánh giá đất đai được thực
hiện theo 2 hướng là:
- Phân hạng định tính: dựa trên các kết quả nghiên cứu các yếu tố tự
nhiên để xác định tiềm năng sản xuất của đất đai.
- Phân hạng định lượng: dựa vào kết quả nghiên cứu các yếu tố kinh tế,
để xác định sức sản xuất thực tế của đất đai.
Nhiều quốc gia ở Châu Âu vào những năm 70 đã cố gắng phát triển các hệ
thống đánh giá đất đai của họ, cuối cùng các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng
14
cần phải có một nỗ lực quốc tế để đạt được sự thống nhất và tiêu chuẩn hoá
vào việc đánh giá đất đai.
* Phương pháp đánh giá đất đai của FAO: Được thống nhất do 2 Uỷ ban
nghiên cứu ở Hà Lan và FAO - Roma thực hiện vào năm 1972, công bố đầu
tiên vào năm 1976 và được chỉnh lý vào năm 1983. Trong đó:
- Đề xuất định nghĩa về đánh giá đất đai là: Đánh giá đất đai là quá
trình so sánh, đối chiếu những tính chất của vạt đất cần đánh giá với những
tính chất đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu phải có. Đánh giá đất đai là
quá trình thu thập thông tin, xem xét một cách toàn diện các yếu tố đất đai với
cây trồng để phân định ra mức độ thích hợp cao hay thấp.
- Đưa ra một số nội dung hoặc khái niệm được xác định cụ thể như sau:
Đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai (land capability): Là việc phân
chia hay phân hạng đất đai thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay
hạn chế trong sử dụng như độ dốc, độ dày tầng đất, đá lẫn, tình trạng xói mòn,
úng ngập, khô hạn, mặn hoá... Trên cơ sở đó có thể lựa chọn những kiểu sử
dụng đất phù hợp. Việc đánh giá tiềm năng sử dụng đất thường áp dụng trên
qui mô lớn như trong phạm vi một nước, một tỉnh hay một huyện.
Ví dụ: ở Mỹ đã sử dụng các yếu tố hạn chế là những yếu tố hầu như
không thay đổi được như độ dốc, độ dày tầng đất, khí hậu để phân chia đất đai
toàn quốc thành 8 nhóm với yếu tố hạn chế tăng dần từ nhóm I tới nhóm VIII.
Nhóm I là nhóm thuận lợi nhất trong sử dụng, có rất ít yếu tố hạn chế. Nhóm
VIII là nhóm có nhiều hạn chế nhất trong sử dụng.
Đánh giá mức độ thích hợp đất đai (land suitability): Là quá trình xác
định mức độ thích hợp cao hay thấp của các kiểu sử dụng đất cho một đơn vị
đất đai và tổng hợp cho toàn khu vực dựa trên so sánh yêu cầu kiểu sử dụng
đất với đặc điểm các đơn vị đất đai.
- Hệ thống đánh giá được thể hiện theo 4 cấp:
Phân thành 2 cấp lớn: Kiểu sử dụng đất hay loài cây trồng thích hợp
15
(Viết tắt là S - Suitable) hay không thích hợp (Viết tắt là N - Not suitable) với
điều kiện đất đai.
Mức độ thích hợp (S) phân chia thành 3 mức:
+ Thích hợp cao (S1): Đất hầu như không có hạn chế đáng kể khi thực
hiện canh tác.
+ Thích hợp trung bình (S2): Đất có hạn chế nhất định làm giảm năng
suất cây trồng hoặc nâng cao chi phí canh tác nhưng vẫn thích hợp cho cây
trồng hoặc kiểu sử dụng đất.
+ Thích hợp kém (S3): Đất có hạn chế đáng kể làm giảm mạnh năng
suất và tăng cao chi phí canh tác rõ rệt. Hiệu quả kinh tế bị suy giảm đáng kể.
- Nhìn chung quá trình đánh giá đất đai của FAO được tiến hành thông
qua các bước: Xác định mục tiêu sử dụng; Thu thập thông tin liên quan; Đánh
giá mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất; Xem xét môi trường tác
động của tự nhiên, kinh tế xã hội; Xác định các loại hình sử dụng đất thích
hợp.
- Ngoài những tài liệu cơ bản của FAO về đánh giá đất đai, FAO cũng
đưa ra những hướng dẫn khác về đánh giá đất đai cho các đối tượng riêng biệt
như (i) Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ mưa (Giueline for land
Evaluation for Rainfed Agriculture - FAO, 1983); (ii) Đánh giá về đất đai cho
trồng cỏ quảng canh (Land Evaluation for extensive grazing, FAO, 1990); (iii)
Đánh giá về đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất
(Land Evaluation and farming system analysis for land use planning, FAO,
1992).
Trên thế giới cũng có nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa
đặc điểm đất đai với sinh trưởng của cây trồng. Từ các kết quả nghiên cứu này
nhiều nhà khoa học đã cho rằng: Đối với các vùng ôn đới, phản ứng của đất,
hàm lượng CaCO3 và các chất Bazơ khác, thành phần cấp hạt và điện thế ôxy
hoá khử (Eh) của đất là những yếu tố quan trọng nhất, quan điểm này đã xem
16
các yếu tố hoá học đất quan trọng hơn yếu tố vật lý. Còn ở vùng nhiệt đới thì
các tác giả cho rằng các yếu tố khả năng giữ nước, độ sâu của đất và độ
thoáng khí là những yếu tố giữ vai trò chủ đạo, điều này có nghĩa là yếu tố vật
lý đất quan trọng hơn yếu tố hoá học đất. Tuy nhiên các kết quả này là dựa
trên các nghiên cứu về đất đồi núi, đất nông nghiệp.
Trung tâm Lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR) gần đây đã tiến hành nghiên
cứu về quản lý lập địa và sản lượng rừng cho rừng trồng ở các nước nhiệt đới
như ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Nam Phi, Conggo, Brazil. Kết quả nghiên
cứu cho thấy các biện pháp xử lý lập địa khác nhau và các loài cây trồng khác
nhau đã có ảnh hưởng khác nhau đến độ phì đất, cân bằng nước sự phân huỷ
thảm mục và chu trình dưỡng khoáng.
Trong những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu về vấn đề
này cho từng một số loài cây. ở vùng ôn đới nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng
của rừng tự nhiên, rừng trồng đến độ phì đất đã được đề cập. Khi nghiên cứu
về rừng mưa nhiệt đới ở Australia, Week (1970) đã khẳng định sinh trưởng
của thực vật phụ thuộc vào các yếu tố đá mẹ, độ ẩm của đất, thành phần cơ
giới, CaCO3, hàm lượng mùn và đạm.
1.4.1.2. Các nghiên cứu về giống
ở các nước tiên tiến trên thế giới việc trồng các loài keo nói chung và
Keo tai tượng nói riêng làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ với quy
mô lớn đã được thực hiện từ rất sớm. Không chỉ mở rộng về quy mô trồng,
công tác cải thiện giống cũng được chú trọng ngay từ đầu. Các nghiên cứu
thường tập trung vào việc tìm ra những xuất xứ, dòng có năng suất và chất
lượng. Ví dụ diện tích rừng trồng keo bằng cây hom ở Công Gô từ 1978 đến
1986 là 23.407 ha, tăng trưởng bình quân năm ở tuổi 6 của các dòng vô tính
được chọn là 35 m3/ha/năm so với 12 m3/ha/năm ở các lô hạt chưa được tuyển
chọn và 25 m3/ha/năm của các xuất xứ đã được chọn. Tăng thu đạt từ 40% lên
17
tới 192%, tức gần 3 lần so với rừng trồng từ giống chưa được cải thiện [16].
Keo được đưa vào khảo nghiệm và gây trồng ở Philipin từ những năm
1980. Trong đó Keo tai tượng được đánh giá là rất có triển vọng, năng suất
của rừng trồng 10 tuổi đạt tới 32 m3/ha/năm ở Tal ogon. Bốn xuất xứ tốt nhất
là Kini, Bensbach, Wipim (PNG), Claudie River (Qld) [17].
Tính đến cuối năm 1990, diện tích rừng trồng ở Sabah khoảng
14.000ha, trong đó phần lớn diện tích trồng Keo tai tượng. Kết quả khảo
nghiệm xuất xứ ở giai đoạn 6,1 tuổi cho thấy 3 xuất xứ có triển vọng là
Western Province (PNG) với D1.3 = 19,1cm; Claudie River (Qld) và Olive
River (Qld) với giá trị D1.3 tương ứng là 19,1 và 18,7cm. Còn ở khảo nghiệm
xuất xứ ở giai đoạn 5,7 tuổi đã xác định được 3 xuất xứ tốt nhất là Broken
Pole Creke (Qld), Abergowrie (Qld), và Olive River (Qld) [36].
Cho đến nay đã có 179 xuất xứ và 469 gia đình thuộc 21 loài keo được
khảo nghiệm ở miền Nam Trung Quốc với tổng diện tích là 130 ha, Keo tai
tượng là một trong ba loài keo đã được đưa vào trồng rừng trên diện rộng
nhằm cung cấp gỗ. Dựa vào sinh trưởng và dạng thân đã chọn được các xuất
xứ có triển vọng của Keo tai tượng là Abergowie (Qld), Claudie River (Qld),
Oriomo (PNG). Trung Quốc đã xây dựng được 40 ha rừng giống, vườn giống
tại Quảng Đông và Hải Nam, bao gồm cả vườn giống thế hệ 1 và 1,5; vườn
giống dòng vô tính và vườn giống lai. Theo ước tính, các rừng giống và vườn
giống này có thể cung cấp khoảng 1.000 kg hạt giống/năm [17].
ở Sabah - Malaisia Keo tai tượng (Acacia mangium Wild) có sức sinh
trưởng nhanh, tuổi 10 - 13 đạt chiều cao 20 - 25m và đường kính 20 - 30cm,
tăng trưởng bình quân là 44 m3/ha/năm và cũng ở Sabah trong một khảo
nghiệm ở tuổi 4, xuất xứ tốt nhất đạt chiều cao 20,17m và đường kính 14,4cm
[17].
Từ năm 1989 ở Nam Phi đã có những nghiên cứu về sinh trưởng của
dòng vô tính. Kết quả cho thấy rừng trồng bằng cây con từ hạt năng suất bình
18
quân đạt 21,9m3/ha/năm, trong khi đó các dòng vô tính trồng đại trà đạt trên
30m3/ha/năm [16]. Nhân giống vô tính Keo tai tượng đã được một số tác giả
nghiên cứu. C.Y. Wong và R.J. Haines cho rằng việc giâm hom các cây mẹ trẻ
tuổi của Keo tai tượng có thể sử dụng công nghệ đơn giản, có thể tiến hành
giâm hom quanh năm tuy nhiên giá thành cây hom cao hơn cây hạt [43].
Các dự án nghiên cứu của CSIRO vào những năm 1980 tại các nước
Đông á, Đông Nam á, Australia và Fiji đã cơ bản xác định được các xuất xứ
có triển vọng cho các nước tham gia, ví dụ như các xuất xứ PNG được đánh
giá là phù hợp với điều kiện lập địa của Trung Quốc, Đài Loan [33]. Ngoài ra,
hàng loạt các nghiên cứu về sinh lý, lâm sinh của CSIRO đã được thực hiện ở
nhiều quốc gia, cho thấy việc bón bổ sung photpho và kali cho cây là rất cần
thiết.
1.4.1.3. Các nghiên cứu về kỹ thuật trồng
Keo tai tượng đã được đưa vào trồng ở Trung Quốc từ những năm 1960,
tới năm 1997 đã có khoảng 200.000 ha Keo tai tượng được trồng ở phía Nam
Trung Quốc gồm 4 tỉnh là Hải Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam.
Tốc độ trồng rừng hàng năm khoảng 20.000 ha/năm [17].
Hàng loạt các nghiên cứu về sinh lý, lâm sinh của CSIRO đã được thực
hiện ở nhiều quốc gia cho thấy việc bổ sung photpho và kali cho cây được cho
là rất cần thiết. Các nghiên cứu đã được tiến hành cho đối tượng này khá đầy
đủ như khả năng cố định đạm (cây hấp thụ 153,8 kg nitơ/ha) và kỹ thuật trồng
rừng thâm canh đã được chấp nhận thay cho phương pháp quảng canh vốn có
[40].
ở Malaisia, song song với công tác cải thiện giống, các biện pháp kỹ
thuật lâm sinh cũng đã được thử nghiệm nhằm chuyển hoá rừng trồng cung
cấp nguyên liệu dăm và bột giấy có giá trị kinh tế thấp thành rừng trồng cung
cấp gỗ xẻ với biện pháp tỉa cành và tỉa thưa, nhằm làm tăng chiều cao dưới
cành của Keo tai tượng lên hơn 9m [39]. Nghiên cứu ở Malaisia cho thấy độ
19
sâu tầng đất và địa hình có ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng của cây, khi trồng
Keo tai tượng ở đất phù sa dưới chân đồi cho năng suất gỗ gần gấp đôi ở đỉnh
đồi mặc dù hai nơi chỉ cách nhau khoảng 100m [17].
ở Papua New Guinea từ năm 1950, có khoảng 60.000 ha rừng trồng các
loài keo, trong đó Keo tai tượng chiếm khoảng 15 - 16%. Sinh trưởng chiều
cao của Keo tai tượng trên các lập địa tốt đạt 5 m/năm trong 2,5 năm đầu [17].
ở Inđônêsia, trồng Keo tai tượng với mục đích thương mại đã được
triển khai từ đầu những năm 1980, đến năm 1990 đã có xấp xỉ 38.000 ha rừng
trồng Keo tai tượng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy và gỗ xẻ [42]. Dự án trồng
rừng của công ty MHP với tổng diện tích 193.500ha, trong đó diện tích trồng
Keo tai tượng chiếm 90% [31].
1.4.2. ở Việt Nam
1.4.2.1. Các nghiên cứu về điều kiện gây trồng Keo tai tượng
Xác định điều kiện gây trồng là tìm hiểu các yếu tố ngoại cảnh ảnh
hưởng và quyết định tới sự hình thành kiểu quần thể và năng suất sinh trưởng
của cây rừng, nó là cơ sở xác định các biện pháp kỹ thuật trồng rừng. Mỗi loài
cây đều đòi hỏi điều kiện đất đai, khí hậu thích hợp để cho sinh trưởng và phát
triển tốt nhất.
ở Việt Nam cho đến nay có khá nhiều các công trình nghiên cứu về đất
đai, chủ yếu nghiên cứu về quá trình hình thành và tính chất lý hoá học của
đất; phân loại, xây dựng bản đồ đất; đánh giá tiềm năng sản xuất của đất; biện
pháp cải tạo đất có vấn đề; bảo vệ và chống suy thoái tài nguyên đất.
Năm 1960, F.R. Moormann đã xuất bản bản đồ thổ nhưỡng ở miền
Nam Việt Nam với tỷ lệ 1/1.000.000 và kèm theo bảng phân loại đất dùng cho
bản đồ này. Năm 1969 V. M. Fridland cùng một số nhà khoa học Việt Nam
đã xuất bản Bản đồ thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000 và bản
chú giải phân loại. Đặc điểm của 2 bảng phân loại này là theo 2 phương pháp
20
khác nhau. Bảng phân loại đất dùng cho sơ đồ thổ nhưỡng miền Bắc là theo
hướng phân loại phát sinh của Liên Xô. Bảng phân loại đất của Moorman theo
hướng phân loại của Mỹ trước kia, một phần theo hướng phân loại phát sinh và
một phần theo tính chất thực dụng.
Từ những năm 80 trở lại đây có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá
đất đai như:
- Nghiên cứu đánh giá và quy hoạch đất khai hoang ở Việt Nam của Bùi
Quang Toản và cộng sự (1991) đã ứng dụng phân loại tiềm năng (Capability
classification) của FAO. Tuy nhiên nghiên cứu chỉ đánh giá các điều kiện tự
nhiên (thổ nhưỡng, thuỷ văn và tưới tiêu, khí hậu nông nghiệp) và nghiên cứu
chỉ mới dừng lại ở lớp (class) thích nghi cho từng loại hình sử dụng.
- Trần An Phong (1995) đã đưa ra kết quả đánh giá hiện trạng sử dụng
đất ở nước ta theo quan điểm sinh thái và lâu bền. Phương pháp đánh giá này
đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố: tính chất của đất, hiện trạng
sử dụng đất, tính thích nghi đất đai, vùng sinh thái.
- Đánh giá tiềm năng sử dụng đất Lâm nghiệp của từng vùng sinh thái
và trong toàn quốc của Đỗ Đình Sâm và CS (1995) là phương pháp ứng dụng
phần mềm GIS trên máy tính để xây dựng các bản đồ đánh giá tiềm năng sử
dụng đất lâm nghiệp. Phương pháp này cho phép lợi dụng được các thông tin
sẵn có và có ý nghĩa là mang tính chiến lược và dự báo.
- Tôn Thất Chiểu và Hoàng Ngọc Toàn (1980 - 1985) đã tiến hành
nghiên cứu phân hạng đất đai tổng quan trên toàn quốc, với nhiều đối tượng
cây trồng, nhiều vùng chuyên canh khác nhau trên cơ sở phân hạng định lượng
của FAO. Đối tượng chính của đề tài này là đất nông nghiệp và đất đồi núi.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành tiêu chuẩn
ngành 10 TCN 343-98 về Quy trình đánh giá đất đai phục vụ Nông nghiệp,
trên cơ sở vận dụng nội dung, phương pháp đánh giá đất của FAO theo điều
kiện và tiêu chuẩn cụ thể của Việt Nam.
21
- Kết quả điều tra tổng hợp của Viện quy hoạch thiết kế Nông nghiệp
năm 1995 đã xác định 9 vùng sinh thái nông nghiệp trên toàn quốc. Phương
pháp tổng hợp là căn cứ vào 7 yếu tố và các chỉ tiêu phân cấp là: Loại đất, Độ
dốc, Độ dày tầng đất, Thuỷ văn mặt nước, Tưới tiêu, lượng mưa, Nhiệt độ.
Mặc dù đã có sự cố gắng gộp nhóm và đơn giản hoá các yếu tố, chỉ tiêu tham
gia xây dựng đơn vị đất đai, nhưng kết quả tổ hợp vẫn cho ra số lượng đơn vị
đất đai toàn quốc khá lớn. Trên bản đồ tỷ lệ 1/1.000.000 toàn quốc có tới 373
đơn vị đất đai.
- Vũ Cao Thái và CS năm 1989 đã nghiên cứu đánh giá phân hạng đất
Tây Nguyên với cây Cao su, Cà phê, Chè và Dâu tằm. Đề tài đã vận dụng
phương pháp phân hạng đất đai của FAO theo kiểu định tính và hiện tại để
đánh giá khái quát tiềm năng đất đai của vùng và đã phân chia đất theo 4 hạng
riêng cho từng cây trồng.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài KT 02 - 09 do Viện Quy hoạch thiết kế
Nông nghiệp thực hiện (1993 - 1995) đã đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội và
tác động ảnh hưởng tới môi trường đối với các loại hình sử dụng đất đai chính
ở Việt Nam và đã xác định 4 loại hình sử dụng đất chính là: Các loại hình sử
dụng đất đai bền vững về kinh tế xã hội và môi trường; Loại hình sử dụng đất
không bền vững về kinh tế; Loại hình sử dụng đất không bền vững về môi
trường; Loại hình sử dụng đất không bền vững về kinh tế và môi trường.
- Trong quy trình Điều tra xây dựng bản đồ lập địa phục vụ công tác
trồng rừng cho các dự án như: KfW1, KfW3, ADB, Lâm nghiệp xã hội Sông
Đà, của Ngô Đình Quế và cộng sự đã dựa vào các yếu tố là loại đất, độ dày
tầng đất, độ dốc và thực bì để xác định đơn vị đất đai.
Các nghiên cứu phân hạng đất lâm nghiệp thực hiện chủ yếu đối với
một số cây trồng quan trọng và có ý nghĩa đối với thực tiễn sản xuất. Đó là
các rừng trồng Bồ đề cung cấp nguyên liệu giấy được gây trồng mạnh ở vùng
trung tâm vào những năm 1960 - 1970, rừng trồng Thông nhựa gây trồng phổ
22
biến trên đất trống đồi trọc trong toàn quốc, rừng trồng Thông ba lá và một số
rừng cây đặc sản như Hồi, Quế,...
Dựa trên kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh trưởng và đặc
điểm đất dưới rừng trồng Bồ đề, Hoàng Xuân Tý đã đề xuất 4 tiêu chuẩn quan
trọng để xác định trồng rừng Bồ đề là loại đất, độ dày tầng đất và độ thoái hoá
đất và thực bì chỉ thị. Phương pháp này dễ áp dụng trong thực tế sản xuất, tuy
nhiên chưa dự đoán được năng suất của rừng trồng.
Năm 1990 trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm đất rừng Thông nhựa, Ngô
Đình Quế cho thấy rằng yếu tố quyết định đến việc trồng rừng Thông nhựa có
thành công hay không là phản ứng của đất (pHKCl 3,5 - 5,5), độ xốp (>40%),
độ sâu tầng kết cứng (5 - 10cm) và yếu tố thực bì chỉ thị tốt nhất là tế guột dày
[13].
Theo Ngô Quang Đê và Nguyễn Hữu Vĩnh (1997) [7], để phục vụ cho
chọn nơi trồng Lơman đã phân chia lập địa dựa vào các chỉ tiêu khí hậu, đất
đai, địa hình; W. Schwanecker dựa vào các chỉ tiêu khí hậu, địa hình, đá mẹ,
đất và thực vật chỉ thị để phân chia lập địa trồng rừng. Trong phạm vi một
vùng địa lý sinh thái nhất định, các nhân tố khí hậu hầu như không có sự biến
đổi lớn, nên coi khí hậu là nhân tố đồng nhất, còn lại các nhân tố khác có sự
khác biệt tác động đến các nhân tố lập địa. Trên cơ sở đó, để mô tả dạng lập
địa, xây dựng và đề xuất các tiêu chuẩn xác định lập địa trồng rừng thích hợp
cần xác định và đánh giá các chỉ tiêu loại đất, độ dốc, độ dày tầng đất và quần
hệ thực vật ưu thế với tình hình sinh trưởng của cây rừng được trồng trên các
dạng lập địa đó.
Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa năng suất rừng trồng công nghiệp
với điều kiện lập địa trong vùng nhất định Đỗ Đình Sâm (2001) [20] đã xây
dựng và đề xuất các tiêu chuẩn xác định lập địa trồng rừng gồm: các loại đất
khác nhau, độ dốc và kiểu địa hình, độ dày tầng đất và quần hệ thực vật ưu
thế, đây là những chỉ tiêu cơ bản nhất để nghiên cứu, đánh giá điều kiện gây
23
trồng cho cây rừng (Keo tai tượng, Bạch đàn urophylla,...).
Ngô Đình Quế (2001) thực hiện đề tài nghiên cứu theo dõi, đánh giá
diễn biến độ phì đất dưới các loại rừng kep và bạch đàn trồng thử nghiệm ở Đá
Chông và Cẩm Quỳ, Ba Vì - Hà Tây. Năm 2001, Vũ Tấn Phương cũng đã
nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh trưởng của Keo lai (Acacia hybrid) với một
số tính chất đất ở Ba Vì - Hà Tây.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu cây nguyên liệu giấy
2004 tại vùng Trung tâm cho thấy Keo tai tượng sinh trưởng, phát triển tốt
trên những lập địa có độ dày tầng đất > 80cm, thực bì đặc trưng gồm nứa tép,
cây bụi sinh trưởng từ trung bình đến tốt và sinh trưởng, phát triển kém trên
đất xấu, khô cằn. Trong luận văn Thạc sỹ Lâm nghiệp (2006), tác giả Trần
Sinh Lộc đã tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa tính chất đất và sinh
trưởng của cây Bời lời đỏ ở Mang Yang - Gia Lai làm cơ sở xây dựng bảng
phân hạng đất trồng rừng.
Như vậy, vấn đề đặt ra là muốn chọn được nơi trồng hay lập địa phù
hợp, trước hết phải chọn được vùng trồng hay điều kiện gây trồng thích hợp.
Trên cơ sở đó, dựa vào các yếu tố có ảnh hưởng chủ đạo nhất đến sinh trưởng
và phát triển của cây trồng để chọn nơi trồng hay lập địa phù hợp cho từng
loài cây. Đó là một trong những căn cứ quan trọng nhất làm cơ sở cho việc
xác định các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh, tuy nhiên đây là nội
dung cho đến nay ở Việt Nam còn ít được nghiên cứu cho các loài cây trồng
rừng sản xuất nói chung, trong đó có Keo tai tượng.
1.4.2.2. Các nghiên cứu về giống
Có một số công trình nghiên cứu chọn giống Keo tai tượng, có thể tóm
lược và khái quát theo giai đoạn ở một số vùng như sau:
Giai đoạn từ 1980 - 1995: các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào khảo
nghiệm loài và xuất xứ trên các vùng sinh thái trên cả nước, cụ thể là:
- Vùng trung tâm: Keo tai tượng được đưa vào trồng thử nghiệm ở các
24
tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc... Qua thử nghiệm chúng đã chứng tỏ
sức sống cao và sinh trưởng khá nhanh. Khảo nghiệm năm 1990 tại Hàm Yên
- Tuyên Quang, Phong Châu - Phú Thọ và Tam Đảo - Vĩnh Phúc cho thấy Keo
lá liềm sinh trưởng tốt nhất ở Hàm Yên với năng suất đạt 17,7 m3/ha/năm, tiếp
đến là Keo tai tượng đạt 12 m3/ha/năm [34]. Năm 2000 đã được công nhận 3
xuất xứ Pongaki, Iron Range và Cardwell là giống tiến bộ kỹ thuật [24]. Trong
báo cáo xin công nhận giống tiến bộ kỹ thuật cho một số xuất xứ Keo tai
tượng của Trung tâm cây nguyên liệu giấy Phù Ninh tháng 4 năm 2005 cho
thấy ở địa điểm khảo nghiệm Hàm Yên - Tuyên Quang xuất xứ sinh trưởng có
triển vọng là Cardwell. SW Cairns, Herbert River Valley thuộc vùng giữa
Queenland; Iron Range thuộc vùng cực Bắc Queensland. Địa điểm Phú Thọ
các xuất xứ có triển vọng là Shelburne, Iron Range thuộc vùng cực Bắc
Queenland; xuất xứ Dimisisi, Gubam, Pongaki; Cardwell, Herbert River
Valley thuộc vùng giữa Queenland; Địa điểm Vĩnh Phúc xuất xứ có triển vọng
là Rex-Cassowary, Herbert River Valley.
- Vùng đồng bằng sông Hồng: Khảo nghiệm ở Đá Chông - Ba Vì - Hà
Tây năm 1982 với 4 xuất xứ của 4 loài Keo là Keo tai tượng (A. mangium,
Daintree), Keo lá tràm (A. auricuformis, Darwin), Keo lá liềm (A.
crassicarpa, Daintree), Keo đa thân (A. aulacocarpa, Atherton area). Số liệu
sinh trưởng ở tuổi 8 cho thấy Keo tai tượng đứng đầu bảng cả về chiều cao lẫn
đường kính, cũng là loài có số thân trên cây ít nhất (92% cây có 1 thân). Tiếp
đến là khảo nghiệm năm 1990, bao gồm 39 xuất xứ của 5 loài keo, trong đó có
9 xuất xứ của Keo tai tượng. Kết quả về sinh trưởng sau 4,5 năm cho thấy các
xuất xứ Pongaki, Iron Range Ingham và Gubam của Keo tai tượng có sinh
trưởng tốt nhất [14], [15], [17], [38].
- Vùng Bắc Trung Bộ: Khảo nghiệm ở Đông Hà - Quảng Trị năm 1991,
bao gồm 34 xuất xứ của 5 loài keo trong đó có 7 xuất xứ của Keo tai tượng đã
được Trung tâm Khoa học sản xuất Lâm nghiệp vùng Bắc Trung Bộ trồng năm