BỘ CÔNG THƯƠNG
ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN HỌC:
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề tài:
QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG
VỀ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
Lớp học phần: 211200865
Nhóm: 12
GVHD: ThS. Lê Hoài Nam
T.P HỒ CHÍ MINH, tháng 5 năm 2015
BỘ CÔNG THƯƠNG
ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN HỌC:
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề tài:
QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI NHẬN THỨC CỦA
ĐẢNG VỀ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
LỚP HỌC PHẦN: 211200865
NHÓM: 12
STT Họ và tên
MSSV
1
Huỳnh Lê Quang Quân
14016501
2
Nguyễn Phú Phong
14029151
3
Đoàn Việt Thắng
14029361
4
Lâm Gia Đức
14026051
5
Phạm Quốc Thái
14025771
6
Khổng Minh Phúc
14017911
7
Nguyễn Thị Thanh Nhi
14026931
8
Đỗ Thị Tú Nhi
14026931
Chữ kí
T.P HỒ CHÍ MINH, tháng 5 năm 2015
MỤC LỤC
I – THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI...........................................................................................................6
II - TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI...........................................................................................................8
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài:
Vào giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới toàn
diện. Đại hội Đảng lần thứ VI (12- 1986) xác định quyết tâm: “Đảng phải đổi
mới về nhiều mặt... đổi mới là con đường vươn lên đáp ứng đòi hỏi của thời
đại, đối phó thắng lợi với mọi thử thách, đáp ứng những nhu cầu ngày càng
cao của nhân dân… đổi mới đang là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách
mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn”1. Một nguyên tắc căn bản của công
cuộc đổi mới được xác định là: “Xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ
nghĩa là mục tiêu, là lý tưởng của Đảng và nhân dân ta. Đổi mới không phải
là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là làm cho mục tiêu ấy được thực
hiện có hiệu quả bằng những quan điểm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội,
những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp2. Sự nghiệp đổi mới ở Việt
Nam diễn ra trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, nhưng nhìn một cách
khái quát được thể hiện tập trung trên 4 lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, văn
hoá, xã hội - thực chất là 4 phân hệ lĩnh vực trụ cột của phát triển xã hội Việt
Nam theo định hướng XHCN. Chủ trương của Đại hội VI về lĩnh vực xã hội,
tập trung vào các vấn đề: lao động và việc làm; ổn định và nâng cao đời sống
nhân dân; thực hiện kế hoạch hoá gia đình, chăm lo người có công với cách
mạng, phòng chống các tệ nạn xã hội... Trong đó, tư duy mới của Đảng thể
hiện thông qua các chủ trương: giải quyết chính sách xã hội là nhiệm vụ gắn
bó hữu cơ với đổi mới kinh tế; vấn đề lao động, việc làm được giải quyết gắn
với phát triển nhiều thành phần kinh tế; nâng cao đời sống của nhân dân gắn
với thực hiện ba chương trình kinh tế lớn. Nâng cao trách nhiệm của toàn xã
hội trong vấn đề giải quyết bất công xã hội. “Có chính sách điều tiết hợp lý
đối với những người giàu; động viên các doanh nghiệp; các tổ chức, cá nhân
tự nguyện tham gia các hoạt động nhân đạo, ái hữu, từ thiện, giúp đỡ những
nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai, những người tàn tật, già cả,
neo đơn, không có khả năng lao động”
2. Mục đích nghiên cứu:
Thực hiện đề tài “Quá trình đổi mới nhận thức và chủ trương của Đảng về
giải quyết các vấn đề xã hội” em hướng đến giải quyết những vấn đề sau:
- Quá trình nhận thức và chủ trương giải quyết của Đảng qua từng thời
kì.
- Làm rõ các vấn đề xã hội ở Việt Nam.
- Những mặt tích cực và hạn chế trong việc đổi mới và giải quyết các vấn
đề xã hội trong quá trình hội nhập ở nước ta.
- Thành quả việc vận dụng quá trình đổi mới và phát triển của nước ta.
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã nghiên cứu, đề xuất các giải pháp giải
quyết các vấn đề xã hội
3. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: để rút ra những vấn đề
liên quan đến đề tài.
- Phương pháp quy nạp – diễn dịch.
- Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các tư liệu trên Internet.
4. Đóng góp:
- Trình bày hệ thống cơ sở quá trình nhận thức và chủ trương giải quyết
các vấn đề xã hội của nước ta thời kỳ trước đổi mới và thời kỳ đổi mới.
- Đánh giá được quá trình thực hiện đường lối đổi mới.
5. Bố cục:
Tiểu luận gồn ba phần: Phần mởi đầu, nội dung, và kết luận.
QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG
VỀ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
I – THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI.
1. Chủ trương của Đảng về giải quyết các vấn đề xã hội.
a. Giai đoạn 1945-1954.
- Ngay sau Cách mạng Tháng Tám và trong năm thực hiện nhiệm vụ
kháng chiến , kiến quốc ,chính sách xã hội của Đảng nhằm thực hiện
mục tiêu làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc , làm cho dân có
chỗ ở , làm cho dân được học hành . Tiếp sau đó là làm cho người
nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người giàu thì giàu thêm.
Chủ trương này đã nhanh chóng đi vào cuộc sống và đạt được những
hiệu quả thiết thực.
- Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có chủ trương và hướng dẫn
để các tầng lớp nhân dân chủ động và tự tổ chức giải quyết các vấn
đề xã hội của chính mình như : chính sách gia tăng sản xuất, chủ
trương tiết kiệm , đồng cam cộ.ng khổ; khuyến khích tự do sản xuất;
kinh doanh thực hiện chính sách điều hòa lợi ích giữa chủ và thợ …
chẳng hạn như: hũ gạo cứu đói , nhường cơm sẻ áo …
Hình (1)
Hình (2)
b. Giai đoạn 1955- 1975.
Các vấn đề xã hội được giải quyết trong mô hình CNXH kiểu cũ (kế
hoạch hóa tập trung) và trong hoàn cảnh có chiến tranh.
- Chế độ phân phối phân phối cho sản xuất : phân chia các yếu tố sản
xuất cho các ngành sản xuất và phân chia cho tiêu dùng : phân chia
sản phẩm cho các cá nhân tiêu dùng ) thực chất theo chủ nghĩa bình
quân , cào bằng.
- Nhà nước và tập thể đáp ứng các nhu cầu xã hội thiết yếu bằng chế
độ bao cấp tràn lan dựa vào viện trợ từ bên ngoài.
Nhận xét: Trong chiến tranh do Đảng và Nhà nước có đường lối phù
hợp nên chúng ta đã huy động được sức mạnh của toàn dân tộc vùng
lên đánh bại kẻ thù xâm lược thống nhất Tổ quốc, cả nước cùng đi
lên CNXH.
c. Giai đoạn 1975- 1985.
Các vấn đề xã hội được giải quyết theo cơ chế kế hoạch hóa tập
trung, quan liêu, trong hoàn cảnh đất nước lâm vào khủng hoảng
kinh tế , xã hội
Nghiêm trọng, nguồn viện trợ giảm dần, bị bao vây, cô lập và cấm
vận .
Nhận xét: Trong hòa bình, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến
các vấn đề XH, KT,VH nhằm nâng cao đời sống nhân dân cả về vật
2.
chất lẫn tinh thần.
Đánh giá việc thực hiên đường lối.
a. Thành tựu:
Chính sách xã hội trong 9 năm kháng chiến, kiến quốc, tiếp sau đó là
thời bao cấp suốt 30 năm đã bảo đảm được sự ổn định của xã hội và
đạt được nhiều thành tựu phát triển đáng tự hào trên một số lĩnh vực:
văn hóa, giáo dục , y tế, lối sống, đạo đức , kỉ cương và an ninh xã
hội , hoàn thành nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn.
b. Ý nghĩa
Những thành tựu đó nói lên bản chất tốt đẹp của chế độ mới và sự
lãnh đạo đúng đắn của Đảng trong giải quyết các vấn đề xã hội trong
điều kiện chiến tranh kéo dài, kinh tế chậm phát triển.
c. Hạn chế
-
Trong xã hội đã hình thành tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước và
tập thể trong cách giải quyết các vấn đề xã hội.
- Chế độ phân phối trên thực tế là bình quân cao bằng không khuyến
khích những đơn vị cá nhân làm tốt, làm giỏi...
- Đã hình thành một xã hội đóng, ổn định nhưng kém năng động,
chậm phát triển về nhiều mặt.
Trước đổi mới, việc thủ tiêu các hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất, xác lập chế độ công hữu một cách nóng vội đã kìm hãm sự phát triển của
lực lượng sản xuất, đẩy nền kinh tế vào khủng hoảng, từ đó không đủ các điều
kiện để giải quyết các vấn đề xã hội; Cơ chế “bao cấp” đã không huy động
được các nguồn lực trong xã hội (ngoài Nhà nước) để giải quyết các vấn đề xã
hội; Việc thiết lập hệ thống “Thị trường có tổ chức”, phân phối kết quả sản
xuất theo biện pháp hành chính, tạo sự bất bình đẳng về lợi ích của người lao
động, tạo kẽ hở để tầng lớp đặc quyền kiếm lợi bất chính; Việc thực hiện
phương thức phân phối “bình quân chủ nghĩa” tách rời lao động với kết quả
lao động, nảy sinh sự lười biếng, ỷ lại, làm suy giảm tích cực sáng tạo của
nguồn nhân lực. Đó là một trong những nhóm nguyên nhân dẫn đến tình trạng
khủng hoảng kinh tế - xã hội thời kỳ trước đổi mới.
d. Nguyên nhân:
- Đặt chưa đúng tầm chính sách xã hội trong quan hệ với chính sách
kinh tế, chính trị
- Đồng thời lại áp dụng và duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế kế
hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp.
II - TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI
1. Quá trình đổi mới nhận thức về giải quyết các vấn đề xã hội.
* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) lần đầu tiên nâng
các vấn đề xã hội lên tầm "Chính sách xã hội", đặt rõ tầm quan trọng của
chính sách xã hội đối với chính sách kinh tế và chính sách ở các lĩnh vực khác.
Đại hội cho rằng: “ Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực
hiện chính sách xã hội, nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích của các
hoạt động kinh tế.’’ Ngay trong khuôn khổ của hoạt động kinh tế , chính sách
xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động , chất lượng sản phẩm .
- Đây là sự đổi mới tư duy về giải quyết các vấn đề xã hội được đặt trong tổng
thể đường lối phát triển của đất nước, đặc biệt là giải quyết mối quan hệ giữa
chính sách kinh tế với chính sách xã hội. Do đó, cần có chính sách xã hội cơ
bản, lâu dài , phù hợp với yêu cầu khả năng trong chặng đường đầu tiên của
thời kì quá độ .
Có thể kể đến là:
- Phấn đấu hạ tỷ lệ phát triển dân số.
-Đảm bảo việc làm cho người lao động là nhiệm vụ kinh tế - xã hội hàng đầu.
Nhà nước cố gắng tạo thêm việc làm và có chính sách để người lao động tự tạo
ra việc làm.
-Ban hành và thực hiện Luật lao động.
-Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ của nhân dân. Từng bước xây dựng
chính sách bảo trợ xã hội XHCN đối với toàn dân, theo phương châm “nhà
nước và nhân dân cùng làm.
Xoá bỏ quan liêu bao cấp không chỉ với lĩnh vực đời sống mà còn với lĩnh vực
sản xuất, phân phối nguồn lực, trao quyền tự chủ cho xí nghiệp quốc doanh
hạch toán kinh doanh, khắc phục tình trạng “lãi giả - lỗ thật”.
* Tại đại hội lần thứ VII (24-27/6/1991)
Đảng ta đã chính thức khẳng định một số quan điểm chỉ đạo
Hình (3)
việc phát triển hài hòa giưũa tăng trưởng kinh tế và giải
quyết các vấn đề xã hội. Cụ thể là: Mục tiêu của chính sách
xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế ở chỗ đều
nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người. Phát triển kinh tế là cơ sở và
tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, đồng thời thực hiện tốt các chính
sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế.
Có thể kể đến như: việc chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế mới, như: xác lập
nguyên tắc chi trả tiền lương, tiền công theo kết quả lao động là chủ yếu; xây
dựng quỹ bảo hiểm xã hội chung của người lao động thuộc mọi thành phần
kinh tế; xác định giải quyết việc làm là trách nhiệm của mọi ngành, mọi cấp,
mọi thành phần kinh tế...
* Đại hội lần thứ VIII của Đảng (6/1996) chủ trương hệ thống chính sách xã
hội phải được hoạch định theo những quan điểm sau:
+ Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong
từng bước và trong suốt quá trình phát triển.
+ Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất
lẫn khâu phân phối kết quả sản xuất , ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều
có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình .
+ Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói , giảm nghèo.
+ Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá.tốt
Phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc uống nước nhớ nguồn , đền ơn đáp
nghĩa , nhân hậu , thủy chung.
* Đại hội lần thứ IX của Đảng (4/2001):
+ Chủ trương các chính sách xã hội phải hướng vào phát triển và làm lành
mạnh hoá xã hội
+ Thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản
xuất.
+ Tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã
hội. Coi trọng công bằng trong hưởng thụ các dịch vụ xã hội, đặc biệt là công
bằng trong thụ hưởng dịch vụ giáo dục và chăm sóc y tế.
+ Khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp, động viên toàn xã hội tham gia
giải quyết các vấn đề xã hội.
* Đại hội lần thứ X của Đảng (4/2006): trong khi khẳng định những thành tựu
đạt được là cơ bản, đồng thời cũng chỉ rõ những hạn chế trong việc tổ chức
thực hiện một số chính sách xã hội như: Kết quả xoá đói giảm nghèo chưa thật
vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn lớn; khoảng cách chênh lệch về thu nhập,
mức sống giữa các tầng lớp nhân dân, giữa các vùng có xu hướng doãng ra;
nhu cầu về việc làm ở thành thị và nông thôn chưa được đáp ứng tốt; tội phạm
và tệ nạn xã hội có chiều hướng tăng...
Để khắc phục tình trạng trên, Đại hội X đề ra chủ trương “Thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội ngay trong từng buớc và từng chính sách phát triển”.
Những vấn đề xã hội đã được Đại hội Đảng lần thứ X nhận thức và giải quyết
toàn diện cả ở góc độ mục tiêu và hệ thống giải pháp trong tổng thể các chính
sách phát triển, mà ở đó con người thực sự là trung tâm, là động lực và mục
tiêu của phát triển xã hội bền vững
*Đai hội lần thứ XI (12-19/1/2011)
Đại hội nhận xét đánh giá những công tác thực hiện sau đại hội X và tiếp tục
nhấn mạnh quan điểm:” Mở rộng nhân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người,
coi con người là chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát
triển”
Nhìn tổng thể, kể từ năm 1986 đến nay, tư duy của Đảng Cộng
sản Việt Nam về giải quyết các vấn đề xã hội đã có những bước
phát triển mới: Từ chỗ không đặt đúng tầm quan trọng của chính
sách xã hội trong mối quan hệ tương tác với chính sách kinh tế đã
đi đến thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội; Tăng
trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội
ngay trong từng bước phát hiện. Từ chỗ Nhà nước bao cấp toàn
bộ trong việc giải quyết việc làm đã dần dần chuyển trọng tâm
sang thiết lập cơ chế, chính sách để các thành phần kinh tế và
người lao động đều tham gia tạo việc làm. Từ chỗ không chấp
nhận có sự phân hoá giàu - nghèo đã đi đến khuyến khích mọi
người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói, giảm nghèo,
coi việc một bộ phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự phát
triển.
2. Quan điểm giải quyết các vấn đề xã hội:
Một là, kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội.
- Kết hợp phát triển kinh tế phải tính đến mục tiêu phát triển các lĩnh vực
xã hội có lien quan trực tiếp.
- Mục tiêu phát triển kinh tế phải tính đến các tác động và các hệ quả xã
hội có thể xảy ra để chủ động xử lí.
- Phải tạo được sự thống nhất đồng bộ giữa các chính sách kinh tế và
chính sách xã hội.
- Sự kết hợp giữa hai mực tiêu này phải được quán triệt ở tất cả các cấp,
các ngành, các địa phương, ở từng đơn vị kinh tế cơ sở.
Hai là, xây dựng và hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với
tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát
triển.
- Trong từng bước và từng chính sách phát triển cần đặt rõ và xử lí hợp lí
viiệc gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.
- Nhiệm vụ gắn kết này không dừng lại như một khẩu hiệu, một lời
khuyến nghị mà phải được phát chế hóa thành các thể chế có tính cưỡng
chế, buộc các chủ thể phải thi hành.
- Các cơ quan, các nhà hoạch định chính sách quốc phải quán triệt quan
điểm phát triển bền vững, phát triển” sạch”, phát triển hài hòa, không chạy
theo số lượng, phát triển bằng mọi giá.
Ba là, chính sách xã hội được thực hiện trên cơ sở phát triển kinh tế,
gắn bó hữu cơ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng
thụ.
- Chính sách xã hội có vị trí vai trò độc lập tuơng đối so với kinh tế,
nhưng không thể tách rời trình độ phát triển kinh tế, cũng không thể dựa
vào viện trợ như thời bao cấp.
- Trong chính sách xã hội, phải gắn bó giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa
cống hiến và hưởng thụ. Đó là một yêu cầu của công bằng xã hội và tiến bộ
xã hội; xóa bỏ quan điểm bao cấp, cào bằng; chấm dứt cơ chế xin cho trong
chính sách xã hội.
Bốn là, coi trọng chỉ tiêu GDP bình quân đầu người gắn với chỉ tiêu
phát triển con người HDI và chỉ tiêu phát triển các lĩnh vực xã hội.
Tiến bộ xã hội được thể hiện tập trung ở sự phát triển nhân tố con người.
Liên hợp quốc dùng khái niệm chỉ số về phát triển con người (HDI- Human
Development Isue) làm tiêu chú đánh giá sự tiến bộ và phát triển của mỗi
quốc gia. Chỉ số HDI được xây dựng với 3 chỉ tiêu cơ bản:
+ Tuổi thọ bình quân, đó là số năm sống bình quân của mỗi người dân ở
mỗi một quốc gia từ lúc sinh ra đến lúc chết.
+ Thành tựu giáo dục, được tính bằng trình độ học vấn của người dân và
số năm đi học bình quân của người dân tính từ tuổi đi học (mặt bằng dân
trí)
+ Mức thu nhập bình quân đầu người (GDP).
HDI là chỉ tiêu tổng hợp quan trọng đánh giá tiến bộ xã hội.
Quan điểm này khẳng định mục tiêu cuối cùng và cao nhất của sự phát
triển là vì con người, vì một xã hội dân giàu nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
3. Chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội
Một là, khuyến khích mọi người dân làm giàu theo pháp luật, thực hiện có
hiệu quả mục tiêu xoá đói giảm nghèo.
-Tạo cơ hội, điều kiện cho mọi người tiếp cận bình đẳng các nguồn lực
phát triển.
+ NHCSXH đang thực hiện cho vay đối với các đối tượng sau: cho vay
giải quyết việc làm, hộ nghèo, sinh viên – học sinh có hoàn cảnh khó khăn,
người diện chính sách đi xuất khẩu lao động.
- Tạo động lực làm giàu trong đông đảo dân cư bằng tài năng, sáng tạo của
bản thân, trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức cho phép:
+ Chính sách tài chính khuyến khích các hộ dân cư, các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh làm giàu cho mình và đất nước.
+ Tăng cường quản lý nguồn thu, cải cách hành chính, đẩy mạnh công khai
tài chính và phát huy dân chủ cơ sở.
+ Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng; phân cấp ngân sách,
tăng quyền chủ động đối với chính quyền địa phương.
- Xây dựng và thực hiện có kết quả cao chương trình xóa đói
giảm nghèo; đề phòng tái đói, tái nghèo nâng cao dần chuẩn
Hình (6)
đói nghèo khi mức sống tăng, tạo điều kiện người thoát nghèo
vươn lên làm giàu:
“Bằng nguồn lực của Nhà nước và của toàn xã hội, tăng đầu tư xây dựng
kết cấu hạ tầng, cho vay vốn, trợ giúp đào tạo nghề, cung cấp thông tin,
chuyển giao công nghệ giúp đỡ tiêu thụ sản phẩm... đối với những vùng
nghèo, xã nghèo, nhóm dân cư nghèo”.
Hình (4)
Hình (5)
H. Chính sách đối với người nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng
đồng bào các dân tộc thiểu số:
+ Chính sách Thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo; thành lập tổ chức
trợ giúp pháp lý cho người nghèo; quan tâm đến người lao động nghèo trong
quá trình chuyển đổi DNNN thành công ti cổ phần; Thành lập Ban chủ nhiệm
chương trình mục tiêu XĐGN; thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chương trình
phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu,
vùng xa. Các chính sách xóa đói giảm nghèo áp dụng cho vùng sâu, vùng xa,
vùng đăc biệt khó khăn…
Chính sách 134:
Chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ
đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn mà Chính phủ Việt
Nam áp dụng từ năm 2004 nhằm mục đích đẩy nhanh tiến độ xóa nghèo
cho các hộ dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Chính sách 135:
Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân
tộc thiểu số và miền .
Có nhiều biện pháp thực hiện chương trình này, bao gồm đầu tư ồ ạt của
nhà nước, các dự án nhà nước và nhân dân cùng làm (nhà nước và nhân
dân cùng chịu kinh phí, cùng thi công), miễn giảm thuế, cung cấp miễn
phí sách giáo khoa, một số báo chí, v.v...
Hai là, bảo đảm cung ứng dịch vụ công thiết yếu, bình đẳng cho mọi người
dân, tạo việc làm và thu nhập, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
- Xây dựng hệ thống an sinh xã hội bảo đảm và đa dạng, Nhà nước ta đã ban
hành:
+ Sắc lệnh, ấn định những điều kiện cho công chức về hưu;
+ Sắc lệnh, ấn định việc cấp hưu bổng cho công chức;
Hình (7)
+ Sắc lệnh, ấn định cụ thể hơn các chế độ trợ cấp hưu trí,
thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn, tiền tuất đối với công chức;
+ Sắc lệnh ấn định các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu
trí, tử tuất đối với công nhân sản xuất;
+ Nhiều viện dưỡng lão được xây dựng;
-Phát triển về số lượng và chất lượng hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
bảo hiểm thất nghiệp:
+ Thực hiện chính sách chăm sóc y tế, miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, người
già neo đơn, người có công với cách mạng.
+ Khuyến khích nhân dân tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm thân thể, bảo hiểm
thất nghiệp…
+Đảm bảo chăm sóc y tế theo chế độ bắt buộc không chỉ đối với công nhân,
viên chức nhà nước mà còn mở rộng ra đối với mọi người lao động ăn lương.
Hình (8)
Hình (9)
+ Thực hiện bảo hiểm y tế bắt buộc với học sinh, sinh viên.
+Bắt đầu thực hiện chủ trương chuyển Bảo hiểm y tế sang quản lý chung với
BHXH.
- Đa dạng hóa, linh hoạt hóa các loại hình cứu trợ xã hội: có khả năng bảo vệ
giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, nhóm dễ bị tổn
thương, vượt qua khó khăn, rủi ro trong đời sống.
- Tạo nhiều việc làm trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu lao động.
- Đổi mới chính sách tiền lương:
Thứ nhất, hằng năm, căn cứ chỉ số tăng trưởng kinh tế của đất nước, thị
trường lao động để điều chỉnh mức lương tối thiểu chung cho hợp lý.
Thứ hai, tiếp tục mở rộng quan hệ tiền lương (tối thiểu - trung bình - tối đa)
nhằm khắc phục hiện trạng bình quân trong chi trả lương, đặc biệt là khắc
phục triệt để tính bình quân (cào bằng) trong chi trả lương hiện nay.
Thứ ba, cải cách tiền lương phải gắn với cải cách hành chính (tinh giản biên
chế, thu gọn tổ chức, bộ máy); nâng cao năng lực của cán bộ, công chức và
người lao động hưởng lương.
Thứ tư, về tạo nguồn: Bên cạnh những giải pháp (tiết kiệm chi 10%; được sử
dụng 50% tăng thu ngân sách của địa phương để chi lương; tách khu vực sự
nghiệp công ra khỏi đối tượng cán bộ, công chức...) cần cơ cấu lại chi thường
xuyên và chi đầu tư phát triển của Luật Ngân sách.
-Phân phối thu nhập xã hội công bằng, hợp lí (Hướng tới Làm theo năng lực,
hưởng theo lao động).
Ba là, phát triển hệ thống y tế công bằng, hiệu quả.
-Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở:
+ Nâng cao năng lực của bệnh viện y tế tuyến huyện và tuyến tỉnh, hiện đại
hóa một số bệnh viện đầu ngành.
+Tăng đầu tư nhà nước đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt độg y tế.
+ Nâng cao y đức, đấu tranh đẩy lùi các tiêu cực trong hoạt động khám và
chữa bệnh.
- Chăm sóc y tế: chăm sóc y tế tốt hơn đối với các đối tượng chính sách:
+ Bảo đảm người có BHYT được khám và chữa bệnh thuận lợi, mọi người dân
khi có nhu cầu và khả năng đều được đáp ứng nhu cầu y tế chất lượng chất
lượng cao.
+ Thực hiện chăm sóc y tế miễn phí tức toàn bộ do nhà nước đài thọ (cung cấp
dịch vụ khám, điều trị, tiền thuốc men, bồi dưỡng, phí tổn tàu xe đi lại khám –
chữa bệnh, …)
Bốn là, xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ và cải thiện giống
nòi.
- Phát triển mạnh thể dục thể thao, nâng cao chất lượng phong trào thể dục thể
thao.
- Nghiên cứu xây dựng và tuyên truyền hướng dẫn chế độ dinh dưỡng trong cơ
cấu bữa ăn phù hợp với từng lứa tuổi.
- Quan tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khoẻ bà mẹ và trẻ em. Giảm nhanh
tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, góp phần nâng cao chất lượng dân số.
+ Bảo đảm các quyền bản của trẻ em, tạo môi trường lành mạnh cho trẻ
em phát triển.
+ Chú trọng bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, ngăn chặn
đẩy lui các nguy cơ xâm hại trẻ em.
- Đẩy mạnh công tác bảo vệ giống nòi, kiên trì phòng chống HIV/ AIDS
đa dạng nhiều hình thức: tuyên truyền, mitting, áp phích, tổ chức các cuộc
thi tìm hiểu về tệ nạn ma túy, mại dâm,…
Hình (10)
Hình (11)
Năm là, thực hiện tốt các chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình.
- Giảm tốc độ gia tăng dân số, duy trì mức sinh hợp lí, bảo đảm quy mô
và cơ cấu dân số hợp lí.
+Tập trung tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục nâng cao
nhận thức và huy động sự tham gia của toàn xã hội vào công tác dân số kế
hoạch hóa gia đình:chính sách tuyên truyền mỗi gia đình chỉ có từ một đến
hai con.
.-Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng tiến bộ, hạnh phúc; bảo đảm bình
đẳng giới; chống nạn bạo hành trong quan hệ gia đình.
Hình (12)
Hình (13)
Sáu là, chú trọng các chính sách ưu đãi xã hội.
- Thực hiện tốt chính sách xã hội đối với người có công, gia đình thương
binh liệt sĩ, gồm có:
+ Chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, những người tham gia
kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc da cam.
+ Chính sách ưu đãi đối với gia đình liệt sỹ, gia đình có công giúp đỡ Cách
mạng.
+ Luôn quan tâm thăm hỏi, động viên thương binh, gia đình liệt sĩ, …
+ Sắc lệnh 20/SL ban hành chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ
qui định những khoản BHXH đặc biệt như: hưu bổng, thương tật, tử tuất.
+ Sắc lệnh 77/SL đều có những chính sách bảo đảm cho công nhân viên
ngành quân giới bị thương được hưởng quyền lợi giống như quân nhân và
quyền lợi ưu tiên như đối với thương binh.
+ Qui định chế độ trợ cấp thương tật, chế độ đối với thương binh ở trại, chế
độ miễn, giảm tiền tàu xe, ưu tiên sắp xếp việc làm, xác định khái niệm
“liệt sĩ”thay cho “tử sĩ”, trợ cấp tử tuất cho gia đình liệt sĩ, chính sách trợ
giúp thương binh, gia đình liệt sĩ trong hoạt động hợp tác xã nông nghiệp.
+ Công việc xác định liệt sỹ, tìm kiếm, qui tập hài cốt, xây dựng nghĩa
trang liệt sỹ, xác nhận thương binh, thống nhất chính sách đối với người có
công và gia đình có công .
+ Qui định danh hiệu danh dự nhà nước Bà Mẹ Việt Nam anh hùng .
Hình (14)
Hình (15)
- Vận động toàn dân tham gia các hành động đền ơn đáp nghĩa, uống
nước nhớ nguồn đối với các lão thành cách mạng, những người có công với
nước, người được hưởng chính sách xã hội.
+ Vào ngày 27/ 7 hàng năm các vị lãnh đạo nhà nước thăm hỏi, tặng qùa
các gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng.
+ Sáng mùng 1 Tết Đoan Ngọ tổ chức lễ chào cờ, thắp hương ở nghĩa trang liệt
sĩ.
+ Nhận trợ cấp thường xuyên và không thường xuyên.
+Giải quyết dứt điểm các tồn đọng về chính sách người có công. Tạo điều
kiện, khuyết khích người và gia đình có công tích cực tham giai phát triển
kinh tế.
- Chăm sóc người già, nhất là người già neo đơn không nơi nương tựa.
+Ban hành chính sách đối với người cao tuổi (Pháp lệnh người cao tuổi);
Hình (16)
Hình (17)
+ Tổ chức thăm hỏi, tặng quà các cụ già vào các dịp lễ, xây nhà tình nghĩa,
tổ chức mừng thọ các cụ.
+ Nhận trợ cấp thường xuyên.
- Giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam, người tàn tật, trẻ mồ côi.
+Chính sách đối với người tàn tật: Ban hành pháp lệnh người tàn tật,
Khuyến khích thành lập và hỗ trợ Hội bảo trợ người tàn tật (Hội người mù,
…);
+Chính sách đối với nạn nhân chất độc da cam: Thành lập qũi bảo trợ nạn
nhân chất độc da cam,…
Bảy là, đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công
cộng
Tám là, đấu tranh phòng chống có hiệu quả tệ nạn xã hội, tai nạn giao
thông.
- Đa dạng các hình thức tuyên truyền, giáo dục cộng đồng, đề cao vai trò giáo
dục của gia đình đối với các thanh thiếu niên về tác hại của ma túy, của tệ nạn
xã hội.
Hình (18)
Hình (19)
+ Đấu tranh quyết liệt với việc buôn bán, sử dụng ma túy.
+ Đề cao trách nhiệm gia đình, đoàn thể, chính quyền trong quản lí, tạo
việc làm cho các đối tượng sau cai nghiện.
- Nâng cao hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời xử lí nghiêm
các vi phạm luật giao thông.
-
Tăng cường hạ tầng kĩ thuật, phương tiện giao thông công cộng, năng lực
tổ chức giao thông và quản lý chất luợng các phuơng tiện giao thông để
giảm tới mức thấp nhất các tai nạn giao.
Mục tiêu chủ yếu về phát triển xã hội được đề cập trong Đại hội
Đảng XI
“Đến năm 2020, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao
của thế giới; tốc độ tăng dân số ổn định ở mức khoảng 1%; tuổi thọ bình
quân đạt 75; đạt 9 bác sĩ và 26 giường bệnh trên một vạn dân; thực hiện
BHYT toàn dân; lao động qua đào tạo đạt trên 70%, đào tạo nghề chiếm 55%
tổng lao động xã hội; tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân 1,5-2%; phúc lợi xá hội,
an ninh xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng được bảo đảm. Thu nhập
thực tế của dân cư gấp khoảng 3,5 lần so với 2010, thu hẹp khoảng cách thu
nhập giữa các vùng và nhóm dân cư. Xóa nhà ở đơn sơ, tỉ lệ nhà ở kiên cố
đạt 70%, bình quân 25 m2 sàn xây dựng nhà ở tính trên một người dân”.
4. Đánh giá việc thực hiện đường lối:
a. Kết quả:
- Tính năng động xã hội khác hẳn với thời bao cấp. Một xã hội đang dần
dần hình thành với nhưng con người mới dám nghĩ, dám làm, dám chịu
trách nhiệm, không chấp nhận đói nghèo, lạc hậu, biết làm giàu, biết cạnh
tranh và hành động vì cộng đồng Tổ quốc.
-Đã xuất hiện ngày càng đông đảo các doanh nhân, tiểu chủ, chủ trang trại
và các nhóm xã hội khác phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh.
- Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, trong chăm sóc sức khỏe
nhân dân, tạo điều kiện ai cũng được học hành; có chính sách trợ cấp và
bảo hiểm y tế cho người nghèo.
b. Thành tựu:
1. Từ năm 2005 đến năm 2010, đã tạo việc làm cho 7,5 triệu lao động; các
thành phần kinh tế ngoài nhà nước thu hút gần 91% lực lượng lao động xã
hội và tạo 90% việc làm mới. Năm 2005, thất nghiệp ở thành thị giảm
xuống còn 5,3%; thời gian sử dụng lao động ở nông thôn đạt 80,6%. Năm
2008, mặc dù trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động bất
lợi đến tình hình kinh tế - xã hội nước ta, nhưng theo báo cáo của Bộ Lao
động - Thương binh, xã hội, năm 2008 toàn ngành đã giải quyết việc làm
cho 1.615 triệu người (đạt 95% kế hoạch); Giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực
thành thị xuống 4,7%.
2. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 5,7 triệu đồng năm 2005 lên 10
triệu đồng năm 2010, tăng 12,1%/năm và chỉ số phát triển con người
được nâng lên: tuổi thọ bình quân tăng từ 67 lên 72,8, mục tiêu đến năm
2015 là 74 tuổi; trình độ học vấn phổ cập xong THCS tiến tới phổ cập
THPT; GDP bình quân 1.168 USD/đầu người/năm (năm 2010 ) đưa nước
ta bước vào hàng các nước phát triển trung bình.
3. Công tác xoá đói giảm nghèo được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức, đã
thu được nhiều kết quả tốt: Đến cuối năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo còn 5%
(kế hoạch là 2,5%, theo chuẩn Việt Nam cho giai đoạn 2010-2015). Vấn
đề xoá nghèo trong những năm gần đây được triển khai tích cực theo các
chỉ tiêu chủ yếu về xoá đói, giảm nghèo giai đoạn 2010-2015.
4. Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân được chú trọng. Hoạt
động y tế dự phòng được đẩy mạnh hơn. Một số dịch bệnh mới như dịch
viêm phổi cấp được ngăn chặn, khắc phục nhanh. Mạng lưới y tế, đặc biệt
là y tế cơ sở được củng cố và phát triển; hầu hết các xã, phường trong cả
nước đều có trạm y tế, trên 65% trạm có bác sĩ. Một số cơ sở y tế chuyên
ngành được nâng cấp, ứng dụng công nghệ tiên tiến. Chế độ khám, chữa
bệnh cho người nghèo, khám, chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi
đang được triển khai thực hiện. Việc phòng, chống HIV/AIDS được đẩy
mạnh hơn. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm từ 33,4% năm
2000 xuống dưới 25% năm 2005.
5. Việc chăm sóc người có công với cách mạng và trợ giúp người có đời
sống khó khăn được duy trì và mở rộng. Đi đôi với mở rộng diện được
hưởng chính sách trợ giúp của Nhà nước, phong trào “đền ơn đáp nghĩa,
uống nước nhớ nguồn”, đã được các ngành, các cấp tổ chức, triển khai
kịp thời, có hiệu quả và huy động được sự tham gia của đông đảo nhân
dân.
6. Về bảo hiểm xã hội, theo Báo cáo của Chính phủ, trong 2 năm 2010 và
2011, số người tham gia bảo hiểm xã hội ngày càng tăng: Năm 2010 là
10,7 triệu người, năm 2011 là 11,7 triệu người (tính đến tháng 10). Công
tác bảo hiểm xã hội đã góp phần ổn định đời sống cho các đối tượng
hưởng chế độ bảo hiểm thường xuyên, công nhân lao động khi ốm đau,
thai sản hoặc gặp rủi ro. Chủ trương, chính sách bảo hiểm xã hội của
Đảng và Nhà nước thực sự trở thành điểm tựa tin cậy của người lao động
và cả xã hội.
7. Từ tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước và tập thể, trông chờ viện trợ đã
chuyển sang tính năng động, chủ động và tính tích cực xã hội của tất cả
các tầng lớp dân cư.
8. Hành động vì cộng đồng, vì Tổ quốc. Cách thức quản lý xã hội dân chủ,
cởi mở hơn, đề cao pháp luật hơn. Chương trình : “Góp đá xây dựng
Trường Sa”, “Bình chọn Vịnh Hạ Long trở thành kì quan thiên nhiên thế
giới” đang được sự quan tâm và hưởng ứng của toàn dân,
9. Bên cạnh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, đã
xuất hiện ngày càng đông đảo các doanh nhân, tiểu chủ, chủ trang trại và
các nhóm xã hội khác phấn đấu vì sự nghiệp "dân giàu, nước mạnh".
10. Đã coi phát triển giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là
quốc sách hàng đầu để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững.
c. Ý nghĩa:
Những thành tựu trong lĩnh vực phát triển xã hội đã chứng tỏ đưòng lối
giải quyết các vấn đề xã hội của Đảng đã và đang phát huy tác dụng tích
cực trong thực tiễn vận động của Đất nước.
d. Hạn chế và nguyên nhân:
1. Áp lực gia tăng dân số vẫn còn lớn. Chất lượng dân số còn thấp đang là
cản trở lớn đối với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế
quốc tế. Vấn đề việc làm rất bức xúc và nan giải.
+ Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị đã giảm, nhưng từ đầu năm 2010
đến nay tỷ lệ thất nghiệp lại có xu hướng gia tăng do nhiều doanh nghiệp
phải thu hẹp sản xuất, kinh doanh, thậm chí phải đóng cửa trong bối cảnh
khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Ðặc biệt, trong nông thôn những năm gần
đây, do hàng trăm nghìn hộ nông dân bị thu hồi đất mà việc hỗ trợ đào tạo
nghề chưa đáp ứng, nên tình trạng thiếu việc làm khá nghiêm trọng.
2.Sự phân hoá giàu - nghèo và bất công xã hội tiếp tục gia tăng đáng lo
ngại. +Những năm gần đây tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại, tình
trạng tái nghèo còn nhiều, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng
bào dân tộc thiểu số, vùng thường bị thiên tai, dịch bệnh.
3.Tệ nạn xã hội gia tăng và diễn biến rất phức tạp, gây thiệt hại lớn về
kinh tế và an sinh xã hội.
4. Môi trường sinh thái bị ô nhiễm tiếp tục tăng thêm; tài nguyên bị khai
thác bừa bãi và tàn phá.
5. Hệ thống giáo dục, y tế lạc hậu, xuống cấp, có nhiều bất cập; an sinh xã
hội chưa được bảo đảm.
- Trong lĩnh vực giáo dục, nội dung chương trình giảng dạy và học tập
vừa quá tải vừa lạc hậu; cơ cấu lao động về ngành nghề được đào tạo ra
chưa hợp lý, thiếu nhiều thợ bậc cao, nhất là chuyên gia và cán bộ quản lý
giỏi.
+Chất lượng giáo dục và đào tạo còn thấp, nguồn nhân lực chưa đáp ứng
yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
+ Còn chênh lệch khá rõ về điều kiện học tập, cơ sở trường lớp giữa thành thị
và nông thôn, miền xuôi và miền núi. Tỷ lệ học sinh là con em các gia đình
nghèo và cận nghèo đi học đúng tuổi và học lên các cấp học cao đang có xu
hướng giảm sút.
-Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhân dân: mạng lưới y tế tuy được mở
rộng, nhưng trang bị còn thiếu thốn, phân bố chưa hợp lý, chưa thuận tiện
cho dân. Cơ chế chính sách bảo hiểm y tế, thu viện phí và khám, chữa
bệnh cho người nghèo cũng còn không ít bất cập.
Cùng đó, tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp
• Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế nêu trên là:
-
Tăng trưởng kinh tế vẫn tách rời mục tiêu và chính sách xã hội, chạy theo
lượng ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững xã hội.
- Quản lý xã hội còn nhiều bất cập, không theo kịp sự phát triển kinh tế - xã
hội.