Tải bản đầy đủ (.docx) (14 trang)

Tiểu luận triết học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (68.15 KB, 14 trang )

Học viện báo chí và tuyên truyền
KHOA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
-----š&š---

CUỘC ĐẤU TRANH GIỮA CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY
TÂM TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY TRƯỚC MÁC

TIỂU LUẬN MÔN : TRIẾT HỌC

Thạc sĩ : Lại Văn Nam

Hà Nội ngày 10/12/2016

MỞ ĐẦU


Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí
vai trò của con người trong thế giới đó. Triết học đóng vai trò hạt nhân lý luận của
thế giới quan, giữ vai trò định hướng cho quá trình củng cố và phát triển thế giới
quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng người trong lịch sử. Nghiên cứu vấn đề cơ
bản của triết học cho chúng ta hiểu được sự hình thành các trường phái triết học
duy vật và duy tâm trong lịch sử, cũng như hai phương pháp nghiên cứu đối lập
nhau trong lịch sử là phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng, giúp
chúng ta xây dựng được phương pháp biện chứng trong nhận thức và cải tạo thế
giới. Với chức năng thế giới quan và phương pháp luận, triết học trở thành công cụ
đắc lực trong hoạt động chế ngự thiên nhiên và sự nghiệp giải phóng con người của
những lực lượng xã hội tiến bộ.Nhìn vào lịch sử quá trình hình thành và phát triển
của Triết học ta thấy đó là một quá trình lâu dài, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau
triết học cũng có những phản ánh khác nhau về thế giới, xã hội và tư duy. Triết học
nghiên cứu rất nhiều vấn đề trong đó có bản thể luận, nhận thức luận , chính trị xã
hội ,và đặc biệt một trong những vấn đề xuyên suốt trong lịch sử triết học đó là


cuộc đấu tranh giữa hai trường phái một bên là chủ nghĩa duy vật, một bên là chủ
nghĩa duy tâm. Cuộc đấu tranh này bằng biểu hiểu cách này hay cách khác chính là
cuộc đấu tranh giữa những giai cấp, những lực lượng xã hội đối lập nhau .Trong
bài viết này tôi sẽ trình bày cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
duy tâm trong lịch sử triết học trước Mác để làm rõ một cách khai quát nhất biểu
hiện cũng như nội dung của nó được diễn ra như thế nào và có ảnh hưởng gì đối
với sự phát triển của triết học nói chung và đối với lịch sử xã hội nói riêng để qua
đó chúng ta có một cái nhìn nhận một cách sâu sắc nhất phân biệt rạch ròi giữa duy
vật và duy tâm, để vận dụng nó vào đời sống của chúng ta đúng theo quy luật
khách quan của nó .

NỘI DUNG


Phương Tây có thể nói đó là một trong những cái nôi của triết học với lịch sử hình
thành và phát triển lâu đời, gắn với nó chính là nền triết học Hy Lạp –La Mã, một
trong những nơi khởi nguyên của nền triết học Phương Tây , mà cho đến tận ngày
nay vẫn ánh lên những trí tuệ của các bậc hiền triết bách khoa toàn thư.
Ngay từ thời cổ đại, sự phân chia và đối lập giữa các trường phái Triết học duy vật
và duy tâm, biện chứng và siêu hình, hữu thần và vô thần là những nét nổi bật của
quá trình hình thành và phát triển triết học.
Tầng lớp chủ nô dân chủ đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật, vô thần đấu
tranh thúc đẩy xã hội phát triển. Còn tầng lớp chủ nô quý tộc đứng trên lập trường
duy tâm và tôn giáo, lạc hậu chống lại tầng lớp chủ nô dân chủ nhằm duy trì trật tự
xã hội và địa vị xã hội của mình.Cuộc đấu tranh này thể hiện trên lập trường của
các nhà triết gia cụ thể như sau :
Heraclit một nhà triết học duy vậy quy bản nguyên của thế giới từ lửa, với luận
điểm nổi tiếng “ không ai tắm hai lần trên một dòng sông” là một quan điểm rất
quý giá ông đã nhận ra được sự vận động phát triển không ngừng của thế giới vật
chất, hơn nữa Heraclit cũng chỉ ra sự vật nào cũng chứa đựng sự đối lập trong nó,

các mặt đối lập bổ sung cho nhau “ Bệnh tật làm cho sức khỏe quý giá hơn” các
mặt đối lập luôn luôn biến đổi giữa các sự vật và làm cho các sự vật thay đổi.
Heraclit cũng là người có tư tưởng biện chứng trong nhận thức khi ông đưa ra quan
điểm: nhận thức bắt nguồn từ cảm giác và phải phát triển lên thành tư duy, nhận
thức có tính tương đối, tùy từng hoàn cảnh mà thiện – ác , tốt – xấu hoán đổi vị trí
cho nhau.
Nhà triết học duy vật tiếp đó là Democrit , với quan điểm khỏi nguyên của thế giới
bắt nguồn từ nguyên tử, do sự sắp xếp khác nhau nguyên tử tạo thành các sự vật
khác nhau. Là người đưa ra những quan điểm hết sức duy vật về lý thuyết vũ trụ,


ông cho rằng sự sống xuất phát từ môi trường có nước.Ông đưa ra quan điểm con
người là sự kết hợp giữa linh hồn và thể xác, nhận thức thế giới chính là nhận thức
nguyên tử.
Đê mô crit chia nhận thức thành 2 dạng nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính,
nhận thức đem lại do cơ quan cảm giác chỉ là nhận thức mờ tối vì nó đem lại cho
con người những hiểu biết riêng lẻ.Nhận thức lý tính thì sẽ đem lại chân lý.
Đối lập với triết học của các nhà triết học duy vật trên là triết học của nhà triết học
duy tâm Platon, một nhà duy tâm khách quan siêu hình học Phương Tây , bác bỏ
những quan điểm duy vật Platon đưa ra học thuyết ý niệm , xây dựng cơ sở triết
học cho riêng mình.
Học thuyết Ý niệm của Platon chia thế giới ra thành hai, bao gồm : thế giới ý niệm
và thế giới sự vật cảm tính, tồn tại chân thực và tồn tại không chân thực, theo ông
thế giới ý niệm là cái có trước tồn tại vĩnh viễn là nguồn gốc của sự vật cảm tính,
thế giới ý niệm sinh ra thế giới sự vật cảm tính. Các sự vật cảm tính chỉ là bản sao,
sự mô phỏng cái bóng của ý niệm.
Theo ông, nhận thức của con người không phải là phản ánh các sự vật cảm biết của
thế giới khách quan, mà là nhận thức về ý niệm, ông giải thích rằng khi chúng ta
nhìn thấy sự vật đẹp là vì trong chúng ta có sẵn ý niệm đẹp từ trước.Nhận thức chỉ
là quá trình hồi ức lại, tưởng tưởng lại, nhận thức không cần cảm giác, như vậy là

ông đã tuyệt đối hóa vai trò của lý tính.
Xuất thân từ đẳng cấp chủ nô quý tộc, nên ông là người sùng bái hiện tượng nhà
nước, ông cho rằng con người phải phục từng nhà nước, sống vì nhà nước, đề cao
giai cấp chủ nô quý tộc, trong khi đó ông đã không nhận ra được quan hệ giữa nhà
nước và nhân dân là quan hệ hai chiều.


Đây là sự đối lập giữa hai trường phái duy tâm và duy vật, tuy nhiên để thấy được
cuộc đấu tranh bảo vệ lập trường giữa hai trường phái này, thấy được sự đấu tranh
quyết liệt gay go thể hiện qua lập trường triết học của Arixtot.
Arixtot với những quan điểm xuất sắc và tiến bộ , ông kiên quyết đấu tranh chống
lại tư tưởng triết học duy tâm của chính người thầy Platon của mình với câu nói nổi
tiếng : “ Platon là thầy nhưng chân lý vẫn quý hơn”. Có thể khẳng định rằng sự phê
phán của Arixtot đối với học thuyết ý niệm của Platon là sự đóng góp quan trọng
trong lịch sử triết học.
Khác với platon Arixtot khẳng định rằng bản chất nằm ngay trong bản thân sự vật,
cái chung không tồn tại song song hay tách rời cái riêng .Là người có quan niệm
duy vật về giới tự nhiên, ông quan niệm, tự nhiên là toàn bộ sự vật có bản thể vật
chất mãi mãi vận động và biến đổi không ngừng.Vận động không tách rời vật thể
tự nhiên.Sự vận động ấy có nhiều hình thức : tăng giảm, sinh thành tiêu vong , vv .
Về mối quan hệ giữa đối tượng và tri thức, Arixot cho rằng đối tượng đối tượng là
cái tồn tại trước theo thời gian, Như vật arixot đã thừa nhận tính khách quan của
thế giới.
Arixtot là người khởi xướng thuyêt tam đoạn luận để lập luận, phép biện chứng của
ông giải thích cái chung và cái riêng.Ông phê phán Platon tách rời “ ý niệm” như là
cái chung khỏi các sự vật cảm tính. Ông cho rằng nhận thức cái chung trong cái
đơn lẻ là thức chất của nhận thức cảm tính.
Qua tư tưởng của các nhà triết học , ta có thể thấy được cuộc đấu tranh giữa chủ
nghĩa duy vậy và chủ nghĩa duy tâm ở thời kỳ Tây Âu cổ đại này diễn ra một cách
tự nhiên, cả hai trường phái duy vật và duy tâm đều có những học thuyết những

quan điểm cho triết học của riêng mình , cố gắng chứng minh và bài trừ lẫn nhau,
phủ định nhau trên các mặt của triết học. Các nhà triết học trường phái duy vật đã


lấy chính thế giới để giải thích cho thế giới, với những quan điểm duy vật còn mộc
mạc , đơn sơ đôi khi còn mang đậm chất siêu hình và thần bí đã cương quyết đưa
ra và bảo vệ những lập luận , những học thuyết của mình.Trong khi đó chủ nghĩa
duy tâm thần thánh và bí hiểm cũng có những học thuyết , những quan điểm triết
học duy tâm để bài trừ phủ định chủ nghĩa duy vật trên các mặt các góc độ khác
nhau của triết học. Cuộc đấu tranh này còn kéo dài và tiếp tục trong giai đại tiếp
theo của lịch sử.
Triết học Tây Âu thời kỳ trung cổ,triết học thời kỳ này là tôi tớ cho thần học và
mang đậm chất kinh viện.Biểu hiện đặc thù của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy
tâm và chủ nghĩa duy vật ở thời kỳ này là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy thực
và chủ nghĩa duy danh xung quanh việc giải quyết các vấn đề trung tâm của triết
học.
Đại diện cho chủ nghĩa duy tâm thời kỳ này có hai nhà thần học Oguytxtanh và
Tomat Đa canh, còn chủ nghĩa duy vật thì có nhà triết học Bê cơn.Các nhà triết học
thuộc trường phái duy danh đại biểu cho chủ nghĩa duy vật thì đưa ra các quan
điểm phủ nhận cái chung, thế giới chỉ tồn tại tại những cái riêng lẻ,trong khi đó các
nhà duy danh đại diện cho chủ nghĩa duy tâm thì họ thừa nhận cái chung , từ cái
chung sinh ra những cái riêng lẻ.
Các nhà triết học thời kỳ này đều đặt ra và giải quyết mối quan hệ giữa tri thức với
tôn giáo, giữa niềm tin và khoa học. Phái duy thực thì cho rằng tôn giáo cao hơn
khoa học, niềm tin cao hơn tri thức . Duy danh cũng đưa ra những quan điểm của
mình khoa học và tôn giáo độc lập với nhau khoa học không bị phụ thuộc vào tôn
giáo.
Nhìn chung triết học thời kỳ này phục vụ lợi ích cho giai cấp phong kiến, đây là
thời kỳ phát triển cực mạnh của các nhà thờ và giáo hội, cuộc đấu tranh giữa chủ



nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm diễn ra nhưng dường như thời kỳ này chủ
nghĩa duy vật hơi yếu thế so với chủ nghĩa duy tâm, họ không dám vạch trần hay
phản bác một cách mạnh mẽ những tư tưởng của giáo hội mà họ chỉ thỏa hiệp hay
đưa ra những quan điểm ngang hàng chứ không dám xem khoa học đứng trên thần
học.Tuy nhiên triết học duy vật và khoa học tự nhiên dần được nhen nhen nhóm và
khẳng định vai trò của nó.Đây là những nhân tố tích cực cho sự khôi phục và
khẳng định các học thuyết khoa học duy vật thời kỳ cổ đại và phát triển chúng
trong thời kỳ sau.
Triết học thời kỳ phục hưng, thời kỳ này cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật với
chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo diễn ra gay gắt.Điển hình thời kỳ này có Copecnich
với nhiều tư tưởng duy vật đã xây dựng “thuyết nhật tâm” chứng minh rằng mặt
trời ở trung tâm của vũ trụ, còn vũ trụ xoay xung quanh mặt trời đối lập với thuyết
“trái đất là trung tâm” của Ptoleme ngự trị nhiều thế kỷ qua. Với học thuyết này
Copecnich đã đả kích vào chính nền tảng của thế giới quan tôn giáo bác bỏ quan
điểm kinh thánh của đạo cơ đốc về thượng đế sáng tạo ra thế giới trong vài ngày,
và khẳng định giới tự nhiên tồn tại khách quan.
Triết học Tây Âu thời cận đại tiếp tục cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa nghĩa duy vật
và chủ nghĩa duy tâm trong điều kiện, hoàn cảnh mới đó là sự phát triển của khoa
học và công nghệ, các nhà triết học duy vật thời kì này hầu hết đều đưa ra các
quan điểm của mình nhằm phê phán bài trừ triết học kinh viện duy tâm tôn giáo
thời kỳ trung cổ.
Mở đầu thời kỳ này là nhà triết học duy vật Phranxi Bê cơn ông được mệnh danh là
ông tổ của chủ nghĩa duy vật Anh và khoa học thực nghiệm,đề cao vai trò của tri
thức. có những quan niệm tiến bộ về vật chất, bản thể luận triết học của ông nghiên
cứu trên góc độ vật lý.Ông chống lại nhà kinh viện xa rời cuộc sống coi họ giống


như con nhện chỉ biết nhả tơ và chăng lưới.Ông đánh giá các nhà tư tưởng trung cổ
chỉ biết ngồi rút ra sự thông thái của mình từ chính bản thân mình, muốn thay thế

việc nghiên cứu giới tự nhiên và những quy luật của nó bằng những luận điểm trìu
tượng, bằng việc rút ra kết quả riêng biệt từ những kết quả chung chung, không
tính đến sự tồn tại thực tế của chúng.
Tiếp đến là Hốp xơ nhà triết học duy vật người Anh, người kế tục cuộc đấu tranh
chống chủ nghĩa kinh viện và tôn giáo.Ông khẳng định thế giới vật chất tồn tại
khách quan, không do thần thánh sáng tạo ra và không phụ thuộc vào ý thức của
con người, với quan điểm như vậy ông đã phủ nhận sự tồn tại của thần thánh , và
phủ nhận sự sáng tạo ra thế giới của thần thánh. Hốp xơ cũng nhìn nhận con người
như một thực thể thống nhất giữa tính tự nhiên và tính xã hội, bản tính tự nhiên của
con người là ích kỷ vì mỗi người đều có nhu cầu, lợi ích riêng. Tư tưởng này đã
bác bỏ nguồn gốc thần thánh của nhà nước, chống tôn giáo và thần học.
Trong cuộc chiến giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không thể không kể
đến nhà triết học duy vật Đê các tơ, một nhà triết học chống lại tôn giáo chống lại
chủ nghĩa kinh viện xây dựng phương pháp tư duy mới trong nghiên cứu khoa học,
phủ nhận uy quyền của nhà thờ và tôn giáo.
Đề các tơ cho rằng giới tự nhiên là một khối thống nhất gồm những hạt nhỏ vật
chất có quảng tính và vận động vĩnh viễn theo đúng quy luật cơ học.Ông muốn
sáng tạo một phương pháp khoa học mới đề cao sức mạnh lý tưởng của con người,
đem lý tính khoa học thay thế cho niềm tin mù quáng tôn giáo. Ông đưa ra luận
điểm nổi tiếng “ tôi suy nghĩ vậy tôi tồn tại”.
Nhà triết học Xpinoda nhà triết học Hà Lan duy vật và vô thần cũng kịch liệt đấu
tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, ông phản đối sự thần thánh hóa kinh thánh ,
ông coi kinh thánh như một văn bản, văn kiện nào đó mục đích của tôn giáo là


khuyên con người sống có đạo đức, vì thế tôn giáo và nhà nước không nên xâm
phạm tới tự do tư tưởng, không nên can thiệp vào khoa học. Đây là những quan
điểm rất tiến bộ của ông mà sau này chúng ta vẫn thấy đúng.
Thời kỳ này chủ nghĩa duy tâm vẫn phát triển trong điều kiện mới cùng với sự phát
triển của một số ngành khoa học, các nhà triết học duy tâm đã cải biến giảm bớt sự

thần bí để phù hợp trong hoàn cảnh mới, tuy nhiên họ vẫn đưa ra những quan
điểm, những tư tưởng của mình để bài trừ phẩn nhận một cách quyết liệt chủ nghĩa
duy vật.
Đại biểu cho lập trường triết học duy tâm thời này có Béc cơ ly với luận điểm vật
thể cụ thể cảm tính là “ sự phức hợp của cảm giác”. Thượng đế là một chủ thể
nhưng tồn tại vĩnh cửu và luôn luôn đưa vào trong ý thức những chủ thể riêng
lẻ( con người) nội dung của cảm giác.Ông phủ nhận chân lý khách quan.
Tiếp đó là nhà triết học duy tâm Hi um với thuyết không thể biết, ông phê phán các
quan điểm duy vật coi vật chất là thực thể của mọi vật.Ông cho rằng quá trình nhận
thức là nhận thức các hiện tượng tâm lý xảy ra trong con người.
Chúng ta có thể thấy cuộc đấu tranh giữa duy tâm và duy vật diễn ra không ngừng
nghỉ, giữa một bên là các nhà triết học duy vật với những quan điểm của mình đã
chống lại tôn giáo và thần học, tuy còn có những quan điểm mang đậm tính chất
siêu hình, và còn có bóng dáng của chủ nghĩa duy tâm trong triết học nhưng họ đã
thể hiện tiếng nói cho đại đa số quần chúng chống lại sự thống trị của thần học, thể
hiện sự mạnh mẽ trong việc bài trừ chế độ phong kiến.
Thời kỳ triết học ánh sáng, vẫn là sự tiếp diễn giữa 2 phái chủ nghĩa duy tâm và
chủ nghĩa duy vật, đại biểu cho chủ nghĩa duy vật bao gồm các nhà triết học :
Lametri, Đi đrô, Hôn bách, còn đại diện cho chủ nghĩa duy tâm gồm các đại biểu :
Vôn te, Rút xô, Mitxkip.Một loạt các nhà chủ nghĩa duy vật đã đưa ra những quan


niệm duy vật giải quyết những vấn đề của triết học. Đây là thời kỳ thắng thế của
chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm tồn tại một cách yếu ớt.
Triết học cổ điển Đức một trong những tiền đề cho sự ra đời của triết học Mác – Lê
nin.Nghiên cứu triết học cổ điển Đức chúng ta sẽ thấy cuộc đấu tranh giữa chủ
nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm giữa các nhà triết học vẫn giống như ngọn lửa
đang bùng cháy.thời kỳ này ngoài sự đối lập trực tiếp giữa chủ nghĩa nghĩa duy
tâm của Heghen và chủ nghĩa duy vật của PhơBách thì còn có triết học nhị nguyên
của Kan, triết học của Kant là sự dung hòa giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa

duy tâm , thiết lập sự thỏa hiệp giữa hai chủ nghĩa đó, kết hợp hai khuynh hướng
triết học khác nhau và đối lập nhau trong một hệ thống duy nhất .
Đại biểu cho triết học duy tâm là Heghen, đỉnh cao của triết học duy tâm thời kỳ
này.Ông dùng phương pháp biện chứng để xây dựng hệ thống của mình.Trong hệ
thống triết học của Heghen ông xuất phát từ ý niệm tuyệt đối, là một thực thể tinh
thần có trước nhất, ý niệm tuyệt đối sinh ra toàn bộ thế giới hiện thực.
Hệ thống triết học của Heghen được trình bày như sau: Từ ý niệm tuyệt đối luôn
luôn vận động từ thấp đến cao tha hóa thành giới tự nhiên, giới tự nhiên lại vận
động từ vô cơ đến hữu cơ rồi thành con người, con người lại vận động phát triển
thành đời sống tinh thần xã hội, lại vận động thành ý niệm tuyệt đối mang tên tinh
thần tuyệt đối, và đến đây phát triển thành triết học Heghen.
Như vậy quá trình này là một cái vòng duy tâm, khép kín và bảo thủ.Tuy nhiên
triết học Heghen đến độ hoàn chỉnh phép biện chứng bao quát toàn bộ những vấn
đề cốt lõi của tự nhiên , xã hội, và tư duy với cách lập luận lý giải sâu sắc.Heghen
đã phát hiện ra viên ngọc quý giá là phép biện chứng tuy nhiên ông lại đặt nó sinh
ra từ thế giới quan duy tâm.Mác Angghen và Lê nin đánh giá rất cao vai trò của


triết học Heghen và sau này đã kế thừa và phát triển phép biện chứng để xây dựng
triết học duy vật Mác – Lê nin.
Để phê phán chủ nghĩa duy tâm của Heghen nói riêng cũng như phê phán chủ
nghĩa duy tâm và tôn giáo nói chung , Phơ bách nhà triết học duy vật đã có công
lớn trong việc khôi phục vị trí xứng đáng của triết học duy vật.
Phơ bách chống lại quan điểm duy tâm khách quan của Heghen . Ông chứng minh
thế giới là vật chất, tồn tại khách quan không phụ thuộc vao ý thức của con người.
ông cũng chỉ ra tính khách quan của không gian và thời gian mà trong đó vật chất
tồn tại .
Ông phê phán triết học của Heghen, thứ triết học coi tự nhiên là tồn tại khác của
tinh thần. Ông cho rằng con người là một thực thể sinh vật có cảm giác biết tư duy,
ham muốn, có ước mơ.

Phơ bách chống lại quan điểm nhị nguyên luận về sự tách rời giữa tinh thần và thể
xác, ông coi ý thức tinh thần cũng là một thuộc tính đặc biệt của vật chất có tổ
chức cao là óc người , khẳng định giữa tồn tại và tư duy có mối liên hệ khăng khít.
Ông cũng chống các quan niệm tôn giáo chính thống của đạo thiên chúa, đặc biệt
quan niệm về thượng đế, khi cho rằng chúa sinh ra con người.Phơ bách đã phủ
nhận mọi thứ tôn giáo và thần học về một vị Thượng đế siêu nhiên, đứng ngoài,
sáng tạo ra con người chi phối cuộc sống của họ.
Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong thời kỳ triết học
cổ điển Đức là một cuộc đấu tranh đỉnh điểm giữa hai trường phái triết học duy
tâm và duy vật lớn nhất trong lịch sử trước triết học Mác.Cả hai trường phái duy
tâm và duy vật đều có những học thuyết, lý luận triết học cho riêng mình, và cho
dù là duy tâm hay duy vật các nhà triết học đều có những hạt nhân hợp lý của mình


, nếu thư triết học của Heghen có phép biện chứng là hạt nhân hợp lý, thì triết học
của Phơ bách là chủ nghĩa duy vật triệt để về tự nhiên. Tuy nhiên do hoàn cảnh lịch
sử và điều kiện thực tiễn hạn chế trong mỗi học thuyết triết học của các ông còn bộ
lộ nhiều hạn chế, và đấu tranh giữa hai mặt đối lập để tìm ra cái mới cái phát triển
hơn, chính là nguồn gốc để hình thành triết học Mác- Lê nin sau này.

KẾT LUẬN
Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm gắn chặt với lịch sử
hình thành và phát triển triết học trong các giai đoạn trong lịch sử, mang nhiều sắc
thái khác nhau.Việc nghiên cứu cuộc đấu tranh này có ý nghĩa rất quan trọng đối


với tất cả chúng ta khi nghiên cứu về triết học,nó làm phong phú những tri thức
cho chúng ta, và có một cái nhìn toàn diện đa chiều khách quan về lịch sử hình
thành, đấu tranh và phát triển của triết học, nó cũng có ý nghĩa quan trọng trong
nghiên cứu giảng dạy môn triết học, nghiên cứu cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy

tâm và chủ nghĩa duy vật trước Mác sẽ trang bị cho chúng ta thế giới quan phương
pháp luận khoa học , và tư duy lô gic để thấy rằng đấu tranh giữa các mặt đối lập là
động lực cho ra đời sự phát triển, chính là nguồn gốc ra đời chủ nghĩa Mác – Lê
nin.
Đặc biệt việc nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa đặc biệt đối với đời sống xã hội và
đời sống tinh thần, đối với quá trình xây dựng Đảng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam, trong cuộc sống hai cực duy tâm và duy vật luôn tồn tại song song, cũng
như đời sống vật chất và đời sống tinh thần là không thể thiếu trong mỗi chúng
ta.Việc nghiên cứu cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật,
cho chúng ta những tri thức để kiên định lập trường duy vật trong giải quyết các
vấn đề của đời sống xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác – Lê nin mà Đảng ta đã đặt
làm nền tảng tư tưởng, bảo vệ phát triển triết học Mác – Lê nin là bảo vệ chủ nghĩa
Mác- Lê nin chống lại những luận điểm xuyên tạc của chủ nghĩa cơ hội, phản Đảng
phản cách mạng, lợi dụng những lòng tin tôn giáo của nhân dân ta để chống phá
Đảng chống phá nhà nước ta.Hiện nay lòng tin tôn giáo ở bộ phận dân cư ta vẫn
còn rất là cao, vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa đời sống vật chất và lòng tin tôn
giáo là một vấn đề quan trọng, vì vậy cần giải quyết trên lập trường của chủ nghĩa
Mác – Lê nin. Việc chiếm lĩnh được tri thức triết học Mác- Lê nin sẽ cho chúng ta
một thế giới quan duy vật để giải quyết được tốt những vấn đề đó.




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×