Tải bản đầy đủ (.docx) (11 trang)

Cán cân vãng lai và dự đoán của chính phủ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (152.7 KB, 11 trang )

1 Cán cân thương mại -TB.
Cán cân thương mại còn được gọi là cán cân hữu hình vì nó phản ánh chênh lệch
giữa các khoản thu từ xuất khẩu và những khoản chi cho nhập khẩu hàng hóa mà các
hàng hóa này lại có thể quan sát được bằng mắt thường khi di chuyển qua biên giới. Khi
thu nhập từ xuất khẩu lớn hơn chi cho nhập khẩu, thì cán cân thương mại thặng dư.
Ngược lại, khi thu nhập từ xuất khẩu thấp hơn chi cho nhập khẩu thì cán cân thương mại
thâm hụt.
Các nhân tố ảnh hưởng lên cán cân thương mại bao gồm các nhân tố ảnh hưởng
lên giá trị xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa. Các nhân tố ảnh hưởng lên giá trị xuất khẩu
là giống với các nhân tố ảnh hưởng tới giá trị nhập khẩu nhưng có tác động ngược
chiều.Bao gồm:

-

Tỷ giá
Lạm phát
Giá thế giới của hàng hóa xuất khẩu
Thu nhập của người không cư trú
Thuế quan và hạn ngạch ở nước ngoài
Phân tích cụ thể cho năm 2013:

Cụ thể:

-

Tổng
kim


ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước đạt 132,13 tỷ USD, tăng 15,4 % so với năm
2012, tương đương tăng 17,61 tỷ USD về số tuyệt đối.



- Tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước đạt hơn 132,13 tỷ USD, tăng 16,1% so với
năm 2012, tương ứng tăng 18,35 tỷ USD về số tuyệt đối.
Thặng dư rất ít => về cơ bản là cân bằng
Thặng dự cán cân thương mại một phần chủ yếu dựa vào đóng góp khối doanh
nghiệp đầu tư nước ngoài ( FDI) , trong khi cán cân thương mại của khối doanh
nghiệp trong nước vẫn nhập siêu
MẶT HÀNG XUẤT KHẨU
Điện thoại và linh kiện
Dệt may
Giày dép
Thủy sản
Dầu thô

2013
16.1
13.6
6.4
5.1
5.5

MẶT HÀNG NHẬP KHẨU
Máy móc, thiết bị phụ tùng
Nguyên phụ liệu dệt may và da giày
Vải
Xăng dầu
Ô tô
- Ô tô nguyên chiếc

2013

12.6
11.9
5.6
4.7
1.6
0.5
Nguồn: tổng cục thống kê

Về cơ cấu hàng hóa và dịch vụ cho cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu, chủ đạo vẫn là các
mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện, hàng dệt may, giày dép, du lịch, vận tải ... Trong
khi đó, xuất khẩu các mặt hàng ưu thế của Việt Nam như dầu thô, gạo, cà phê, cao su,
than đá và xăng dầu lại giảm mạnh so với năm 2012, chẳng hạn như dầu thô đạt 7,2 tỷ
USD (giảm 11,9%); gạo đạt 3 tỷ USD (giảm 18,7%); cà phê đạt 2,7 tỷ USD (giảm


26,6%); cao su đạt 2,5 tỷ USD (giảm 11,7%); xăng dầu đạt 1,2 tỷ USD (giảm 32,8%).
Nhập khẩu tư liệu sản xuất vẫn ở mức rất cao và phụ thuộc vào yếu tố ngoại, do ngành
công nghiệp phụ trợ còn quá yếu, mặc dù bài ca đầu tư ngành phụ trợ đã được cất lời từ
lâu.
Năm 2013, xuất khẩu gặp nhiều khó khăn, giá xuất khẩu một số mặt hàng giảm, thị
trường xuất khẩu tại một số địa bàn bị thu hẹp... Tuy nhiên, nhiều mặt hàng xuất khẩu
chủ lực đã đạt kim ngạch xuất khẩu cao như: dệt may, da giày, gỗ và sản phẩm gỗ, máy vi
tính sản phẩm điện tử và linh kiện...
Việt Nam cần tiếp tục áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu để bảo vệ sản xuất
trong nước phù hợp với các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, các biện pháp tự vệ khẩn
cấp, áp thuế chống bán phá giá, các tiêu chuẩn kỹ thuật, các biện pháp kiểm dịch động
thực vật... ngăn chặn hàng hóa nhập lậu, tranh thủ mở cửa thị trường trong các FTA mới
để đa dạng hóa thị trường nhập khẩu và nhập khẩu công nghệ nguồn”
DỰ ĐOÁN: trong bối cảnh nhu cầu nhập khẩu tăng , khả năng xuất khẩu những mặt
hàng chủ lực bắt đầu bị giới hạn thì nhập siêu là điều khó tránh. Trong khi đó, những mặt

hàng mới như máy móc, thiết bị, điện tử, điện thoại còn phụ thuộc nhiều vào đầu vào
nhập khẩu, nên tăng xuất khẩu những mặt hàng này cũng làm tăng nhập khẩu mạnh đầu
vào. => VN vẫn là nước nhập siêu.
2. CÁN CÂN DỊCH VỤ
Cán cân dịch vụ bao gồm các khoản thu, chi về vận tải, du lịch, bảo hiểm, bưu chính
viễn thông, hàng không, ngân hàng, thông tin, xây dựng và các hoạt động dịch vụ khác
giữa người cư trú và người không cư trú.
Tương tự như xuất khẩu hàng hóa, xuất khẩu dịch vụ làm phát sinh cung ngoại tệ,
nên khi hạch toán vào BOP được ghi có và ghi dấu (+), nhập khẩu dịch vụ làm phát sinh
cầu ngoại tệ, nên nó được ghi bên nợ và có dấu

(-). Các nhân tố ảnh hưởng lên giá trị

xuất nhập khẩu dịch vụ cũng giống như các yếu tố ảnh hưởng lên giá trị xuất nhập khẩu
hàng hóa.


Bảng 7: Cán cân dịch vụ của Việt Nam, triệu USD
Năm

Thu

Chi
CCD
V

20
07

20

08

60
30

9

70
06

67
85

576

79
56

950

746
0

817
8

-

20
10


6

755

200

992
1

2011

2012
*

8879

9400

1185

1250

9

2013

1070
0


1420

0

0

-

-

-

-

2421

2461

2980

3100

-3500

*: Số liệu lấy từ TCTK
Nguồn: IFS, TCTK
Xuất khẩu dịch vụ có tăng tuy nhiên quy mô xuất khẩu còn nhỏ. Một số thuận lợi
của dịch vụ nước ta:

- Trên bình diện chung, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư sửa đổi và các giải pháp cải

thiện môi trường kinh doanh tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất,
kinh doanh xuất khẩu. Đặc biệt, mức thuế và thời gian nộp thuế đã có sự cải thiện
đầy ấn tượng. Thuế thu nhập doanh nghiệp giảm còn 20% năm 2016 và dự kiến chỉ
còn 17% vào năm 2017, thậm chí còn 15% cho doanh nghiệp khởi nghiệp so với
mức 32% năm 1999. Thời gian nộp thuế chỉ còn dưới 117 giờ. Đồng thời, lãi suất và
điều kiện kinh doanh cho doanh nghiệp được cải thiện theo hướng thấp hơn và

-

thông thoáng hơn.
Thời gian đăng ký thành lập doanh nghiệp và thông quan rút ngắn hơn.


- Ngoài ra, còn hàng trăm hiệp định kinh tế - thương mại song phương và đa phương,
với hàng chục FTA thế hệ mới đã được Việt Nam ký kết hoặc đang đàm phán thuận
lợi nhiều hiệp định khác, trong đó, có với hầu hết các nền kinh tế G20 và các thị
trường lớn khác trên thế giới… Sự cộng hưởng của xung lực tích cực trên đã tạo sự
đột phá cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam, được dư luận cả trong nước và
quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Tuy nhiên Chỉ từ năm 2009 tới nay, thâm hụt cán cân dịch vụ bắt đầu tăng với tốc
độ nhanh và có dấu hiệu đáng lo ngại. Nếu như năm 2008 thâm hụt chỉ ở mức 0,95 tỷ
USD thì năm 2009 con số này đã lên tới 2,42 tỷ USD, và năm 2013 là 3,5 tỷ USD.
Trong khi đó, chi phí nhập khẩu dịch vụ lại tăng nhanh qua các năm, chủ yếu là do
tăng các chi phí vận tại, bảo hiểm bởi hầu hết các giao dịch nhập khẩu của Việt Nam đều
thực hiện theo điều kiện CIF. Chính điều này làm đã dẫn tới cán cân dịch vụ của Việt Nam
luôn trong trạng thái nhập siêu. Cũng như xuất khẩu, tỷ trọng của nhập khẩu dịch vụ trong
tổng giá trị nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ có xu hướng giảm dần nhưng chậm hơn.
Khó khăn trong vấn đề xuất khẩu dịch vụ:

-


Năng lực cạnh tranh của quốc gia, của doanh nghiệp và sản phẩm còn hạn
chế; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm. Kết cấu hạ
tầng và nguồn nhân lực còn nhiều bất cập. Công nghệ sản xuất chậm được đầu tư, đổi
mới; chuyển giao công nghệ ít được quan tâm. Quản lý, điều hành, quản trị doanh
nghiệp chưa bắt kịp với yêu cầu của tình hình cạnh tranh ngày càng quyết liệt.

-

Năng lực và sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý cấp, ngành và địa phương
còn nhiều bất cập; Cải cách hành chính chưa được đẩy mạnh, cơ chế, chính sách chưa

-

đáp ứng được yêu cầu.
Hơn nữa, khó khăn xuất khẩu dịch vụ còn đến do nhiều dịch vụ chưa thực sự
đa dạng, có chất lượng và có thương hiệu; tính chuyên nghiệp và tuân thủ các quy
chuẩn quốc tế thấp. Sự công nhận các văn bằng chứng chỉ nghề và chuyên môn, các


tiêu chuẩn kỹ thuật giữa Việt nam với các nước còn chưa được quan tâm hoặc nhiều
hạn chế.
3. Cán cân thu nhập
Theo nguyên tắc chung của IMF, cán cân thu nhập của Việt Nam bao gồm các khoản
thu nhập của người lao động (các khoản tiền lương, tiền thưởng) và thu nhập của nhà đầu
tư (lãi từ hoạt động đầu tư trực tiếp, gián tiếp) thuộc các đối tượng người Việt Nam cư trú
ở nước ngoài và người không cư trú ở Việt Nam.

- Các khoản thu nhập được trả bởi người không cư trú => thu (+)
- Các khoản thu nhập trả cho người không cư trú => chi (-)

-

Các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thu nhập bao gồm quy mô thu nhập và các
yếu tố thuộc môi trường kinh tế, chính trị, xã hội

Nhưng do thiếu sót thống kê, các số liệu về thu nhập lao động không có sẵn. Do đó,
trong cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam cũng như các nước khác thường chỉ tổng
hợp và cung cấp số liệu về thu nhập đầu tư ròng.
Phân tích cụ thể cho năm 2013:
Thâm hụt cán cân thu nhập gia tăng do phần thu của các hạng mục thu nhập đầu tư
(bao gồm thu lãi tiền gửi của hệ thống ngân hàng, thu cổ tức từ hoạt động đầu tư trực tiếp
của Việt Nam ra nước ngoài và đầu tư vào chứng khoán do người không cư trú phát
hành) tăng với tốc độ thấp hơn tốc độ tăng chi của các khoản mục này.
Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam luôn đạt được thặng dư
thương mại qua các năm. Một phần này chuyển thành lợi nhuận và chuyển giao về nước
có vốn đầu tư. Trong khi đó, việc các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư trực tiếp, gián tiếp ra
nước ngoài còn rất hạn chế và mới chỉ phát triển mạnh từ những năm 2005 trở lại đây.
Chính những điều này đã dẫn tới cán cân thu nhập của Việt Nam luôn trong tình trạng
thâm hụt, hạng mục thu luôn thấp hơn nhiều lần so với hạng mục chi..
Tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2013 ước tính đạt 790,8 nghìn tỷ đồng, bằng 96,9%
dự toán năm, trong đó thu nội địa 530 nghìn tỷ đồng, bằng 97,2%; thu từ dầu


thô 115 nghìn tỷ đồng, bằng 116,2%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập
khẩu 140,8 nghìn tỷ đồng, bằng 84,6%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2013 ước tính đạt 986,2 nghìn tỷ đồng, bằng
100,8% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 201,6 nghìn tỷ đồng, bằng 115,1%
(riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 196,3 nghìn tỷ đồng, bằng 115,4%); chi phát triển sự
nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể (bao gồm
cả chi thực hiện cải cách tiền lương) ước tính đạt 679,6 nghìn tỷ đồng, bằng 100,8%; chi

trả nợ và viện trợ 105 nghìn tỷ đồng, bằng 100%.
Những năm qua, hoạt động chi trả nợ gốc luôn vượt dự toán từ 16-26%. Năm 2013
ngân sách cũng đứng trước áp lực trả nợ gốc tới gần 61 ngàn tỷ đồng, chiếm hơn 6% chi
cân đối ngân sách nhà nước. Tính cả 43 ngàn tỷ đồng trả nợ lãi thì tổng chi trả nợ năm
2013 chiếm tới 10,6% tổng chi ngân sách nhà nước, một tỷ lệ quá lớn đè lên cán cân ngân
sách của năm. Theo dự kiến, mức thâm hụt ngân sách năm 2013 có thể lên tới 162 ngàn
tỷ đồng. Để bù đắp thâm hụt, Việt Nam buộc phải vay trong và ngoài nước, khiến số nợ
năm sau luôn dôi ra và cộng dồn vào năm trước làm cho vòng luẩn quẩn: thâm hụt - vay
nợ cứ kéo dài chưa có hồi kết.
Tình hình bội chi NSNN Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015
Đơn vị: tỷ đồng
Năm

Tổng thu cân đối

Tổng chi cân

Thâm

NSNN

đối NSNN

NSNN

hụt Tỷ lệ bội chi
NSNN so với
GDP

2011

2012
2013
2014
2015(ước

962.982
1.038.451
1.084.064
782.7
911.1

1.034.244
1.170.924
1.277.710
1.006.700
1.147.100

112.034
173.815
236.769
224
226

4,4%
5,36%
6,6%
5,3%
5,0%

tính)

Nguyên nhân là Ở trong nước, bên cạnh việc cơ bản đã kiềm chế được lạm phát; các
chính sách hỗ trợ sản xuất – kinh doanh đã bắt đầu phát huy tác dụng; lãi suất hạ nhiệt
thúc đẩy hoạt động tín dụng cho doanh nghiệp và dân cư; sản xuất công nghiệp đã dần


phục hồi thì chính sự thiếu ổn định về cán cân vĩ mô, sức cầu nền kinh tế còn yếu đã gây
ra tình trạng bội chi NSNN. Thêm vào đó là tình trạng tồn kho, đặc biệt là tồn kho bất
động sản và vật liệu xây dựng lớn.Sức cạnh trang hàng hóa ngày càng khắc nghiệt và
chịu sự tác động của các yêu tố mang tính toàn cầu như suy giảm luồn vốn FDI, suy thoái
kinh tế toàn cầu và khủng hoảng tài chính.
Mặt khác do dự toán xây dựng cao so với khả năng thực thiện đã gây ra tình trạng bội
chi vỡ kế hoạch vào năm 2013; Ngoài ra, năm 2013 chính phủ thực hiện các chính sách
miễn giảm thuế để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp nên cũng góp phần làm giảm
số thu NSNN. Thêm vào đó, mức tăng trưởng kinh tế tuy cao hơn hẳn năm 2012 nhưng
vẫn chưa đạt kế hoạch; việc hoàn thiện thể chế chính sách về thâm hụt NSNN còn có chỗ
chưa chặt chẽ.Việc quản lý điều hành cũng có lúc chưa hiệu quả nên một số đối tượng lợi
dụng, gian lận và trốn lậu thuế.
Năm 2014 dự toán bội chi ngân sách do Bộ Tài chính đưa ra là 224.000 tỷ đồng, bằng
5,3% GDP. Tổng thu cân đối ngân sách năm 2014 là 782.700 tỷ đồng. Trong đó, thu nội
địa chiếm 539.000 tỷ, từ dầu thô 85.200 tỷ, thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu
154.000 tỷ và thu viện trợ là 4.500 tỷ. Bên cạnh đó, mức chi dự toán được đưa ra là
1,0067 triệu tỷ đồng, bao gồm: chi đầu tư phát triển là 163.000 tỷ, chi trả nợ và viên trợ là
120.000 tỷ, chi phát triển sự nghiệp là 704.400 tỷ. Dự toán bội chi ước đạt 5.3%GDP.
(Giải thích nguyên nhân thâm hụt: chỉ cần nằm ý để thuyết trình): Như đã
phân tích ở trên, các khoản thu nhập ròng từ đầu tư đóng vai trò đáng kể trong cán cân
thu nhập. Việt Nam là nước có nền kinh tế đang phát triển, cơ sở hạ tầng còn yếu nên rất
cần nguồn vốn đầu tư thông qua hình thức đầu tư trực tiếp và vay nợ nước ngoài. Trong
khi thu nhập từ đầu tư của Việt Nam không lớn (chủ yếu là lãi của các khoản tiền gửi của
người Việt Nam tại các ngân hàng ở nước ngoài nhưng số lượng và giá trị các khoản tiền
này không đáng kể, số lượng các dự án đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài cũng

rất ít và giá trị không lớn) thì việc luồng vốn FDI và vay nợ nước ngoài thu hút được
trong thời gian qua tăng nhanh sau khi Việt Nam gia nhập WTO sẽ khiến các khoản lãi
đến hạn phải trả và các khoản lợi nhuận phải chia cho các nhà đầu tư nước ngoài tăng
mạnh, dẫn đến sự thâm hụt trong cán cân thu nhập.


Ðối với các khoản thu nhập của người lao động ở nước ngoài, mặc dù số lượng lao
động xuất khẩu của Việt Nam sang các nước khác tăng nhanh qua các năm nhưng hầu
hết lao động đều chỉ ở trình độ phổ thông nên thu nhập từ tiền lương của họ rất thấp.
Trong khi đó, các lao động là người không cư trú ở Việt Nam chủ yếu là đội ngũ lao
động có chất lượng cao từ các nước phát triển nên khoản thu nhập mà phía Việt Nam
phải chi trả cho họ là không nhỏ. Ðây cũng là một nguyên nhân gây nên tình trạng thâm
hụt cán cân thu nhập của Việt Nam

4. Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều
- Hạng mục chuyển giao vãng lai một chiều bao gồm các khoản chuyển giao bằng
tiền, hiện vật mang ý nghĩa và quả tặng, viện trợ, bồi thường của tư nhân và chính
phủ

 Phản ánh sự phân phối lại thu nhập
- Các khoản thu (nhận) => thu (+)
- Các khoản cho (biếu) => chi (-)
- Quy mô và tình trạng chuyển giao vãng lai một chiều phụ thuộc vào mối quan hệ
ngoại giao giữa các quốc gia và tình trạng kinh tế - xã hội giữa các quốc gia
.

Trong những năm gần đây, các dòng chuyển giao thu nhập luôn là một khoản bù đắp
đáng kể cho thâm hụt tài khoản vãng lai ở Việt Nam. Đặc biệt nổi lên đó là dòng kiều hối
chuyển về luôn chiếm tỷ trong lớn và tăng dần qua các năm. Việt Nam hiện đang có hơn
400,000 người đi lao động ở nước ngoài và khoảng 4 triệu Việt kiều cư trú ở gần 100

quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Mỗi năm họ gửi về Việt Nam một lượng kiều hối
không nhỏ. Kể từ sau năm 1999 khi kiều hối Việt Nam vượt qua mốc 1 tỷ USD và chiếm
khoảng 4,1% GDP thì đến năm 2011 lượng kiều hối đã đạt 8,6 tỷ USD, chiếm khoảng
7,0% GDP. Theo Ngân hàng Thế giới, Việt Nam xếp thứ 16 trong các quốc gia nhận
nhiều kiều hối nhất năm 2010. Tại Đông Nam Á, Việt Nam đứng thứ 2 chỉ sau Phillipine.


Ngoại hối cả năm 2013 đạt 10,65 tỷ USD tăng 6,5% so với mức 10 tỷ USD trong năm
2012
Nhằm thực hiện mục tiêu ổn định tỷ giá, ngân hàng nhà nước tiếp tục mua vào ngoại
hối trong năm 20133 với sự hỗ trợ của cán cân thanh toán thặng dư. Dự trữ ngoại hối Việt
Nam đạt 25,5 tỷ USD vào cuối năm 2013, tương đương 12 tuần nhập khẩu và năm 2014
lên mức kỳ lục 46,1 tỷ USD, tương đương 3,1-3,2 tháng nhập khẩu tiềm năng

3. DỰ ĐOÁN CHI TIÊU CHÍNH PHỦ
Theo ước tính sơ bộ cuối tháng 12/2013 của cơ quan thống kê, tổng thu NSNN năm
2013 ước đạt hơn 816.800 tỷ đồng, 101% dự toán năm, tăng xấp xỉ gần 10% so với cùng
kỳ năm 2012. Trong đó:
+ Thu nội địa ước đạt 530.000 tỷ đồng, đạt 97,2% dự toán năm. ( Trong thu nội
địa, thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) 159.300 tỷ đồng, bằng 91,4% dự
toán năm; thu từ DN có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 111.200 tỷ đồng, bằng
103,6%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài nhà nước 110.200 tỷ đồng, bằng
91,6%; thu thuế thu nhập cá nhân 45.800 tỷ đồng, bằng 83,4%; thu thuế bảo vệ môi
trường 11.700 tỷ đồng, bằng 81,5%; thu phí, lệ phí 15.200 tỷ đồng, bằng 146,5%. Thu từ
giao quyền sử dụng đất đạt 39.200 tỷ đồng, bằng dự toán và chỉ bằng 86,9% cùng kỳ năm
2012. K CẦN THIẾT – NẮM ĐƯỢC THÌ CÀNG TỐT))
+ Thu từ dầu thô cả năm 2013 ước đạt 115.000 tỷ đồng, đạt 102,68% dự toán.
+ Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 140.800 tỷ
đồng, bằng 84,6% dự toán năm và chỉ bằng 94,4% của năm 2012. Thu từ hoạt động
ngoại thương giảm có nhiều nguyên nhân, trong đó có tác động mạnh từ sự sụt giảm

mạnh nhập khẩu các hàng hóa có số thu thuế cao như ô tô và việc cắt giảm các dòng thuế
theo yêu cầu của WTO. Năm 2013, Việt Nam đã cắt giảm 214 dòng thuế nhập khẩu phù
hợp với cam kết WTO...


Có thể thấy, thu NSNN vượt dự toán khoảng 1%.).
Tổng chi NSNN năm 2013 ước tính đạt 986.200 tỷ đồng, bằng 100,8% dự toán
năm; Năm thứ 2 liên tiếp chi NSNN gần như bằng dự toán. Đây có thể coi là thành công
của việc thực hiện chính sách tài khóa tiết kiệm và là hướng đi đúng đắn cần tiếp tục
triển khai, nhân rộng trong những năm tới.. Điều này phản ánh việc ban hành Nghị
quyết 01/NQ-CP về thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, tiết kiệm đã có tác dụng
nhất định đến chi tiêu ngân sách năm 2013.
Tóm lại, về cơ bản việc thực hiện các nhiệm vụ chi NSNN 2013 là khá tích cực.
Tuy nhiên, có thể thấy tốc độ tăng chi đầu tư vẫn khá cao so với dự toán (ước vượt 15%
dự toán năm).



×