Tải bản đầy đủ (.doc) (188 trang)

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ngành hàng hải việt nam trong thời kỳ mới

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.19 MB, 188 trang )

BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ

VŨ THỊ THU HIỀN

§µO T¹O NGUåN NH¢N LùC CHÊT L¦îNG CAO
NGµNH HµNG H¶I VIÖT NAM TRONG THêI
Kú MíI
Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Mã số :

62 22 03 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS, TS NGUYỄN VĂN TÀI


HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Các số liệu, tài liệu trong luận án
trung thực, đảm bảo tính khách quan. Các tài liệu
tham khảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Vũ Thị Thu Hiền


MỤC LỤC



MỞ ĐẦU
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Chương 1
1.1.
1.2.
Chương 2

THỰC CHẤT ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT
LƯỢNG CAO NGÀNH HÀNG HẢI VIỆT NAM
Nguồn nhân lực chất lượng cao ngành hàng hải Việt Nam
Bản chất đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ngành
hàng hải Việt Nam
THỰC TIỄN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ TÍNH QUY

Trang
5
11
33
33
49

LUẬT CỦA ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT
LƯỢNG CAO NGÀNH HÀNG HẢI VIỆT NAM HIỆN
NAY

2.1.
2.2.
Chương 3


3.1.

3.2.

Thực tiễn đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ngành
hàng hải Việt Nam hiện nay
Những vấn đề có tính quy luật của đào tạo nguồn nhân
lực chất lượng cao ngành Hàng hải Việt Nam
DỰ BÁO NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG, YÊU CẦU VÀ GIẢI
PHÁP ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT
LƯỢNG CAO NGÀNH HÀNG HẢI VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ MỚI
Dự báo nhân tố tác động và yêu cầu về đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao ngành hàng hải Việt Nam trong
thời kỳ mới
Những giải pháp cơ bản đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao ngành hàng hải Việt Nam trong thời kỳ mới

KẾT LUẬN
NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ
CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

68
68
90

114


114
131
158
161
162
172


5
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về công trình nghiên cứu
Đề tài “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ngành hàng hải Việt
Nam trong thời kỳ mới” là vấn đề tác giả luận án quan tâm nghiên cứu nhiều
năm xuất phát từ thực tiễn kinh nghiệm của bản thân trong quá trình giảng dạy
tại trường Đại học Hàng hải Việt Nam. Đề tài luận án có kết cấu gồm phần mở
đầu; 3 chương (6 tiết); danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Với kết cấu trên,
đề tài đảm bảo triển khai nghiên cứu được những vấn đề lý luận và thực tiễn đào
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ngành hàng hải Việt Nam trong thời kỳ mới.
Đề tài luận án là một công trình khoa học độc lập, sáng tạo, không trùng
lặp với bất cứ công trình khoa học nào đã được công bố ở trong và ngoài nước.
Những nội dung đặt ra và giải quyết trong luận án là những vấn đề lý luận và
thực tiễn cơ bản và cấp thiết của đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ngành
hàng hải Việt Nam trong thời kỳ mới. Đặc biệt tiếp cận dưới góc độ chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đề tài luận án tập trung làm rõ
bản chất và những vấn đề có tính quy luật của đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao ngành hàng hải Việt Nam, đây là khía cạnh mới chưa có công trình
khoa học nào nghiên cứu. Từ đó, luận án đề xuất giải pháp cơ bản, đồng bộ, có
tính đặc thù và khả thi nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao ngành hàng hải Việt Nam trong thời kỳ mới.

2. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Đề tài luận án được nghiên cứu sinh lựa chọn xuất phát từ những lý do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ vai trò của đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao đối với sự phát triển ngành hàng hải Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với những ưu thế của
phương thức vận tải đường biển khiến cho nhu cầu vận tải đường biển trên
toàn thế giới không ngừng tăng. Với những thuận lợi về điều kiện tự nhiên và


6
vị trí địa lý, ngành hàng hải Việt Nam được xác định là một trong những
ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Bối cảnh trong nước và quốc tế tạo ra
nhiều điều kiện thuận lợi nhưng cũng đồng thời đặt ra nhiều thách thức với
ngành hàng hải Việt Nam, từ đó đã và đang đặt ra những yêu cầu mới, cao
hơn đối với nguồn nhân lực ngành hàng hải. Lý luận và thực tiễn phát triển
ngành hàng hải đã khẳng định trong các nguồn lực, nguồn nhân lực giữ vai trò
quan trọng nhất, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, đóng vai trò là
động lực cho sự phát triển của ngành hàng hải trong bối cảnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Có nhiều phương thức để phát triển nguồn nhân lực, trong đó đào tạo là
phương thức trực tiếp và căn bản nhất. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XII của Đảng xác định “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào
tạo; phát triển nguồn nhân lực” [23, tr.113], tiếp tục khẳng định giáo dục là
quốc sách hàng đầu [23, tr.114] là một trong những định hướng lớn để phát
triển nhanh, bền vững, sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp
theo hướng hiện đại. Trong xu hướng chung đó, đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao ngành hàng hải càng khẳng định vai trò của mình đối với sự phát
triển ngành hàng hải Việt Nam và trở thành nhiệm vụ cấp bách hiện nay
Thứ hai, xuất phát từ thực tiễn đào tạo nguồn nhân lực ngành hàng hải

ở Việt Nam, bên cạnh những thành tựu nhất định, vẫn còn nhiều hạn chế, bất
cập cần phải khắc phục.
Trong những năm qua, mặc dù có nhiều đổi mới trong đào tạo nguồn
nhân lực hàng hải và thu được những kết quả nhất định, nhưng công tác đào
tạo, huấn luyện hàng hải hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập. Chưa giải quyết
tốt mối quan hệ giữa phát triển số lượng và nâng cao chất lượng trong quá
trình đào tạo; cơ sở đào tạo nhiều nhưng chất lượng đào tạo tại các cơ sở hàng


7
hải không đồng đều. Cơ sở vật chất kỹ thuật của nhiều cơ sở đào tạo, huấn
luyện thuyền viên còn nghèo nàn, hạn chế. Nội dung, chương trình đào tạo
chưa gắn với nhu cầu thực tiễn, nặng về lý thuyết; chưa có chương trình, giáo
trình thống nhất đạt chuẩn quốc tế phục vụ cho giảng dạy ở tất cả các cấp độ;
chưa có sự gắn kết hiệu quả giữa phát triển, ứng dụng khoa học với đổi mới,
phát triển đào tạo nguồn nhân lực…
Tất cả những hạn chế của quá trình đào tạo được phản ánh đầy đủ qua
sự phát triển nguồn nhân lực ngành hàng hải Việt Nam hiện nay. Chất lượng
nguồn nhân lực ngành hàng hải Việt Nam trong so sánh với các nước trong khu
vực và thế giới còn ở mức độ thấp và không đồng đều, tỷ lệ nguồn nhân lực chất
lượng cao trong cơ cấu nguồn nhân lực ngành hàng hải Việt Nam còn rất nhỏ bé.
Nhu cầu thuyền viên tại thị trường lao động thuyền viên thế giới là rất lớn và có
chiều hướng gia tăng như các khu vực Đông Bắc Á, Singapore, châu Âu, Bắc
Mỹ… Trong khi đó, hơn 20 năm qua, số lượng thuyền viên Việt Nam xuất khẩu
chỉ dao động quanh con số 2.500 đến 3.000 người/năm, một tỷ lệ quá nhỏ bé so
với dân số và tiềm năng vốn có. Tình hình đó đặt ra yêu cầu xem xét, nghiên cứu
quá trình đào tạo, đặc biệt tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về bản chất và
tính quy luật của đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ngành hàng hải, lấy đó
là cơ sở xây dựng hệ thống giải pháp thiết thực, đồng bộ, khả thi nhằm nâng cao
chất lượng đào tạo.

Bước vào thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, đòi hỏi phải đào tạo,
phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu
phát triển ngành hàng hải và phát triển bền vững đất nước.
Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu về mặt khoa học.
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu dưới góc độ các chuyên ngành
khác nhau về các khía cạnh của quá trình đào tạo nguồn nhân lực ngành hàng hải


8
Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên
cứu một cách hệ thống và chuyên biệt dưới góc độ triết học vấn đề đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao ngành hàng hải Việt Nam trong thời kỳ mới để làm
cơ sở khoa học cho hoạt động thực tiễn nâng cao chất lượng, hiệu quả quá
trình đào tạo nguồn nhân lực này trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
Từ những lý do trên, đi sâu nghiên cứu đề tài “Đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao ngành hàng hải Việt Nam trong thời kỳ mới” có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn cấp thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải những vấn đề lý luận, thực tiễn đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao ngành hàng hải Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực này đáp ứng yêu cầu phát triển
ngành hàng hải Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải, làm sáng tỏ thực chất đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao ngành hàng hải Việt Nam.
- Khái quát thực tiễn đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ngành hàng
hải Việt Nam hiện nay; làm rõ những vấn đề có tính quy luật trong đào tạo

nguồn nhân lực chất lượng cao ngành hàng hải Việt Nam.
- Dự báo nhân tố tác động, xác định yêu cầu và đề xuất giải pháp cơ bản đào
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ngành hàng hải Việt Nam trong thời kỳ mới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
* Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu bản chất và những vấn đề có tính
quy luật của quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ngành hàng hải
Việt Nam.


9
* Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao ngành hàng hải trong tổng thể quá trình đào tạo nguồn nhân
lực ngành hàng hải Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
gắn với sự phát triển của nền kinh tế tri thức và cách mạng công nghiệp lần
thứ 4 (cách mạng công nghiệp 4.0).
Các tư liệu, số liệu, khảo sát thực tiễn chủ yếu được thực hiện tại trường
Đại học Hàng hải Việt Nam, Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí
Minh, Cao đẳng Hàng hải I, Cao đẳng Hàng hải Thành phố Hồ Chí Minh và
một số trường có liên quan. Thời gian điều tra, khảo sát, sử dụng tài liệu chủ
yếu từ năm 2010 đến nay. Luận án đề xuất các giải pháp đào tạo nguồn nhân
lực chất lượng cao ngành hàng hải Việt Nam trong thời kỳ mới, từ nay đến
2030 và tầm nhìn những năm tiếp theo.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, nguồn lực con người, giáo dục và
đào tạo; đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, chiến lược của Bộ Giao
thông vận tải về nguồn nhân lực chất lượng cao, đào tạo nguồn nhân lực phục
vụ cho phát triển kinh tế biển, tái cơ cấu vận tải biển và các công trình khoa
học liên quan đến phạm vi nghiên cứu của luận án.
* Cơ sở thực tiễn: Đề tài dựa trên cơ sở thực tiễn quá trình đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao ngành hàng hải Việt Nam tại một số cơ sở đào

tạo chủ yếu. Luận án sử dụng số liệu điều tra, khảo sát trực tiếp của tác giả;
một số nghị quyết của đảng bộ và báo cáo tổng kết của các trường đào tạo
chuyên ngành hàng hải và nghiên cứu về đội ngũ sỹ quan thuyền viên Việt
Nam trong những năm gần đây.
* Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời, sử dụng


10
các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích và tổng hợp, hệ thống và
cấu trúc, lịch sử và logic, trừu tượng hóa và khái quát hóa, điều tra xã hội học,
tổng kết thực tiễn và phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia.
6. Những đóng góp mới của luận án
Luận án góp phần làm rõ quan niệm khoa học về nguồn nhân lực chất
lượng cao và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ngành hàng hải Việt Nam
và những đặc trưng cơ bản của quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
ngành hàng hải Việt Nam.
Luận án phân tích, đánh giá thực tiễn đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao ngành hàng hải Việt Nam hiện nay. Từ đó luận chứng những vấn đề có tính
quy luật của quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ngành hàng hải
Việt Nam.
Luận án đề xuất các giải pháp cơ bản, đồng bộ, có tính đặc thù và khả thi
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ngành hàng
hải Việt Nam trong thời kỳ mới.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý
luận và thực tiễn đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ngành hàng hải Việt
Nam hiện nay. Góp phần làm phong phú thêm lý luận về phát triển nguồn
nhân lực ngành hàng hải Việt Nam.
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu, giảng

dạy, học tập trong các viện nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng về
những nội dung liên quan đến vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
ngành hàng hải Việt Nam trong thời kỳ mới.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan vấn đề nghiên cứu, kết luận, danh mục
các công trình khoa học đã công bố của tác giả có liên quan đến luận án, danh
mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 3 chương (với 6 tiết).


11
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI
1. Các công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về nguồn nhân lực
chất lượng cao và đào tạo nguồn nhân lực
1.1. Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực chất lượng cao
Tác giả Bùi Thị Ngọc Lan (2000) trong công trình “Phát huy nguồn lực
trí tuệ trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay” [51]; đã phân tích, làm rõ
khái niệm, đặc điểm, cấu trúc của nguồn lực trí tuệ, tác giả đưa ra quan niệm
về nguồn lực trí tuệ là một bộ phận của nguồn lực con người, có đặc trưng về
tiềm năng, năng lực sáng tạo, có khả năng tạo ra sức mạnh tổng hợp của quá
trình phát triển tự nhiên, xã hội và bản thân con người. Quan niệm của tác giả
là một tham khảo bổ ích cho nghiên cứu sinh trong quá trình xây dựng quan
niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao. Công trình nghiên cứu tiếp cận
nguồn lực trí tuệ từ góc độ triết học - chủ nghĩa xã hội khoa học đã làm rõ
những yếu tố chính trị - xã hội tác động đến nguồn lực trí tuệ, từ đó cho người
đọc thấy rõ thực trạng của việc phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam và xu
hướng phát triển của nguồn lực này; chỉ rõ sự cần thiết của việc phát huy
nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay. Trên cơ sở đó,
tác giả đưa ra quan điểm và giải pháp phát huy nguồn lực trí tuệ - nguồn lực
chất lượng cao của nước ta nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa,

hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Những
giải pháp này cũng là căn cứ để nghiên cứu sinh tiếp thu kế thừa trong quá
trình triển khai nghiên cứu đề tài luận án.
Tác giả Nguyễn Đình Minh (2003) trong công trình“Phát huy vai trò
nguồn lực trí thức khoa học xã hội nhân văn trong Quân đội nhân dân Việt
Nam hiện nay” [69]. Công trình nghiên cứu từ góc độ triết học - chủ nghĩa xã
hội khoa học đã phân tích, luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn việc
phát huy vai trò của nguồn lực trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự.


12
Tác giả đã đi sâu làm rõ đặc điểm, vai trò của nguồn lực trí thức khoa học xã
hội và nhân văn quân sự đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt
Nam. Trên cơ sở phân tích thực trạng, tác giả đã đưa ra những dự báo xu
hướng phát triển của lực lượng này trong những năm tiếp theo. Tuy vậy, công
trình mới chỉ tiếp cận bộ phận của nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao ở
phạm vi hẹp, chưa đi vào phân tích nội dung và những tiêu chí đánh giá phát
triển nguồn lực trí thức khoa học xã hội nhân văn trong Quân đội nhân dân
Việt Nam. Tuy nhiên, đây cũng là căn cứ và là cơ sở lý luận để nghiên cứu
sinh kế thừa trong nghiên cứu luận án.
Tác giả Phạm Văn Quý (2005) trong công trình “Các giải pháp chủ yếu
nhằm phát triển nhân lực khoa học, công nghệ phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa” [79]. Công trình nghiên cứu từ góc độ chuyên
ngành kinh tế đã luận giải những vấn đề lý luận về nguồn nhân lực khoa học,
công nghệ và xác định bộ phận nòng cốt của nhân lực khoa học, công nghệ ở
nước ta hiện nay là nhân lực có trình độ từ cao đẳng trở lên, làm việc trong
các lĩnh vực nghiên cứu, quản lý, giảng dạy các chuyên ngành khoa học, công
nghệ và nhân lực được đào tạo để khai thác, sử dụng công nghệ, thực hành
chuyên môn kỹ thuật. Có thể thấy cách tiếp cận của tác giả đã góp phần lượng
hóa một bộ phận của nguồn nhân lực chất lượng cao, đó là nhân lực trong lĩnh

vực khoa học công nghệ. Từ đó, tác giả đã khảo sát thực trạng nguồn nhân lực
khoa học, công nghệ ở nước ta giai đoạn 1986 - 2003 trên các phương diện:
số lượng, chất lượng, cơ cấu. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tác giả đề xuất
giải pháp chủ yếu để phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ nước ta
giai đoạn 2004 - 2010, tầm nhìn đến năm 2020, đó là: tạo lập vững chắc thị
trường khoa học, công nghệ; đẩy nhanh đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ
để đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đổi mới cơ
chế và tổ chức quản lý khoa học, công nghệ. Đây là giải pháp ở tầm vĩ mô về


13
phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ ở nước ta, có giá trị tham khảo
tốt để nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ ở từng lĩnh
vực cụ thể, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát
triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay.
Tác giả Lê Thị Hồng Điệp (2010) và công trình “Phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam” [24].
Trong công trình khoa học của mình, tác giả đã trình bày một cách có hệ
thống những vấn đề lý luận về nguồn nhân lực chất lượng cao, làm rõ nội hàm
khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao, những đặc trưng và vai trò quan
trọng của nguồn nhân lực này trong quá trình xây dựng nền kinh tế tri thức ở
Việt Nam. Xem xét kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để
hình thành kinh tế tri thức của một số quốc gia tiêu biểu. Đánh giá quá trình
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành kinh tế tri thức ở Việt
Nam từ năm 2001 đến 2007 theo những nội dung và tiêu chí đã xác định. Đề
xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao để hình thành kinh tế tri thức ở Việt Nam. Tác giả đặc biệt chú
trọng nhóm giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là
đào tạo ở bậc đại học được coi là chìa khóa tạo nên sự đột phá cho nguồn
nhân lực chất lượng cao của Việt Nam.

Tác giả Lê Quang Hùng (2011) trong công trình “Phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” [39]. Trong công
trình này tác giả đã tiếp cận vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
dưới góc độ kinh tế chính trị. Tác giả đã nêu bật tầm quan trọng của việc phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung;
đánh giá thực trạng và nguyên nhân; chỉ ra một số yêu cầu, giải pháp phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm ở miền Trung, đặc
biệt nhấn mạnh đến giải pháp về giáo dục và đào tạo. Các giải pháp này có giá


14
trị tham khảo tốt trong xây dựng, hoạch định và triển khai các chính sách phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao nói chung và của vùng kinh tế trọng điểm
miền Trung nói riêng. Đồng thời cũng đề xuất cơ chế phối hợp của các chủ thể
và lộ trình thực hiện các giải pháp tới năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả Vũ Thị Phương Mai (2013) với công trình “Nguồn nhân lực
chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
hiện nay” [63]; đã trình bày quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao,
đồng thời chỉ ra vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Từ đánh giá thực trạng, chỉ ra những
bất cập về số lượng, chất lượng và cơ cấu của nguồn nhân lực chất lượng cao,
tác giả đã đưa ra các giải pháp về nhận thức, về văn hoá và đổi mới chính
sách sử dụng, đãi ngộ nguồn nhân lực chất lượng cao. Kết quả nghiên cứu của
tác giả Vũ Thị Phương Mai là những gợi mở có ý nghĩa với tác giả luận án
trong việc hoàn thiện quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao và việc
định hướng những giải pháp.
Tác giả Nguyễn Thị Giáng Hương (2013) trong công trình “Vấn đề phát
triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay” [40]. Đây là
công trình khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực chất lượng cao ở một đối
tượng rất đặc biệt đó là nữ giới ở nước ta. Với cách tiếp cận khá mới mẻ, tác

giả đã phân tích, làm nổi bật vai trò, tầm quan trọng của nguồn nhân lực nữ
chất lượng cao; những điều kiện khách quan, nhân tố chủ quan cơ bản tác
động đến phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay.
Công trình đã phân tích, đánh giá khá chi tiết thực trạng, chỉ ra nguyên nhân
và một số vấn đề đặt ra trong phát triển phát triển nguồn nhân lực nữ chất
lượng cao ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở những vấn đề lý luận, thực tiễn,
tác giả đã đề xuất một số nhóm giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân
lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay.
Ngoài ra, một số bài viết trên các tạp chí khoa học cũng đã đề cập đến


15
vấn đề này, tiêu biểu như: Hoàng Chí Bảo (1993), “Ảnh hưởng của văn hóa
đối với việc phát huy nguồn lực con người”; Phạm Thị Ngọc Trầm (1993), “Trí
tuệ - Nguồn lực vô tận của sự phát triển xã hội”; Trương Giang Long (2002),
“Về vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay”; Nguyễn Văn Thụy
(2003), “Vài suy nghĩ về chuẩn bị nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa - hiện
đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa”; Lê Thị Ngàn (2003), “Phát triển
nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn”; Nguyễn Đình Hòa (2004), “Mối quan hệ giữa phát triển nguồn
nhân lực và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”; Bùi Tất Thắng (2011),
“Về vấn đề quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 2020”; Nguyễn Văn Tạo (2011), “Thời cơ và thách thức trước yêu cầu phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay”.
Nhìn chung, với tiếp cận nghiên cứu từ nhiều góc độ chuyên ngành
khác nhau, các công trình khoa học và các bài viết của các tác giả nói trên đã
đưa ra các quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao. Mặc dù các quan
niệm có sự khác nhau do phương pháp tiếp cận, phạm vi và mục đích nghiên
cứu nhưng nhìn chung, các tác giả đã khái quát và đưa ra những nội dung cốt
lõi về quan niệm, đặc điểm, vị trí và những tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất
lượng cao. Một số công trình đã đi sâu trình bày và luận chứng khá rõ mối
quan hệ giữa đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; vấn đề sử

dụng và khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực, vấn đề bồi dưỡng nguồn nhân
lực; từ đó xác định rõ trách nhiệm quản lý của Nhà nước, ngành giáo dục đào tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất
lượng cao trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tầm quan
trọng của việc đào tạo nguồn nhân lực của các Học viện, nhà trường.
Một số tác giả đã phân tích cấu trúc, vị trí, mối quan hệ giữa nhân lực
và nguồn nhân lực; khảo cứu kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của các


16
nước trên thế giới cũng như thực trạng nguồn nhân lực của nước ta. Về chất
lượng nguồn nhân lực, các tác giả thống nhất đó là khả năng về tri thức, kỹ
năng và tính nhân văn trong hoạt động có mục đích của con người, tổ chức.
Các tác giả đã đề cập đến vai trò của nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội, tính tích cực xã hội của con người và con đường nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trên cơ sở phân tích thực trạng và yêu cầu về nguồn lực con người ở nước ta,
các tác giả đề ra một số yêu cầu, giải pháp nhằm xây dựng, phát triển nguồn
nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao cần thiết cho quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, đề ra một số kiến nghị và hoạch định có
tính chiến lược lâu dài để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của nước ta
trong thời gian tới, nhất là ở những ngành, nghề mũi nhọn, trọng tâm.
1.2. Các công trình nghiên cứu về đào tạo nguồn
nhân lực
Tác giả Nguyễn Thanh (2001) với công trình “Phát triển nguồn nhân
lực và vai trò của giáo dục đào tạo đối với phát triển nguồn nhân lực phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay” [89]. Tiếp cận đề
tài nghiên cứu dưới góc độ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử, tác giả phân tích và làm sáng tỏ bản chất phát triển nguồn nhân lực. Tác
giả quan niệm, phát triển nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số lao động đã
có và sẽ có, mà là phát triển tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao

động, thái độ và phong cách làm việc, yếu tố trí lực được tác giả đặc biệt nhấn
mạnh. Từ làm rõ thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta và một số định hướng
chủ yếu cần giải quyết, tác giả tập trung làm rõ vai trò của giáo dục và đào tạo
với vị trí là “điều kiện tiên quyết”, “quốc sách hàng đầu”, là yếu tố trực tiếp,
quyết định trong chiến lược phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực có
chất lượng. Tác giả đưa ra hệ thống các giải pháp để đổi mới giáo dục và đào


17
tạo, đó là: kiên quyết và nhanh chóng tăng nguồn đầu tư ngân sách hơn nữa cho
giáo dục và đào tạo, thực hiện xã hội hoá giáo dục và đào tạo. Tiến hành đào
tạo ban đầu đồng thời với đào tạo lại và đào tạo thường xuyên, mở rộng quy
mô và tăng nhanh tốc độ đào tạo, đào tạo có địa chỉ và theo nhu cầu của xã hội.
Tiếp tục cải cách nội dung và phương pháp đào tạo, tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng và quản lý của nhà nước đối với giáo dục và đào tạo.
Tác giả Nguyễn Công Giáp (Chủ nhiệm, 2003) trong công trình
“Nghiên cứu các giải pháp chiến lược đào tạo và bồi dưỡng nhân tài trong hệ
thống giáo dục - đào tạo” [29] đã luận giải các vấn đề lý luận về đào tạo và bồi
dưỡng nhân tài; các khái niệm liên quan đến nhân tài, các cấp độ của nhân tài,
vai trò của nhân tài và những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển nhân tài.
Công trình đã khảo sát thực trạng đào tạo và bồi dưỡng nhân tài của các quốc
gia phát triển trên thế giới và ở Việt Nam. Từ đó, công trình đưa ra hai định
hướng chiến lược và tám giải pháp nhằm đào tạo và bồi dưỡng nhân tài ở Việt
Nam hiện nay. Công trình đã đánh giá khái quát thực trạng đào tạo và bồi
dưỡng nhân tài ở Việt Nam cũng như kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng nhân tài
của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới để tác giả luận án kế thừa và phát
triển hướng nghiên cứu của mình. Công trình này chưa đưa ra khái niệm đào
tạo và bồi dưỡng nhân tài và các yếu tố tạo thành nhân tài trong đó có giáo dục
và đào tạo được đề cập riêng lẻ và chưa tạo thành một chỉnh thể trong việc đào
tạo và bồi dưỡng nhân tài hiện nay.

Tác giả Lê Thị Ái Lâm (2003) trong công trình “Phát triển nguồn nhân
lực thông qua giáo dục và đào tạo. Kinh nghiệm Đông Á” [52], tác giả đã
luận giải lý thuyết về phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào
tạo. Tác giả đã nghiên cứu thực tiễn phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo
dục và đào tạo ở Đông Á. Từ đó, tác giả chỉ ra vai trò phát triển nguồn nhân
lực thông qua giáo dục và đào tạo ở Đông Á, chiến lược công nghiệp hoá và


18
sự phù hợp lẫn nhau với phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào
tạo ở Đông Á, vấn đề điều chỉnh phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo
dục và đào tạo ở Đông Á và vấn đề và giải pháp hiện này của phát triển nguồn
nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo ở Đông Á. Tác giả cũng chỉ ra những
kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo ở Đông
Á và một số lưu ý đối với Việt Nam.
Tác giả Trần Văn Tùng (2005) với công trình “Đào tạo, bồi dưỡng và sử
dụng nguồn nhân lực tài năng” [106]. Tác giả đã trình bày những kinh nghiệm của
một số nước châu Âu (Anh, Pháp, Đức), châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung
Quốc và một số quốc gia khác) về việc phát hiện, đào tạo và sử dụng tài năng khoa
học - công nghệ sản xuất kinh doanh và quản lý, từ đó vận dụng vào thực tiễn ở
Việt Nam. Tác giả nhấn mạnh Việt Nam cần đổi mới các chính sách đào tạo, bồi
dưỡng và sử dụng nguồn tài năng hiện có. Đây là công trình có giá trị thực tiễn
không chỉ trong đào tạo, bồi dưỡng tài năng khoa học - công nghệ mà cả trong đào
tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay.
Tác giả Trịnh Ngọc Thạch (2008) với công trình “Hoàn thiện mô hình
quản lý đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các trường đại học Việt
Nam” [85]. Dưới góc độ tiếp cận của giáo dục, tác giả đã tiến hành khảo sát,
phân tích mô hình quản lý đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở một số
trường đại học trọng điểm của Việt Nam, trong đó tập trung nghiên cứu về mô
hình ở Đại học quốc gia Hà Nội. Từ đó, tác giả trình bày những nét đặc trưng

của mô hình quản lý đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các trường
đại học ở nước ta, những ưu điểm, hạn chế và khả năng áp dụng. Tác giả đề
xuất một số giải pháp cơ bản để hoàn thiện mô hình quản lý đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao trong các trường đại học Việt Nam.
Tác giả Nguyễn Duy Bắc (2011) trong công trình “Phát triển giáo dục
- đào tạo và khoa học công nghệ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa” [4] đã phân tích làm rõ vai trò của giáo dục và đào tạo, khoa


19
học công nghệ, bối cảnh mới tác động đến sự phát triển giáo dục đào tạo và
khoa học công nghệ, đặc biệt là bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước đã đặt ra yêu cầu cao đối với giáo dục đào tạo và khoa học công
nghệ. Trên cơ sở phân tích thực trạng, chỉ rõ những hạn chế của giáo dục đào
tạo và khoa học công nghệ, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ,
nhất quán, tạo sự gắn kết giữa phát triển giáo dục đào tạo với phát triển khoa
học công nghệ.
Tác giả Lương Công Lý (2014) với công trình “Giáo dục - đào tạo với
việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay” [58].
Trong công trình này, dưới góc độ tiếp cận triết học, tác giả đã luận giải, làm
sáng tỏ những cơ sở lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao và vai trò của giáo dục đào tạo với phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao ở Việt Nam hiện nay. Tác giả đã làm rõ thực trạng phát huy vai trò của giáo
dục đào tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam
hiện nay, chỉ ra nguyên nhân của những thành công và hạn chế. Trên cơ sở đó,
tác giả đã nêu lên một số mâu thuẫn cần phải giải quyết trong phát huy vai trò
của giáo dục đào tạo với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt
Nam. Tác giả đề xuất một số phương hướng và năm giải pháp chủ yếu nhằm
phát huy vai trò của giáo dục đào tạo với việc phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao ở Việt Nam hiện nay. Phạm vi nghiên cứu của tác giả dừng lại ở vai

trò của giáo dục đào tạo với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt
Nam và giải pháp cũng hướng đến khách thể nghiên cứu chủ yếu là giảng viên
và sinh viên ở một số trường đại học của Việt Nam.
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà (2014) trong công trình “Đội ngũ trí thức
giáo dục đại học Việt Nam trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [30]. Công trình nghiên cứu tiếp
cận vấn đề từ góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, đã luận giải và
làm rõ quan niệm về đội ngũ trí thức giáo dục đại học, vai trò của đội ngũ trí
thức giáo dục đại học trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao thời kỳ đẩy


20
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trên cơ sở đó, tác giả đã phân tích toàn
diện thực trạng đội ngũ trí thức giáo dục đại học trên các phương diện số
lượng, chất lượng, cơ cấu và thực trạng vai trò đội ngũ trí thức giáo dục đại học
trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Tác giả đề xuất hệ thống gồm 6
giải pháp phát huy vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học trong đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao. Cách tiếp cận giải quyết vấn đề của tác giả là
một gợi mở cho nghiên cứu sinh trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án.
Các công trình trên đã trình bày quan niệm về đào tạo nguồn nhân lực, vai
trò của đào tạo nguồn nhân lực và các yếu tố của các quá trình này. Một số công
trình nghiên cứu về vai trò của giáo dục đào tạo với phát triển nguồn nhân lực.
Nhìn chung, các công trình tiếp cận quan niệm về đào tạo dưới góc độ chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử còn ít, tiếp cận đào tạo nguồn nhân
lực với tính cách là một quá trình chưa được nghiên cứu. Đồng thời, giải pháp tổng
thể về đào tạo nguồn nhân lực được trình bày rải rác trong các công trình, chưa hệ
thống và toàn diện.
2. Các công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về nguồn nhân lực
ngành hàng hải và đào tạo nguồn nhân lực ngành hàng hải
Trong những năm vừa qua, chiến lược biển, vấn đề biển đảo là nội

dung có tính thời sự nóng. Để phát triển kinh tế biển và giữ vững chủ quyền,
biển đảo, điều cốt yếu không thể không quan tâm là tạo hành lang pháp lý
thuận lợi trên biển đảo, muốn vậy cần có lực lượng thường xuyên hoạt động
trên biển, đảo thuộc chủ quyền của ta, nhân lực của ngành hàng hải vì vậy
luôn đóng một vai trò cực kỳ quan trọng để góp phần khẳng định chủ quyền
biển, đảo Việt Nam, thông qua các hoạt động đánh, bắt, giao thương trên biển.
Do vậy, liên quan đến vấn đề nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng
cao và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng trong ngành hàng hải
đã có nhiều công trình tiếp cận nghiên cứu.
Tác giả Đinh Ngọc Viện (2008) với công trình “Nghiên cứu các giải
pháp tăng năng lực cạnh tranh của ngành Hàng hải Việt Nam trong điều kiện


21
hội nhập quốc tế” [113], đã đi sâu tiếp cận nghiên cứu nhiều vấn đề liên quan
trực tiếp đến khả năng phát triển của ngành hàng hải Việt Nam; trong đó tác
giả đã làm rõ đặc điểm và vai trò của ngành hàng hải Việt Nam trong điều
kiện hội nhập quốc tế. Để tăng năng lực cạnh tranh của ngành hàng hải Việt
Nam đề tài đã đề xuất các giải pháp tổng thể, trong đó đề tài đặc biệt nhấn
mạnh đến vấn đề nguồn nhân lực chất lượng cao, yếu tố then chốt để phát
triển và tăng khả năng cạnh tranh của ngành hàng hải Việt Nam. Theo đề tài
trong thời gian tới, Đảng và Nhà nước cần quan tâm đào tạo, phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao cho ngành hàng hải cả về số lượng và chất lượng, chú
trọng hài hòa cơ cấu của các lực lượng trong ngành; đào tạo phải bám sát nhu
cầu sử dụng và đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đang đòi hỏi.
Tác giả Đặng Văn Uy (2008) trong công trình nghiên cứu trọng điểm
cấp Bộ Giao thông vận tải: “Nâng cao năng lực đào tạo – huấn luyện hàng
hải các cấp ở Việt Nam” [109] đã đi sâu nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn
công tác đào tạo - huấn luyện hàng hải các cấp ở Việt Nam, từ đó đưa ra bức
tranh tổng quát về đào tạo - huấn luyện nguồn nhân lực hàng hải ở nước ta

hiện nay. Công trình nghiên cứu chỉ rõ, cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội
nhập kinh tế đang diễn ra trên toàn thế giới thì nhu cầu vận tải đường biển của
thế giới không ngừng tăng. Việt Nam là quốc gia có nhiều tiềm năng về vị trí
địa lý và điều kiện tự nhiên nên ngành vận tải biển được xác định là một trong
những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Tác giả công trình đã khái quát
những thành tựu mà ngành hàng hải Việt Nam nói chung và công tác đào tạo huấn luyện nhân lực hàng hải nói riêng đã đạt được trong thời gian qua. Đồng
thời chỉ ra những hạn chế trong việc phát triển nguồn nhân lực hàng hải như số
lượng nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu rất nhiều so với nhu cầu của
khu vực và thế giới, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao và cơ cấu chưa hợp
lý. Trên cơ sở đó, đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực đào tạo - huấn


22
luyện ngành hàng hải từ việc rà soát, xây dựng hệ thống các cơ sở đào tạo huấn luyện đến xây dựng, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, huấn luyện
hàng hải. Đặc biệt các giải pháp được đưa ra trên cơ sở phân tích, tổng kết kinh
nghiệm của một số nước có ngành hàng hải phát triển cao như Nhật Bản, Hàn
Quốc, Trung Quốc, Philippines, Indonesia về nâng cao năng lực đào tạo hàng
hải; những kinh nghiệm mà Việt Nam có thể rút ra được từ kinh nghiệm của
các nước. Công trình nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành khoa học hàng hải
là nguồn tài liệu tham khảo vô cùng hữu ích cho nghiên cứu sinh trong việc
nghiên cứu thực tiễn đào tạo nguồn nhân lực hàng hải.
Tác giả Lê Thị Việt Nga (2013) với công trình “Phát triển dịch vụ vận
tải biển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” [70].
Công trình nghiên cứu tiếp cận vấn đề dưới góc độ kinh tế đã phân tích những
vấn đề lý luận về dịch vụ vận tải biển, làm rõ khái niệm và nội hàm khái niệm
dịch vụ vận tải biển; phân tích những vấn đề lý luận về hội nhập kinh tế quốc
tế và những yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra cho việc phát triển
dịch vụ vận tải biển của Việt Nam. Đồng thời, tác giả đã phân tích và khái
quát những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển dịch vụ vận tải biển Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đặc biệt nhấn mạnh điều kiện về nguồn nhân

lực. Nguồn nhân lực được đánh giá là tài sản quý báu của các doanh nghiệp,
là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, để phát
triển dịch vụ vận tải biển, không thể không quan tâm đến phát triển nguồn
nhân lực, bao gồm đội ngũ sĩ quan, thuyền viên, nhân viên, kỹ thuật viên, nhà
quản lý làm việc tại các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vận tải biển, nhằm
đảm bảo các dịch vụ được cung cấp có chất lượng, uy tín, đáp ứng yêu cầu
thực tế. Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ vận tải
biển của Việt Nam trong thời gian qua; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải
pháp phát triển dịch vụ vận tải biển của Việt Nam trong thời gian tới; trong đó


23
phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực dịch vụ vận tải biển đủ về số lượng
và tốt về chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế là một trong những giải pháp cơ bản.
Tác giả Mai Khắc Thành (2013) trong công trình“Các giải pháp
phát triển đội ngũ quản lý trong doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam” [92]
đã cho thấy hướng nghiên cứu mới là tập trung làm rõ những vấn đề lý luận
và thực tiễn phát triển đội ngũ quản lý trong doanh nghiệp vận tải. Đội ngũ
này tuy số lượng không nhiều nhưng lại có vai trò quan trọng đối với danh
nghiệp vận tải nói riêng và ngành hàng hải nói chung. Trong công trình
khoa học này, tác giả đã hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận về phát triển
đội ngũ quản lý cho các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp vận
tải biển Việt Nam nói riêng. Tác giả nhấn mạnh vai trò quan trọng của đội
ngũ quản lý; để chủ động về đội ngũ quản lý, các doanh nghiệp vận tải biển
Việt Nam nhất thiết phải xây dựng một quy trình đào tạo phát triển dài hạn
cho đội ngũ này. Tác giả đã khảo sát, nghiên cứu, đánh giá thực trạng công
tác đào tạo, phát triển đội ngũ quản lý trong các doanh nghiệp vận tải biển,
qua đó chỉ ra những mặt được và chưa được làm cơ sở đề xuất các giải
pháp phát triển đội ngũ quản lý trong doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam.

Tác giả Nguyễn Đức Ca (2011) trong công trình “Quản lý chất
lượng đào tạo theo ISO 9001:2000 trong trường Đại học Hàng hải Việt
Nam” [11]; đã thể hiện sự quan tâm nghiên cứu đối với vấn đề chất lượng
đào tạo và quản lý chất lượng đào tạo tại Đại học Hàng hải Việt Nam, trung
tâm hàng đầu cung cấp nguồn nhân lực cho ngành hàng hải nước nhà. Tiếp
cận vấn đề dưới góc độ chuyên ngành Quản lý giáo dục, tác giả đã hệ thống
hóa cơ sở lý luận về quản lý chất lượng và xây dựng cơ sở lý luận về quản lý
chất lượng đào tạo theo ISO 9001:2000 trong Trường Đại học Hàng hải Việt
Nam. Tác giả điều tra, khảo sát và đưa ra những đánh giá tương đối toàn diện


24
về thực trạng đào tạo và quản lý chất lượng đào tạo theo ISO 9001:2000 ở
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam. Từ đó xây dựng quy trình quản lý chất
lượng đào tạo theo ISO 9001:2000 bao gồm 5 bước chính: 1) Xây dựng hệ
thống chất lượng dưới dạng văn bản hoá; 2) Giới thiệu hệ thống chất lượng và
đào tạo đội ngũ; 3) Vận hành hệ thống chất lượng; 4) Đánh giá hệ thống chất
lượng; và 5) Giám sát hệ thống chất lượng. Công trình nghiên cứu đã đề xuất
được chín giải pháp triển khai quản lý chất lượng đào tạo theo ISO 9001:2000
ở Trường Đại học Hàng hải phù hợp với thực tiễn Việt Nam, xu thế khu vực
hoá, toàn cầu hoá trong đào tạo và cung ứng nhân lực ngành hàng hải.
Tác giả Nguyễn Cảnh Sơn (2008) với bài báo: “Phát triển nguồn nhân
lực và nâng cao năng lực quản lý đội ngũ thuyền viên xuất khẩu tại Việt Nam”
[110] tiếp cận vấn đề dưới góc độ khoa học hàng hải đã nghiên cứu và khẳng
định: Hoạt động cung ứng thuyền viên không chỉ đem lại lợi ích kinh tế thiết
thực cho đất nước mà còn giải quyết việc làm cho người lao động, tạo ra sự
ổn định và phát triển của xã hội, góp phần quan trọng trong việc tạo ra một
đội ngũ cán bộ kỹ thuật, đội ngũ lao động có ý thức kỷ luật, tác phong công
nghiệp, có trình độ chuyên môn tay nghề cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế tham gia
vào sự nghiệp phát triển và công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập

quốc tế, là nhịp cầu kết nối phát triển quan hệ hữu nghị thương mại và văn
hoá tế giữa các quốc gia trên thế giới; đồng thời là đòn bẩy quan trọng thúc
đẩy phát triển kinh tế mang lại nhiều ngoại tệ về cho đất nước, nhất là đối với
các nước đang phát triển hoặc kém phát triển. Như vậy, với cách tiếp cận của
tác giả thì đội ngũ thuyền viên xuất khẩu cũng là một bộ phận trong cơ cấu
nguồn nhân lực chất lượng cao ngành hàng hải. Đây là một định hướng đối với

nghiên cứu sinh khi khảo sát thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ngành
hàng hải Việt Nam. Bài báo đã phân tích đánh giá, so sánh thực trạng về tình
hình đào tạo, huấn luyện thuyền viên ở Việt Nam và các nước khác trên thế


25
giới, trên cơ sở thực trạng của ngành hàng hải Việt Nam và các qui định của
chính phủ Việt Nam, các Công ước quốc tế có liên quan; với phương pháp
biện chứng, tư duy và suy luận logic, từ đó đã trình bày những vấn đề cần
quan tâm để phát triển nguồn nhân lực hàng hải, trong đó có lực lượng thuyền
viên xuất khẩu và nêu các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý của các
đơn vị quản lý thuyền viên xuất khẩu nhằm đáp ứng kịp sự phát triển của đất
nước và hội nhập quốc tế.
Tác giả Mai Văn Khang (2007) trong bài báo“Chiến lược đào tạo
thuyền viên cho ngành hàng hải Việt Nam” [45] đã tiếp cận vấn đề dưới góc độ
khoa học hàng hải, nghiên cứu làm rõ những vấn đề bức thiết đặt ra về nguồn
nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao ngành hàng hải vừa yếu về
chất lượng vừa thiếu về số lượng; qua đó đề xuất các định hướng và giải pháp
để đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đó là: phải có chiến lược
đào tạo lâu dài, có quy hoạch tổng thể nguồn nhân lực, có chính sách hợp lý,
đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, sử
dụng nguồn nhân lực hợp lý, quản lý và khai thác đúng về nguồn nhân lực.
Tác giả Lê Đức Toàn (2008) với bài báo“Đào tạo nguồn nhân lực cho

ngành Đi biển ở Việt Nam”[100] đã phân tích và chỉ rõ những yếu kém và bất
cập về nguồn nhân lực của ngành hàng hải Việt Nam; theo tác giả số và chất
lượng của đội ngũ thuyền viên ngành hàng hải Việt Nam hiện nay đang đặt ra
nhiều vấn đề cần phải tập trung giải quyết nếu chúng ta không muốn lạc hậu
và tụt hậu quá xa so với khu vực; theo đó, bài viết đã đề ra nhiều biện pháp để
thúc đẩy sự phát triển của ngành hàng hải, trong đó chủ yếu là các giải pháp
về đào tạo nguồn nhân lực, bao gồm cả đào tạo ở trường, đào tạo thông qua
thực tiễn thực hành và tác nghiệp hàng ngày, tự đào tạo và bồi dưỡng của đội
ngũ sĩ quan, thuyền viên.


26
Tác giả Nguyễn Viết Thành (2008) trong bài báo“Nâng cao chất lượng
đào tạo kỹ sư điều khiển tàu biển” [91], đã khái quát bức tranh tổng thể về
đào tạo kỹ sư điều khiển tàu biển tại khoa Hàng hải, Trường Đại học Hàng hải
Việt Nam. Đánh giá những mặt được và chưa được, đặc biệt làm rõ những
mặt còn hạn chế trong nội dung chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên và
cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ đào tạo; từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị
quan trọng nâng cao chất lượng đào tạo kỹ sư điều khiển tàu biển nói riêng và
đào tạo nguồn nhân lực hàng hải nói chung.
Tác giả Trần Công Sáng (2014) với công trình “Hướng đi mới về đào
tạo thuyền viên Việt Nam”[80], đã phân tích thực trạng thuyền viên Việt Nam
hiện nay và đưa ra hướng đi mới trong công tác đào tạo thuyền viên đáp ứng
thực tiễn ngành hàng hải Việt Nam và xu hướng hội nhập thế giới. Hướng đi
mới trong đào tạo mà tác giả nghiên cứu từ góc độ khoa học hàng hải đó là áp
dụng chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng hải quốc tế. Dựa
trên tiêu chuẩn đó, các cơ sở đào tạo cần đa dạng hóa các loại hình đào tạo,
thay đổi chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu của nhà tuyển dụng, hay
chính là đào tạo theo “đơn đặt hàng” của nhà tuyển dụng. Giải pháp cho vấn
đề này chính là chương trình đào tạo sỹ quan hàng hải theo chuẩn quốc tế

(không phải qua chương trình đại học, cao đẳng như hiện nay). Chương trình
này đã được Bộ Giao thông vận tải và Cục Hàng hải cho phép thí điểm tại Đại
học Hàng hải Việt Nam từ năm 2014. Đây là những tư liệu tham khảo hữu ích
cho đề tài luận án trong quá trình nghiên cứu về đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao ngành hàng hải, cung cấp căn cứ thực tiễn để nghiên cứu sinh xây

dựng hệ thống giải pháp đào tạo nguồn nhân lực thực sự chất lượng, có số
lượng và cơ cấu hợp lý.
Tác giả Lê Quốc Tiến, Bùi Văn Minh (2016) với bài báo “Thực trạng
ngành hàng hải và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước chuyên


×