Lớp Báo In K35A1
Đề bài: Khái quát các hệ tư tưởng Triết học Trung Hoa và ảnh
hưởng của nó đến Việt Nam.
I. Hoàn cảnh lịch sử:
- Một nền văn minh lâu đời với 4000 năm phát triển, là cái nôi của văn
minh nhân loại.
- Lịch sử phát triển được chia thành hai thời kì lớn:
+ Thời kỳ từ thế kỷ IX TCN trở về trước
+ Thời kỳ từ thế kỉ VII TCN – III TCN.> Thời Xuân Thu – Chiến Quốc,
Chuyển tiếp từ chiếmhữu nô lệ thành quốc gia phong kiến .> Xã hội đảo
lộn , chiến tranh tranh giành quyền lực liên miên.
II.Hệ tư tưởng
1. Nho giáo
1.1.Khái quát về Nho giáo
1.1.1.Người sáng lập:
- Nho gia xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI TCN dưới thời
XuânThu, người sáng lập là KhổngTử (551 - 479 TCN). Đến thời
Chiến Quốc, Nho gia đã được Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện
- Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni, sinh vào thời
Xuân Thu thuộc nước Lỗ. Ông là người sáng lập Nho gia,những
tư tưởng triết lý của ông có ảnh hưởng rộng lớn đối với đời sống
và tư tưởng của các nền văn hóa Á Đông .Tư tưởng về luân lý, đạo
đức,chính trị - xã hội là một trong những vấn đề cốt lõi trong học
thuyết Khổng Tử .
- Tư Tưởng Khổng Tử bao gồm Triết Học,Đạo Đức ,Chính Trị,
Giáo Dục
a,Triết học
- Khổng Tử đề cao mối quan hệ gia đình, thờ cúng tổ tiên, trẻ kính
trọng già, vợ tôn trọng chồng, và gia đình là căn bản cho một
chính phủ lý tưởng.
- Triết học của ông có hai chủ thuyết là nhân sinh quan và vũ trụ
quan.
+ Nhân sinh quan có hai mặt là cơ xuất thế và cơ nhập thế.
-> Cơ nhập thế là nói về mười lăm đức, con người phải cóđạo đức,
nếu không có đức con người có khác gì cầm thú.
-> Cơ xuất thế là tánh mạng song,con người có tánh, tức là cótâm
hồn là thần trí của ta nó là thể vô hình. Còn mạng ta, tức là hình
thể xác thân là khí huyết.
+ Vũ trụ quan: Được thể hiện trong 8 quẻ của bát quái.
b.Đạo đức.
- Lý thuyết đạo đức của Khổng tử dựa trên ba quan niệm chính:
hiến tế cho thần thánh, thiết chế chính trị và xã hội, và hành vi
hàng ngày.
- Lễ được xem là quy phạm đạo đức và hành vi mà Thiên
thượng(Trời) chế định cho con người, lấy đó mà biết việc nào nên
làm,việc nào không nên làm.
- Triết lý Ngũ thường.
- Khổng tử chia con người thành 3 loại:
+ Thánh nhân
+ Quân tử
+ Tiểu nhân
c.Chính trị
- Tư tưởng chính trị Khổng Tử dựa trên tưtưởng đạo đức của ông.
- Triết lý về chính trị của ông có những yếutố hạn chế sự lạm
quyển của những nhà cai trị.
- Ông nhấn mạnh sự cần thiết phải có sự tôntrọng của người dưới
với người trên, tuy nhiên người dưới có quyền góp ý nếu trên làm
sai.
- Ông chủ trương về một đất nước đại đồng.
d. Giáo dục
- Khổng Tử là người đề cao sự học.
- Đề cao “ Lễ, Nhạc “.
- Chú trọng tu dưỡng đạo đức trước tiên “ tu thân, tề gia, trịquốc ,
bình thiên hạ “
- Phương pháp giáo dục “ gián tiếp “, giáo lý thâm sâu khóhiểu.
- Trong giáo dục ông đề cao vai trò của cả thầy và trò.
- Ông có nhiều phương pháp giáo dục độc đáo, hiệu quả :
+ Một là đối thoại cởi mở
+ Hai là học đi đôi với hành, lời nói đi đôi với việc làm.
+ Ba là “ ôn cũ biết mới “ thường xuyên tu dưỡng rèn luyện.
- Những triết lý giáo dục của Khổng tử có giá trị mãi về sau.
*Mạnh tử( 372 – 289 TCN ).Mạnh Tử, tên là Mạnh Kha, tự là
TửDư, sinh vào đời vua LiệtVương, nhà Chu, quê gốc ở đấtTrâu,
thuộc nước Lỗ- Mồ côi cha từ nhỏ, chịu sự nuôi dạy nghiêm túc
của mẹ là Chương thị .- Là đại biểu xuất sắc của Nho giáo thời
chiến quốc, sách Mạnh tử củaông là quyển quan trọng của nho
giáo.
Tư tưởng Mạnh Tử: Mạnh tử tiếp nhận và phát triển tư tưởng
Khổng tử nhưng có nhiều thay đổi .
- Mạnh Tử cho rằng bản chất con người là tính Thiện.
- Học thuyết của ông gói gọn trong bốn chữ “ Nghĩa “ “ Trí “ “Lễ”
“ Tín”.
- Mạnh Tử chỉ ra rằng để trở thành một con người có lý
niệm,người đó cần phải giữ được 4 tiêu chuẩn, “lòng trắc ẩn,
thuộc về lòng nhân từ; sự hổ thẹn, thuộc về nghĩa khí; tâm
khiêmnhường, thuộc về lễ nghi; tâm thị phi, thuộc về trí tuệ
- Về giáo dục ông chủ trương mở rộng giáo dục đến nông thôn,ai
cũng được giáo dục .
*Đổng Trọng Thư- Đổng Trọng Thư (179 TCN - 117TCN) là nhà
triết học duy tâm thời Tây Hán, một đại diện tiêu biểu của Nho
học.
- Ông kế thừa tư tưởng Nho giáo Khổng, Mạnh nhưng đã thay đổi
ít nhiều, thứ nho gia của ông được coi là Hán nho.
- Ông đã chủ trương độc tôn Nho giáovào thời nhà Hán.
Tư tưởngTriết họ , Chính trị- “Trời trao chính quyền”- “Trời và
người có thể thông quan, hiểu biết lẫn nhau”.
- Ông xây dựng xây dựng một hệ thống các phạm trù “tam
cương”, “ngũ luân”, “ngũ thường” .
Về bản tính con ngườiChia con người thành ba loại: loại thứ nhất tình dục rất ít,không
cần dạy dỗ cũng thành người tốt đó là “tính thánhnhân”; loại thứ
hai tình dục quá nhiều có dạy dỗ cũng khó màđược người tốt gọi
là “tính nhỏ mọn”; loại thứ ba là loại tuy cótình dục nhưng thể là
tốt hoặc xấu gọi đó là “bậc trung”
- Kinh điển chủ yếu của Nho giagồm Tứ Thư (Luận ngữ, Đại học,
Trung Dung, Mạnh Tử) vàNgũ Kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch và Xuân
Thu).
1.1.2 Kinh sách
- Tứ thư: gồm
•
Đại học: Dạy phép làm người quân tử. Xưa, người đến tuổi 15 thì
vào học bậc đại học và được học sách này.
Hai chữ "đại học" được nhà nho giải thích là "đại nhân chi học",
hiểu theo 2 nghĩa, là cái học của bậc đại nhân, và là cái học để trở
•
thành bậc đại nhân
Trung dung: Bàn về quan niệm sống dung hòa.
Đạo "trung dung", tức là nói về cách giữ cho ý nghĩ và việc làm
luôn luôn ở mức trung hòa, không thái quá, không bất cập và phải
cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cho thành người quân
•
tử, để cuối cùng thành thánh nhân
Luận Ngữ: Tập hợp những lời dạy của Khổng Tử và những lời nói
•
của người đương thời.
Sách Mạnh Tử: Bảo vệ và phát triển tư tưởng của Khổng Tử, do
Mạnh Tử soạn thảo.
- Ngũ Kinh gồm:
•
•
Kinh thi: Sưu tập các thơ ca dân gian
Kinh Thư : ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có
trước Khổng Tử => để các ông vua đời sau nên theo gương các
•
minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ.
Kinh Lễ: ghi chép các lễ nghi thời trước. Khổng Tử hiệu đính lại
•
mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự.
Kinh Dịch: nói về các tư tưởng triết học của người Trung Hoa cổ
•
đại dựa trên các khái niệm âm dương, bát quái.
Kinh Xuân Thu: ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của
Khổng Tử. Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo
đuổi mục đích trị nước nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các
lời bình, sáng tác thêm lời thoại để giáo dục các bậc vua chúa.
3 Nội dung cơ bản của Nho Giáo ( Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên
hạ)
a. Tu thân
Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức… để
làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội.
Tam cương và ngũ thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo.
Tam cương là ba mối quan hệ: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha
con), phu phụ (vợ chồng).
Ngũ thường là năm điều phải hằng có trong khi ở đời, gồm: nhân,
nghĩa, lễ, trí, tín
Tam tòng và Tứ đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo:
Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: “tại gia tòng
phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”
Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có, là: công – dung –
ngôn – hạnh.
Người quân tử phải đạt ba điều trên trong quá trình tu thân
b. Hành đạo
Sau khi tu thân, người quân tử phải hành đạo, tức là phải làm quan, làm
chính trị
Hai phương châm hành đạo:
•
Nhân trị: Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là
•
yêu người và coi người như bản thân mình
Chính danh: Chính danh là mỗi sự vật phải được gọi đúng tên của
nó, mỗi người phải làm đúng chức phận của mình
Đó chính là những điều quan trọng nhất trong các kinh sách của
Nho giáo, chúng được tóm gọi lại trong chín chữ: tu thân, tề gia,
trị quốc, bình thiên hạ. Và đến lượt mình, chín chữ đó chỉ nhằm
phục vụ mục đích cai trị mà thôi.
1.2. Ảnh hưởng của Nho giáo đến văn hóa Việt Nam
1.2.1 Sự hình thành và phát triển.
- Thời Bắc thuộc: Nho giáo không được tiếp nhận, vì Phật giáo đã được
coi là Quốc giáo.
- Thời Lý- Trần, Nho giáo đóng vai trò nền tảng trong việc tổ chức triều
đình, giáo dục, pháp luật,…Từ triều Lý đã thấy nhà vua lập Văn Miếu
thờ Khổng Tử và tiền hiền ở Thăng Long.
- Thời Hậu Lê (thế kỷ XV), sau khi tầng lớp nho sĩ dân tộc đã lập công
lớn trong cuộc kháng chiến dài 20 năm đánh đuổi quân Minh xâm lược,
Nho giáo cực thịnh và trở thành Quốc giáo.
- Thời Nguyễn: Nho giáo ngày càng phát triển sâu rộng
- 1918 kết thúc nền Hán học
1.2.2 Đặc điểm của Nho giáo Việt Nam
Tiếp thu học thuyết, tư tưởng của Nho giáo để tổ chức và quản lý đất
nước, tạo nên một nhà nước phong kiến độc lập tự chủ, thể hiện ở:
-
Cách tổ chức Triều đình:
Hệ thống pháp luật, giáo dục
1.2.3 Ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của nho giáo tới Việt Nam
a. Tích cực
- Kinh tế: Làm cho sản xuất nông nghiệp và trao đổi hàng hoá được đẩy
mạnh hơn trước.
Quá trình đi lên của Nho giáo Việt Nam không tách rời yêu cầu
phát triển nền kinh tế tiểu nông gia trưởng dựa trên quyền sở hữu
của giai cấp địa chủ của nhà nước và của một bộ phận nông dân
trực tiếp tự canh về ruộng đất. Vì thế cho nên khi chiếm được vị trí
chủ đạo trên vòm trời tư tưởng của chế độ phong kiến, Nho giáo
càng có điều kiện xúc tiến sự phát triển này
- Văn hóa: đem lại một bước tiến khá căn bản trong lĩnh vực văn hoá
tinh thần của xã hội phong kiến nước ta từ thế kỷ XV
Làm cho nền giáo dục phát triển hết sức mạnh mẽ nhất là dưới
triều Lê Thánh Tông (chế độ thi cử đã đào tạo ra một đội ngũ tri
thức đông đảo chưa từng thâý trong lịch sử chế độ phong kiến Việt
Nam, do đó khoa học và văn học nghệ thuật phát triển).
Góp phần thúc đẩy lịch sử tư tưởng nước ta tiến lên một bước mới.
Nó cổ vũ và khuyến khích mọi người đi sâu vào tìm hiểu những
quan hệ xã hội, những vấn đề của thực tiễn chính trị, pháp luật và
đạo đức. Do đó, nhận thức lý luận của dân tộc ta về các vấn đề ấy
cũng được nâng cao hơn. Dựa vào lịch sử của Nho giáo, nhà vua
và các nho sĩ giải thích các vấn đề ấy có lập luận và có lý lẽ đầy đủ
hơn.
b, Tác động tiêu cực
- Nho giáo ở Việt Nam khi chiếm ở vị trí độc tôn thì đã làm cho chủ
nghĩa giáo điều và bệnh khuôn sáo phát triển mạnh trong lĩnh vực tư
tưởng và trong địa hạt giáo dục khoa học.
Bệnh giáo điều và khuôn sáo này đã ăn sâu vào trong lĩnh vực
khoa học và nghệ thuật nhất là trong văn học và sử học khiến cho
sự sáng tạo trong các lĩnh vực này bị dập vào những cái khuôn sẵn
có. Đó là một tật bệnh đã được rèn đúc ngay từ khi người nho sĩ
phải mài dũa văn chương để tiến vào con đường cử nghiệp.
- Nho giáo còn khuyến khích mọi người nhất là các phần tử tri thức đi
sâu vào cải tạo “tu tề trị bình” vào việc học hành, thi đỗ, dương danh
thiên hạ.
Làm cho những người gia nhập tầng lớp Nho sĩ này xa rời sinh hoạt
kinh tế và lĩnh vực sản xuất xã hội, nó chỉ biết đề cao đạo tư thân và
đạo tự nước chứ không hề đếm xỉa đến các tri thức vè khoa học tự
nhiên cũng như về các ngành sản xuất và lưu thông.
- Nó chỉ chú trọng đến những quan hệ chính trị và đạo đức thực tế.
Khi xã hội phong kiến rối loạn, vấn đề số phận và yêu cầu giải
phóng con người được đặt ra thì Nho giáo trở thành bất lực. Nó
không giải đáp được vấn đề ấy vì nó đã sớm bỏ con đường phát
triển tư duy trừu tượng.
- Nho giáo chiếm vị trí độc tôn thì lễ chế của nó đặc biệt phát triển mạnh
Nó bắt đầu đè nặng lên con người và bóp nghẹt nếp sống giản dị,
những quan hệ xã hội trong sáng, những tình cảm tự nhiên và chân
thực của suy sụp cùng với xã hội phong kiến thì nó trở nên phản
động, cổ hủ và lạc hậu.
Vận dụng học thuyết tư tưởng Nho giáo vào Việt Nam cần xem
xét trên các mối quan hệ: nhi giáo- kinh tế, nho giáo- xã hội.
2. Đạo giáo
2.1, Khái quát về Đạo giáo
2.1.1Người sáng lập
Lão Tử (thế kỷ VI- V TCN)
Trang Tử (khoảng 369- 286 TCN)
2.1.2Kinh sách
Đạo đức kinh (Lão Tử soạn thảo khoảng năm 600 TCN):
•
Nói về cơ tạo hóa, định vị trời đất, hóa sinh vạn vật, và những
phương pháp huyền bí dạy về tu luyện để đắc thành bậc Thiên
•
Tiên.
Nhiều người cho rằng giáo huấn của Lão Tử thật kỳ lạ, vì ông
khuyên người ta rèn luyện trí tuệ đạt tới mức tưởng như ngu độn,
đời sống không nên tranh giành, xử thế nên đơn giản, tính tình nên
giản phác
Nam Hoa kinh (do Trang Châu viết thời chiến quốc):
•
Thể tính của Đạo được miêu hoạ qua những ngụ ngôn, những mẩu
chuyện hàm dung những cuộc đàm thoại triết học
2.1.3. Nội dung cơ bản của Đạo giáo
a, Lão Tử
•
Đạo hư vô: là tự nhiên, là nguồn gốc của vạn vật
Đức hữu hình: là biểu hiện cụ thể của đạo, vạn vật tồn tại theo lẽ tự
nhiên, một cách hợp lý, công bằng, chu đáo, do vậy mà màu
•
nhiệm.
Lý vô vi: thuận theo tự nhiên, không làm gì thái quá;
Với con người: không cầu danh lợi, ung dung tự tại
Với xã hội: không tán thành lối cai trị,cưỡng bức, áp đặt
b, Trang Tử:
- Xóa bỏ danh giới giữa các sự vật hiện tượng, giữa con người với thiên
nhiên, giữa tồn tại và hư vô
- Căm ghét kẻ thống trị
- Chủ trương xuất thế, thoát tục, trở về xã hội nguyên thủy
C, Trương Đạo Lăng ( thế kỷ 2):
- Đạo giáo phù thủy: dung pháp thuật trừ tà, trị bệnh cho dân
- Đạo giáo thần tiên: Dạy tu luyện, luyện đan, cầu trường sinh bất tử
2..1.4 Quá trình hình thành và du nhập đạo giáo vào Việt Nam.
Đạo giáo du nhập vào Việt Nam từ khoảng cuối thé kỷ thứ 2 và chia
thành hai phái: Đạo giáo Phù thủy và Đạo giáo Thần
Đạo giáo Phù Thủy: Đạo giáo thần tiên mau chóng hòa nhập với tín
ngưỡng ma thuật cổ truyền ( đồng cốt, cầu tiên, cầu cơ)
-
Đạo Phù thủy nhờ sự tưong đồng với các ma thuật phù phép địa
phương, nên đã bắt đầu phát triển rộng rãi từ đời Tiền Lê. Thời xa
xưa, ngưòi Việt ta thường dùng bùa chú, họ tin rằng có thể trị tà
-
ma, chữa bệnh, sai âm binh, tàng hình,…
Bên cạnh Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đạo Giáo Phù Thủy Việt Nam
còn thờ nhiều vị thần khác của dân Việt, như Đức Thánh Trần
•
-
(Trần Hưng Đạo).
Đạo giáo Thần tiên
Đạo giáo Thần tiên tại Việt Nam chia thành hai phái: phái nội tu và
phái ngoại dưỡng (tin rằng con người có thể thành tiên, sống lâu
-
bất tử nhờ uống thuốc trường sinh).
Tầng lớp tri thức tiếp chủ trương xuất thế, lối sống ẩn dật
=> Đạo giáo được nhân dân sử dụng làm vũ khí để chống giai cấp
thống trị,
2.Pháp Gia
a- Chủ trương dùng pháp luật để trị nước , xuất hiện từ thời xuân thu
,người đầu tiên là Quản Trọng .
- "Pháp gia" ở đây có thể mang ý nghĩa"triết lý chính trị tán thành sự cai
trịcủa pháp luật “ .
- Chủ trương này có phần tương đồngvới chính sách pháp luật phương
Tây.
- Người phát triển Pháp gia hoàn thiệnnhất là Hàn phi tử
Hàn Phi Tử ( 281 - 233 TCN ). Hàn Phi Tử sinh ra cuối thời chiến
quốc .Là học trò của Tuân Tử( nho gia ). Ông là người có ảnh hưởng lớn
nhất của phải Pháp gia .- Tần Thủy Hoàng dùng tư tưởng của ông để
thống nhất Trung Quốc và chấm dứt thời Chiến quốc . Hàn Phi Tử cũng
là tên tác phảm kinhđiển của ông có giá trị cho đến tận bây giờ .
b.Tư tưởng Hàn Phi.
Tư tưởng của ông đối lập với Nho gia . Ông triệt để theo Tuân tử về bản
tính bản ác của con người.Theo ông trị nước chỉ cần pháp luật nghiêm
minh rõ ràng , dễ hiểu với mọi người không cần lễ nghĩa . Thông qua 3
điều
.+ Pháp : đó là phải định ra được pháp luật nghiêm minh , rõ ràng, dễ
hiểu , công bằng với mọi người không phân biệt đẳng cấp
+ Thế : Muốn thực thi pháp luật thì các bậc quân vương phải nắmvững
quyền thế , không chia xẻ cho kẻ khác .
+ Thuật : Đó là thuật dùng người , thuật có 3 mặt : bổ nhiệm ,khảo trạch
và thưởng phạt
.- Những tư tưởng của ông có nhiều hạn chế nhưng có nhiều giá trịcho
giai cấp cầm quyền
4.Mặc gia:
Người sáng lập và hệ tư tưởng:
-Mặc tử ( 478 – 392 TCN )
- Mặc tử tên thật là Mặc Định người nước Lỗ thời Chiến quốc .
- Học thuyết Mặc tử nêu lên 10 chủ trương lớn : Thượng Hiền,
ThượngĐồng, Tiết dụng, Tiết táng, Phi lạc, Phimệnh, Thiên chí, Minh
quỹ, Kiêm ái, Phi công
.- Tư tưởng phổ quát của ông là “ Kiêm Ái Phi Công “
- Mặc Tử chủ trương sống theo đức Trời, bởi chỉ có Trời mới "Kiêm nhi
ái chi, kiêm nhi lợi chi". (Trời thương tất cả làm lợi cho tất cả mọi
người)
C. Kết luận:
.- Việt Nam là đất nước chịu nhiều sự ảnh hưởng của tư tưởng triết học
Trung quốc trong nhiều lĩnh vực đời sống , chính trị xã hộivà có nhiều
nét tương đồng .
- Nghiên cứu những tư tưởng triết học Trung quốc cổ là điều đáng nên
làm của bất kì ai muốn am hiểu về triết học phương Đông nói chung về
đạo làm người , thuật dùng người nói riêng.