Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

Phân tích các hoạt động marketing của các công ty PG unilever trên thị trường

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (182.09 KB, 20 trang )

Quản trị Marketing
Phân tích các hoạt động marketing của các công ty PG Unilever trên thị
trường
Đề bài:
Lựa chọn một Doanh nghiệp, phân tích chiến lược marketing của 2 đối
thủ cạnh tranh (mạnh nhất trong ngành hoặc cạnh tranh trực tiếp với Doanh
nghiệp).
- Giới thiệu về Doanh nghiệp.
- Phân tích chiến lược marketing của 2 đối thủ cạnh tranh (mạnh nhất trong
ngành hoặc cạnh tranh trực tiếp với Doanh nghiệp), có so sánh với chiến lược
marketing của Doanh nghiệp lựa chọn.
Bài làm
Marketing là một quá trình xã hội trong đó các cá nhân và tổ chức có được
cái họ cần, muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và tự trao đổi các sản phẩm và
dịch vụ có giá trị với những người khác. Một doanh nghiệp có thể Marketing hàng
hoá, dịch vụ, thông tin, ý tưởng, con người .... và tìm kiếm cho mình những thị
trường mục tiêu phù hợp, đạt hiệu quả nhất để đáp ứng được các nhu cầu của
khách hàng, thoả mãn nhu cầu của khách hàng và hiệu quả hơn đối thủ cạnh tranh,
bởi thị trường mục tiêu được các nhà Marketing tập trung các lỗ lực vào đó.
Quản trị Marketing là nghệ thuật và khoa học của việc lựa chọn thị trường
mục tiêu và nắm bắt, lưu giữ và phát triển khách hàng thông qua việc tạo ra, cung
cấp và truyền thông những giá trị vượt trội cho khách hàng. Doanh nghiệp thực
hiện quản trị Marketing theo chu kỳ sống của sản phẩm để nhận diện sản phẩm
đang ở giai đoạn nào nhằm đưa ra các chiến lược Markrting cho phù hợp.
Sau khi dự án sản phẩm mới được thông qua, doanh nghiệp cần soạn chiến
lược marketing cho sản phẩm mới. Marketing có vị trí quan trọng trong sự thành
công của phát triển sản phẩm mới. Chiến lược marketing sản phẩm mới của doanh
nghiệp được cấu thành từ các bộ phận trọng yếu sau đây:
- Miêu tả thị trường mục tiêu, dự kiến định vị sản phẩm, lượng bán, thị phần
và lợi nhuận trong những năm đầu bán sản phẩm.



- Quan điểm chung vầ phân phối hàng hoá và dự báo chi phí marketing cho
năm đầu.
- Những mục tiêu tương lai về tiêu thụ, doanh số, lợi nhuận, an toàn, xã hội
và nhân văn.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng bế tắc, phá sản của một số
doanh nghiệp Việt Nam là do thiếu hiểu biết về thị trường, chưa nắm bắt được đầy
đủ nhu cầu tình hình biến động của thị trường nên sản xuất, kinh doanh những sản
phẩm chưa gắn liền với thị trường, chưa có chiến lược và phương án sản xuất,
kinh doanh tối ưu, phù hợp. Ngoài ra các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa có và
chưa làm được việc phân tích thị trường, đánh giá thị trường, nghiên cứu thị
trường xem thị trường đang cần cái gì, sở thích thói quen tiêu dùng của người dân
là thế nào.... Từ đó dẫn đến các hoạt động Marketing và các chiến lược Marketing
thúc đẩy bán hàng của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn yếu kém và rất non
nớt.
Đứng trước môi trường cạnh tranh gay gắt như vậy, các Công ty phải xem
Marketing là một triết lý cho toàn Công ty chứ không chỉ là chức năng riêng biệt.
Tất cả các nhân viên của họ đều hướng theo khách hàng và đáp ứng tốt nhu cầu
của khách hàng. Tuy vậy muốn thu hút được khách hàng thì cần phải có chiến lược
dịch vụ nhằm tạo ra sự khác biệt hơn hẳn so với đối thủ cạnh tranh, đồng thời phải
luôn theo dõi từng cử động của đối thủ cạnh tranh để có những phản ứng kịp thời.
Các Công ty này không thể làm ngơ trước một chiến dịch quảng cáo, một chương
trình khuyến mại hay một sản phẩm mới cải tiến được tung ra thị trường của đối
thủ cạnh tranh; phải luôn có chiến lược, chiến thuật cần thiết và hơn hẳn nhằm
giành thế chủ động. Vì vậy, các Công ty cần định rõ những điểm mạnh, điểm yếu
của mình nhằm xác định vị thế cạnh tranh, sẵn sàng tìm ra những, những kẽ hở của
đối thủ cạnh tranh để tấn công. Đó chính là các công việc để lập kế hoạch chiến
lược cạnh tranh trên thị trường của các Công ty. Với cơ chế thị trường, các doanh
nghiệp nước ngoài có những bước đi chiến lược kinh doanh rất đúng và khoa học.
Đặc biệt là về chiến lược Marketing quảng cáo thúc đẩy, bán sản phẩm tới tay

người tiêu dùng.


Sau đây là sự lựa chọn về Công ty Unilever Việt Nam, Công ty Procter &
Gamble (P&G) để phân tích theo yêu cầu của đề bài đưa ra.
I. Giới thiệu về công ty Unilever Việt Nam:
Unilever là một tập đoàn toàn cầu của Anh và Hà lan nổi tiếng thế giới trên
lĩnh vực sản xuất và các sản phẩm tiêu dùng nhanh bao gồm các sản phẩm chăm
sóc vệ sinh cá nhân và gia đình, thức ăn, trà và đồ uống từ trà. Các nhãn hiệu tiêu
biểu của Unilever được tiêu dùng và chấp nhận rộng rãi trên toàn cầu như Lipton,
Knorr, Cornetto, Omo, Lux, Vim, Lifebouy, Dove, Close-Up, Sunsilk, Clear,
Pond’s, Hazeline, Vaseline, … với doanh thu trên hàng triệu đô cho mỗi nhãn hiệu
đã và đang chứng tỏ Unilever là một trong những công ty thành công nhất thế giới
trong lĩnh vực kinh doanh chăm sóc sức khỏe của người tiêu dùng (Personel Care).
Cùng với Proctol &Gambel (P&G), Unilever hiện đang thống trị khắp thế giới về
các sản phẩm này.
Là một công ty đa quốc gia việc mở rộng kinh doanh và đặt nhiều chi nhánh
trên thế giới để chiếm lĩnh thị trường toàn cầu là một trong những mục tiêu của
Unilever. Unilever Việt Nam được thành lập năm 1995 cũng là một bước đi trong
chiến lược tổng thể của Unilever.
Unilever Việt Nam thực chất là tập hợp của 03 công ty riêng biệt: (1) Liên
doanh Lever Việt Nam có trụ sở tại Hà Nội, (2) Elida P/S tại Thành phố Hồ chí
Minh và (3) Công ty Best Food cũng đặt tại thành phố Hồ Chí Minh. Từ năm 1995
đến nay Unilever đã đầu tư khoảng 120 tiệu USD trong 3 doanh nghiệp này, điều
này được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 1.1: Giới thiệu về công ty Unilever
“Nguồn: Phòng Marketing, Công ty Unilever Việt Nam.”
Công ty


Tổng vốn đầu
tư (Triệu USD)

Phần vốn
gópcủa
Unilever

Địađiểm

Lĩnh vực
hoạtđộng


Liên doanh Lever
VN (1995)

56

66.66%

LD Elida P/S

17.5

100%

Unilever
Bestfood
VN( 1996)


37.1

100%

Hà Nội, Chăm sóc cánhân,
HCM gia đình
Chăm sóc răng
HCM
miệng
HCM

Thực phẩm, kem
và các đồ uống

Bảng 1
Unilever Việt Nam hiện nay có 5 nhà máy tại Hà Nội, Củ chi, Thủ Đức và
khu công nghiệp Biên Hoà. Công ty hiện tại có hệ thống phân phối bán hàng trên
toàn quốc thông qua hơn 350 nhà phân phối lớn và hơn 150.000 cửa hàng bán lẻ.
Hiện nay Công ty đạt mức tăng trưởng khoảng 35- 40% và tuyển dụng hơn 2.000
nhân viên. Ngoài ra Công ty còn hợp tác với nhiều nhà máy, xí nghiệp trong nước
về các hoạt động sản xuất gia công, cung ứng nguyên vật liệu sản xuất và bao bì
thành phẩm. Các hoạt động hợp tác kinh doanh này đã giúp Unilever Việt Nam tiết
kiệm chi phí nhập khẩu, hạ giá thành sản phẩm để tăng cường sức cạnh tranh các
sản phẩm của Công ty tại thị trường Việt Nam, đồng thời Công ty cũng giúp đỡ
các đối tác Việt Nam phát triển sản xuất, đảm bảo thu nhập cho các nhân viên và
tạo thêm khoảng 5.500 việc làm.
Từ khi đi vào hoạt động, các công ty Unilever Việt Nam đã không ngừng nỗ
lực phấn đấu, tăng cường đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, đào tạo và phát
triển nhân lực, hợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp trong nước, chấp hành tốt
chủ trương chính sách của Nhà nước và đóng góp tích cực cho các hoạt động phát

triển cộng đồng.
Unilever Việt Nam được xem là một trong những công ty có vốn đầu tư nước
ngoài thành công nhất trong các hoạt động kinh doanh và hỗ trợ cộng đồng. Từ
năm 1995 đến năm 2005, Unilever Việt Nam đã đóng góp vào ngân sách quốc gia
hơn 2.400 tỉ đồng. Công ty hiện có đội ngũ nhân viên gồm 3.000 lao động trực tiếp
và gián tiếp, và gián tiếp tạo việc làm cho khoảng 6.000 người thông qua các nhà
cung cấp và các đại lý. Tháng 4/2000, Unilever Việt Nam đã vinh dự nhận bằng
khen của Thủ tướng Chính phủ về những thành tích xuất sắc trong hoạt động kinh
doanh và đóng góp cho xã hội qua các dự án hỗ trợ & chăm sóc sức khỏe cộng
đồng cũng như giáo dục. Công ty vinh dự được Chủ tịch nước trao tặng Huân


chương lao động Hạng Ba (2002) và Huân chương lao động Hạng Nhì (2005) vì
những thành tích xuất sắc trong hoạt động kinh doanh và những đóng góp vì sự
phát triển của Việt Nam.
Unilever luôn ý thức và tích cực tham gia các hoạt động hỗ trợ cộng đồng,
đóng góp nâng cao đời sống, sức khỏe của người dân Việt Nam. Trong 10 năm qua
Công ty đã dành hơn 200 tỷ đồng, kết hợp với Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo
cùng các cơ quan ban ngành địa phương thực hiện một số chương trình lớn dài hạn
trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo, và phòng chống thiên tai.
Công ty đã giúp người dân có hoàn cảnh khó khăn và đặc biệt là trẻ em tiếp cận dễ
dàng hơn với các dịch vụ y tế thông qua các dự án "P/S bảo vệ nụ cười Việt Nam",
"Vì ánh mắt trẻ thơ", nâng cao trình độ đào tạo nghề và hỗ trợ kinh phí cho các
trường dành cho người khuyết tật, thực hiện chiến dịch bảo vệ môi trường, thông
qua "Quỹ Unilever Việt Nam" với ngân sách cam kết hơn 70 tỷ đồng/năm trong 5
năm (2005-2010) hoàn thiện nhu cầu về sức khỏe và vệ sinh của người dân Việt
Nam đặc biệt là phụ nữ và trẻ em ở vùng nông thôn.
Hoạt động từ năm 1995, các sản phẩm nổi tiếng của Unilever như: Omo,
Sunsilk, Clear, Dove, Pond’s, Close-up, Cornetto, Paddle Pop, Lipton, Knorr..
cùng các nhãn hàng truyền thống của Việt Nam là Viso, và P/S đã được giới thiệu

rộng rãi và với ưu thế về chất lượng hoàn hảo và giá cả hợp lý phù hợp với túi tiền
của người tiêu dùng Việt Nam, vì vậy, các nhãn hàng này đã nhanh chóng trở
thành những hàng hoá được tiêu dùng nhiều nhất tại thị trường Việt Nam và cùng
với các sản phẩm đó, Công ty Unilever đã nhanh chóng có lãi và thu được lợi
nhuận không nhỏ trên thị trường Việt Nam. Trong đó liên doanh Lever Việt Nam,
Hà nội bắt đầu làm ăn có lãi từ năm 1997, tức là chỉ sau 2 năm công ty này được
thành lập; Công ty Elida P/S cũng làm ăn có lãi kể từ khi nó được thành lập từ
năm 1997; Best Food cũng đã rất thành công trong việc đưa ra được nhãn hiệu
kem nổi tiếng và được người tiêu dùng hoan nghênh năm 1997 là Paddle Pop (sau
này, nhãn hiệu được chuyển nhượng cho Kinh Đô của Việt Nam) và Công ty đã
mở rộng sang kinh doanh mặt hàng trà Lipton, bột nêm Knorr, và nước mắm
Knorr- Phú Quốc… Hiện tại, Công ty cũng đang hoạt động rất có lãi.


Bảng 1.2: Doanh số trong 7 năm của Unilever
"Nguồn: Phòng Marketing Công ty Lever Việt Nam"

Hình 1
Tính trung bình mỗi năm doanh số và lợi nhuận của Unilever Việt Nam tăng
khoảng 30-35%/ năm kể từ khi các dự án của Công ty đi vào hoạt động ổn định và
có lãi. Nếu năm 1995, doanh số của Công ty là 20 triệu USD; năm 1996, doanh số
của Công ty là 40 triệu USD thì đến năm 1998 doanh số của Công ty đã là 85 triệu
USD và tính đến hết năm 2002 thì doanh số của Công ty là khoảng 240 triệu USD.
Với tốc độ tăng trưởng chóng mặt như vậy Unilever Việt Nam đã và đang chứng
tỏ rằng mình là công ty nước ngoài thành đạt nhất ở Việt Nam hiện nay.

Bảng 1.3: Hệ thống các sản phẩm của công ty
"Nguồn : Phòng marketing công ty Lever Việt Nam"



Hình 2
Ngoài các hoạt động kinh doanh Unilever Việt Nam cũng tích cực đóng góp
vào các hoạt động xã hôi, nhân đạo và phát triển cộng đồng. Hàng năm công ty
đóng góp khoảng 2 triệu đô la vào hoạt động phát triển cộng đồng tại Việt Nam và
công ty đã vinh dự được nhận bằng khen của thủ tướng chính phủ nước ta vì “ đã
có thành tích trong sản xuất kinh doanh và các hoạt động xã hội, nhân đạo, giáo
dục, giáo dục sức khỏe cộng đồng”.
Cụ thể là một bài báo sau đây với nội dung: “Unilever Việt Nam cam kết nỗ
lực bảo vệ môi trường” sẽ chứng minh cho các hoạt động xã hội.
Ngày 28/3/2011, Unilever Việt Nam trở thành một trong những công ty
có vốn đầu tư nước ngoài đầu tiên đón nhận bằng khen của Thủ tướng chính
phủ cho thành tích xuất sắc trong các hoạt động bảo vệ môi trường từ năm
2005 đến năm 2010.


Bằng khen cho thành tích bảo vệ môi trường lần này là một minh chứng mới
nhất ghi nhận sự cam kết mạnh mẽ và lâu dài của Unilever Việt Nam cho sự
nghiệp bảo vệ môi trường ngay từ những ngày đầu kinh doanh tại Việt Nam.

Trong suốt 15 năm qua, ý thức bảo vệ môi trường của Unilever Việt Nam
được thể hiện ngay từ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tại chính văn phòng
làm việc và thông qua hàng loạt các chương trình xã hội cộng đồng khác. Công ty
đã triển khai có hiệu quả việc tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên như tiết
kiệm năng lượng, tiết kiệm nước, giấy, và chương trình quản lý chất thải trong sản
xuất, cải tiến sản phẩm để giảm thiểu tác động đến môi trường.
Thông qua các nhãn hàng của mình, Unilever Việt Nam đã và đang nỗ lực hết
sức để thực hiện các mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững của mình, với 3
trọng tâm chính: Cải thiện điều kiện sống và tiêu chuẩn vệ sinh sức khỏe của
người dân Việt Nam, cải thiện tác động môi trường, và sử dụng 100% nguyên liệu
từ nguồn cung cấp bền vững.

Đây cũng chính là những mục tiêu và nỗ lực của Unilever Việt Nam nhằm
thực hiện cam kết của tập đoàn Unilever toàn cầu, được đưa ra trong năm 2010 với
“Kế hoạch phát triển bền vững của Unilever” (Unilever Sustainable Living Plan).
Tại buổi lễ đón nhận Bằng Khen của Thủ Tướng Chính phủ cho những thành
tích xuất sắc trong sự nghiệp bảo vệ môi trường của Unilever, ông JV Raman cho
biết: "Unilever Việt Nam cam kết phát triển bền vững và nỗ lực bảo vệ môi
trường. Cam kết này đã không chỉ được thể hiện trong kế hoạch phát triển bền
vững của công ty, trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty mà còn


trong đời sống hàng ngày của mỗi nhân viên chúng tôi. Giải thưởng cao quý của
Thủ tướng chính phủ lần này sẽ là động lực mạnh mẽ cho cam kết của chúng tôi
trong sự nghiệp bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, thông qua hoạt động cải
tiến sản phẩm, sự hợp tác với các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan chính phủ,
thông qua các sáng kiến bảo vệ môi trường cùng với khách hàng, người tiêu dùng
cũng như toàn cộng đồng. Bằng Khen của Thủ Tướng Chính phủ cũng là minh
chứng cho thấy việc bảo vệ môi trường không chỉ là một phần tất yếu trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của Unilever Việt Nam, mà chúng tôi hy vọng rằng đây
sẽ là hình mẫu cho các công ty tại Việt Nam trong nỗ lực toàn cầu để bảo vệ môi
trường và phát triển bền vững”.
Ngày 1/2/2008, Unilever Việt Nam chính thức dời trụ sở hiện nay (tại Sofitel
Plaza Building – đường Lê Duẩn) để chuyển về về trụ sở mới mang tên toà nhà
UNILEVER, tại số 156 Nguyễn Lương Bằng, phường Tân Phong, quận 7, Thành
phố Hồ Chí Minh. Nằm trong khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng, với tổng diện tích
10.000 m2, bao gồm1 tầng trệt, 3 tầng lầu, hệ thống canteen, phòng tập thể dục,
khu vực giao tiếp với khách hàng và người tiêu dùng; với trang thiết bị hiện đại,
đáp ứng mọi tiêu chuẩn hàng đầu về môi trường sinh thái và môi trường làm việc.
Trụ sở mới của Unilever Việt Nam sẽ trở thành ngôi nhà chung cho hơn 500
nhân viên Unilever đang làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh. Việc xây dựng trụ
sở mới đánh đấu bước phát triển mới của Unilever Việt Nam sau hơn 12 năm có

mặt tại Việt Nam, tiếp tục khẳng định thành công và sự cam kết của Unilever đối
với thị trường Việt Nam, với phương châm “Unilever tự hào lớn mạnh cùng Việt
Nam”.
II.
Chiến lược Marketing của Unilever Vietnam
Trong những năm gần đây, sức cạnh tranh giữa hàng hoá Việt Nam và hàng
hoá nước ngoài diễn ra hết sức quyết liệt, đặc biệt là các sản phẩm có xuất xứ từ
các công ty đa quốc gia hiện đang có mặt và thống lĩnh trên thị trường Việt Nam.
Unilever Việt Nam cũng là một trong số những đại gia lớn trên thị trường hàng
tiêu dùng, hằng năm đã cung cấp một lượng lớn các mặt hàng thiết yếu cho sinh


hoạt hằng ngày của người tiêu dùng Việt Nam. Đây không chỉ là mối đe dọa cho
các nhà sản xuất trong nước mà còn là tấm gương để các doanh nghiệp học hỏi về
kinh nghiệm marketing của một công ty đa quốc gia lớn có tầm cỡ thế giới.
Có thể nói, Công ty Unilever đã có một chiến lược tiếp thị chu đáo và đầy
tính sáng tạo nhằm đánh bóng tên tuổi và thu hút sức tiêu thụ của khách hàng đối
với sản phẩm của Công ty. Công ty đã tận dụng đối đa những điểm mạnh vốn có
của mình cũng như phát huy được những cơ hội của thị trường để mang lại nguồn
doanh thu khổng lồ hàng năm cho Công ty.
Sau đây là một vài phân tích cơ bản về chiến lược marketing của công ty.
1. Điểm mạnh của công ty.
- Được sự hỗ trợ của tập đoàn Unilever toàn cầu nên có nền tài chính vững
mạnh.
- Chính sách thu hút tài năng hiệu quả: Quan điểm của công ty là “Phát triển
thông qua con người, thông qua các ngày hội việc làm cho các sinh viên sắp tốt
nghiệp của các trường đại học danh tiếng để từ đó đào tạo nên các quản trị viên tập
sự sáng giá cho nguồn nhân lực của công ty. Ngoài ra, công ty cũng có chế độ
lương bổng, phúc lợi thoả đáng và các khoá học tập trung trong và ngoài nước cho
nhân viên nhằm nâng cao nghiệp vụ của họ…

- Tình hình nghiên cứu và phát triển công nghệ của Unilever Việt Nam luôn
được chú trọng và đầu tư thoả đáng. Đặc biệt, công tác R&D rất hiệu quả trong
việc khai thác tính truyền thống trong sản phẩm như dầu gội đầu bồ kết, kem đánh
răng muối. Công nghệ hiện đại kế thừa từ Unilever toàn cầu, được chuyển giao
nhanh chóng và có hiệu quả rõ rệt.
- Giá cá tương đối chấp nhận được, trong khi chất lượng rất cao, không thua
hàng ngoại nhập.
- Môi trường văn hoá doanh nghiệp mạnh, đội ngũ nhân viên trí thức và có
tinh thần trách nhiệm vì mục tiêu chung của công ty, đặc biệt các quan hệ với công
chúng rất được chú trọng tại công ty.
2. Điểm yếu của công ty.
- Gần đây, Unilever đã phải cắt giảm ngân sách ít nhiều do những khó khăn
mà sự kiện 11-9 gây ra cho nền kinh tế thế giới.


- Các vị trí chủ chốt trong công ty vẫn do người nước ngoài nắm giữ.
- Vẫn còn những công nghệ không áp dụng được tại Việt Nam do chi phí cao,
vì vậy phải nhập khẩu từ nước ngoài nên tốn kém chi phí và không tận dụng được
hết nguồn lao động dồi dào và có năng lực ở Việt Nam.
- Giá cả một số mặt hàng của Unilever còn khá cao so với thu nhập của người
Việt Nam, nhất là ở những vùng nông thôn.
- Là một công ty có nguồn gốc châu Âu, chiến lược quảng bá sản phẩm của
Unilever còn chưa phù hợp với văn hoá Á Đông.
3. Cơ hội từ các yếu tố môi trường bên ngoài.
- Chủ trương của các bộ ngành Việt Nam là cùng thống nhất xây dựng nền
kinh tế Việt Nam theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trong đó ưu tiên
thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt từ các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia
như Unilever để tăng ngân sách.
- Thị trường trong nước (bán buôn, bán lẻ, lưu chuyển hàng hoá…) đã phát
triển hơn nhiều. Và cơ sở hạ tầng ở các thành phố lớn, nhất là TPHCM đã và đang

được đầu tư thích đáng, trước mắt là ngang bằng với các nước trong khu vực.
- Trong bối cảnh khủng bố, chiến tranh, dịch bệnh , v.v.. thời gian qua, nền
chính trị Việt Nam được đánh giá là ổn định và được bầu chọn là một trong những
điểm đến an toàn nhất khu vực châu Á-Thái Bình Dương nói riêng, và mang lại sự
an tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài.
- Trình độ dân trí Việt Nam tương đối cao, nhất là ở khu vực thành thị. Tỷ lệ
người tốt nghiệp đại học, cao đẳng…khá cao so với các nước; hơn nữa lao động trí
óc ở Việt Nam giỏi xuất sắc về công nghệ - nên đây cũng là một nguồn nhân lực
khá dồi dào cho Công ty.
- Khách hàng mục tiêu của nhiều sản phẩm mà Unilever Việt Nam kinh
doanh là giới trẻ thế hệ X (những bạn trẻ tuổi từ 18-29), hiện có phần tự lập và
phóng khoáng, tự tin hơn thế hệ trước. Họ sẽ là người đưa ra quyết định cho phần
lớn các vấn đề trong cuộc sống, bao gồm việc chọn mua những sản phẩm hàng
tiêu dùng.


- Việt Nam là một quốc gia tự do về tôn giáo nên việc phân phối, quảng cáo
sản phẩm không phải chịu nhiều ràng buộc quá khắt khe như nhiều nước châu Á
khác.
- Việt Nam có cơ cấu dân số trẻ và phổ biến mô hình gia đình mở rộng (gồm
cả ông bà, cô chú, v.v…), tạo nhiều cơ hội cho Unilever vì đây chính là khách
hàng mục tiêu của công ty.
- Việt Nam nằm ở vị trí tương đối thuận lợi trong khu vực, có đường bờ biển
dài, nhiều cảng biển lớn thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng hoá khi công ty
Unilever bắt đầu chú trọng đến xuất khẩu trong tương lai gần.
- Unilever đến Việt Nam khi thị trường hàng tiêu dùng ở đây còn mới, có
nhiều “đất” để kinh doanh.
4. Thách thức từ các yếu tố môi trường bên ngoài.
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam còn thấp cho thấy khả năng tiêu
thụ sản phẩm cao.

- Tài chính, tín dụng Việt Nam không phát triển, thị trường chứng khoán còn
manh mún. Thêm vào đó, hệ thống viễn thông, thông tin liên lạc, cước điện thoại,
bưu điện và Internet có mức giá thuộc hàng cao nhất thế giới. Do đó, việc đưa
Internet vào kinh doanh là không thể thực hiện được đối với Unilever, mặc dù
công ty đã nhiều lần đề cập đến mục tiêu này như một cách tiếp cận khách hàng và
quảng bá sản phẩm thành công ở các nước công nghiệp phát triển.
- Bộ luật Thương mại còn nhiều bất lợi cho nhà đầu tư nước ngoài, nhất là
chính sách thuế quan và thuế suất cao đánh vào các mặt hàng được xem là “xa xỉ
phẩm” mà Unilever đang kinh doanh như kem dưỡng da, sữa tắm,…
o Giới trẻ Việt Nam cũng bị nhiều chỉ trích từ phía xã hội do xu hướng ăn chơi,
hưởng thụ của không ít thanh niên đã gây nhiều bất bình trong người lớn tuổi,
nghiêm khắc… Một số ý kiến đã cho rằng chính các công ty đa quốc gia đã cổ
động, mang lại lối sống hưởng thụ phương Tây, vốn xa lạ với người châu Á mà
nhất là một nước còn ít nhiều tư tưởng phong kiến, lễ giáo như Việt Nam.
- Chính sách dân số - kế hoạch hóa của chính phủ sẽ khiến trong vài thập niên
nữa, lớp trẻ sẽ già đi và cơ cấu dân số già sẽ không còn là lợi thế cho Unilever.
Ngoài ra, những gia đình mở rộng ở mức trung lưu (cơ cấu gia đình phổ biến nhất


Việt Nam), việc chọn mua một sản phẩm, nhất là sản phẩm cao cẩp, thường được
cân nhắc rất kỹ lưỡng. Vì vậy, nhóm này tiêu thụ những mặt hàng chăm sóc cá
nhân (personal care) cao cấp không nhiều như nhóm SSWD (single - độc thân ,
separate - sống riêng , widowed - goá phụ, divorced - ly dị) ở các nước tư bản.
- Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm không phù hợp với một số sản phẩm có xuất xứ
từ công ty mẹ ở châu Âu.
- Trong bối cảnh thị trường hàng tiêu dùng cung đang lớn hơn cầu, nhiều
công ty mới “chen chân” vào và cạnh tranh sẽ rất gay gắt cho công ty Unilever.
Trên cơ sở những điểm mạnh - điểm yếu, cơ hội - thách thức, Công ty
Unilever đã thực hiện chiến lược Marketing quốc tế vào thị trường Việt Nam theo
Marketing Mix 4P

(1). Địa điểm phân phối (Place).
Năm 1995, Unilever vào Việt Nam và quyết định tạo ra một hệ thống tiếp thị
và phân phối toàn quốc, bao quát hơn 100.000 địa điểm. Unilever đã đưa khái
niệm tiêu thụ bán lẻ trực tuyến, sử dụng nhân viên bán hàng đến từng cửa hàng
bán lẻ theo tuyến, những nhân viên này có nhiệm vụ chào các đơn hàng mới, giao
hàng và cấp tín dụng cho các đơn hàng tiếp theo.
Các điểm bán lẻ được cấp tủ bày hàng năm sử dụng tối đa không gian trong
cửa hàng của họ và tính bắt mắt sản phẩm. Ngoài ra, công ty còn giúp đỡ các hãng
phân phối dàn xếp các khoản cho vay mua phương tiện đi lại, đào tạo quản lý và tổ
chức bán hàng.
(2). Sản phẩm (Product).
Công ty đã vận dụng những tiêu chuẩn quốc tế cho sản phẩm nhưng thích
nghi với nhu cầu của người Việt Nam. Họ đã mua lại từ các đối tác của mình
những nhãn hiệu có uy tín từ nhiều năm ở Việt Nam như bột giặt Viso, và kem
đánh răng P/S. Sau đó, cải tiến công thức chế tạo bao gói và tiếp thị để gia tăng
tiêu thụ những nhãn hiệu này. Bên cạnh đó, công ty cũng tìm hiểu sâu sắc nhu cầu
người tiêu dùng Việt Nam để “Việt Nam hóa” sản phẩm của mình, ví dụ như dầu
gội Sunsilk chứa thêm chiết xuất từ cây bồ kết - một loại dầu gội đầu dân gian của
Việt Nam; và nhãn hiệu này cũng đã thành công rất lớn chiếm 80% doanh số của
nhãn hiệu dầu gội Sunsilk.


“Nghĩ như người Việt Nam chính là cách để hiểu người tiêu dùng Việt Nam
thích gì, cần gì để từ đó làm ra những sản phẩm phù hợp với họ”, ông Michel giải
thích thêm. Để có đươc những sản phẩm thoả mãn thị hiếu người tiêu dùng, công
ty đã xây dựng một đội ngũ nhân viên bản địa chuyên nghiệp, hiểu biết tường tận
tập quán văn hoá kinh doanh và sở thích của người Việt Nam. Nói không ngoa, trà
và kem Wall’s có mặt khắp thế giới nhưng nếu ra khỏi Việt Nam thì không thể tìm
đâu ra loại trà xanh vị Bắc, trà lài Cây đa, kem đậu xanh, hoặc kem khoai môn
dừa, những sản phẩm có hương vị đặc trưng của Việt Nam.

Với tầm quan trọng về uy tín của thương hiệu, trong những năm qua Unilever
Việt Nam đặc biệt chú trọng đến việc chống hàng giả để bảo vệ quyền lơi người
tiêu dùng, bảo vệ sở hữu trí tuệ và uy tín với thương hiệu hàng hoá. Các sản phẩm
của công ty hiện nay đã có thêm TEM BẢO ĐẢM HÀNG THẬT, hay LOGO
CHỐNG HÀNG GIẢ BẢO ĐẢM HÀNG THẬT nhằm giúp khách hàng có thể
nhận biết rõ ràng hàng thật - hàng giả và mang lại cảm giác an tâm khi sử dụng.
(3). Quảng bá (Promotion).
Cũng như những công ty hàng tiêu dùng phát triển nhanh khác, Unilever Việt
Nam có hai mảng chính trong hệ thống chiến lược quảng bá của mình là “Abovethe-Line”(quảng bá trực tiếp) và “Below-the-Line” (quảng bá gián tiếp).
Above-the-Line là những hoạt động quảng bá sản phẩm trên truyền hình, báo
chí… nhằm đạt một hay một số mục đích nhất định như thông báo cho người tiêu
dùng biết sản phẩm mới, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, v.v… Chính nhờ chiến
dịch quảng cáo trực tiếp đúng lúc, phù hợp, kịp thời, Unilever Việt Nam đã đi
được những bước tiến dài trên thị trường chỉ trong thời gian ngắn.
Còn Below-the-Line là “tất cả những hoạt động quảng bá không qua các phương
tiện truyền thông” (theo M.Christopher, Marketing Below-the-Lines, George Allen
& Urwin, London) hay nói cách khác là “hoạt động bán hàng phụ, kết hợp
giữa bán hàng trực tiếp (personal selling) và quảng cáo thành một nguồn lực mang
tính thuyết phục hiệu quả” (theo J.F. Engel, H.G. Wales và M.R. Warshaw, trong
Promotional Strategy, R.D Irwin, Homewood, Illinois.) Song trên thực tế, chương
trình Below-the-Line Promotion phải dựa vào quảng cáo trên các phương tiện đại
chúng và phải dựa vào những mục tiêu nhắm đến, vào bản chất của sản phẩm, loại


kênh phân phối sử dụng và khách hàng mục tiêu. Cụ thể, đó là các hình thức phổ
biến thường thấy như giảm giá, coupon, tặng kèm dưới nhiều hình thức, đổi vỏ sản
phẩm này được tặng sản phẩm khác, tặng mẫu dùng thử cho khách hàng, chương
trình khuyến mãi rút thăm hoặc cào trúng thưởng những phần quà có giá trị, tài trợ
cho các cuộc thi và những chuyên mục trên truyền hình… Những hoạt động như
vậy đã tạo dựng được hình ảnh các nhãn hàng (brand imge) của Unilever nơi

người tiêu dùng.
(4). Chính sách giá cả (Price).
Nhận biết 80% người tiêu dùng Việt Nam sống ở vùng nông thôn có thu nhập
thấp, Unilever Việt Nam đã đề ra mục tiêu giảm giá thành sản xuất nhằm đem lại
mức giá cả hợp lý cho người tiêu dùng. Công ty đã dựa vào các doanh nghiệp nhỏ
địa phương để tìm các nguyên liệu tại chỗ thay thế một số loại phải nhập khẩu;
điều này vừa giảm được chi phí mua hàng vừa đóng thuế nhập khẩu ít hơn.
Ngoài ra, công ty cũng phân bố việc sản xuất, đóng gói cho các vệ tinh tại các
khu vực Bắc, Trung, Nam để giảm chi phí vận chuyển và kho bãi. Unilever cũng
đã thực hiện chính sách hỗ trợ tài chính giúp các doanh nghiệp địa phương có thể
nâng cấp trang thiết bị sản xuất, chuyển giao kỹ thuật, tổ chức các chương trình
huấn luyện sản xuất.
(5). Con người (People).
Ngoài 4P truyền thống của Marketing Mix, phải kể đến một P khác không
kém phần quan trọng mà Unilever đã và đang tiếp tục phát huy, đó là nhân tố con
người.
Cùng với việc đa dạng hóa các hoạt động sản xuất kinh doanh, Unilever Việt
Nam luôn coi trọng việc phát triển nguồn nhân lực là bước đột phá về chất cho sự
phát triển bền vững lâu dài, cả khi xã hội tiến vào nền “Kinh tế tri thức” hoặc
“Kinh tế sinh học”. Để “hiểu thấu đáo người tiêu dùng Việt Nam” và để phát triển
“hệ thống rễ” giúp công ty có thể bám sâu vào thị trường, Unilever đã xây dựng
một đội ngũ nhân viên bản địa chuyên nghiệp và thường xuyên chú trọng đến các
chương trình huấn luyện nhân viên. Quan điểm của Unilever là “Phát triển thông
qua con người”, nên công ty luôn quan tâm đến quyền lợi của nhân viên và sẵn


sàng hỗ trợ họ trong các lĩnh vực công tác. Hiện nay, đội ngũ quản lý Việt Nam đã
thay thế các vị trị chủ chốt trước kia do các chuyên gia nước ngoài đảm nhiệm.
Trong thời gian hoạt động tại Việt Nam, bên cạnh chính sách phát triển nguồn
nhân lực, Unilever luôn đi đầu với nhiều hoạt động nhân đạo và phát triển cộng

đồng. Ý thức đầy đủ về vai trò của mình trong việc phát triển xã hội Việt Nam,
công ty đã chi không ít cho các cam kết nhân đạo, chủ yếu tập trung vào các lĩnh
vực y tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo và phòng chống thiên tai như chương trình
“P/S bảo vệ nụ cười Việt Nam”, chương trình “Lifeboy” phòng chống bệnh phong
hay chương trình “Vim” diễn đàn vệ sinh gia đình, phòng dịch, v.v…
Kế tục bước đường phát triển thần tốc của hôm qua, kỳ vọng của Unilever
Việt Nam ở ngày mai là: “Hoàn thiện nhu cầu sức khỏe và vẻ đẹp của mọi gia đình
Việt Nam”, xây dựng một doanh nghiệp toàn diện, thành đạt và uy tín, hoạt động
sản xuất hiệu quả, tạo dựng nhiều lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng, nhân
viên, đối tác và cổ đông, phát huy trách nhiệm xã hội đóng góp tích cực cho các
hoạt động phát triển cộng đồng.
Với chiến lược Marketing trên, Công ty Unilever đã chiếm được cảm tình của
đại đa số người tiêu dùng Việt Nam trong gần một thập niên qua. Trong tương lai,
Unilever sẽ cho ra đời nhiều sản phẩm mới lạ và độc đáo hơn với hy vọng vẫn là
người bạn đồng hành, thân thiết trong sinh hoạt của mọi nhà.
III. Chiến lược quốc tế của Procter & Gamble - Công ty P&G.
Procter & Gamble (P&G) là tập đoàn hàng tiêu dùng hàng đầu thế giới với
hơn 300 nhãn hiệu phuc vụ 5 triệu người tiêu dùng mỗi ngày. P&G đang có gần
140.000 nhân tài trên khắp thế giới đang làm việc nhằm làm cho cuộc sống của
người tiêu dùng toàn cầu tốt đẹp hơn.
P&G là Công ty đa quốc gia với các sản phẩm nổi tiếng rất thành công tại thị
trường Mỹ và thế giới. Bên cạnh những thành công đạt được, Công ty cũng gặp
nhiều khó khăn trong quá trình mở rộng thị trường ra bên ngoài nước Mỹ.
Với triết lý kinh doanh: Năm 1930, P&G bắt đầu bán sản phẩm của mình ra
thị trường quốc tế. Tuy nhiên thị trường US vẫn là thị trường chính tiêu thụ các
sản phẩm của P&G. Doanh thu chủ yếu của Công ty có được từ thị trường US.
Các công ty con được thành lập tại các quốc gia khác chủ yếu để mở rộng thị


trường nhằm tìm kiếm lợi nhuận và doanh thu bán hàng được chuyển về nước chủ

nhà. Năm 1930, P&G thành lập công ty con đầu tiên ở nước ngoài là công ty
Hedley & Co. Ltd đặt tại Anh và công ty này chỉ bán dòng sản phẩm xà phòng
Fairy. Các công ty con hoạt động dưới các định hướng chiến lược từ công ty mẹ,
công ty mẹ đặt ra các mục tiêu và phương hướng hoạt cụ thể cho các công ty con ở
nước ngoài.
Văn hóa kinh doanh của P&G: kinh doanh ở nước ngoài giống như cách mà
họ kinh doanh tại thị trường US, họ không quan tâm đến văn hóa của địa phương,
P&G ở tất cả các thị trường trên thế giới đều giống thị trường US về văn hóa kinh
doanh. Chính sự lầm tưởng này đã khiến cho P&G gặp phải rất nhiều khó khăn và
một số thất bại khi tìm cách thâm nhập thị trường địa phương của các quốc gia
trên thế giới.
Chiến lược marketing: Với định hướng chiến lược kinh doanh quốc tế trong
thời gian này, các chiến lược marketing của P&G được bê nguyên xi từ nội dung
lẫn hình thức của các chiến lược marketing từ công ty mẹ sang các công ty con ở
các quốc gia khác trên thế giới. Ví dụ về chiến lược sản phẩm được sản xuất theo
nhu cầu của thị trường US, giá cả không có sự phân biệt giữa các quốc gia mặc dù
có sự khác biệt về thu nhập giữa các quốc gia mà P&G kinh doanh sản phẩm của
minh. Các mẩu quảng cáo của P&G ở các thị trường mới này là các mẩu quảng
cáo của P&G sử dụng tại thị trường US. Sản phẩm được sản xuất hàng loạt từ các
nhà máy chính và được phân bổ trên toàn cầu.
Cơ cấu tổ chức: Các công ty con được lập ở nước ngoài chỉ kinh doanh một
số sản phẩm chủ yếu, cấu trúc công ty là cấu trúc thứ bậc theo sản phẩm, có các
giám đóc nhãn hàng. Những vị trí chủ chốt của các công ty con ờ nước ngoài đo
người của công ty mẹ cử sang, lao động địa phương chỉ được thuê một số ít và ở
các vị trí không mấy quan trọng.
P&G đã sử dụng chiến lược kinh doanh quốc tế để bán sản phẩm của
mình trên toàn thế giới trong thời gian đầu. Bước đầu thì chiến lược này đem lại
cho P&G những thành công tốt đẹp, thị trường tiêu thụ được mở rộng một cách
nhanh chóng, các sản phẩm của P&G được phân phối rộng rãi trên toàn cầu tạo ra



lợi nhuận đáng kể cho công ty. Năm 1937 thì doanh số của công ty là 230 triệu
USD.
Tuy nhiên định hướng chiến lược này ngày càng bộc lộ nhiều yếu kém,
doanh số của P&G giảm dần qua các năm, nhận ra chiến lược này không còn phù
hợp do mắc phải các rào cản về thương mại, thuế quan, các rào cản về văn hóa…
áp lực từ các nhà bán lẻ địa phương. Điển hình vào những thập niên 90 thì doanh
số của P&g sụt giảm nhanh chóng.
Ví dụ cụ thể là trường hợp P&G thâm nhập thị trường Ba Lan năm 1991. Vào
mùa hè năm 1991, P&G gia nhập vào thị trường Ba Lan với sản phẩm Vidal
Sasson Wash&Go và nước gội đầu "all in one" là sản phẩm bán chạy nhất ở Mỹ và
châu Âu. Sản phẩm được đưa ra thông qua cuộc tiếp thị ồ ạt chớp nhoáng kiểu Mỹ
đối với quy mô chưa từng thấy ở Ba Lan. Lúc đầu chiến dịch dường như hiệu quả,
P&G chiếm được hơn 30% thị trường nước gội đầu, nhưng đầu năm 1992 doanh
thu đột ngột giảm mạnh. Sau đó là những đồn đại: Wash&Go gây rụng tóc và
nhiều gầu, những tuyên bố của P&G đã bị phủ nhận. Tiếp theo là những truyện
cười, một câu truyện được lan truyền tại Ba Lan là "Tôi rửa ô tô của tôi bằng
Wash&Go, và lốp xe trở nên cứng".
Phân tích thất bại của P&G: Trong chiến lược thâm nhập thị trường Ba Lan
thì P&G đã dùng định hướng chiến lược quốc tế. P&G đã đánh đồng thị trường US
với thị trường Ba Lan. Ở thị trường nước chủ nhà thì việc P&G quảng cáo thường
xuyên, rầm rộ sẽ làm cho doanh số của nhãn hàng được quảng cáo ngày càng tăng
cao. Nhưng ở thị trường Ba Lan thì việc này không những tốn kém mà còn gây ra
tác dụng ngược, điều cơ bản vì P&G đã không nghiên cứu kĩ về văn hóa của người
Ba Lan. Theo khảo sát của một hãng nghiên cứu thị trường thì số người không
thích kiểu tiếp thị của P&G nhiều gấp 3 lần số ngưới không thích các sản phẩm
của P&G. Người Ba Lan đã quen với suy nghĩ rằng hàng hóa quảng cáo là những
hàng hóa ế ẩm kém chất lượng không bán được. Nguyên nhân thứ hai trong thất
bại của P&G chính là sản phẩm Wash&Go. P&G đã lấy nguyên xi sản phẩm phục
vụ nhu cầu của người Mỹ sang phục vụ những người Ba Lan. Người Ba Lan suy

nghĩ rằng Wash&Go là sản phẩm đáp ứng cho người tiêu dùng Mỹ sử dụng hằng


ngày quá thượng lưu đối với người tiêu dùng Ba Lan là những người ít coi trọng
vệ sinh cá nhân (vào thời điểm đó).
Trước một số yếu kém của chiến lược quốc tế, P&G dần chuyển định hướng
chiến lược từ quốc tế sang đa địa phương nhằm đáp những nhu cầu và áp lực từ
địa phương, khắc phục những yếu kém của chiến lược quốc tế.
Tại Việt Nam, hiện nay sản phẩm, dịch vụ của P&G cũng đã có mặt rộng
khắp và có sức cạnh tranh mạnh mẽ với các sản phẩm, dịch vụ của Unilever Việt
Nam.
Qua chiến lược kinh doanh toàn cầu của Công ty P&G, Công ty chỉ mới bước
đầu mở rộng thị phần ra bên ngoài nước Mỹ, khi đó hầu hết các doanh thu là ở thị
trường Mỹ, việc mở rộng sẽ cho Công ty tăng giá trị thương hiệu của mình lên trên
phạm vi toàn cầu. Nhưng bước đầu họ đã gặp nhiều khó khăn khi họ bê nguyên xi
các sản phẩm bán ở Mỹ sang các thị trường nước khác mà không tìm hiểu xem thị
trường các nước này mong muốn 1 sản phẩm như thế nào? Cũng như tìm hiểu thói
quen phong tục tập quán sinh hoạt của địa phương. Sản phẫm thì sản xuất từ nhà
máy chính rồi mới chuyển tới các chi nhánh, như vậy sẽ làm tăng thêm phí vận
chuyển, kinh doanh sẽ không lâu dài thay vào đó đầu tư dây chuyền sản xuất ngay
tại địa phương sẽ làm giảm phí vận chuyển, kinh doanh sẽ dài lâu và khi thị trường
thay đổi nhu cầu thì có thể linh hoạt chuyển đổi theo để ngày càng phát triển. Sự
thất bại bước đầu của P&G là không tìm hiểu văn hóa của địa phương của thị
trường mà minh xâm nhập. Họ đem nguyên bản những sản phẩm được coi là tiêu
thụ rất mạnh bên Mỹ sang. Thời gian đầu do hiếu kỳ và quảng cáo rầm rộ có thể
làm cho doanh số tăng. Nhưng thời gian sau do không phù hợp với lối sống sinh
hoạt thì khách hàng người tiêu dùng sẽ không còn sử dụng nữa dẫn đến doanh số
dần sục giảm qua các năm. Biện pháp đề ra ở đây là nên tiến hành khảo sát thị
trường, tìm hiểu văn hóa lối sống từng vùng và đầu tư trang thiết bị máy móc ngay
chính tại địa phương để tạo ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng.

Với chiến lược của hai công ty đã phân tích ở trên, chúng ta nhận thấy rằng:
Cùng với mục đích là đáp ứng hàng tiêu dùng nhưng hai công ty đều có điểm xuất
phát khác nhau, chiến lược khác nhau để cùng cạnh tranh các sản phẩm có công
dụng tương đối giống nhau; họ đều có những điểm mạnh và điểm yếu trong hoạt


động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Trong quá trình hoạt động họ đều gặt hái được
rất nhiều thành công và cũng vấp phải những thất bại. Điều quan trọng là từ những
thất bại đó mà họ rút ra được những bài học kinh nghiệp, đưa ra những biện pháp,
những chiến lược, chiến thuật được áp dụng linh hoạt, phù hợp với từng địa
phương, từng nước mà họ muốn đưa sản phẩm của mình đến tiêu thụ với mục đích
mở rộng quy mô, tìm kiếm, xác định, lựa chọn được những thị trường mục tiêu
cho mình. Họ đã biết áp dụng lý thuyết của các chiến lược Marketing để phân
khúc thị trường và lựa chọn chiếm lĩnh thị trường mục tiêu, phân tích được hàng vi
của người tiêu dùng, khách hàng; quản trị Markets tinh theo chu kỳ sống của sản
phẩm để đưa ra các chiến lược marketing về sản phẩm, giá, chiến lược về phân
phối và các chiến lược marketing về truyền thông... Một yêu tố khác không kém
phần quan trọng, họ đã nhận thấy rằng, muốn đưa sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ
vào một nước, địa phương nào đó thì nhất thiết phải tìm hiểu được những nét văn
hoá vùng, miền của địa phương đó; thực hiện các chiến lược marketing nhằm tăng
lợi nhuận cho bản thân doanh nghiệp nhưng không thể bỏ qua những hoạt động
liên quan đến vấn đề an toàn xã hội, lúc đó các doanh nghiệp mới thực sự hoạt
động bền vững./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Giáo trình Quản trị Marketing – Chương trình đào tạo thạc sĩ quản trị kinh
doanh quốc tế.
2. Kiến thức giảng dậy của giáo viên trên lớp và việc thảo luận của các học
viên trong lớp.
3. Các trang Web:
- />- />- />- />



×