Bộ giáo dục và đào tạo
bộ nông nghiệp và ptnt
Tr-ờng đại học lâm nghiệp
Nguyễn khánh ch-ởng
Nghiên cứu ứng dụng các chế phẩm sinh học
trong phòng trừ sâu róm thông tại lâm
tr-ờng bến hải - tỉnh quảng trị.
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: Gs.ts.Trần Văn Mão
Hà tây 2007
đặt vấn đề
Rừng ngày càng trở thành nhân tố quan trọng, góp phần đảm bảo an ninh
môi tr-ờng phát triển, đồng thời có tác động chi phối, điều chỉnh các nhân tố
môi tr-ờng khác nh- đất, n-ớc không khí,.... Chính vì vậy, việc bảo vệ và phát
triển rừng là nhiệm vụ cực kỳ to lớn mà Đảng và Chính phủ đang quan tâm,
trong đó không thể không chú ý đến vấn đề sâu bệnh hại (SBH) cây rừng [8].
Trong dự kiến quy hoạch xây dựng các vùng đặc sản Thông nhựa và thông
3 lá 10 tỉnh duyên hải miền Trung có diện tích lớn nhất 18.000ha chiếm 2/3 diện
tích thông cả n-ớc. Theo danh mục các dự án, cơ sở của dự án trồng 5 triệu ha
rừng tỉnh Quảng Trị phải trồng mới 25.500ha rừng. Kết quả đánh giá chất l-ợng
rừng trồng phòng hộ đầu nguồn từ năm 1999 đến 2005 của tỉnh Quảng Trị là
16.000ha chỉ sau tỉnh Hà Giang và Lạng Sơn. Điều này chứng tỏ công tác trồng
rừng ở tỉnh Quảng Trị chiếm vị trí vô cùng quan trọng. Những loài cây phòng hộ
chính là thông nhựa, huỷnh, sao đen, sến, muồng đen,[34].
Thông là loài cây có giá trị kinh tế cao, gỗ thông làm nguyên liệu cho
ngành công nghiệp giấy sợi, làm gỗ trụ mỏ, do có đ-ờng vân đẹp nên dùng để
đống đồ gia dụng; nhựa thông làm nguyên liệu cho ngành sơn, chế tạo chất dẻo,
mực in, hàn gắn các linh kiện điện tử và nhiều tác dụng kinh tế khác.
Thông có khả năng chịu hạn cao, sinh tr-ởng tốt trên điều kiện lập địa có
tỷ lệ đá lẫn lớn, độ dày tầng đất mỏng, ít chất mùn mà các loài cây khác không
có đ-ợc.
Thông còn là loài cây có hình dáng đẹp, th-ờng đ-ợc trồng ở những nơi
chùa chiền, miếu thờ, khu di tích lịch sử, văn hoá và trồng rừng phong cảnh tạo
nên những nơi nghĩ d-ởng, tham quan du lịch,...
Theo số liệu thống kê dự án trồng 5 triệu ha rừng năm 2005, trong 2- 6
năm n-ớc ta đã trồng các loài thông mã vĩ, thông nhựa, thông 3 lá có tỷ lệ sống
rất cao, từ 72-100%. Trong đó thông mã vĩ trồng ở các vùng phía Bắc (Sơn La),
thông nhựa trồng ở các tỉnh Bắc Trung Bộ nh- Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị,
thông ba lá trồng ở Lâm Đồng, Kon Tum, Gia Lai đều có tỷ lệ sống trên 80%.
Thông nhựa là loài cây lá kim có tán lá khá dày, rậm, phân cành từ khúc thân tán
d-ới cành lên ngọn, có tác dụng bảo vệ đất chống xói mòn khá tốt nếu tuổi non
trồng dày 1000-1500 cây/ha.
Vùng Quảng Trị có điều kiện tầng đất mỏng, trơ sỏi đá, chua và xấu chỉ
thích hợp với loài thông nhựa mà các loài cây khác ít thích hợp. Tốc độ tăng
tr-ởng đ-ờng kính đạt 0,8-1,4 cm/năm, tăng tr-ởng chiều cao 0,5-1,0
m/năm.Tuy nhiên , đối với các loại rừng thông cần chú ý phòng trừ SBH và lửa
rừng.
Hàng năm, dịch SBH rừng trồng nói chung, rừng thông nói riêng đã gây
nên tổn thất lớn không những làm giảm sản l-ợng và chất l-ợng rừng, làm chết
cây, -ớc tính thiệt hại lên đến nhiều tỷ đồng mà còn làm suy thoái môi tr-ờng.
Trong các loài sâu bệnh hại thông, sâu róm thông (SRT) là loài nguy hiểm
nhất. Hàng năm dịch SRT gây ra trên nhiều tỉnh trong cả n-ớc, đặc biệt là các
tỉnh Bắc Trung Bộ trong đó có tỉnh Quảng Trị. SRT gây dịch không chỉ gây ra
tổn thất đến kinh tế mà còn gây ra những ảnh h-ởng không nhỏ đến sinh thái,
môi tr-ờng và xã hội.
Trong những năm gần đây do diện tích rừng thông ngày càng rộng lớn, so
với tác động của con ng-ời SRT phá hoại ngày càng nghiêm trọng hơn. Chỉ riêng
tỉnh Quảng Tri diện tích rừng thông lên tới 23.106 ha, trong đó rừng thông thuần
loài chiếm 8.398 ha, thông hỗn giao với cây lá rộng chiếm 14.708 ha. Diện tích
bị SRT phá hoại năm 2005 lên đến 3.600ha, trong đó diện tích hại nặng là 1.310
ha [2] .
Dịch SRT đã xẩy ra ở lâm tr-ờng Bến Hải liên tục trong các năm
2003,2005,2006 ; lâm tr-ờng Đ-ờng 9, xã Cam Tuyền - huyện Cam Lộ. Riêng
lâm tr-ờng Bến Hải năm 2006 đã xẩy ra 3 đợt dịch, diện tích bị hại lên đến
1000ha, mật độ sâu có lúc, có nơi lên tới 1000 - 1500 con /cây [5, 6, 7].
Việc phòng trừ SRT đã có nhiều đề tài nghiên cứu từ những năm 1960, đã
sử dụng, máy bay phun thuốc ở Cầu Cấm, sử dụng nhiều thuốc hoá học nhDDT,666,Wofatox. Những loại thuốc đó th-ờng làm cho sâu quen thuốc và bắt
buộc ta phải tăng nồng độ lên nhiều lần, có nơi nh- ở Yên Dũng sử dụng
Woffatox đã tăng nồng độ lên 20 lần nồng độ cho phép ( 0,3% lên 5%) mà sâu
không chết, nh-ng đã làm cho trâu bò, ng-ời ở vùng lân cận bị chết. Điều nguy
hiểm hơn là các loại thuốc đó đã gây ra những di chứng nh- quái thai, tích thuốc
độc trong mỡ, gây ung th-, diệt chết nhiều loài chim bắt sâu và các loài thiên
địch khác. Chính vì vậy, những năm 1970 Tổ chức L-ơng Nông Liên Hợp Quốc
(FAO) đã có lệnh cấm sản xuất các loại thuốc trên.
Từ năm 1966 đến nay, FAO và tổ chức Quốc tế phòng trừ sinh học (IOBC)
đã chính thức đ-a ra khái niệm về quản lý vật gây hại tổng hợp ( Intergrated
Pest Management, viết tắt là IPM). Nội dung chủ yếu của IPM là xuất phát từ
khái niệm tổng thể sinh vật và môi tr-ờng, lấy t- t-ởng phòng là chính trừ tổng
hợp phải theo nguyên tắc an toàn, kinh tế, đơn giản, tuỳ từng nơi từng lúc mà vận
dụng hợp lý các ph-ơng pháp kỹ thuật, hoá học, sinh vật, vật lý kể cả các biện
pháp sinh thái học hữu hiệu khống chế sâu bệnh hại d-ới ng-ỡng gây hại kinh tế
bảo đảm sức khoẻ cho ng-ời, gia súc và tăng sản l-ợng [45].
Một trong nh-ng biện pháp phòng trừ SRT có hiệu quả nhất là phòng trừ
bằng sinh vật học. Ph-ơng pháp phòng trừ bằng sinh vật học theo nghĩa rộng là
ngoài phòng trừ sinh vật học truyền thống là lợi dụng các thiên địch còn sử dụng
chất thông tin, chất kích thích, kỹ thuật bất thụ và cây cỏ diệt sâu [11].
Phòng trừ sinh vật học có tính -u việt đặc biệt là lợi dụng thiên địch khống
chế sâu hại, không gây ô nhiễm môi tr-ờng, ít có tính chống thuốc, điều chỉnh
quần thể loài sâu hại lâu dài bền vững và rất kinh tế, cho nên đ-ợc các nhà sâu
bệnh càng coi trọng, nhất là khi thuốc hóa học đã gây ra nhiều tác hại, phòng trừ
sinh vật học trong hệ thống IPM chiếm địa vị vô cùng quan trọng.
Trong các loài thiên địch, nấm gây bệnh cho sâu hại chiếm tỷ lệ nhiều
nhất, có khoảng 750 loài, nhiều hơn nấm gây bệnh cho động vật có x-ơng và
thực vật. Mấy chục năm lại đây, dần dần ng-ời ta nhận thức đ-ợc rằng, nấm gây
ra dịch cho sâu trở thành nguồn gây bệnh chủ yếu cho nhiều loài côn trùng, biểu
hiện rõ nhất về tác dụng khống chế quần thể các loài sâu hại.
Hiện nay, ở n-ớc ta đã sử dụng một số chế phẩm vi sinh vật phòng trừ
SRT nh-: Boverin (Beauveria bassiana Vuill), Bacillus thuringiensis (B.t),
Bitadin ( Chế phẩm virus và vi khuẩn diệt sâu của Trung Quốc).
Ngoài ra, còn có chế phẩm điều chế từ thực vật cây khổ sâm và thuốc lá
gọi là Bai chong cha đ-ợc nhập từ Trung Quốc.
Trong điều kiện Việt Nam nói chung, tỉnh Quảng Trị nói riêng để khống
chế quần thể loài sâu hại theo quan điểm quản lý vật gây hại tổng hợp (IPM)
chúng tôi đã sử dụng một số chế phẩm đã đ-ợc sản xuất tại Việt Nam và Trung
Quốc để phòng trừ SRT với tên đề tài: "Nghiên cứu ứng dụng các chế phẩm
sinh học phòng trừ SRT tại lâm tr-ờng Bến Hải - tỉnh Quảng Trị " .
Ch-ơng 1
Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Sâu róm thông (SRT) đã đ-ợc nhiều ng-ời nghiên cứu, nh-ng Quản lý
phòng trừ tổng hợp, xuất phát từ nguyên lý sinh thái học cũng chỉ mới đ-ợc
Huffaker đề cập từ năm 1972. Trong nguyên lý đó ng-ời ta nhấn mạnh khống
chế tự nhiên , cố gắng ít hoặc không dùng thuốc hóa học. Các biện pháp kỹ thuật
kinh doanh rừng và sinh vật học phải đặt lên hàng đầu trong phòng trừ sâu hại.
1.1.Tình hình nghiên cứu phòng trừ sâu hại trên thế giới
Về phòng trừ sâu hại rừng đã có những nhận thức và đ-a ra các biện pháp
phòng trừ từ thế kỷ 17, nh-ng phát triển mạnh nhất trong thập kỷ 17-19, nhất là
giai đoạn cách mạng nông nghiệp châu Âu ( 1750-1880). Thời kỳ này chủ yếu
có 5 biện pháp: sinh vật, cơ giới vật lý, nông nghiệp, hoá học và di truyền.
Vào thế kỷ 20, ng-ời ta bắt đầu nghiên cứu sinh lý, sinh vật học sâu hại,
nhấn mạnh việc phân loại chính xác, triển khai nghiên cứu phòng trừ sinh vật
học. Trong thời kỳ này, đã có những nhận thức chỉ dùng một biện pháp phòng
trừ SBH rất khó đạt đ-ợc hiệu quả và đề xuất ra một khái niệm mới là phòng trừ
vật gây hại tổng hợp (IPC) do Stern đề ra năm 1959 và quản lý vật gây hại tổng
hợp (IPM) đ-ợc FAO đề ra năm 1966.
Từ đó đến nay IPM đã trở thành một khái niệm, một quan điểm triết học
và ph-ơng pháp luận không ngừng phát triển và phong phú hơn. Tựu trung của
chúng biểu hiện ở các mặt ứng dụng ph-ơng pháp khoa học hệ thống, xây dựng
trên cơ sở sinh thái học (STH), kinh tế học có tính tổng hợp, tính tầng thứ và ứng
dụng máy vi tính trong xây dựng các mô hình dự báo và quyết sách phòng trừ.
Cùng với sự phát triển IPM, các nhà khoa học muốn tìm một sách l-ợc
phòng trừ sâu hại thay thế phòng trừ hóa học đ-ợc gọi là quản lý quần thể toàn
diện (Total Population Management,TPM) do Knippling đề ra năm 1982 để tiêu
diệt sâu hại bông. Theo phân tích của các nhà khoa học, TPM và IPM có những
điểm khác nhau: (1)TPM chỉ nhằm phòng trừ sâu hại vệ sinh, còn đối với SBH
nông lâm nghiệp phải ứng dụng IPM, bởi vì TPM nhấn mạnh không thể không
tiêu diệt triệt để mà IPM không thể thực hiện đ-ợc (2)Thái độ đối với thuốc hoá
học dù cả hai đều nhấn mạnh không đơn thuần sử dụng thuốc hóa học, nh-ng
TPM lại xem sử dụng thuốc hóa học là biện pháp chủ yếu mà IPM lại xem xét
đến cố gắng tránh dùng. (3)TPM không phản đối sử dụng ph-ơng pháp SVH
nh-ng vẫn có thái độ hoài nghi. (4) Về chi phí và lợi ích TPM chú trọng hiệu ích
lâu dài mà IPM lại xem xét nhiều đến lợi ích ngắn hạn. (5) TPM chú ý đến kỹ
thuật tiêu diệt mà IPM lại coi trọng nguyên tắc STH [45].
Để dung hòa hai quan điểm trên năm 1983, Ridyway và Hoyd đ-a ra quan
điểm quản lý quần thể trên diện rộng( Areawide Population Management,APM).
Họ cho rằng phòng trừ sâu hại có thể chia ra 3 giai đoạn: quản lý quần thể cục
bộ để đạt đ-ợc mục đích giảm mức độ bị hại cho từng hộ nông dân cá biệt; giai
đoạn quá độ là quản lý trên diện rộng là kết hợp IPM và TPM mục tiêu là khống
chế quần thể sâu hại trên diện rộng làm cho chúng bảo đảm d-ới ng-ỡng kinh tế
trong thời kỳ dài; giai đoạn cuối cùng là TPM mục tiêu là tiêu diệt quần thể loài
sâu hại về mặt kinh tế h-ớng theo khép kín diện rộng tự nhiên để đạt đ-ợc hiệu
quả lâu dài.
Cuối thế kỷ 20, từ tháng 6 năm 1992, sau hội nghị môi tr-ờng và phát
triển Liên Hợp Quốc, các nhà khoa học Mỹ đ-a ra những khái niệm mới về
phát triển nông nghiệp bền vững (Sustainable Agriculture Development) và
phát triển lâm nghiệp bền vững (Sustainable Forestry Development). Tt-ởng này cũng ngày càng đ-ợc chú ý trong phòng trừ sâu bệnh hại.
Về lịch sử phòng trừ sâu hại bằng sinh vật học đã có từ thế kỷ 9 tr-ớc
công nguyên ng-ời Giao chỉ đã biết dùng kiến (Oeciophylla smargdina) để diệt
sâu đục thân cam và bọ lá. Nh-ng những nghiên cứu dẫn dụ ong ký sinh và nấm
Beauveria để phòng trừ sâu hại đ-ợc thịnh hành vào thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ
20. Việc phòng trừ sinh học đã đ-ợc phát triển từ năm 1880 đến 1940 ở nhiều
n-ớc châu Âu. Đến cuối thế kỷ 20 việc phòng trừ bằng SVH đã đ-ợc tiến hành
trên diện rộng. Trên thế giới năm 1988 phòng trừ sâu hại rừng bằng ong mắt đỏ
đã lên tới hàng chục ngàn ha [44].
Do rừng có những đặc điểm riêng, tỷ lệ thành công trong phòng trừ sinh
học rất lớn, th-ờng gấp 7- 8 lần so với áp dụng ở đồng ruộng. Tính -u việt của
phòng trừ sâu hại rừng bằng SVH là (1) Kết cấu quần thể rừng đa dạng, tuổi thọ
lâu dài, có hệ sinh thái ổn định có lợi cho các loài thiên địch định c- và sinh tồn.
(2) Rừng có hệ sinh thái đa dạng, nhiều tầng thứ, phức tạp, cho nên dễ hình
thành quan hệ mạng l-ới thức ăn nhiều lớp, kết cấu quần xã ổn định. (3) Sức
sống cây rừng mạnh sức chống chịu sâu cao sau khi bị hại khả năng khôi phục
mạnh, cho nên ng-ỡng kinh tế th-ờng cao hơn các loại hệ sinh thái đồng ruộng
[16].
Từ khi có thuốc hoá học DDT đ-ợc sản xuất vào năm 1942 để diệt sâu,
một loạt loại thuốc khác cũng đ-ợc tiếp tục sản xuất. Điều này đã làm lu mờ việc
phòng trừ sinh học, các nhà nghiên cứu côn trùng đều chuyển h-ớng sang phòng
trừ hóa học. Đến năm 1962 một bài báo núi rừng yên lặng của bà Rea Carson
là tiếng chuông cảnh tỉnh cho việc sử dụng thuốc hóa học gây ra ô nhiễm môi
tr-ờng tiêu diệt các loài thiên địch, ng-ời ta mới nhận thấy rằng tác hại của
thuốc hóa học. Vai trò của phòng trừ sinh học lại chiếm vị trí đặc biệt quan
trọng.
Năm 1966, FAO mới bắt đầu đề ra quản lý vật gây hại tổng hợp (IPM)
nhấn mạnh việc phòng trừ sâu bệnh bằng SVH và kỹ thuật. Trong đó việc nhập
nội, di c- và bảo vệ lợi dụng thiên địch sâu hại là vấn đề vô cùng quan trọng.
Chủng loại thiên địch sâu hại có rất nhiều bao gồm gia súc, gia cầm, chim bắt
sâu, động vật leo trèo và l-ỡng thê; động vật thân mềm, tuyến trùng, nấm, vi
khuẩn và virus, nh-ng trong thực tế côn trùng thiên địch và VSV gây bệnh côn
trùng đ-ợc sử dụng nhiều nhất. Năm 1972, Huffaker nhà SVH ng-ời Mỹ cũng
đ-a ra kế hoạch IPM và đã đ-ợc hội Khoa học Mỹ ủng hộ, 18 tr-ờng Đại học đã
tiến hành thực hiện IPM cho 6 loài sâu hại nguy hiểm ở Mỹ. Kế hoạch đó không
chỉ vận dụng toán học, công trình học, khí t-ợng học, sinh lý thực vật động vật
hiện đại mà còn sử dụng cả các biện pháp kỹ thuật máy vi tính, rada, viễn thám
hồng ngoại. Công trình khoa học hoá trong phòng trừ sâu hại đã mở ra một trang
sử mới có tính định l-ợng về IPM [47].
Phòng trừ sinh học sâu hại rừng bao gồm bảo vệ và lợi dụng các loài côn
trùng thiên địch ký sinh, các động vật bắt mồi và VSV gây bệnh.
Trong các VSV gây bệnh bao gồm các loài nấm, vi khuẩn, virus. Các tỉnh
miền Nam Trung Quốc và Việt Nam đã sử dụng rộng rãi loài nấm Beauveria
bassiana vào những năm thập kỷ 80. Những năm gần đây Trung Quốc đã ứng
dụng chế phẩm nấm Beauveria bassiana để phòng trừ SRT đứng đầu thế giới.
Gần đây Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu nấm tựa mốc xanh ( Pacilomyces
spp.) phòng trừ sâu hại. Loài P. farinosus phòng trừ SRT khi nhiệt độ d-ới 20oC
độ độc còn cao hơn nấm Beauveria bassiana, cho nên đầu mùa xuân nên sử
dụng nấm tựa mốc xanh để phòng trừ ( Li Zengzhi, 1993) [45]. Do nấm tựa mốc
xanh có nhiều vật chủ đặc tính SVH tốt, tóm tại trong điều kiện nhiệt độ thấp là
một loài nấm có nhiều triển vọng.
Về vi khuẩn gây bệnh côn trùng, từ năm 1915, Berliner phát hiện vi khuẩn
Bacillus thuringiensis (B.t.) là nguyên nhân gây bệnh côn trùng bộ cánh vẩy,
nhiều n-ớc đã tiến hành sản xuất chế phẩm vi sinh có hoạt tính diệt sâu khá cao.
Năm 1982, Krieg từ nhộng sâu cánh vàng ( Tenebrio molitor) phân lập đ-ợc
loài vi khuẩn phụ B. thuringiensis terebrionis (B.t.t.) có tác dụng diệt trừ sâu bộ
cánh cứng và một số biến loài phòng trừ đ-ợc sâu non muỗi.
Hiện nay, ở Trung Quốc đã nghiên cứu thành công dùng DNA của vi
khuẩn B.t chuyển gen cho cây bạch d-ơng dùng để diệt sâu ngài đêm hại cây
bạch d-ơng. Cây bạch d-ơng giống mới này không bao giờ bị sâu hại nữa.
Việc nghiên cứu virus trừ sâu cũng đã có rất lâu, từ thập kỷ 40 thế kỷ 20,
các n-ớc châu Âu đã dùng virus đa diện nhân (NPV) phòng trừ ong ăn lá
thông(OAL) thông vân sam ( Diprion hercyniae) sau khi dẫn vào châu Mỹ,
chúng có thể phòng trừ OAL Neodiprion sertifer. NPV đã có thể phòng trừ 9
loài sâu hại như ngài độc liễu, ngài độc chè, SRT, sâu đo chèNgoài ra thập kỷ
70, các loài virus khác nh- virus đa diện chất (CPV) virus hạt (GV) cũng đã
đ-ợc nghiên cứu và sử dụng [47].
Vào đầu thế kỷ 21, Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu trộn chế phẩm vi
khuẩn với virus và đ-ợc gọi là chế phẩm Bitadin, năm 2004 khi dịch SRT đã phát
triển đến mức cực đỉnh ở nhiều tỉnh, n-ớc ta đã sử dụng chế phẩm đó tại một số
lâm tr-ờng ở Nghệ An. Hiệu quả phòng trừ khá tốt.
Cũng vào đầu thế kỷ này ở Trung Quốc cũng sản xuất một loạt các thuốc
trừ sâu bào chế từ thực vật nh- khổ sâm, thuốc lá, xoan, dây cá, cúc hoa trắng.
Mấy năm nay, n-ớc ta bắt đầu sử dụng thuốc Bai Chong Cha ( bách trùng sát)
của Trung Quốc và thử nghiệm thành công trên một số loài rau, lúa, ngô [44].
Có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về SBH cây lâm nghiệp nói chung và
phòng trừ SRT nói riêng của nhiều tác giả trên thế giới. Đó là các nghiên cứu cơ
bản về sinh học, STH của các loài SBH và các biện pháp phòng trừ trong đó có
những nghiên cứu về côn trùng có ích, nấm có ích, biện pháp sử dụng côn trùng
và VSV có ích theo h-ớng quản lý SBH tổng hợp.
Trong nghiên cứu phòng trừ sinh học một vấn đề liên quan với nghiên cứu
n-ớc ta là sử dụng nấm Beauveria bassiana, (B.b) hay còn gọi là nấm bạch
c-ơng, nấm tằm vôi. Năm 1835, Agostino Bassi đ-ợc coi là ng-ời đầu tiên
trong lĩnh vực bệnh lý côn trùng, ng-ời đầu tiên giải thích bệnh bạch c-ơng ở
tằm, đề xuất biện pháp khắc phục, đồng thời gợi ý dùng VSV gây bệnh để trừ
côn trùng có hại [28, 31, 45].
Theo Audouin (1837) thì nấm bạch c-ơng không chỉ gây bệnh cho tằm, có
thể dùng nấm này trừ các côn trùng khác đ-ợc (Weiser, 1966).
Năm 1879, Metchikoff phát hiện nấm Lục c-ơng (Metarrhizium
anisoplidata Metchn.) gây hại cho bọ hung(Ansoplia austriaca Herbst.), năm
1884 một số nhà sản xuất nấm này đã đạt đ-ợc hiệu quả phòng trừ rõ rệt, nhiều
nhà khoa học châu Âu đã sử dụng nấm Beauveria spp để phòng trừ các loài sâu
hại nh- ngài độc (Portheria monacha), bọ hung (Melolontha spp.), OAL
thông...Vì vậy có thể nói giai đoạn từ 1888 đến 1940 là giai đoạn h-ng thịnh của
phòng trừ sinh học nói chung và phòng trừ vi sinh học nói riêng.
Năm 1954, Macleod [28] phân nấm B.b ra 2 loài chính là nấm B.b có bào
tử hình cầu và Beauveria tenella có bào tử hình trứng. Trong đó loài B.b phân bố
rộng nhất, xâm nhiểm nhiều loài côn trùng nhất, dùng để phòng trừ sâu thuộc bộ
cánh vẩy và cánh nữa. Nấm Beauveria tenella có tên khác là Beauveria
brongniartii, thuờng phân bố trong đất, dùng để phòng trừ sâu non bọ hung.
Năm 1975, Hook công bố 2 loài nấm B.b không có tác dụng phòng trừ sâu là
B.alba và B.vermiconia, sau đó Carmichae (1980) và Samon (1982) lại công bố
thêm 3 loài mới là B. felina, B.velata và B.amorpha. Nh- vậy, nấm B.b có đến 7
loài, về sau năm 1984 ở Nhật Bản đã phân lập rất nhiều loài nấm B.b có bào tử
hình ống và hình que ở giữa thắt lại và hơi uốn công, tế bào sinh bào tử hình
bình, đuôi hình chữ Z.
Cùng với sự phát triển của khoa học phòng trừ sinh học, đã có rất nhiều tổ
chức đ-ợc thành lập để phục vụ tốt hơn cho công tác nghiên cứu nh-: năm 1952
thành lập tổ chức phòng trừ sinh học quốc tế (IOBC), năm 1957 viện phòng trừ
sinh học Liên Bang Anh (ICBC) đ-ợc thành lập, năm 1950 thành lập hội khoa
học sinh vật quốc tế IUBS, năm 1962 thành lập tổ chức Quốc Tế về phòng trừ
sinh học đông vật có hại (OILB). Điều này đã chứng minh đ-ợc rằng phòng trừ
sinh học đang đ-ợc quan tâm và đầu t- phát triển. Đó là một h-ớng đi đúng đảm
bảo phát triển bền vững và giữ đ-ợc cân bằng sinh thái [20].
ở Trung quốc, từ năm 1950 -1970 [9, 45, 47], đã có nhiều cơ quan và các
cá nhân nghiên cứu về đặc tính SVH, STH, quá trình phát dịch và các biện pháp
phòng trừ SRT nh-:
Năm 1957, Liu Banxiao, Chen Zihe đã b-ớc đầu quan sát về đặc tính
SVH, STH, quá trình phát dịch và các biện pháp phòng trừ SRT.
Năm 1958, Sun Ha Un, Liu Yoan Fu b-ớc đầu đã nghiên cứu về ảnh
h-ởng ký sinh đến dịch SRT ở Tùng An- tỉnh Hồ Nam.
Năm 1963, Sở Lâm Nghiệp Trung Quốc đã có kết quả nghiên cứu về đặc
tính SVH và một số loài thiên địch ký sinh SRT.
Trong các loài VSV có ích thì nấm là loài đ-ợc chú ý hơn cả, trong các
loài nấm thì nấm B.b là loài nấm phổ biến dùng để phòng trừ sâu hại và là loài
nấm đ-ợc sản xuất rộng rãi tại nhiều n-ớc trên thế giới.
Theo thống kê, nấm B.b ký sinh gây bệnh cho hơn 700 loài thuộc 149 họ
và 15 bộ côn trùng rừng, hơn 10 loài nhện. Hiện nay trong công nghệ sản xuất
nấm này ng-ời ta đã tạo ra chế phẩm với sản l-ợng cao, đ-ợc sử dụng để phòng
trừ các loài sâu hại nh-: SRT, ngài độc hại thông, sâu róm hại keo, sâu đục thân
dẻ,...[45].
Nghiên cứu liên quan đến cây thảo mộc
Theo tài liệu của Miao Jiancai (1990) tài nguyên thuốc trừ sâu thực vật ở
Trung Quốc rất phong phú, có lịch sử ứng dụng lâu đời, từ thời nhà Minh (1596)
nhiều cuốn sách như bản thảo c-ơng mục đã nêu lên chủng loại, phân bố,và
sử dụng cây diệt sâu. Năm 1959, Trung Quốc xuất bản Trung Quốc thổ nông
d-ợc chí đề cập đến 220 loài cây thuộc 85 họ và đã chế ra chế phẩm đ-ợc 183
loài [44].
Về chủng loài thuốc trừ sâu thực vật , trên thế giới xác định có 129 hợp
chất hóa học và thử nghiệm trên 50 loại. Dựa vào kết cấu hóa học và tác dụng
của thuốc trừ sâu ng-ời ta chia ra: tác dụng gây ngán và xua đuổi có 9 loại:
glucosisdes, terpenes (sesquiterpenes, diterpenes, triterpenes) coumarins, lignans,
alkalois steroids, polyacetylenes, và các sản phẩm khác. Tác dụng gây bất thụ đề
cập đến loại kiềm camptuthecine chiết xuất từ vỏ và quả cây Camptotheca
acuminata và chất harringtonine chiết xuất từ sam 3 lá ( Cephalotaxus fortunei)
có tác dụng làm bất thụ SRT đuôi ngựa. Tác dụng gây kích thích lột xác nh- chất
putoecdysone trong cây sam tím Taxus cuspidata. Chất gây thành thục sớm nhchất precocene trong cây cỏ tai gấu ( Ageratum houstonianum ). Tác dụng gây
tê nh- cây đắng Celastrus angulata . Tác dụng xông hơi nh- dầu thơm xông
mối mọt [44]
.
1.2.Tình hình nghiên cứu trong n-ớc
1.2.1.Những nghiên cứu về SRT (Dendrolimus punctatus Walker)
SRT là một trong những loài sâu hại rừng nguy hiểm cho các lâm phần
thông (Pinus spp.) ở Việt Nam và các tỉnh Trung Quốc, Đài Loan,...Do vậy mà ở
n-ớc ta, việc nghiên cứu về SRT đã có từ năm 1960 tại các tr-ờng Đại học Nông
Lâm, Đại học tổng hợp Hà Nội và Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp. Các năm sau
đó một số công trình nghiên cứu vẫn đ-ợc tiếp tục tiến hành cho đến nay đã có
trên 20 tác giả công bố các công trình nghiên cứu về phân loại, hình thái, sinh
thái, SVH, điều tra dự tính dự báo và ph-ơng pháp phòng trừ cho loài sâu đặc
biệt nguy hiểm này [15].
Tuy đ-ợc quan tâm nghiên cứu nh- vậy, nh-ng có thể nói so với các đồng
nghiệp Trung Quốc thì các công trình nghiên cứu về SRT ở n-ớc ta vẫn ch-a
thực sự hoàn chỉnh và ch-a có quy mô ở tầm Quốc gia. Các nghiên cứu th-ờng
đ-ợc tiến hành đơn lẻ trong một phạm vi và thiếu tính hệ thống, thông th-ờng
nội dung nghiên cứu chỉ tiếp cận đối t-ợng ở một ph-ơng diện có tính thời sự mà
tác giả hay địa ph-ơng lúc bấy giờ quan tâm.
Những tác giả đã có những công trình hay bài viết về SRT ở n-ớc ta trong
thời gian qua (Theo thứ tự thời gian)[11]: Nguyễn Hồng Đảng, Nông Văn Ba
(1962), Trần Kiểm (1962), Phạm Ngọc Anh (1963), Nguyễn Hiếu Liêm (1968),
Đặng Vũ Cẩn (1970), Phạm Bình Quyền, Nguyễn Anh Diệp (1973), Nguyễn
Văn Đoài, Nguyễn Duy Thiệu (1975), Nguyễn Duy Bình, Đào Xuân Tr-ờng
(1976), Nguyễn Quốc Th-ởng (1978), Phạm Ngọc Anh, Nguyễn Văn Độ (1979),
Đỗ Văn Xứng (1982), Trần Văn Mão (1983), Lê Nam Hùng, Nguyễn Văn Độ,
Phan Văn Ninh, Cù Thị C- (1990), Trần Công Loanh (1989, 1997), Nguyễn Thế
Nhã (1997).
1.2.2.Những nghiên cứu về các ph-ơng pháp điều tra, dự tính dự báo
và phòng trừ sâu hại rừng
Trong thập niên 1970, một số nghiên cứu b-ớc đầu về sử dụng thiên địch
ký sinh để phòng trừ SRT cũng đã đ-ợc tiến hành nh-: Năm 1973, Tạ Kim
Chỉnh đã nghiên cứu sử dụng nấm Beauveria bassiana để diệt sâu non. Trong
giáo trình Côn trùng học Phạm Ngọc Anh đề cập đến việc sử dụng ong mắt đỏ
Trichogramma dendrolimi ký sinh trứng để phòng trừ SRT. Mặc dù vậy, những
kết quả nghiên cứu này là những xuất phát điểm để thời gian tiếp sau đó có thêm
nhiều đề tài tiếp tục theo h-ớng sử dụng các biện pháp phòng trừ sinh học và đã
thu đ-ợc những kết quả khả quan. Điển hình nh- sử dụng chế phẩm sinh học
Bacillin, virus phòng trừ SRT (Trần Văn Mão, 1983; Nguyễn Văn Cẩm, Hoàng
Thị Việt, 1996); nhân giống và sản xuất chế phẩm Boverin với khối l-ợng lớn
phục vụ cho việc phòng trừ SRT ở một số tỉnh miền Trung nh-: Thanh Hoá,
Nghệ An, Hà Tĩnh [20].
Năm 1967, Viện nghiên cứu Lâm nghiệp đã nghiên cứu và dự tính dự báo
SRT làm cơ sở cho việc sử dụng ph-ơng pháp sinh học. Các ph-ơng pháp dự tính
dự báo đ-ợc áp dụng gồm dự báo số lứa sâu xuất hiện trong năm, dự báo mật độ
sâu và khả năng hình thành dịch, dự báo mức độ gây hại,...
Từ năm 1979-1985, tr-ờng Đại học Lâm nghiệp đã tiến hành sản xuất chế
phẩm Beauverin và phòng trừ tại nhiều tỉnh miền Bắc. Chế phẩm đã đ-ợc nhà
n-ớc tặng th-ởng huy ch-ơng vàng. Sau đó năm 1987, Trung tâm Bảo vệ rừng
(TTBVR) số I, số II đã tiến hành nghiên cứu các loài sâu hại, phát hiện một số
loài côn trùng ký sinh, côn trùng ăn thịt của SRT nh- các loài bọ ngựa, bọ xít,
kiến, các loài ruồi, ong ký sinh,...Từ thập kỷ 90 của thế kỷ 20, Viện Bảo vệ thực
vật (BVTV), Viện công nghiệp thực phẩm cũng bắt đầu nghiên cứu sản xuất một
số chế phẩm sinh học nh- nấm bạch c-ơng (Beauveria bassiana ), lục c-ơng
(Metazhzium) vi khuẩn Bacillus thuringiensis (B.t) phục vụ cho phòng trừ SRT từ
Thừa Thiên Huế đến Quảng Ninh.
Năm 1990, Lê Nam Hùng đã báo cáo kết quả "Nghiên cứu biện pháp dự
tính dự báo và phòng trừ tổng hợp SRT (Dendrolimus punctatus Walker) ở miền
Bắc Việt Nam". Các ph-ơng pháp dự tính dự báo sử dụng trong nghiên cứu này
phần lớn dựa vào một số đặc tính SVH chủ yếu của SRT.
Gần đây, Phạm Thị Thuỳ, Lê Văn Thuyết, Nguyễn Xuân Nghiêm,
Nguyễn Hoài Bắc[34] có 2 công trình nghiên cứu:(1) Nghiên cứu chế phẩm
Beauveria bassiana để phòng trừ SRT hại rừng thông, công trình đã đ-ợc
nghiệm thu, đánh giá tại hội đồng khoa học tỉnh Sơn La năm 1998 và nhận giải
nhì VIFOTEC năm 1998;(2) Nghiên cứu chế phẩm virus và vi nấm trừ sâu hại,
đã đ-ợc nghiệm thu tại hội đồng khoa học Bộ KHCN &MT năm 1995 và nhận
giải 3 VIFOTEC năm 1995 và đã đ-ợc triển khai nghiên cứu sản xuất các chế
phẩm virus diệt sâu khoang, virus diệt sâu xanh.
Trên cơ sở của ch-ơng trình công nghệ sinh học cấp nhà n-ớc, hai công
trình trên đã nghiên cứu công nghệ vi sinh đã tạo ra những chế phẩm VSV nhvirus và nấm trừ sâu hại cây trồng đạt kết quả cao, không gây ô nhiểm môi
tr-ờng không độc hại với ng-ời sản xuất, không làm ảnh h-ởng đến những loài
sinh vật có ích ngoài tự nhiên...Kể từ khi nhận giải th-ởng đến nay qua thời gian
từ 5 - 8 năm, hai công trình trên dần dần từng b-ớc hoàn thiện quy trình sản xuất
và tạo ra các sản phẩm có chất l-ợng cao, có hiệu quả ổn định và lâu bền trong
việc phòng trừ dịch sâu hại cây trồng nông lâm nghiệp trên địa bàn cả n-ớc. Cụ
thể nh- chế phẩm virus đã sản xuất đ-ợc 5 loại virus sâu xanh bông, virus sâu
xanh b-ớm trắng, virus sâu khoang, virus keo da láng, virus sâu tơ để phòng trừ
5 loại sâu hại trên diện tích rau các tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc... hiệu
quả đạt đ-ợc từ 70% trở lên sau 5 - 7 ngày phòng trừ ngoài đồng ruộng; chế
phẩm nấm Beauveria bassiana đã ứng dụng phòng trừ trên diện tích rộng hàng
nghìn ha rừng thông ở các tỉnh Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Sơn La, Bắc Giang...Năm
2003, dịch SRT nổi lên tại nhiều tỉnh vùng trồng thông ở miền Trung tập trung
chủ yếu ở các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị,
riêng Hà Tĩnh nhiều vùng nh- công ty H-ơng Khê có nhiều nơi mật độ cao tới
hàng nghìn con trên cây, phun thuốc hoá học xong sâu lại tái phát nên đã dùng
thuốc nấm Beauveria bassiana để phòng trừ b-ớc đầu đã dập tắt đ-ợc một số
vùng.
Chế phẩm vi nấm Metarhizium annisopliae đã ứng dụng để phòng trừ
châu chấu hại cây trồng ở các tỉnh phía Nam và một số tỉnh phía Bắc nh- Hải
H-ng, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá và ứng dụng để phòng trừ bọ hại dừa ở 30
tỉnh thuộc miền Nam và đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2003 - 2004, bọ hại
dừa đã lan ra cả Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Nội và Hải Phòng, cũng nh- SRT bọ
hại dừa rất khó phòng trừ, tháng 5 - 6 năm 2004 Chi cục BVTV tỉnh Hải Phòng
đã ứng dụng chế phẩm nấm Metarhizium annisopliae để trừ bọ dừa ở Đồ Sơn,
Thanh Hoá, Hải Phòng đạt kết quả tốt [34,35].
Ngoài ra, chế phẩm nấm Metarhizium annisopliae và Beauveria bassiana
đã ứng dụng để phòng trừ một số sâu hại rau bắp cải, súp lơ, đậu xanh, đậu t-ơng
ở Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Hà Nội, vụ đông xuân 2003, 2004 đạt kết quả khả
quan, hiệu quả phòng trừ sâu hại rau, đâu đạt từ 68,8 - 62,3% sau 10 - 15 ngày
phun
Năm 2004, Trần Văn Mão[10], trong cuốn h-ớng dẫn kỹ thuật phòng trừ
sâu bệnh hại dẻ (Castanopsis boisii) của dự án xây dựng mô hình sử dụng bền
vững rừng dẻ tái sinh đã sử dụng nấm B.b để phòng trừ sâu hại dẻ, sau 3 năm
nghiên cứu tác giả đã đ-a ra kết luận chế phẩm Boverin có tác dụng lâu dài để ức
chế sự phát dịch các loài sâu chủ yếu ở rừng dẻ nhất là sâu ăn hại quả dẻ, bọ nẹt,
sâu cuốn lá và sâu d-ới đất.
Viện công nghệ thực phẩm Hà Nội, Công ty thiên nông đã sản xuất thuốc
trừ sâu vi sinh B.t (Bacillus thuringiensis) diệt trừ sâu [13, 34, 36].
Nguyễn Thành Công (Tr-ờng Đại học lâm nghiệp Xuân Mai) [36] có công
trình nghiên cứu" Thử nghiệm nhân giống chế phẩm Bacillus thuringiensis để
phòng trừ SRT'. Kết quả chế phẩm B.t phòng trừ SRT có hiệu quả cao cả trong
phòng thí nghiệm và ngoài tự nhiên. Chế phẩm B.t sử dụng để phòng trừ , bảo vệ
rừng ở n-ớc ta mang lại hiệu quả cao cả về mặt kỷ thuật lẫn kinh tế, tránh ô
nhiễm môi tr-ờng khắc phục đ-ợc những hạn chế của các hoá chất khác đang
dùng.
Tháng 01 năm 2005, dịch SRT tái phát tại Nghệ An, gần 3.800 ha thông
nhiễm sâu. Đến ngày 10 tháng 11, diện tích thông nhiễm sâu róm đã hơn 7.600
ha (có 544 ha nhiễm nặng). Đối với dịch sâu róm tỉnh Nghệ An đã chi gần 1 tỷ
đồng để phun chế phẩm sinh học Boverin, Bitadin khi sâu đang ở thế hệ 3, thế hệ
4 [34].
Tháng 5 năm 2006, ban quản lý rừng phòng hộ Nghi Lộc - Nghệ An đã sử
dụng chế phẩm sinh học Bitadin phun vào thời điểm sáng sớm khiến sâu không
kịp vào kén, bỏ ăn, chết hàng loạt. Tỷ lệ sâu chết sau khi phun thuốc đạt 80 90% [34,35].
Xí nghiệp sản xuất Boverin của công ty Lâm - Nông- Công Nghiệp Hà
Tĩnh đ-ợc đầu t- 1,7 tỷ đồng có đầy đủ dây chuyền sản xuất đồng bộ với các
phòng nuôi giống, phòng định l-ợng bào tử, phòng phân lập bào tử và cấy
chuyển, phòng sản xuất môi tr-ờng... với công suất dự kiến 40 tấn/năm. Cuối
năm 2004, những lô thuốc đầu tiên của xí nghiệp đã đ-ợc phun ngay cho những
khu rừng thông bị sâu róm phá hại của công ty.Tại những khu rừng này, dịch sâu
róm không xuất hiện trở lại chỉ rải rác một số cây bị nhiễm d-ới ng-ỡng gây hại
[34].
Lê Thuỳ Quyên (Khoa công nghệ sinh học- Tr-ờng đại học dân lập
Thăng Long Hà Nội) đã nghiên cứu công nghệ sản xuất chế phẩm nấm
Metarhizium anisopliae (còn goị là nấm Ma) có khả năng diệt đ-ợc nhiều loài
sâu bệnh, không gây hại cho môi tr-ờng và con ng-ời đã chính thức đ-ợc
VIFOTEC lựa chọn và đề nghị Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO tặng giải
th-ởng sáng tạo khoa học kỹ thuật năm 2007 [34, 35].
Ch-ơng 2
Mục tiêu - đối t-ợng- thời gian - nội dung và
ph-ơng pháp nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Thử nghiệm sử dụng các loại chế phẩm sinh học trong điều kiện phòng thí
nghiệm và ngoài thực địa để kiểm tra hiệu quả của 3 loại chế phẩm sinh học
(Boverin, Bitadin, Bai chong cha) theo h-ớng quản lý tổng hợp để đạt đ-ợc hiệu
quả cao nhất trong phòng trừ SRT tại lâm tr-ờng Bến Hải - tỉnh Quảng Trị.
2.2. Đối t-ợng nghiên cứu
Đối t-ợng nghiên cứu chủ yếu là SRT hại thông nhựa và chế phẩm sinh
học Boverin, Bitadin, Bai chong cha.
2.3. Thời gian thực hiện
Đề tài đ-ợc thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 đến ngày 30 tháng
07 năm 2007, tại lâm tr-ờng Bến Hải- tỉnh Quảng Trị.
2.4. Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu đ-ợc đề cập các vấn đề sau:
2.4.1.Tìm hiểu đặc điểm của SRT
2.4.1.1.Đặc điểm phân loại và phân bố các loài SRT.
2.4.1.2.Tình hình gây hại của SRT.
2.4.1.3.Đặc điểm hình thái của SRT.
2.4.1.4.Đặc tính sinh vật học của SRT.
2.4.1.5.Đặc điểm động thái quần thể SRT.
2.4.1.6. Phân tích nguyên nhân gây dịch SRT.
2.4.2. Tìm hiểu một số đặc điểm của các chế phẩm sinh học
2.4.2.1.Đặc điểm hình thái và phân loại của nấm, vi khuẩn, virus, cây
khổ sâm và cây thuốc lá.
2.4.2.2.Đặc điểm về sinh thái học của các loài sinh vật trên.
2.4.2.3.Quá trình xâm nhiễm, gây chết của các chế phẩm sinh học đối
với SRT.
2.4.3. Nghiên cứu ứng dụng các chế phẩm sinh học đối với SRT.
2.4.3.1. Thử nghiệm phòng trừ trong phòng thí nghiệm.
2.4.3.2. Thử nghiệm phòng trừ ngoài thực địa.
2.4.4. Đánh giá hiệu quả phòng trừ các chế phẩm sinh học .
2.4.4.1.Hiệu quả phòng trừ trong phòng thí nghiệm.
2.4.4.2.Hiệu quả phòng trừ ngoài thực địa.
2.4.5. Đề xuất biện pháp phòng trừ nhằm phát triển bền vững khu
vực rừng trồng thông nhựa tại lâm tr-ờng Bến Hải.
2.5. Ph-ơng pháp nghiên cứu
2.5.1.Tìm hiểu đặc điểm của SRT.
Thông qua điều tra lấy mẫu vật, xác định các chỉ tiêu về hình thái,so sánh
với các tài liệu đã mô tả trong các cuốn sách phân loại và giáo trình hiện có, xác
định chính xác SRT tại khu vực nghiên cứu thuộc loài, chi bộ họ nào; tình hình
phân bố ngoài thực địa; tình hình gây hại, mô tả đặc điểm hình thái, đặc tính
SVH, đặc điểm động thái quần thể và phân tích nguyên nhân gây dịch của SRT
tại khu vực nghiên cứu.
Xác định phân bố của SRT tại khu vực nghiên cứu, chúng tôi sử dụng
ph-ơng pháp chỉ tiêu mật độ hệ số khuếch tán.
C = s2/xbq
(2.1)
Trong đó xbq là mật độ bình quân, s2 là ph-ơng sai.
Khi C < 1 là phân bố đều, C= 1 là phân bố ngẫu nhiên và C > 1 là phân bố
tụ đàn [45].
2.5.2.Tìm hiểu một số đặc điểm của các chế phẩm sinh học
Chủ yếu là thông qua quan sát ngoài thực địa và trong phòng thí nghiệm ,
trên kính hiển vi quang học có độ phóng đại 400 lần cơ quan sinh sản hình thành
trên xác SRT và đối chiếu với các tài liệu hiện có để mô tả chúng. Sau khi quan
sát đ-ợc chúng tôi dùng máy ảnh kỹ thuật số chụp lại những VSV đó.
Trong tr-ờng hợp không quan sát đ-ợc hoặc không có điều kiện quan sát,
chúng tôi mô phỏng theo các tài liệu đã đ-ợc xuất bản.
2.5.3. Thí nghiệm phòng trừ
Chúng tôi tiến hành các b-ớc nh- sau:
2.5.3.1.Phòng trừ sâu nuôi trong phòng thí nghiệm.
Mục đích của thí nghiệm phòng trừ trong phòng là tìm độc tính của thuốc
và các nhân tố ảnh h-ởng hiệu quả thuốc, làm căn cứ để tiến hành phòng trừ
SBH ngoài trời, là một công tác b-ớc đầu kiểm nghiệm hiệu quả thuốc. Ng-ợc
lại có lúc những thí nghiệm phòng trừ ngoài trời so sánh với những thí nghiệm
trong phòng cho chính xác hơn. Việc phòng trừ sâu trong phòng thí nghiệm có
thể tiến hành theo hai b-ớc, nuôi sâu trong bình và nuôi sâu trong lồng l-ới.
(1) Thí nghiệm phòng trừ SRT nuôi trong bình nhựa.
- Sâu non đ-ợc nuôi trong bình nhựa với kích th-ớc: đ-ờng kính 25 cm,
chiều cao 40 cm nh-ng không bỏ thức ăn (lá thông). Nuôi quần thể mỗi bình 30
con, mỗi loại công thức 1 lần lặp x 3 và có đối chứng.
(2) Thí nghiệm phòng trừ SRT nuôi trong lồng l-ới.
- Sâu non đ-ợc nuôi trong lòng kích th-ớc 50x50x70 cm, đ-ợc bao l-ới
0,5 mm theo ph-ơng pháp cành thông t-ơi bỏ trong lòng với định kỳ thay lá 3
ngày 1 lần. Nuôi quần thể mỗi lồng là 100 con, mỗi loại công thức 1 lần lặp x 1
và có đối chứng.
2.5.3.2.Thí nghiệm phòng trừ SRT ngoài thực địa.
Mục đích của thí nghiệm ngoài thực địa là: (1) So sánh các điều kiện cụ
thể các loại thuốc, các nồng độ ảnh h-ởng của các loài thiên địch; (2) ảnh
h-ởng của thuốc với sinh tr-ởng của cây; (3) ảnh h-ởng của các nhân tố khí
t-ợng đến thuốc; (4) độ đồng đều và chi phí phòng trừ.
Khi xác định hiệu quả của các loại thuốc cần chú ý các điểm sau:
(1) Số l-ợng sâu thí nghiệm càng nhiều càng tốt nh-ng sẽ gặp nhiều khó
khăn, nói chung khoảng 100 con cho mỗi công thức thí nghiệm là vừa.
Cần tính độ chính xác của thí nghiệm theo công thức:
S P.Q / n
(2.2)
P là tỷ lệ sâu chết; Q là tỷ lệ sâu sống; n là số sâu thí nghiệm.
(2) Các thí nghiệm cần đặt các ô đối chứng.
(3) Cần chú ý đến các loại thuốc phòng trừ đ-ợc nhiều loài sâu hại.
(4) Thí nghiệm trong cùng một điều kiện môi tr-ờng.
(5) So sánh nhiều loại thuốc nhiều nồng độ.
(6) Thuốc phải thuần khiết, phải phun đều.
(7) Các kết quả thí nghiệm cần phải ghi chép đầy đủ.
- Ph-ơng pháp lập OTC: Đối với rừng thuần loài đồng tuổi, nói chung lập
OTC có diện tích 0,06 ha (20mx30m), nếu biến đổi lâm phần lớn nên lập 0,1 ha
(1000 m2), rừng mới trồng lập 0,01 ha (100 m2) là vừa. Trong OTC số cây không
nhỏ hơn 100 cây, nếu nhỏ quá phải tăng diện tích lên [19, 43] .
Địa điểm nghiên cứu là rừng thông thuần loài đ-ợc trồng từ năm 1987, đã
qua tỉa th-a lần 2, mật độ hiện còn là 700 cây/ha. Tiến hành lập OTC 1.500 m2
(30mx50m), đảm bảo trên 100 cây/OTC, với mổi công thức 3 lần lặp x3 và có
đối chứng. Trong mổi OTC chọn 10 cây tiêu chuẩn và đánh dấu sơn để điều tra
theo dõi sâu.
- Ph-ơng pháp điều tra mật độ sâu trên cây: Dùng phân sâu để đánh giá
mật độ sâu.
Dụng cụ hứng phân là bạt có diện tích 1m2 (1mx1m) đặt d-ới tán cây
trong 24 giờ.
Tính số l-ợng phân thải ra trong 24 giờ và áp dụng công thức sau để xác
định mật độ sâu trên cây
S
P D
K
R
(2.3)
Trong đó:
S: Số l-ợng sâu non/cây.
P: Số viên phân thu đ-ợc/ Ô trong 24 giờ.
R: Số viên phân của sâu khi nuôi thải ra trong 24 giờ.
D: Diện tích hình chiếu tán
K: Sai số thực nghiệm và chính là tỷ số giữa l-ợng phân tính đúng
trong 1 m2 tán cây và l-ợng phân rơi vào ô.
2.5.4. Các dụng cụ phòng trừ
Trong phòng : Dùng 3 loại chế phẩm sinh học, pha với n-ớc lạnh với nồng
độ 0,1 % phun lên các cành mẫu quần thể sâu non lớn ( tuổi 2-5) với liều l-ợng
nh- nhau, công thức đối chứng không phun thuốc mà chỉ phun n-ớc lạnh.
Ngoài thực địa: Dùng 3 loại chế phẩm sinh học pha với n-ớc lạnh với
nồng độ 0,1 % phun đều trên toàn bộ các cây trong OTC với liều l-ợng nhnhau, công thức đối chứng không phun thuốc mà chỉ phun n-ớc lạnh.
Dụng cụ phun thuốc trong phòng dùng bình bơm tay 20 lít đeo vai, ở
ngoài rừng dùng máy phun thuốc có động cơ xăng 4 kỳ loại HonDa.
2.5.5.Ph-ơng pháp đánh giá hiệu quả phòng trừ SRT bằng các loại
chế phẩm.
*Thí nghiệm ngoài rừng: Sử dụng các OTC đã lập để tiến hành thí nghiệm,
mổi thí nghiệm gồm 4 công thức. Trong đó:
TN1 gồm: CT1; CT2; CT3; DC.
TN2 gồm: CT1; CT2; CT3; DC.
TN3 gồm: CT1; CT2; CT3; DC.
CT1(O1): Phun chế phẩm Boverin.
CT2(O2): Phun chế phẩm Bitadin
CT3(O3): Phun chế phẩm Bai chong cha
DC(O4): Không phun
Trong các OTC tiến hành điều tra mật độ sâu trên cây của các cây tiêu
chuẩn, trước và sau phun (trước khi phun, 10 ngày sau phun, 20 ngày sau phun
ô đối chứng không phun cũng theo dõi t-ơng tự. Kết quả ghi vào phụ biểu 01.
Từ các số liệu điều tra mật độ sâu ban đầu, chúng tôi tiến hành tính toán
xác định phân bố không gian theo ph-ơng pháp chỉ tiêu mật độ theo hệ số
khuếch tán theo công thức (2.1).
C = s2 / xbq
Trong đó : xbq là mật độ bình quân, s2 là ph-ơng sai.
( x1 x bq ) 2
s
n
2
(2.4)
Nếu C < 1 là phân bố đều, C =1 là phân bố ngẫu nhiên, C > 1 là phân bố
tụ đàn [45].
Mục đích của việc kiểm tra phân bố SRT là tìm hiểu ảnh h-ởng của điều
kiện môi tr-ờng với đặc tính SVH của SRT, từ đó kiểm tra việc xác lập ph-ơng
pháp điều tra. Sau đó tính hiệu quả phòng trừ theo công thức cho mỗi loại chế
phẩm.
EF = 1-
TxCKo
x100
ToxCK
(2.5)
Trong đó:
EF: Hiệu quả phòng trừ.
CK0:Số sâu ban đầu ô đối chứng.
CK: Số sâu sau phòng trừ ô đối chứng.
To: Số sâu ban đầu ô thí nghiệm.
T:Số sâu phòng trừ ô thí nghiệm.
*Thí nghiệm trong phòng:
- Thí nghiệm trong bình với 1 lần lặp x3, mỗi bình nuôi 30 con, tiến hành
theo dõi tr-ớc và sau phun, bình đối chứng không phun. Kết quả ghi vào phụ
biểu 02.
Sử dụng công thức (2.5) để đánh giá hiệu quả phòng trừ.
- Thí nghiệm trong lồng l-ới 1 lần lặp x1, trong đó:
Lồng I: Phun chế phẩm Boverin.
Lồng II: Phun chế phẩm Bitadin.
Lồng III: Phun chế phẩm Bai chong cha.
Lồng DC: Không phun.
Mỗi lồng nuôi 100 con, tiến hành theo dõi tr-ớc và sau khi phun. Kết quả
đ-ợc ghi vào phụ biểu 03.
Sử dụng công thức (2.5) để đánh giá hiệu quả phòng trừ.
Mỗi công thức phòng trừ đều đ-ợc tính độ chính xác của thí nghiệm theo
công thức (2.2) để tính sai tiêu chuẩn [44].
S P.Q / n
Sau khi có kết quả trên chúng tôi tiến hành đề xuất biện pháp phòng trừ
hiệu quả nhất theo khía cạnh quản lý tổng hợp và phát triển bền vững.
Ch-ơng 3
Đặc điểm khu vực nghiên cứu
3.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1. Vị trí địa lý
Lâm tr-ờng Bến Hải nằm ở trung tâm thị trấn Vĩnh Linh có toạ độ địa lý
là: 16053' - 17010' vĩ độ Bắc, 106042' - 107007' kinh độ Đông.
Diện tích rừng và đất lâm nghiệp nằm trong địa giới hành chính các xã
Vĩnh Thuỷ, Vĩnh Sơn, Vĩnh Long, Vĩnh Chấp, Vĩnh Khê, Vĩnh Hà và Vĩnh Ô.
Phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Bình, gồm toàn bộ diện tích rừng và đất lâm
nghiệp của 2 xã Vĩnh Long, Vĩnh Chấp.
Phía Nam giáp với sông Bến Hải và
huyện Gio Linh, gồm 2 xã Vĩnh Thuỷ, Vĩnh Sơn. Phía Tây giáp với huyện
H-ớng Hoá, gồm 2 xã Vĩnh Hà, Vĩnh Ô. Phía Đông giáp với quốc lộ 1A.
3.1.2. Địa hình
Địa hình lâm tr-ờng khá đa dạng cả vùng đồi núi, gò đồi với nền địa hình
phân hoá theo dọc kinh tuyến độ cao giảm dần từ Tây sang Đông.
- Vùng địa hình gò đồi, núi thấp: chiếm diện tích lớn, hai dải từ Tây sang
Đông nằm kẹp giữa vùng núi cao và dải đồng bằng biên. Địa hình này bao gồm
các đồi bát úp phát triển trên đá mẹ phiến thạch, phiến sa thạch. Có độ cao t-ơng
đối từ 20 - 200 m. Độ dốc biến động từ 8 - 200.
- Vùng địa hình núi cao: phân bố tập trung theo dãy tr-ờng sơn thuộc xã
Vĩnh Ô, độ dốc lớn, bị chia cắt mạnh bởi các sông suối của hai l-u vực sông Bến
Hải (Rào tr-ờng), sông Sa Lung (Rào quang) tạo thành những thung lũng hẹp.
Độ cao t-ơng đối từ 200 1.254 m. Độ dốc biến động từ 15 - 450.
3.1.3. Khí hậu - Thuỷ văn
3.1.3.1.Khí hậu
Khí hậu là nhân tố tự nhiên quan trọng ảnh h-ởng nhiều đến quá trình sinh
tr-ởng, phát triển của cây trồng và các loài SBH. Lâm tr-ờng Bến Hải nằm trong
vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang đặc tr-ng khí hậu vùng Bắc Trung Bộ,
một năm phân thành 2 mùa.
Từ số liệu khí hậu Việt Nam thu thập tại bộ môn Khí t-ợng tr-ờng Đại
học Lâm nghiệp, chúng tôi có một số nhận xét nh- sau:
Nhiệt độ tối cao trung bình năm là 29,1oC, tối thấp trung bình là 22oC,
l-ợng m-a trung bình năm là 2.376mm, độ ẩm không khí là 82%, Từ các số liệu
về nhiệt độ và l-ợng m-a ta có thể lập biểu đồ khí hậu (theo Gaussen Walter,
1962.) tỉnh Quảng Trị theo hình vẽ sau (Hình 3.1).
800
700
600
500
400
300
200
100
0
P
2t
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10 11 12
Hình 3.1. Biểu đồ biểu thị khí hậu khu vực Vĩnh Linh, Quảng Trị
Hình trên cho thấy khu vực lâm tr-ờng Bến Hải hàng năm có 2 mùa rõ
rệt, mùa m-a từ tháng 8 đến tháng 12, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7. Ngoài
hai mùa nói trên, xen giữa hai mùa này có thời kỳ giao thời khí hậu. Trong thời
kỳ này thời tiết th-ờng diễn biến phức tạp m-a nắng xen kẻ không tuân theo quy
luật nhất định.
Khu vực nghiên cứu có hai loại gió chính:
Gió Tây Nam( gió phơn): thổi từ tháng 5 - 8. Tốc độ gió bình quân 3,25
m/s, tần số xuất hiện 50 - 60%, tập trung nhiều nhất vào các tháng 5, 6, 7, gây
khô nóng.
Gió mùa Đông Bắc: thổi từ tháng 9 - 4 năm sau. Tốc độ gió bình quân
2,19 m/s, tần suất xuất hiện 40 - 50%, tập trung nhiều nhất vào các tháng 11, 12,
gây m-a dầm, rét ẩm.
Ngoài ra còn xuất hiện 2 h-ớng gió phụ: gió Đông Nam vào các tháng 1,
2, 3 và gió Đông vào các tháng 8, 9. Hai loại gió này làm cho thời tiết mát, dịu
hơn.
Điều kiện khí hậu trên khác với khí hậu miền Bắc và Bắc Trung Bộ , vì
vậy sâu bệnh hại xuất hiện muộn hơn.