Tải bản đầy đủ (.pdf) (97 trang)

Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần viglacera hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (883.62 KB, 97 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
----------------------------

LÊ ĐÌNH CƯỜNG

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VIGLACERA HÀ NỘI

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.31.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN HÀ

HÀ NỘI - 2011



1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hoạt động sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường, môi trường cạnh
tranh gay gắt, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì, sản xuất như
thế nào, sản xuất cho ai dựa trên quan hệ cung cầu, giá cả thị trường, cạnh tranh và
hợp tác. Các doanh nghiệp phải tự ra các quyết định kinh doanh của mình, tự hạch


toán lãi lỗ và luôn bảo toàn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Lúc này mục
tiêu lợi nhuận trở thành một trong những mục tiêu quan trọng nhất, mang tính chất
sống còn của sản xuất kinh doanh và là cơ sở đảm bảo hiệu quả hoạt động của mỗi
doanh nghiệp trong mọi thời kỳ phát triển. Đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng kinh
tế như hiện nay, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, hiệu quả sản xuất kinh doanh
giảm sút và có nguy cơ bị mất an toàn. Vì vậy làm thế nào để duy trì được sản xuất,
tạo công ăn việc làm cho người lao động và từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh luôn là những vấn đề cấp thiết của doanh nghiệp.
Công ty cổ phần Viglacera Hà Nội là một doanh nghiệp nhà nước thực hiện
cổ phần hoá, hạch toán độc lập, hoạt động theo cơ chế của thị trường, cũng như các
doanh nghiệp ở mọi loại hình kinh tế, công ty cũng phải luôn vận động không
ngừng để tồn tại và phát triển. Sau ba năm thực hiện cổ phần hóa, doanh nghiệp đã
có sự phát triển nhanh chóng, củng cố thương hiệu Ceramic Việt Nam, sản phẩm
của công ty tiêu thụ trên khắp mọi miền đất nước.
Tuy nhiên Công ty cũng gặp không ít khó khăn về sự cạnh tranh gay gắt của
các doanh nghiệp cùng ngành không những ở trên địa bàn Hà Nội mà còn các tỉnh
khác trên địa bàn cả nước. Đặc biệt với sự canh tranh gay gắt với hàng nhập khẩu từ
các nước như Trung quốc, Italia, Tây Ban Nha với những sản phẩm chất lượng tốt,
mẫu mã đa dạng
Thực tế cho thấy các doanh nghiệp nói chung và Công ty cổ phần Viglacera
Hà Nội nói riêng muốn đứng vững trên thị trường và đạt được sự tăng trưởng kinh
tế cao, một mặt các doanh nghiệp phải huy động các nguồn lực mới, mặt khác phải
sử dụng chúng hết sức tiết kiệm theo một quy hoạch mang tính dài hạn tổng thể và


2

có chiến lược. Công việc kinh doanh ngày nay không chỉ giới hạn trong nước mà
càng ngày có quan hệ mật thiết với khu vực và quốc tế. Do vậy, câu hỏi đặt ra với
các doanh nghiệp là làm thế nào để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp mình

cả trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế.
Với điều kiện hiện nay của công ty như thực trạng tài chính của công ty còn
nhiều khó khăn, tỷ lệ vốn ngắn hạn lớn, giá trị tồn kho nguyên vật liệu và sản phẩm
cao, dư nợ phải thu của khách hàng lớn. Vì vậy vấn đề nâng cao hiệu quả kinh
doanh trở thành mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp. Làm thế nào để có
đủ vốn, để sử dụng vốn và các nguồn lực khác có hiệu quả giúp doanh nghiệp đạt
được mục tiêu tăng trưởng, thoát khỏi nguy cơ phá sản và chiến thắng trên thị
trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay? Đây đang là một bài toán khó đối với tất cả
các doanh nghiệp.
Qua nghiên cứu, học tập tại trường Đại học Lâm nghiệp và qua tìm hiểu thực
tế tôi đã tiến hành tìm hiểu, sưu tầm tài liệu về thực trạng sản xuất kinh doanh tại
công ty cổ phần Viglacera Hà Nội và lựa chọn đề tài "Phân tích hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần Viglacera Hà Nội" làm luận văn nghiên
cứu.


3

Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về các công trình đã nghiên cứu
Việc phân tích, đánh giá nâng cao hiệu quả nói chung và hiệu quả sản xuất
kinh doanh nói riêng là một vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp mà nhiều vấn đề lý
luận và thực tiễn chưa giải quyết tốt. Đã có những công trình nghiên cứu khoa học
nghiên cứu về vấn đề nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh như:
Hoàng Thanh Thúy (2006), Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh tại Công ty Xuất nhập khẩu Lâm Thuỷ sản Bến Tre,[1] Luận văn tốt nghiệp đại
học
Huỳnh Phước Mỹ (2008), Một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty xuất khẩu thuỷ sản Đà Nẵng, [2] Luận văn tốt

nghiệp đại học, Trường Đại học Thuỷ sản, Nha Trang.

Nguyễn Quang Lợi (2009), Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh và một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế tại Tổng công ty cổ phần may
Việt Tiến.[3] Luận văn tốt nghiệp đại học, Trường Đại học kỹ thuật công nghệ Thành phố
Hồ Chí Minh.

Trần Thị Hải Yến (2010), Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh tại công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản II – Quảng Ninh.[4] Luận
văn tốt nghiệp Thạc sỹ, Trường Đại học Lâm nghiệp.

Các công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này, cơ bản đã đạt được
những kết quả:
- Khái quát về cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh, phân loại hiệu
quả sản xuất kinh doanh, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
và các chỉ tiêu, phương pháp phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Nghiên cứu, phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh tại đơn vị khảo sát trên
cơ sở số liệu các báo cáo tài chính để tính ra các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả như:
hiệu quả sử dụng vốn lưu động, hiệu quả sử dụng vốn vay, hiệu quả sử dụng vốn


4

chủ sở hữu, các tỷ suất chi phí trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, phân
tích đánh giá chung kết quả kinh doanh, phân tích tình hình tạo lập và sử dụng vốn
- Trên cơ sở việc phân tích, các công trình đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng
đến hiệu quả kinh doanh bao gồm các nhân tố tích cực và nhân tố hạn chế. Từ đó,
đưa ra những biện pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
tại đơn vị khảo sát
Tuy nhiên, việc nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh vẫn còn một số nội

dung mà các công trình nghiên cứu này chưa đề cập đến như:
- Đối với hoạt động sản xuất: chưa phân tích đánh giá tình hình biến động
các khoản chi phí trong quá trình sản xuất, phân tích đánh giá sự biến động là hợp
lý hay không hợp lý, tình hình kiểm soát các khoản chi phí trong quá trình sản xuất
đã đạt hiệu quả hay chưa
- Đối với hoạt động tiêu thụ sản phẩm: Một doanh nghiệp hoạt động vì mục
tiêu trước tiên là lợi nhuận, do vậy để đạt được mức lợi nhuận mong muốn, cần thiết
doanh nghiệp phải biết được tại mức sản lượng nào sẽ hoà vốn; từ đó đặt ra mục
tiêu sản xuất và tiêu thụ bao nhiêu sản phẩm để đạt được lợi nhuận mong muốn. Từ
đó, doanh nghiệp sẽ có biện pháp thích hợp để đạt được mục tiêu đề ra.
1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả là một phạm trù trọng tâm cơ bản của khoa học kinh tế và khoa học
quản lý. Hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được
kết quả nhất định. Song, việc phân tích, đánh giá nâng cao hiệu quả là một vấn đề hết
sức khó khăn và phức tạp mà nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn chưa giải quyết tốt
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh chất lượng của các hoạt động
kinh tế. Theo ngành thống kê định nghĩa thì Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế,
biểu hiện của sự tập trung phát triển theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các
nguồn lực và sự chi phí các nguồn lực trong quá trình sản xuất. Nâng cao Hiệu quả
kinh tế là một tất yếu của mọi nền sản xuất xã hội, yêu cầu của công tác quản lý
kinh tế buộc phải nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù


5

hiệu quả kinh tế. Nền kinh tế của mỗi quốc gia đều phát triển theo hai chiều: chiều
rộng và chiều sâu, phát triển theo chiều rộng là huy động mọi nguồn lực vào sản
xuất, tăng đầu tư chi phí vật chất, lao động, kỹ thuật, mở mang thêm nhiều ngành
nghề, xây dựng thêm nhiều nhà máy, xí nghiệp. Phát triển theo chiều sâu là đẩy

mạnh việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất, tiến hành
hiện đại hoá, tăng cường chuyên môn hoá và hợp tác hoá, nâng cao trình độ sử dụng
các nguồn lực, chú trọng chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Phát triển theo chiều sâu
là nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi
sự lựa chọn kinh tế của các tổ chức kinh tế trong nền kinh tế thị trường có sự quản
lý của nhà nước.
Xét về hiệu quả kinh tế, cần phân biệt rõ 3 khái niệm cơ bản về hiệu quả:
hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực, hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một chi phí đầu
vào hay nguồn lực sử dụng cho sản xuất trong điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công
nghệ áp dụng và nông nghiệp. Hiệu quả kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong kinh
tế vĩ mô để xem xét tình hình sử dụng các nguồn lực cụ thể. Hiệu quả này thường
được phản ánh trong quan hệ các hàm sản xuất.
Hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá sản phẩm và
giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thụ thêm trên một đơn vị chi phí
thêm về đầu vào hay nguồn lực. Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ
thuật có tính đến các yếu tố về giá của đầu vào và giá của đầu ra.
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật
và hiệu quả phân bổ. Có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị phải tính đến khi xem
xét việc sử dụng các nguồn lực. Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu
quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế
Như vậy, Hiệu quả kinh tế là những chỉ tiêu đánh giá kết quả của quá trình
sử dụng các nguồn lực tự nhiên và con người trong sản xuất kinh doanh của bất kỳ
một loại hình sản xuất nào. Trong nền kinh tế thị trường người sản xuất hàng hoá


6

luôn luôn quan tâm làm gì và làm như thế nào để sản phẩm hàng hoá làm ra có giá
thành hạ, lợi nhuận thu về tối đa, chiếm lĩnh thị trường một cách nhanh nhất.

Theo định nghĩa của ngành Thống kê: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một
phạm trù kinh tế, biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, nó phản ánh trình độ
khai thác và sử dụng các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục
tiêu kinh doanh, với chi phí bỏ ra ít nhất mà đạt hiệu quả cao nhất.
Đối với một doanh nghiệp sản xuất: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm
trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào (vốn, lao động, khoa học công
nghệ...) phục vụ cho hoạt động sản xuất để đạt được kết quả nhất định
1.2.2. Các quan điểm về hiệu quả kinh tế
Từ các góc độ nghiên cứu kinh tế khác nhau mà các nhà kinh tế đã đưa ra
nhiều quan điểm về hiệu quả.
- Quan điểm 1: Hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế là
doanh thu trong tiêu thụ hàng hoá. Quan điểm này ngày nay không phù hợp bởi vì
nếu cùng một kết quả sản xuất nhưng hai mức chi phí khác nhau thì hiệu quả cũng
khác nhau.
- Quan điểm 2: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng nhịp độ tăng tổng sản
phẩm xã hội hoặc tổng sản phẩm quốc dân. Hiệu quả sẽ cao khi nhịp độ tăng của
các chỉ tiêu đó cao. Quan điểm này không thoả mãn vì trên thực tế những yếu tố bên
trong và bên ngoài của nền kinh tế có những ảnh hưởng khác nhau.
- Quan điểm 3: Hiệu quả kinh tế là thước đo độ hữu ích của sản phẩm được
sản xuất ra, tức là thước đo giá trị sử dụng chứ không phải là giá trị. Quan điểm này
không thuyết phục bởi vì giá trị sử dụng của mỗi sản phẩm tuỷ thuộc vào công dụng
sản phẩm và nhu cầu người sử dụng đối với sản phẩm đó, mặt khác không thể so
sánh được các sản phẩm khác nhau nếu chỉ căn cứ vào giá trị sử dụng của sản phẩm.
- Quan điểm 4: Hiệu quả kinh tế là mức độ thoả mãn yêu cầu của quy luật
kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng với tính cách là chỉ tiêu
đại diện cho mức sống nhân dân là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của nền sản xuất xã
hội, quan điểm này có ưu điểm là bám sát mục tiêu của nền sản xuất XHCN là


7


không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Song khó khăn
ở đầy là phương tiện đo lường thể hiện tư tưởng định hướng đó.
- Quan điểm 5: Hiệu quả kinh tế là một chỉ tiêu so sánh biểu hiện mức độ tiết
kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng khối lượng kết quả hữu
ích của hoạt động sản xuất vật chất trong cùng 1 thời kỳ, góp phần làm tăng thêm
lợi ích xã hội của nền kinh tế quốc dân. Quan điểm này đã gắn kết quả với chi phí,
coi hiệu quả là sự phản ánh trình độ sử dụng chi phí, nhưng lại chưa rõ ràng và thiếu
tính khả thi ở phương diện ấn định và tính toán.
Có nhiều quan điểm về hiệu quả do đó việc xác định bản chất và khái niệm
hiệu quả cần xuất phát từ những quan điểm triết học Mác và những luận điểm của lý
thuyết hệ thống để có cách nhìn nhận và đánh giá đúng.
- Quan điểm Maxit cho rằng: bản chất của hiệu quả là thực hiện yêu cầu của
quy luật tiết kiệm thời gian, biểu hiện quy luật trình độ sử dụng nguồn lực xã hội.
Quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt, tồn tại trong
nhiều phương thức sản xuất, mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật
đó, nó quyết định động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện nâng cao
đời sống con người và phát triển văn minh nhân loại.
- Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội là một hệ
thống các yếu tố sản xuất và quan hệ sản vật chất hình thành giữa con người với con
người trong quá trình sản xuất. Bởi vì hệ thống sản xuất xã hội bao gồm trong nó có
các quá trình sản xuất mà mục tiêu khái quát của nó là sản xuất các phương tiện bảo
tồn và tiếp tục đời sống xã hội. Việc bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội đáp ứng các
nhu cầu xã hội, nhu cầu của con người là những yêu cầu khách quan phản ánh mối
liên hệ nhất định của con người với môi trường bên ngoài, đó là quá trình trao đổi
vật chất, năng lượng giữa sản xuất xã hội và môi trường.
Quan điểm hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải thoả mãn các vấn đề về
tiết kiệm thời gian lao động xã hội, tài nguyên, nguồn lực trong sản xuất mang lại
lợi ích xã hội và bảo vệ môi trường. Vì vậy hiệu quả của một quá trình nào đó cần



8

được đánh giá hoàn thiện cả 3 khía cạnh: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu
quả môi trường.
Từ những quan điểm và luận điểm trên cho thấy quá trình sản xuất là sự liên
hệ mật thiết giữa các yếu tố nguồn lực đầu vào và lượng sản phẩm đầu ra, kết quả
của mối quan hệ này thể hiện tính hiệu quả của sản xuất. Với cách xem xét này,
hiện nay có nhiều ý kiến thống nhất với nhau. Như vậy hiệu quả kinh tế ở trong
phương thức sản xuất khác nhau, ở các nền sản xuất khác nhau thì khác nhau, tuỳ
từng trường hợp cụ thể mà lựa chọn các chỉ tiêu phản ánh cho phù hợp.
1.2.3. Ý nghĩa của nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh không những là thước đo chất
lượng của sản xuất mà còn phản ánh trình độ tổ chức, trình độ quản lý kinh doanh
của doanh nghiệp. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ngày càng mở rộng, doanh
nghiệp muốn tồn tại và tiếp tục vươn lên thì trước hết đòi hỏi doanh nghiệp phải
kinh doanh có hiệu quả. Hiệu quả kinh doanh càng cao thì doanh nghiệp ngày càng
có điều kiện mở mang và phát triển kinh tế, đầu tư mua sắm máy móc thiết bị,
phương tiện kỹ thuật và quy trình công nghệ mới, cải thiện nâng cao đời sống của
người lao động, thực hiện tốt nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước.
Không ngừng nâng cao hiệu quả không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của bất
kỳ xã hội nào mà còn là mối quan tâm của bất kỳ ai khi làm bất kỳ việc gì. Đó cũng
là vấn đề bao trùm và xuyên suốt, thể hiện chất lượng công tác quản lý kinh tế, bởi
vì suy cho cùng quản lý kinh tế là để đảm bảo tạo ra kết quả và hiệu quả cao nhất
của mọi quá trình.
Mọi giai đoạn và mọi hoạt động kinh doanh. Tất cả những cải tiến, những
đổi mới về nội dung phương pháp và biện pháp áp dụng trong quản lý thực sự mang
lại ý nghĩa khi và chỉ khi chúng làm tăng kết quả kinh doanh mà qua đó làm tăng
được hiệu quả sản xuất cho doanh nghiệp.
- Mục tiêu phấn đấu của mỗi đơn vị là nâng cao năng suất lao động, chất

lượng và hiệu quả. Trong đó hiệu quả kinh doanh ngày càng là biểu hiện trung


9

tâm. Bởi lẽ hiệu quả kinh doanh chỉ có thể đạt được trên cơ sở nâng cao chất lượng
và năng suất lao động
- Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phải được xem xét một cách toàn
diện cả về thời gian và không gian trong mối quan hệ với hiệu quả chung toàn bộ
nền kinh tế quốc dân. Hiệu quả đó bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu sự tác động của rất
nhiều yếu tố. Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh nhằm thấy được sự tác động của những nhân tố đó để xây dựng
chiến lược cho doanh nghiệp nhằm tận dụng những thuận lợi và có biện pháp khắc
phục những khó khăn góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
1.2.4.1. Các nhân tố ngoài doanh nghiệp
a) Môi trường ngành
* Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành: Tác động đến doanh nghiệp hai
chiều, hoặc doanh nghiệp sẽ nhanh chóng tiến bộ hoặc doanh nghiệp sẽ thua lỗ và
bị đào thải, việc này còn tùy thuộc bản thân doanh nghiệp đó.
* Khả năng gia nhập mới của các doanh nghiệp: Khả năng gia nhập mới của các
doanh nghiệp tiềm ẩn luôn có thể xảy ra nếu doanh nghiệp tiềm ẩn có khả năng trên
lĩnh vực mà họ chuẩn bị gia nhập. Đây là mối đe doạ không nhỏ đối với các doanh
nghiệp đang tồn tại.
* Nhà cung ứng: Nếu nhà cung ứng cung cấp những đầu vào kém chất lượng, giá cả
cao, khối lượng không đảm bảo thì thực sự là mối nguy hại lớn cho doanh nghiệp.
Nhưng nếu doanh nghiệp quá phụ thuộc vào nhà cung ứng thì doanh nghiệp sẽ bị
động, hiệu quả sản xuất kinh doanh không được đảm bảo.
* Sức ép về giá cả của người mua: Người mua được xem là sự đe doạ mang tính

cạnh tranh khi họ đẩy giá cả xuống hoặc khi họ yêu cầu chất lượng sản phẩm, dịch
vụ cao hơn làm tăng chi phí lên. Ngược lại, khi người mua yếu thế, doanh nghiệp sẽ
có cơ hội đẩy giá lên, kiếm được nhiều lợi nhuận hơn.


10

* Sản phẩm thay thế: Sự tồn tại những sản phẩm thay thế hình thành một sức ép
cạnh tranh rất lớn. Nó giới hạn mức giá một công ty có thể định ra và do đó giới hạn
mức lợi nhuận của công ty.
b) Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế có thể tạo ra tính hấp dẫn về thị trường và
sức mua khác nhau đối với thị trường hàng hoá khác nhau. Khi nền kinh tế ở vào
giai đoạn khủng hoảng, tỷ lệ lạm phát cũng như thuế khoá tăng làm cho con người
phải đắn đo đề ra các quyết định mua sắm. Khi nền kinh tế trở lại thời kỳ phục hồi
và tăng trưởng, việc mua sắm tấp lập trở lại là cho tốc độ mua sắm tăng và chu kỳ
kinh doanh của các doanh nghiệp cũng tăng theo.
c) Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý tạo ra sân chơi cho các doanh nghiệp
vừa cạnh tranh vừa hợp tác nên việc tạo ra một môi trường pháp lý lành mạnh vì nó
vừa tạo cho các doanh nghiệp tiến hành thuận lợi các hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp mình lại vừa điều hành các hoạt động kinh tế theo hướng công
bằng cho tất cả các thành viên trong xã hội.
d) Môi trường công nghệ: Xu hướng phát triển khoa học công nghệ và tình hình
ứng dụng khoa học công nghệ trong nước và trên thế giới ảnh hưởng trực tiếp đến
năng suất, chất lượng sản phẩm, tức là ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
1.2.4.2. Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp
a) Lực lượng lao động: Trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm của người lao
động là nhân tố tác động trực tiếp tác động đến năng suất, chất lượng sản phẩm và
tốc độ tiêu thụ sản phẩm.
b) Cơ sở vật chất kỹ thuật: Cơ sở vật chất kỹ thuật là tài sản cố định của doanh

nghiệp, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, gồm nhà cửa, kho tàng, bến
bãi,... Nó đem lại sức mạnh kinh doanh cho doanh nghiệp trên cơ sở sức sinh lời
của tài sản.
c) Nhân tố quản trị trong doanh nghiệp: Chất lượng của bộ máy quản trị quyết định
rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có năng
lực quản trị non kém sẽ không thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh khốc liệt.


11

Một doanh nghiệp có bộ máy quản trị được bố trí hợp lý sẽ làm giảm chi phí hành
chính, góp phần tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.5. Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.2.5.1. Phân tích hoạt động sản xuất
a) Đánh giá khái quát kết quả sản xuất về mặt số lượng và chất lượng
Hoạt động sản xuất là hoạt động trong đó con người có sức lao động sử dụng
kết hợp các yếu tố đầu vào để thực hiện dịch vụ hay làm ra sản phẩm đủ về số
lượng, chủng loại bảo đảm chất lượng với chi phí thấp nhất. Như vậy, hoạt động sản
xuất là một quá trình thống nhất gồm hai mặt: Mặt hao phí bỏ ra và mặt kết quả thu
được. Mặt hao phí phản ánh những chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành sản
xuất, tạo nên giá trị sản xuất; mặt kết quả phản ánh những chi phí liên quan đến
khối lượng sản phẩm, công việc, dịch vụ đã hoàn thành tạo nên giá thành sản phẩm.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, để đảm bảo kinh doanh có hiệu quả, trước
hết đòi hỏi kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp khi xây dựng phải gắn với thị
trường. Thị trường là cơ sở, là cái quyết định doanh nghiệp sẽ sản xuất cái gì, sản
xuất như thế nào và sản xuất bao nhiêu. Vì thế, sau mỗi chu kỳ kinh doanh, doanh
nghiệp cần thiết phải tiến hành phân tích hoạt động sản xuất; xem xét, đánh giá kết
quả đạt được trên cơ sở hao phí bỏ ra; chỉ rõ những nguyên nhân gây nên thất thoát,
lãng phí cũng như tiềm năng chưa khai thác. Từ đó, tìm ra phương hướng và giải
pháp khai thác tiềm năng, giảm thiểu thất thoát, sử dụng các yếu tố sản xuất một

cách hiệu quả để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Kết quả sản xuất của doanh nghiệp thể hiện trước hết về mặt quy mô và được
xem xét trên nhiều góc độ khác nhau. Trước hết, về mặt hiện vật, quy mô sản xuất
phản ánh lượng sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đã thực hiện trong kỳ theo từng
loại bao gồm cả số sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành và số còn dở dang chưa hoàn
thành. Và như vậy, chỉ tiêu phân tích khi sử dụng thước đo hiện vật là số lượng sản
phẩm, dịch vụ thực hiện từng loại. Trường hợp doanh nghiệp tiến hành sản xuất hay
thực hiện nhiều loại dịch vụ khác nhau, các nhà phân tích chỉ đi vào những sản phẩm
hay dịch vụ chủ yếu, đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo ra kết quả của doanh nghiệp.


12

Để đánh giá khái quát kết quả chung về mặt quy mô của hoạt động sản xuất,
các nhà phân tích phải sử dụng thước đo giá trị và tính ra các chỉ tiêu sau:
- Tổng giá trị sản xuất: Tổng giá trị sản xuất là chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện bằng tiền
toàn bộ kết quả cuối cùng về các hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ của doanh
nghiệp trong một kỳ (thường là một năm), bất kể sản phẩm đó đã hoàn thành hay
chưa hoàn thành
Tổng giá trị sản xuất bao gồm 2 bộ phận: Giá trị các sản phẩm vật chất và
Giá trị cá dịch vụ đã tiến hành không mang tính chất sản xuất vật chất
- Tổng giá trị sản phẩm hàng hoá
Tổng giá trị sản phẩm hàng hoá là chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện bằng tiền toàn
bộ giá trị sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đã hoàn thành trong một kỳ (thường
là một năm) với mục đích tiêu thụ ra bên ngoài. Chỉ tiêu này bao gồm 2 bộ phận:
giá trị các sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ (đã thực hiện với khách hàng) và Giá trị các
sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ nhưng chưa tiêu thụ
Do trong thực tế, các doanh nghiệp thường tiến hành sản xuất nhiều loại sản phẩm
hay thực hiện nhiều loại dịch vụ khác nhau nên để tính được chỉ tiêu tổng giá trị sản
phẩm hàng hoá, trước hết phải tính ra giá trị sản phẩm hàng hoá của từng loại sản

phẩm, dịch vụ; từ đó, tính ra tổng giá trị sản phẩm hàng hoá của toàn doanh nghiệp.
Có thể khái quát công thức tính tổng giá trị sản phẩm hàng hoá như sau:
n

TG  q
i 1

Trong đó:

i

p

i

TG: Tổng giá trị sản phẩm hàng hoá trong kỳ
qi: khối lượng sản phẩm hay dịch vụ i đã hoàn thành trong kỳ (i=1,n)
pi: giá bán đơn vị sản phẩm hay dịch vụ i tương ứng

Các chỉ tiêu Tổng giá trị sản xuất và chỉ tiêu Tổng giá trị sản phẩm hàng hoá
khi tính theo giá so sánh có tác dụng nghiên cứu, so sánh và đánh giá mức độ tăng
trưởng về kết quả sản xuất đơn thuần về mặt khối lượng giữa các thời kỳ với nhau:
còn khi tính theo giá hiện hành sẽ là căn cứ để tính tổng sản phẩm xã hội, thu nhập
quốc dân, tích luỹ xã hội, tiêu dùng và cân đối các chỉ tiêu hàng hoá, tiền tệ của nền
kinh tế quốc dân


13

- Hệ số sản xuất hàng hoá

Hệ số sản xuất hàng hoá là chỉ tiêu phản ánh năng lực sản xuất hàng hoá của
doanh nghiệp. Qua các chỉ tiêu này, các nhà quản lý biết được lượng thành phẩm
hoàn thành với mục đích tiêu thụ ra ngoài cùng với lượng sản phẩm dở dang nhiều
hay ít. Hệ số sản xuất hàng hoá càng cao, chứng tỏ sản phẩm hoàn thành trong kỳ
càng lớn, sản phẩm dở dang càng nhỏ và ngược lại. Chỉ tiêu này được tính như sau:
Hệ số sản xuất hàng hoá

=

Tổng giá trị sản phẩm hàng hoá
Tổng giá trị sản xuất

Để đánh giá khái quát kết quả sản xuất về mặt quy mô, các nhà phân tích sử
dụng phương pháp so sánh. Nội dung, trình tự và phương pháp phân tích thể hiện
qua các bước công việc sau:
- Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch trên các chỉ tiêu phản ánh kết quả
sản xuất về mặt quy mô:
Bằng cách so sánh trực tiếp (giản đơn) trên các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản
xuất về mặt quy mô, các nhà quản lý sẽ biết được tình hình thực hiện kế hoạch trên
từng mặt hàng chủ yếu (nếu so sánh các chỉ tiêu hiện vật) hoặc tình hình thực hiện
kế hoạch sản xuất trên tổng thể (nếu so sánh các chỉ tiêu giá trị)
- Liên hệ tình hình thực hiện kế hoạch của chỉ tiêu “Tổng giá trị sản xuất”
với tình hình thực hiện kế hoạch về chi phí sản xuất
- Kết hợp với tình hình thực hiện kế hoạch về chi phí sản xuất để tính ra mức
độ biến động tương đối của tổng giá trị sản xuất
- Xem xét nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất
về mặt quy mô
b) Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sản xuất
b1) Phân tích tình hình chi phí nhân công trực tiếp
Đối với khoản mục tiền lương công nhân trực tiếp trên một đơn vị sản phẩm,

việc phân tích không những giúp các nhà quản lý nắm được tình hình thực hiện kế
hoạch, đánh giá được tính hợp lý của khoản mục chi phí tiền lương trực tiếp mà còn
giúp các nhà quản lý biết được nguyên nhân tác động ảnh hưởng đến chi phí tiền


14

lương trên 1 đơn vị sản phẩm. Từ đó, đề xuất biện pháp thích hợp để giảm chi phí,
nâng cao năng suất lao động, kích thích người lao động quan tâm đến kết quả của
mình. Quy trình phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khoản mục chi phí nhân
công trực tiếp trong giá thành đơn vị sản phẩm tương tự như các nội dung khác:
- Đánh giá khái quát tình hình thực hiện kế hoạch khoản mục chi phí nhân
công trực tiếp
- Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của khoản mục chi phí nhân
công trực tiếp
- Tổng hợp kết quả phân tích, rút ra nhận xét, kiến nghị liên quan đến khoản
mục chi phí nhân công trực tiếp
b2) Phân tích tình hình chi phí nguyên vật liệu
Chi phí nguyên vật liệu bao gồm toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính,
vật liệu phụ, nhiên liệu… mà doanh nghiệp đã chi ra trong một kỳ có liên quan đến
việc sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực hiện dịch vụ hay sử dụng cho các nhu cầu
chung ở phân xưởng, sử dụng cho bán hàng, cho quản lý doanh nghiệp. Trong tổng
chi phí nguyên vật liệu mà doanh nghiệp chi ra trong kỳ thì bộ phận nguyên vật liệu
sử dụng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm hay thực hiện các dịch vụ là bộ phận chủ
yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Vì thế, muốn
tiếp kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận thì một trong
những giải pháp hàng đầu mà doanh nghiệp quan tâm là sử dụng tiết kiệm, hợp lý
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Phân tích tình hình biến động về chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được tiến
hành như sau:

- Đánh giá chung tình hình tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Đánh giá chung tình hình biến động về tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
được thực hiện bằng cách so sánh tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tiêu hao kỳ
thực tế so với kỳ gốc cả về số tuyệt đối và tương đối. Qua đó, nêu lên tình hình biến
động về chi phí nguyên vật liệu:
- Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tổng CPNVLTT


15

+ Nhân tố Khối lượng sản phẩm dịch vụ thực hiện
+ Nhân tố Định mức tiêu hao nguyên vật liệu trực tiếp trên một đơn vị sản phẩm,
dịch vụ
+ Nhân tố Đơn giá nguyên, vật liệu
+ Nhân tố Giá trị phế liệu thu hồi
- Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố, rút ra kết luận, nhận xét
b3) Phân tích tình hình sử dụng tài sản cố định và khấu hao tài sản cố định
Khấu hao tài sản cố định là biện pháp chủ quan trong quản lý nhằm thu hồi
lại bộ phận giá trị đã hao mòn của tài sản cố định. Tuỳ thuộc vào phương pháp tính
khấu hao áp dụng trong từng doanh nghiệp mà cách thức phân tích có những khác
biệt nhất định. Tuy vậy, nội dung và trình tự phân tích tình hình thực hiện kế hoạch
chi phí khấu hao trong các doanh nghiệp bao gồm:
- Đánh giá chung về tình hình biến động tổng chi phí khấu hao
Đánh giá chung về tình hình biến động tổng chi phí khấu hao được tiến hành
bằng cách so sánh tổng chi phí khấu hao kỳ thực tế so với kỳ gốc cả về số tuyệt đối
và số tương đối
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng
Để xác định nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của chi phí khấu hao trong
kỳ, cần căn cứ vào phương pháp tính khấu hao mà doanh nghiệp áp dụng. Việc tính
khấu hao theo phương pháp nào sẽ quyết định các nhân tố ảnh hưởng đến tổng mức

chi phí khấu hao theo phương pháp đó
- Tổng hợp nhân tố ảnh hưởng, rút ra nhận xét, kiến nghị:
Sau khi xác định ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của chi phí
khấu hao, các nhà phân tích sẽ tiến hành tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố theo
từng nhóm (nhóm nhân tố phát sinh tăng chi phí khấu hao và nhóm nhân tố phát
sinh giảm chi phí khấu hao). Trên cơ sở đó, nêu lên những nhận xét, đánh giá phù
hợp. Đồng thời chỉ rõ nguyên nhân làm tăng, giảm chi phí khấu hao và các biện
pháp nhằm giảm chi phí khấu hao tài sản cố định một cách hợp lý.
d) Phân tích tình hình biến động chi phí sản xuất chung


16

Chi phí sản xuất chung là những chi phí chi ra trọng phạm vi phân xưởng, bộ
phận sản xuất (ngoài CPNVLTT, CPNCTT). Thuộc Chi phí sản xuất chung bao
gồm nhiều loại: có loại mang tính chất biến đổi, có loại mang tính chất cố định, có
loại vừa biến đổi, vừa cố định
Theo quy định hiện hành, chi phí sản xuất chung biến đổi sẽ được phân bổ
hết cho lượng sản phẩm hoàn thành, còn chi phí sản xuất chung cố định sẽ được
phân bổ theo công suất hoạt động thực tế. Trường hợp mức sản xuất thực tế vượt
công suất bình thường thì chi phí sản xuất chung cố định được phân bổ hết cho sản
phẩm hoàn thành, ngược lại, mức sản xuất thực tế thấp hơn công suất bình thường
thì chi phí sản xuất chung cố định phân bổ theo công suất bình thường. Khoản chi
phí sản xuất chung cố định không phân bổ được tính vào giá vốn hàng bán trong kỳ.
Để phân tích chi phí sản xuất chung, người ta sử dụng phương pháp so sánh:
so sánh trên tổng số chi phí sản xuất chung, so sánh trên từng nội dung chi phí sản
xuất chung và dựa vào tình hình biến động cũng như nội dung từng khoản chi phí
sản xuất chung để nhận xét
Khi phân tích tình hình biến động chi phí sản xuất chung, có thể lập Bảng phân tích:
Bảng 1.1. Bảng phân tích tình hình biến động chi phí sản xuất chung

Chỉ tiêu

Kỳ gốc

Kỳ thực tế

Chênh lệch
Số tiền
Tỷ lệ %

1. Biến phí sản xuất chung
Chi phí vật liệu
Chi phí nhân công

2. Định phí sản xuất chung
Chi phí khấu hao
Chi phí thuê phương tiện
Chi phí thuê mặt bằng

Cộng

Bằng cách so sánh chi phí sản xuất chung trên tổng số cũng như từng nội
dung chi phí sản xuất chung giữa kỳ thực tế so với kỳ gốc cả về số tuyệt đối và số
tương đối sẽ cho thấy tình hình biến động chi phí sản xuất chung


17

1.2.5.2. Phân tích hoạt động tiêu thụ sản phẩm
a) Phân tích kết quả tình hình tiêu thụ sản phẩm và các nhân tố ảnh hưởng đến tình

hình tiêu thụ sản phẩm
a1) Đánh giá khái quát tình hình tiêu thụ sản phẩm
Hoạt động tiêu thụ là điều kiện tiền đề để kinh doanh có hiệu quả và mang
tính quyết định đến hiệu quả của quá trình kinh doanh
Đánh giá khái quát kết quả hoạt động tiêu thụ sẽ cung cấp cho các nhà quản
lý những thông tin chung về tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ trong kỳ, cũng
như tốc độ tăng trưởng của hoạt động tiêu thụ. Qua đó, có những quyết sách thích
ứng để điều chỉnh kế hoạch sản xuất, cung ứng
Tốc độ tăng trưởng hoạt động tiêu thụ theo thời gian của doanh nghiệp được
xem xét qua sự biến động của doanh thu tiêu thụ. Bằng cách so sánh sự biến động
của tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp cả về số tuyệt
đối và số tương đối và so với tốc độ tăng doanh thu bình quân của các thời kỳ, so
với tốc độ bình quân chung của ngành, của khu vực hay của doanh nghiệp khác, các
nhà phân tích sẽ đánh giá được mức độ tăng trưởng hoạt động tiêu thụ. Từ đó, có
giải pháp phù hợp để gia tăng tốc độ tăng trưởng hay hạn chế sự giảm sút của hoạt
động tiêu thụ.
Gọi P0i, P1i lần lượt là giá bán đơn vị sản phẩm i kỳ gốc, kỳ thực tế
Q0i, Q1i lần lượt là sản lượng tiêu thụ sản phẩm i kỳ gốc, kỳ thực tế
n

Ta có Doanh thu kỳ gốc: DT 0   P0i * Q
0i
i 1
n
Doanh thu kỳ thực tế: DT  
P1i * Q1i
1
i 1

Khi đó Tốc độ tăng trưởng của hoạt động tiêu thụ được thể hiện qua chỉ tiêu:


T %  DT
DT

1

*100%

0

a2) Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ sản phẩm
Hoạt động tiêu thụ chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân khác nhau, bao
gồm cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân lượng hoá


18

được mức độ ảnh hưởng (nhân tố) và nguyên nhân không lượng hoá được. Để có
thể xác định chính xác nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình thực hiện kế hoạch
tiêu thụ, khi phân tích, cần sắp xếp và phân loại các nguyên nhân thành 3 nhóm:
Nhóm nguyên nhân thuộc bản thân doanh nghiệp, nhóm nguyên nhân thuộc về
khách hàng, nhóm nguyên nhân thuộc về Nhà nước
- Nhóm nguyên nhân thuộc bản thân doanh nghiệp
Những nguyên nhân thuộc bản thân doanh nghiệp là những nguyên nhân
mang tính chất chủ quan, thể hiện nỗ lực của doanh nghiệp trong việc phấn đấu hoàn
thành kế hoạch tiêu thụ. Những nguyên nhân thuộc bản thân doanh nghiệp bao gồm:
+ Số lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ:
Số lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ tác động trực tiếp đến việc
thực hiện kế hoạch tiêu thụ. Mối quan hệ giữa lượng hàng tiêu thụ với lượng hàng
tồn kho, sản xuất hay thu mua trong kỳ thể hiện qua công thức

Lượng hàng
tiêu thụ trong kỳ

=

Lượng hàng tồn
kho đầu kỳ

+

Lượng hàng sản xuất
hay mua vào trong kỳ

-

Lượng hàng
tồn kho cuối kỳ

Nếu số sản phẩm, hàng hoá tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ tăng lên thì sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho tiêu thụ, có thể góp phần làm tăng khối lượng hàng bán ra. Do
vậy, cần đi sâu phân tích các nguyên nhân, xem xét số tồn kho đầu kỳ và tồn kho cuối
kỳ với lượng dự trữ cần thiết thường xuyên, dự trữ thời vụ và lượng dự trữ bảo hiểm
Lượng hàng hoá tồn kho đầu kỳ hay cuối kỳ là sự phản chiếu trở lại tình hình
tiêu thụ. Nó cho biết khả năng và xu thế tiêu thụ của mỗi loại hàng hoá, mức độ tiếp
nhận của thị trường về các loại sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp. Từ đó, quyết
định mức mua vào, mức sản xuất trong kỳ.
+ Chất lượng hàng hoá, sản phẩm tiêu thụ
Chất lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ là tổng hợp các tính chất của hàng
hoá, sản phẩm, dịch vụ mà nhờ đó, hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ có công dụng tiêu
dùng nhất định. Chất lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ là điều kiện sống còn của

doanh nghiệp. Để có thể đứng vững và vươn lên trong cạnh tranh, doanh nghiệp
phải không ngừng tìm mọi biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch
vụ cung cấp ra trên thị trường


19

Khi phân tích chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cần so sánh các thông
số phản ánh chất lượng như: thời hạn sử dụng, màu sắc, mùi vị, nhãn hiệu, giá cả…
Đồng thời các nhà phân tích phải gắn với kết quả điều tra nhu cầu thị trường đối với
từng tiêu chí chất lượng để đánh giá. Phân tích chất lượng sản phẩm phải đặt trong
mối quan hệ với chi phí bỏ ra, với nhu cầu đa dạng hoá sản phẩm, với giá bán…
+ Tổ chức công tác tiêu thụ
Tổ chức công tác tiêu thụ bao gồm hàng loại khâu công việc khác nhau, từ
việc xác định giá bán; tiến hành quảng cáo, chào hàng, giới thiệu sản phẩm đến việc
tổ chức mạng lưới tiêu thụ, ký kết hợp đồng tiêu thụ, hợp đồng vận chuyển, điều tra,
nghiên cứu nhu cầu của khách hàng, chính sách hậu mãi, chính sách bán hàng…
Cuối cùng là việc khẩn trương thu hồi tiền hàng bán ra. Đây chính là những biện
pháp chủ quan của doanh nghiệp nhằm thúc đẩy quá tình tiêu thụ được nhanh chóng
Việc xác định giá bán là công việc hết sức quan trọng, ảnh hưởng mang tính
quyết định đến vệc hoàn thành kế hoạch tiêu thụ cũng như hiệu quả kinh doanh.
Yêu cầu đặt ra khi xác định giá bán là phải hết sức linh hoạt và phù hợp. Trong điều
kiện bình thường, giá cả và lượng hàng tiêu thụ có quan hệ ngược chiều nhau, giá
bán càng cao thì lượng hàng tiêu thụ càng giảm, và ngược lại, giá bán giảm sẽ tăng
được lượng hàng bán ra. Tuy nhiên, trong một số điều kiện nhất định, giá bán giảm
chưa chắc lượng hàng tiêu thụ đã giảm
- Nhóm nguyên nhân thuộc về khách hàng
Khi xem xét các nguyên nhân thuộc về khách hàng, trước hết phải chú trọng
đến thu nhập hay khả năng thanh toán của khách hàng. Thu nhập của khách hàng có
tính chất quyết định lượng hàng mua. Thông thường, khi có thu nhập tăng thì nhu

cầu mua sắm, tiêu dùng của khách hàng cũng tăng lên
- Nhóm nguyên nhân thuộc về Nhà nước
Các chính sách thuế khoá, lãi suất, chính sách tiêu thụ, chính sách kích cầu,
chính sách bảo trợ, chính sách ngoại hối… của Nhà nước đối với sản xuất, kinh
doanh và tiêu dùng là một trong những nguyên nhân tác động mạnh mẽ đến hình
hình sản xuất và tiêu thụ hàng hoá.


20

b) Phân tích tình hình lợi nhuận tiêu thụ và các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến
động của lợi nhuận tiêu thụ
Lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ là bộ phận lợi nhuận chính
và chủ yếu tạo nên toàn bộ lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì thế, phân tích tình hình
lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ là công việc đòi hỏi phải được thực
hiện thường xuyên, giúp cho các nhà quản lý đánh giá được kết quả hoạt động tiêu
thụ cùng các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả tiêu thụ. Trên cơ sở đó, đề xuất các
biện pháp thích hợp để đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ và nâng cao kết quả tiêu thụ, đạt
được mục đích kinh doanh và thu được nhiều lợi nhuận.
Lợi nhuận về tiêu thụ thường được xem xét thông qua 2 chỉ tiêu: Lợi nhuận
gộp và Lợi nhuận thuần về tiêu thụ
Lợi nhuận gộp về tiêu thụ: phản ánh chênh lệch giữa tổng doanh thu thuần về
tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ với tổng giá vốn sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ
đã tiêu thụ
Lợi nhuận
gộp

=

Doanh thu bán hàng


-

và cung cấp dịch vụ

Các khoản giảm
trừ doanh thu

-

Giá vốn
hàng bán

Lợi nhuận thuần về tiêu thụ: là chỉ tiêu phản ánh phần chênh lệch giữa lợi
nhận gộp về tiêu thụ với tổng chi phí bán hàng và tổng chi phí quản lý doanh nghiệp
phát sinh trong kỳ
Lợi nhuận thuần

=

Lợi nhuận gộp

-

Chi phí bán hàng

-

Chi phí QLDN


Phân tích tình hình biến động lợi nhuận tiêu thụ bao gồm các bước:
- Đánh giá chung tình hình biến động lợi nhuận tiêu thụ
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận tiêu thụ:
+ Sản lượng tiêu thụ
+ Cơ cấu sản lượng tiêu thụ
+ Giá bán đơn vị từng mặt hàng
+ Giá vốn đơn vị từng mặt hàng
+ Giá trị các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng
+ Chi phí bán hàng


21

+ Chi phí quản lý doanh nghiệp
- Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố, từ đó rút ra nhận xét, kiến nghị
Thông qua việc tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố tới lợi nhuận gộp hay
lợi nhuận thuần từ tiêu thụ, các nhà phân tích sẽ tiến hành nêu lên những nhận xét
và đánh giá phù hợp. Đồng thời cũng trên kết quả phân tích, các nhà phân tích sẽ đề
xuất các giải pháp để nâng cao lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ tới.
c) Phân tích điểm hoà vốn trong tiêu thụ sản phẩm
c1) Điểm hoà vốn
Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó thu nhập của doanh nghiệp đủ trang trải mọi
phí tổn và doanh nghiệp không lãi, không lỗ. Việc xác định điểm hoà vốn có ý
nghĩa quan trọng như là điểm khởi đầu để quyết định quy mô sản xuất, tiêu thụ để
đạt được mức lợi nhuận mong muốn phù hợp với điều kiện kinh doanh hiện hành.
Để xác định điểm hoà vốn, toàn bộ chi phí kinh doanh cần được phân thành
chi phí cố định (định phí) và chi phí biến đổi (biến phí)
- Xác định sản lượng hoà vốn
Gọi: Qh: Sản lượng cần tiêu thụ để đạt được hoà vốn
F: là tổng chi phí cố định kinh doanh

V: là chi phí khả biến đơn vị sản phẩm
P: là giá bán đơn vị sản phẩm
Vì tại điểm hoà vốn, tổng doanh thu bằng tổng chi phí đã bỏ ra, ta có:
Qh * P = F + Q h * V
Qh =

F
P-V

- Xác định doanh thu hoà vốn
Với các ký hiệu như trên, khi có sản lượng hoà vốn, thì doanh thu hoà vốn là P * Qh
- Xác định công suất hoà vốn
Trong nhiều trường hợp, cần phải biết huy động bao nhiêu phần trăm công
suất máy móc thiết bị vào sản xuất sản phẩm sẽ đạt được sự hoà vốn, mức huy động


22

năng lực sản xuất cao trên công suất hoà vốn, doanh nghiệp kinh doanh sẽ có lãi; nếu
mức huy động năng lực sản xuất thấp so với công suất hoà vốn, doanh nghiệp sẽ bị lỗ
Tại điểm hoà vốn thì chênh lệch giữa tổng doanh thu bán hàng với tổng chi
phí biến đổi sẽ bằng tổng chi phí cố định. Tức là
F = Qh (P - V)
Khi huy động 100% công suất đạt sản lượng là Q thì chênh lệch giữa toognr
doanh thu bán hàng với tổng chi phí biến đổi là Q (P - V). Vậy cần có h% công suất
để chênh lệch bù đắp chi phí cố định F là
h%

F


=

Q(P – V)

* 100%

Qua chỉ số h%, người quản lý có thể xem xét doanh nghiệp có thể đạt được
điểm hoà vốn trong kỳ hay không.
- Xác định thời gian hoà vốn
Gọi t là thời gian đạt điểm hoà vốn (t tháng)
Qh là sản lượng hoà vốn; Q là sản lượng có thể sản xuất được, thì:
t

Q Q *12

Q
Q
h

h

12

c2) Phân tích điểm hoà vốn
Trong kinh doanh, không phải ở mức sản lượng sản xuất và bán ra nào cũng
có lãi mà doanh nghiệp chỉ thực sự có lãi khi sản xuất và bán ra vượt sản lượng hoà
vốn. Phân tích điểm hoà vốn sẽ cho thấy chất lượng hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Đồng thời cũng chỉ ra sự yếu kém hay thành tích của các doanh
nghiệp trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh… Doanh nghiệp chỉ thực
sự hoạt động kinh doanh có lãi khi tiêu thụ vượt sản lượng hoà vốn. Phân tích điểm

hoà vốn thường được tiến hành theo các bước sau:
- Đánh giá khái quát điểm hoà vốn
Để đánh giá khái quát điểm hoà vốn cần tính ra và so sánh các chỉ tiêu phản
ánh sản lượng hoà vốn, doanh thu hoà vốn, công suất hoà vốn, thời gian hoà vốn với
các kỳ trước. Căn cứ vào kết quả so sánh và ý nghĩa của các chỉ tiêu, nhà quản trị sẽ


23

đánh giá được sơ bộ chất lượng hoạt động kinh doanh, sản lượng hoà vốn càng thấp,
doanh thu hoà vốn càng nhỏ và thời gian hoà vốn càng ngắn thì hoạt động kinh
doanh càng có hiệu quả
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến điểm hoà vốn
+ Nhân tố Tổng định phí
+ Nhân tố giá bán đơn vị
+ Nhân tố biến phí đơn vị
- Xác định sản lượng cần thiết để đạt mức lợi nhuận mong muốn
Sau khi đạt hoà vốn, cứ mỗi mặt hàng bán ra chỉ phải trang trải đủ biến phí
và do đó phần chênh lệch giữa giá bán và biến phí chính là lợi nhuận mà mặt hàng
đó đem lại. Như vậy để đạt được mức lợi nhuận mong muốn (Dp), doanh nghiệp cần
phải đảm bảo cung ứng vượt mức sản lượng hoà vốn với khối lượng là Q.
Q

=

Mức LN mong muốn
Lãi trên biến phí đơn vị

=


Dp
P-V

- Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng, rút ra nhận xét, kết luận và đề xuất giải pháp để
giảm thấp điểm hoà vốn
Sau khi tổng hợp ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của điểm hoà
vốn, các nhà phân tích cần liên hệ với tình hình thực tế để chỉ rõ nguyên nhân ảnh
hưởng đến sự thay đổi điểm hoà vốn. Từ đó đề xuất các giải pháp đồng bộ để rút
ngắn thời gian hoà vốn, giảm sản lượng và doanh thu hoà vốn, giảm công suất hoà
vốn, tăng doanh thu và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
1.2.5.3. Phân tích tình hình tài chính thông qua các tỷ số tài chính
a) Phân tích đánh giá mức độ độc lập về tài chính
Mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp thể hiện trước hết và chủ yếu
thông qua chỉ tiêu “Hệ số tài trợ”. Thông qua chỉ tiêu này, các nhà quản lý biết được
trong tổng số nguồn tài trợ tài sản của doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu chiếm mấy
phần. Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ khả năng tự bảo đảm về mặt tài
chính và mức độ độc lập về mặt tài chính càng cao và ngược lại.


×