Tải bản đầy đủ (.pdf) (55 trang)

Quá trình phát triển thần kỳ của kinh tế nhật bản (1952 1973) và bài học kinh nghiệm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (953.93 KB, 55 trang )

1

UỶ BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

QUÁ TRÌNH “PHÁT TRIỂN THẦN KỲ”
CỦA KINH TẾ NHẬT BẢN (1952 - 1973)
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Mã số đề tài: SV2014 - 06

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học Xã hội
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Bích Tuyền
Thành viên tham gia:
Nguyễn Thị Lệ Trinh
Đặng Thị Bích Trâm
Nguyễn Minh Tuấn
Giáo viên hướng dẫn: Th.S LÊ TÙNG LÂM

TP. Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2015


2

UỶ BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN



BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

QUÁ TRÌNH “PHÁT TRIỂN THẦN KỲ”
CỦA KINH TẾ NHẬT BẢN (1952 - 1973)
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Mã số đề tài: SV2014 - 06

Xác nhận của Khoa
(ký, họ tên)

Giáo viên hƣớng dẫn
(ký, họ tên)

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2015

Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ tên)


3

Lời cảm ơn
Lời đầu tiên chúng tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô
Trường Đại học Sài Gòn, đặc biệt là quý thầy, cô trong khoa Sư phạm Khoa
học Xã hội đã tạo điều kiện tốt cho sinh viên chúng tôi có thể tham gia nghiên
cứu khoa học.
Đặc biệt chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Th.S Lê Tùng
Lâm, người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ chúng tôi rất nhiệt tình để có thể

hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này.
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng đây là công trình đầu tiên chúng tôi thực
hiện, hơn nữa cũng do hạn chế về năng lực nghiên cứu và tài liệu tham khảo
nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của quý thầy, cô.

Tập thể tác giả


4

MỤC LỤC
Lời cảm ơn ................................................................................................................. 1
MỤC LỤC .................................................................... Error! Bookmark not defined.
BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN QUÁ
TRÌNH “PHÁT TRIỂN THẦN KỲ” CỦA KINH TẾ NHẬT BẢN (1952 –
1973) VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM.................................................................... 6
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 8
CHƢƠNG 1 TÌNH HÌNH NHẬT BẢN SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ
HAI (1945 – 1952)................................................................................................... 12
1.1. Tình hình kinh tế .............................................................................................12
1.2. Tình hình chính trị - quân sự ..........................................................................14
1.3. Cuộc cải cách của Mac Arthur và sự chuyển biến kinh tế Nhật Bản .............17
CHƢƠNG 2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN THẦN KÌ CỦA KINH TẾ NHẬT
BẢN (1952 – 1973) .................................................................................................. 24
2.1. Sự phục hồi và phát triển kinh tế của Nhật Bản (1952-1973) ........................24
2.2. Những thành tựu cơ bản của Nhật Bản (1952 – 1973) ...................................31
2.2.1. Trong lĩnh vực Công nghiệp .................... Error! Bookmark not defined.
2.2.2. Trong lĩnh vực Nông nghiệp ....................................................................34
2.2.3. Trong lĩnh vực Thương nghiệp – Dịch vụ ...............................................34

2.2.4. Giao thông vận tải ....................................................................................36
2.2.5. Trong lĩnh vực khoa học - kĩ thuật ...........................................................36
CHƢƠNG 3 NGUYÊN NHÂN PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHẬT BẢN VÀ BÀI
HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM ........................................................... 40
3.1. Nguyên nhân phát triển kinh tế của Nhật Bản ................................................40
3.1.1. Tiếp cận và ứng dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật ........................40
3.1.2. Vai trò của người Nhật Bản .....................................................................41
3.1.3. Vai trò quản lí, chính sách cải cách và mở cửa của Nhà nước ................43
3.1.4. Chi phí quốc phòng ít ...............................................................................44
3.1.5. Các công ty, các nhà kinh doanh năng động tích cực ..............................45


5

3.1.6. Tận dụng những cơ hội bên ngoài ............................................................47
3.2. Bài học kinh nghiệm .......................................................................................48
Kết luận ................................................................................................................... 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 54


6

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
QUÁ TRÌNH “PHÁT TRIỂN THẦN KỲ” CỦA KINH TẾ NHẬT BẢN
(1952 – 1973) VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Mã số: SV2014 – 06
1. Vấn đề nghiên cứu
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản là nước bị bại trận, nền kinh tế bị tàn
phá nặng nề. Nhưng chỉ hơn hai mươi năm, Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi phát

triển và trở thành một nước giàu có. Từ năm 1952 cho đến năm 1973 đã duy trì
được tốc độ phát triển cao đáng kinh ngạc người ta gọi đó là “sự phát triển thần kỳ”.
Nguyên nhân để Nhật Bản từ một nước bị thiệt hại nặng nề lại có thể vươn lên và
phát triển mạnh mẽ đến như vậy? Sự phát triển của Nhật Bản đã để lại bài học kinh
nghiệm gì cho các nước nói chung và Việt Nam nói riêng? Đây là những vấn đề cấp
thiết khi tìm hiểu về Nhật Bản. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài
Quá trình “phát triển thần kỳ” của kinh tế Nhật Bản (1952 – 1973) và bài học kinh
nghiệm làm đề tài nghiên cứu khoa học.
2. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ quá trình phát triển thần kì của kinh tế Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế
giới thứ hai đến những năm 70 của thế kỉ XX. Từ đó, rút ra những bài học kinh
nghiệm cho các nước nói chung và Việt Nam nói riêng.
3. Nhiệm vụ
Tìm hiểu tình hình Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai, những thành tựu
cơ bản và nguyên nhân phát triển của nền kinh tế Nhật Bản. Từ đó, rút ra bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam hiện nay.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp lịch sử: khôi phục lại quá trình phát triển kinh tế Nhật Bản từ sau
Chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm 70 của thế kỉ XX.
Phương pháp logic rút ra bài học kinh nghiệm để ứng dụng vào thực tiển.


7

5. Kết quả nghiên cứu
Đề tài là tài liệu tham khảo cần thiết cho việc giảng dạy và học tập của giảng
viên, sinh viên ngành Lịch sử và quan hệ quốc tế nói riêng và những ai quan tâm
đến bộ môn lịch sử nói chung.



8

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản là nước bị bại trận, nền kinh tế bị tàn
phá nặng nề. Cuộc sống người dân phải chịu thảm họa đói rét, nhiều nhà máy, xí
nghiệp bị tàn phá gần như hoàn toàn, nguyên liệu phục vụ cho sản xuất bị khan
hiếm, hàng hóa thiếu thốn. Thế nhưng, với sự quyết tâm và tinh thần tự hào dân tộc,
Nhật Bản đã từng bước đưa đất nước thoát khỏi khó khăn và vươn lên trở thành
cường quốc thứ hai thế giới tư bản (sau Mĩ). Đặc biệt, trong những năm 1953 –
1973, Nhật Bản duy trì được tốc độ phát triển cao đáng kinh ngạc mà người ta gọi
đó là “sự phát triển thần kì”. Vậy Nhật Bản đã đạt được những thành tựu gì về kinh
tế? Những nguyên nhân nào góp phần làm nên “thần kì” Nhật Bản và sự phát triển
đó đã để lại bài học kinh nghiệm gì cho thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng?
Đây là những vấn đề cấp thiết khi tìm hiểu về Nhật Bản.
Hiện nay, Nhật Bản là một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về khoa học
công nghệ và đứng thứ hai trên thế giới về tổng sản phẩm nội địa, thứ ba trên thế
giới là một trong những nước có những phát minh trong các lĩnh vực điện tử, ôtô
máy móc, robot, quang học, hóa chất, chất bán dẫn và kim loại, xếp thứ tư thế giới
về xuất khẩu, đứng thứ năm trên thế giới trong lĩnh vực đầu tư cho quốc phòng, thứ
sáu thế giới về nhập khẩu. Đây là thành tựu đáng tự hào của nhân dân Nhật Bản.
Đặc biệt, trong bối cảnh quan hệ Việt Nam - Nhật Bản đang phát triển lên tầm cao
mới thì việc nghiên cứu, tìm hiểu về Nhật Bản càng có ý nghĩa quan trọng hơn.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài Quá trình “phát triển thần kỳ”
của kinh tế Nhật Bản (1952 – 1973) và bài học kinh nghiệm làm đề tài nghiên cứu
khoa học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sự phát triển nhanh chóng của Nhật Bản từ năm 1952 – 1973 đã trở thành một
“hiện tượng” nổi bật trong thế giới tư bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Sự
phát triển thần kì của Nhật Bản đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà

khoa học như:


9

Pierre – Antoine Donnet (1991), Nước Nhật mua cả thế giới , Nxb Thông tin lý
luận. Tác giả đã trình bày những thành tựu quan trọng của Nhật Bản trong giai đoạn
cất cánh và vị thế của Nhật Bản trên trường quốc tế. Qua đó, tác giả cung cấp nhiều
số liệu quan trọng về thời kì phát triển của Nhật Bản.
Iaxuhico Nacaxone với Chiến lược quốc gia của Nhật Bản trong thế kỉ XXI,
Nxb Thông tấn, Hà Nội. Qua đây tác giả muốn nói về chiến lược quốc gia của Nhật;
Quan điểm tư tưởng của thủ tướng; Triển vọng đường lối chính trị của Nhật; Những
luận cứ về sự cần thiết thông qua bản hiến pháp nhân dân.
Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản ( những vấn đề lịch sử và hiện đại) đã trình bày
về mười năm đào tạo và nghiên cứu về Nhật Bản của khoa Phương Đông học; Quan
hệ Nhật - Việt và đầu tư của Nhật Bản vào miền Nam Việt Nam trước 1975.
Quan hệ của Nhật Bản với các nước Đông Nam Á nêu lên mối quan hệ của Nhật
Bản với các nước Đông Nam Á trong bối cảnh chung của mối quan hệ chằng chéo,
đan xen, vừa thống nhất vừa mâu thuẩn giữa các cường quốc với nhau và các nước
trong khu vực.
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đã cung cấp được tư liệu quan
trọng về giai đoạn phát triển cất cánh của Nhật Bản - đặc biệt về lĩnh vực kinh tế.
Tuy nhiên, các tác giả vẫn chưa đề cập một cách toàn diện cũng như chưa luận giải
rõ ràng những nguyên nhân quan trọng góp phần tạo nên “thần kì Nhật Bản”. Mặt
khác, các công trình cũng chưa làm nổi bật những bài học kinh nghiệm của Nhật
Bản để lại cho các nước nói chung và Việt Nam nói riêng. Do đó, chúng tôi dựa trên
những tài liệu đã có, tiến hành tổng hợp và làm nổi bật một cách toàn diện về sự
phát triển của Nhật Bản và rút ra bài học kinh nghiệm cho các nước trong giai đoạn
phát triển hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu
Phục dựng một cách toàn diện sự phát triển của kinh tế Nhật Bản (1952 - 1973).
Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm cho thế giới nói chung và Việt Nam nói
riêng trong giai đoạn phát triển hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu


10

Tìm hiểu tình hình Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Làm rõ những thành tựu cơ bản và luận giải những nguyên nhân tạo nên “thần kì
Nhật Bản” sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm cho công cuộc xây dựng và phát triển của các
nước trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nguyên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những thành tựu quan trọng và nguyên nhân phát triển nhanh
chóng của kinh tế Nhật Bản (1952 - 1973).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Kinh tế Nhật Bản.
Thời gian nghiên cứu: từ năm 1952 đến năm 1973.
5. Cơ sở lý luận và Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ
nghĩa tư bản, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa đế quốc và công cuộc xây dựng
và phát triển của đất nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở tổng hợp, phân loại và phân tích các tài liệu phù hợp với nội dung đề
tài nghiên cứu, chúng tôi tiến hành các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành như:
Phương pháp lịch sử là sắp xếp các sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian để

khôi phục lại một cách toàn diện những thành tựu quan trọng của nền kinh tế Nhật
Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm 70 của thế kỉ XX.
Phương pháp logic trên cơ sở luận giải những nguyên nhân quan trọng tạo nên
sự “thần kì” của Nhật Bản (1952 - 1973), chúng tôi rút ra những bài học kinh
nghiệm để ứng dụng vào thực tiễn.
Ngoài ra, chúng tôi c n sử dụng một số phương pháp khác như thống kê, đối
chiếu, so sánh các số liệu đã được công bố để làm rõ những thành tựu kinh tế Nhật
Bản trong giai đoạn này.


11

6. Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần tìm hiểu tình cảnh Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Thống kê những thành tựu quan trọng của kinh tế Nhật Bản (1952 -1973).
Luận giải những nguyên nhân phát triển kinh tế của Nhật Bản và rút ra bài học
kinh nghiệm cho các nước trong giai đoạn hội nhập và phát triển hiện nay.
Đề tài là tài liệu tham khảo cần thiết cho việc giảng dạy và học tập của giảng
viên, sinh viên ngành Lịch sử nói riêng và những ai quan tâm đến lịch sử nói chung.
7. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1. Tình hình Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945-1952)
Chương 1 sẽ trình bày về tình hình Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai với
những thất bại nặng nề về kinh tế, tình hình chính trị quân sự có nhiều thay đổi dưới
sự chiếm đóng của lực lượng đồng minh và sự chuyển biến kinh tế của Nhật Bản.
Chương 2. Quá trình phát triển thần kì của kinh tế Nhật Bản (1952-1973)
Chương 2 sẽ trình bày về việc Nhật Bản đã vươn mình phát triển sau Chiến
tranh thế giới thứ hai trở thành một siêu cường kinh tế thế giới. Nhật Bản đã làm
cho cả thế giới kinh ngạc và nể trọng. Tổng sản phẩm quốc gia và thu nhập bình
quân đầu người hàng năm của Nhật đã liên tục tăng qua các năm. Năm 1968 kinh tế

Nhật bản đã lần lượt vượt qua các nước Anh, Pháp, Cộng h a Liên bang Đức, Italia,
Canada để vươn lên đứng hàng thứ hai trong thế giới tư bản (sau Mĩ).
Chương 3. Nguyên nhân phát triển kinh tế Nhật Bản và bài học kinh nghiệm
Chương 3 sẽ làm rõ các nguyên nhân làm nên sự phát triển “thần kì” của kinh tế
Nhật Bản. Từ những nguyên nhân đó thì chúng ta sẽ biết được nguyên nhân nào
quan trọng nhất để tạo nên sự thành công, sau đó để lại những bài học kinh nghiệm
gì đáng quý và bài học nào là chủ yếu để giúp các nước trên thế giới nói chung và
Việt Nam nói riêng phát triển một cách toàn diện và nhanh chóng trên con đường
hội nhập quốc tế như hiện nay.


12

CHƢƠNG 1
TÌNH HÌNH NHẬT BẢN SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
(1945 – 1952)

1.1. Tình hình kinh tế
Khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản là một đất nước hoang
tàn, kiệt quệ. Có lẽ không một quốc gia tham chiến nào là phải chịu đựng một sự
tổn thất nặng nề như vậy và không thấy một nước công nghiệp nào khác lại chậm
cho thấy dấu hiệu bắt đầu phục hồi như vậy. Nhà cửa thuộc khu vực đô thị của Nhật
Bản bị thiêu hủy hoàn toàn trong những cuộc dội bom của không quân Mĩ, dân số
Tokyo chết hơn 1/2, dân số Osaka chết gần 2/3. Sự tàn phá hầu hết các đô thị và sự
hủy diệt hầu như hoàn toàn lực lượng tàu buôn vốn từ trước đến nay làm thành
mạch máu kinh tế duy trì sự sống của Nhật Bản tụt xuống đến mức thấp nhất. Năm
1946, mức sản xuất chỉ còn bằng 1/7 của năm 1941. Dân chúng ăn mặc rách rưới,
ăn uống thiếu thốn, và bị kiệt quệ cả về thể xác lẫn tinh thần [ 9, tr 272-273].
Sau khi thua trận, Nhật Bản bị tàn phá nặng nề về kinh tế: 34% máy móc, 25%
công trình xây dựng, 81% tàu điện bị phá hủy,sản xuất công nghiệp tháng 8 – 1945

tụt xuống còn vài phần trăm so với một năm trước đó và chỉ bằng khoảng 10% mức
trước chiến tranh (1934 – 1936), nước Nhật chìm trong khủng hoảng trầm trọng về
mọi mặt. Những vấn đề kinh tế xã hội gay cấn nhất Nhật Bản lúc này là: thất
nghiệp, thiếu nguyên liệu, lương thực và lạm phát. Lương thực, nguyên nhiên liệu
thiếu trầm trọng, giá cả đắt đỏ leo thang. Sản lượng công nghiệp năm 1946 chưa
bằng 1/3 năm 1930 và chỉ bằng 1/7 năm 1941.
Hơn 4 triệu người thất nghiệp do ngừng các hoạt động sản xuất quân sự, 7,6
triệu binh sĩ giải ngũ, 1,5 triệu người từ các thuộc địa hồi hương, nâng tổng số
người không có việc làm lên 13,1 triệu. Nếu loại trừ một số người có khả năng về
quê làm ruộng thì xã hội vẫn còn giải quyết việc làm cho khoảng 10 triệu người. Vụ
lúa năm 1945 thất bát, thảm họa đói rét bao trùm nước Nhật.
Nguồn năng lượng chính lúc bấy giờ là than và thủy điện. Riêng than đã giảm từ
3 – 4 triệu tấn/ tháng xuống còn 1 triệu tấn/tháng vào mùa thu năm 1945 [5,tr. 176].


13

Lí do chủ yếu là Nhật đầu hàng, những người Trung Hoa và Triều Tiên trước đó
phải lao động khổ sai trong các mỏ than đã không chịu tiếp tục công việc, các mỏ
than hầu như bị tê liệt hoàn toàn. Do thiếu than, ngành đường sắt bị khủng hoảng
nghiêm trọng.
Tình trạng siêu lạm phát nổ ra từ năm 1945 kéo dài đế đầu những năm 1949 là
một biểu hiện nghiêm trọng khác của sự rối loạn trong kinh tế. Nguyên nhân chính
là do việc cho phát hành tiền giấy để bù đắp thâm hụt tài chính. Thâm hụt tài chính
xảy ra là do hai chính sách sau:
Trợ cấp – các khoản trợ cấp đều chủ yếu tập trung dành cho các sản phẩm đầu
vào trung gian như than đá, thép, đồng và phân bón nhưng một số trợ cấp lại dành
cho các hàng hóa tiêu dùng, đặc biệt là thực phẩm. Cụ thể hơn là chính phủ đã áp
dụng việc kiểm soát giá cả và cung cấp các khoản trợ cấp sản xuất (có nghĩa là “bù
đắp những khoảng cách về giá cả”) nhằm bù đắp những khoản lỗ cho các nhà sản

xuất tư nhân.
Các khoản cho vay từ Qũy phục hồi Tài Chính (fukkin) – mục tiêu của các khoản
cho vay này là các ngành công nghiệp được ưu tiên, đặc biệt là ngành than. Bộ Tài
chính sẽ cấp những khoản cho vay chính sách này cho các ngành được ưu tiên. Trái
phiếu chính phủ đã được phát hành để có được nguồn tài chính cho các khoản vay
này. Hầu hết các trái phiếu này đều được ngân hàng Nhật Bản mua và lượng cung
tiền do vậy cũng tăng lên.
Vài tháng trước khi đầu hàng, nhịp độ tăng giá đã gần đến mức báo động, nhưng
vẫn hoàn toàn không thể so được với tình trạng siêu lạm phát sau đó. Nguyên nhân
chủ yếu là khi lượng hàng hóa cung ứng giảm sút, lượng tiền tệ đưa vào lưu thông
lại phình ra vì chính phủ và ngân hàng Nhật đã phải tung công trái ra thị trường
nhằm làm dịu sự hoang mang của dân chúng trước tình hình quân đồng minh tăng
cường oanh tạc. Sau khi thua trận, chính phủ vẫn phải chi tiền lương cho quân lính
giải ngũ, thanh toán các đơn đặt hàng quân sự trước đây, tiền đền bù thiệt hại
v.v…Thêm vào đó, những lời đồn đại về đổi tiền, đánh thuế tài sản v.v…càng làm
cho dân chúng đổ xô đi mua vét hàng hóa. Mọi biện pháp khẩn cấp chống lạm phát
của chính phủ như: kêu gọi dân chúng gởi tiền tiết kiệm, ra lệnh phát hành tiền mới,


14

thực hiện chuyển đổi đồng tiền yên mới và cho phép mỗi gia đình được quyền rút
500 yên hàng tháng để sinh sống, thu thuế tài sản v.v…đều không ngăn chặn nổi
lạm phát. Tình hình trên đã làm nhân dân mất lòng tin vào chính phủ đã dẫn đến
tình trạng gần như vô chính phủ, nạn chợ đen, cờ bạc và các tiêu cực xã hội khác
phát triển. Với điều kiện trong nước như vậy, cộng thêm việc mất hết thuộc địa và
các tài sản vốn mang lại thu nhập ở nước ngoài, lúc này tình hình không ai dám
nghĩ đến khả năng Nhật Bản có khả năng nhanh chóng phục hồi được nền kinh tế
kiệt quệ này [14, tr.93-95].
1.2. Tình hình chính trị - quân sự

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản bị lực lượng đồng minh (thực tế
là Mĩ) chiếm đóng (1945 – 1952). Đây là lần đầu tiên trong lịch sử của mình, Nhật
Bản bị nước ngoài chiếm đóng dưới chế độ quân quản do Bộ Chỉ huy tối cao lực
lượng Đồng minh (SCAP – The Supreme Commander for the Allied Powers), đứng
đầu là tướng Mĩ Mac Arthur quản lý. Chính phủ Nhật Bản vẫn tiếp tục tồn tại,
nhưng đóng vai tr là chính quyền thứ hai, phải thực hiện nghiêm túc các sắc lệnh
của SCAP.
Phá bỏ các Zaibatsu - các doanh nghiệp lớn bị lên án vì đã ủng hộ chủ nghĩa
quân phiệt trong chiến tranh. Các tập đoàn lớn này bị phá bỏ và chia nhỏ thành các
pháp nhân riêng biệt. Nhưng sau đó, chính sách này lại bị đảo ngược lại và một loại
hình tập đoàn công nghiệp mới lại xuất hiện được gọi là các keiretsu.
Luật lao động mới - đảm bảo quyền lợi của công nhân thông qua việc tổ chức
các công đoàn lao động, thương lượng các điều kiện làm việc cơ bản.
Cải tổ đất đai - đất đai của tất cả các địa chủ không thường xuyên sinh sống tại
nơi có đất và của những người sở hữu đất vượt số lượng qui định sẽ bị xung công và
bán lại cho những người thật sự cày cấy. Giá bán thấp và tỉ lệ lạm phát cao sẽ nhanh
chóng làm giảm sút giá trị thật của đất. Nhờ đó quyền sở hữu đất của nông dân
được cải thiện đáng kể [8, tr. 187].
Trong thời gian này, tình hình chính trị - quân sự của Nhật Bản có nhiều biến
đổi quan trọng. Trước hết, lực lượng Đồng minh chiếm đóng đã thi hành một số
biện pháp để loại bỏ chủ nghĩa quân phiệt và bộ máy chiến tranh của Nhật Bản. Lực


15

lượng vũ trang thường trực và toàn bộ ngành quân sự Nhật bị giải trừ. Tòa án quân
sự Viễn Đông được lập ra để xét xử các tội phạm chiến tranh Nhật Bản. Việc xét xử
được tiến hành từ tháng 5 - 1946 đến tháng 11 - 1948 ở Tokyo đã kết án 7 tên tử
hình, 16 tên tù chung thân, 2 tên tù dài hạn… Các đảng phái quân phiệt bị giải tán,
và khoảng 290.000 người liên quan đến chế độ quân phiệt trước đây bị thanh trừng

ra khỏi bộ máy nhà nước. Hiến pháp năm 1889 của Nhật bị bãi bỏ, thay vào đó là
Hiến pháp mới do SCAP tổ chức soạn thảo, được công bố ngày 3 – 11 – 1946 và có
hiệu lực ngày 3 – 5 – 1947. Theo đó, về hình thức chính thể, Nhật Bản là nước
Quân chủ lập hiến, nhưng thực chất là theo chế độ dân chủ đại nghị tư sản dựa trên
nguyên tắc Tam quyền phân lập cơ bản là: chủ quyền thuộc về toàn dân, vua là biểu
tượng quốc gia và có tính thống nhất dân tộc, hòa bình, tôn trọng những quyền cơ
bản của con người. Hội đồng khanh tướng trước đây được thay bằng Quốc hội
lưỡng viện (Thượng nghị viện và Hạ nghị viện) do dân bầu ra làm cơ quan quyền
lực tối cao quyền lập pháp. Thiên hoàng vẫn tồn tại, nhưng Hiến pháp bãi bỏ quyền
lực của Thiên hoàng đối với nhà nước và chỉ đảm nhận những công việc do Nhà
nước quy định, quyền hành pháp thuộc về chính phủ. Hiến pháp cam kết ủng hộ lí
tưởng hòa bình và chế độ dân chủ, xác định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của người
dân trong khuôn khổ của nền dân chủ tư sản. Các công dân từ 25 tuổi trở lên có thể
đi bầu cử vào Hạ nghị viện, từ 30 tuổi trở lên có thể được bầu cử vào Thượng nghị
viện. Chế độ phổ thông đầu phiếu nam nữ từ 20 tuổi trở lên có quyền đi bầu cử, cam
kết tử bỏ quyền tiến hành chiến tranh với các nước khác, không dùng hoặc đe dọa
sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, không duy trì quân đội thường trực với các
lực lượng hải, lục, không quân và các lực lượng chiến đấu khác [1, tr. 324].
Cùng với việc thực hiện dân chủ hóa, phần lớn các đảng phái chính trị ở Nhật
đều phục hồi và tìm cách khôi phục lại vị trí của mình. Các chính đảng cầm quyền
trước đây như Seiyukai, Minseito hoạt động trở lại ngay sau khi chiến tranh kết
thúc. Một số đảng chính trị bắt đầu mở rộng ảnh hưởng, trong đó có Đảng Tự do
(Jiyoto), thành lập tháng 11 - 1945, là tiền thân của Đảng Dân chủ Tự do (LDP) sau
này. Trong cuộc bầu cử đầu tiên sau chiến tranh, diễn ra năm 1946, Phó Chủ tịch
Đảng Tự do Yoshida Shigeru (1978 - 1967), lên làm thủ tướng từ tháng 5 - 1946


16

đến tháng 5 - 1947. Nền chính trị Nhật Bản từ năm 1945 - 1950 đã diễn ra quá trình

phân hóa của các chính đảng đã tồn tại từ thời kì trước chiến tranh đồng thời có sự
hình thành các chính đảng mới. Các thành viên của Đảng Seiyukai sát nhập vào
Đảng Tự do, trong khi phần lớn các thành viên Đảng Minseito liên kết với Đảng
Tiến Bộ (Shimpoto), sau đó chuyển thành Đảng Dân chủ (Minshuto). Mặc dù các
chính Đảng đều nổ lực để nắm lấy quyền lực, nhưng trên thực tế trong thời kì nước
Nhật bị chiếm đóng, vai tr của các chính Đảng bị hạn chế rất nhiều so với thời gian
trước chiến tranh. Trong khi đó, tỉ lệ cử tri ủng hộ cho các đảng cánh như Đảng Xã
hội, Đảng Cộng sản có chiều hướng tăng lên. Trong cuộc bầu cử năm 1946, Đảng
Xã hội chiếm 18% số phiếu bầu, giành được 92 ghế trong Quốc hội, Đảng Cộng sản
chiếm 4% số phiếu bầu và 5 ghế trong Quốc hội.
Đầu tháng 2 - 1947, Đảng Cộng sản dự định tổ chức một cuộc tổng bãi công
trong phạm vi toàn quốc nhằm phản đối Chính phủ trong việc chậm trễ giải quyết
các vấn đề kinh tế và cải thiện điều kiện sống của người dân. Trong tình hình đó,
SCAP ra lệnh cấm tổng bãi công để ngăn chặn phong trào đấu tranh và hạ thấp uy
tín chính trị của các lực lượng cánh tả. Tuy nhiên, điều bất ngờ là trong cuộc bầu cử
theo Hiến pháp mới năm 1947, Đảng Xã hội lại giành được đa số phiếu bầu. Chính
phủ mới được thành lập bao gồm liên minh Đảng Xã hội và Đảng Dân chủ, đứng
đầu là thủ tướng Katayama Tetsu (1887 – 1978) – Chủ tịch Đảng Xã hội. Chính phủ
Katyama đưa ra chương trình quốc hữu hóa các ngành công nghiệp chủ chốt của
Nhật nhưng không được Quốc hội thông qua. Đồng thời, cuộc đấu tranh chính trị
trong nội bộ các đảng, giữa cánh tả và cánh hữu đã dẫn đến sự phân hóa trong
Chính phủ. Thủ tướng Katayama phải từ chức tháng 3 - 1948, tuy nhiên các thành
viên Đảng Xã hội tiếp tục được duy trì trong chính phủ liên minh do Đảng Dân chủ
đứng đầu cho đến cuối năm 1948.
Trong cuộc bầu cử năm 1948, Đảng Tự do giành thắng lợi và Yoshida Shigeru
trở lại làm thủ tướng nhiệm kì thứ hai trong những năm 1949 – 1954. Trên thực tế,
Thủ tướng Yoshida đã nắm quyền điều hành nội các gần như trong suốt thời kì
1946 – 1954. Là một chính trị gia, một nhà ngoại giao lão luyện và có quan điểm
chống cộng sản, thân phương Tây, Yoshida là một thủ tướng Nhật hoàn toàn thích



17

hợp đối với Mĩ trong thời kì chiếm đóng Nhật Bản. Yoshida cũng chính là người
thay mặt Chính phủ Nhật kí kết Hiệp ước San Francisco năm 1951, c gọi là Hiệp
ước Hòa bình San Francisco với các nước Đồng minh [12, tr. 323-324].
1.3. Cuộc cải cách của Mac Arthur và sự chuyển biến kinh tế Nhật Bản
Theo tuyên bố của Potsdam tháng 7 - 1945 của Mĩ, Anh và Trung Quốc (Liên
Xô sau đó cũng kí tên vào Tuyên ngôn này), từ cuối tháng 8-1945, quân đồng minh
trên thực tế chỉ là các lực lượng quân đội Mĩ, đã tiến hành chiếm đóng Nhật Bản.
Tướng Douglas Mac Arthur, là một người có tầm chiến lược, lòng khoan dung và
từng có nhiều kinh nghiệm chỉ huy quân đội Mĩ trên chiến trường Philippines cũng
như ở khu vực Thái Bình Dương. Mặc dù không tránh khỏi những hạn chế nhất
định nhưng cuộc chiếm đóng trong v ng bảy năm của SCAP được coi là cuộc
chiếm đóng h a hiếu và tích cực nhất giữa hai dân tộc. Vai trò cá nhân của tướng D.
Mac Arthur có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thời gian này. Là một nhà quân sự
đồng thời là một chính trị gia giàu kinh nghiệm, những chính sách cải cách của ông
ở Nhật Bản đã nhận được sự ủng hộ của Mĩ [6, tr. 330-334].
Tư lệnh tối cao của Mĩ ở Tokyo bắt đầu công việc bằng cách xóa bỏ quân đội
Nhật. Hai triệu người đã được giải giáp và gửi về quê quán. Ngoài ra, sáu triệu quân
nhân và dân sự từ các vùng được giải phóng nằm dưới ách thống trị của Nhật trong
khối “Đại thịnh vượng” cũng được đưa về nước. 28 tướng lĩnh và viên chức chính
trị của Nhật Bản đã bị đưa ra xét xử. Bảy người trong số này trong đó có Tướng
Tojo Hideki - người được xem như một trong những nhân vật chịu trách nhiệm
chính của chủ nghĩa quân phiệt - đã bị kết án treo cổ. Hàng ngàn sĩ quan, hạ sĩ quan
và binh lính khác cũng bị đưa ra xét xử vì đã gây ra những tội ác chiến tranh.
Tháng 11 - 1945, tướng Mac Arthur đã ra lệnh cho chính phủ Nhật Bản phải
thực hiện năm cải cách cơ bản: Tự do nghiệp đoàn, tự do bầu cử cho phụ nữ, thiết
lập hệ thống trường học tự do, bãi bỏ chế độ chuyên chế và dân chủ hóa hệ thống
kinh tế.

Theo hiến pháp mới, Nhật Bản phải vĩnh viễn không được gây chiến tranh.
Nước Nhật không được quyền có quân đội riêng mà chỉ được có các “lực lượng
phòng vệ”. Theo điều IX của Hiến pháp, “nhân dân Nhật vĩnh viễn từ bỏ chiến


18

tranh xét như là quyền tối thượng của đất nước” [7, tr.329]. Mặt khác, quyết định
dẹp bỏ các Zaibatsu (tập đoàn công nghiệp và tài chính lớn nằm trong tay một nhóm
các đại gia đình) của Mac Arthur đã được dân chúng hoan nghênh nhiệt liệt. Chính
phủ Nhật, đã không gây bất cứ trở ngại nào cho việc thi hành các cải cách, trong khi
dân chúng Nhật ngày càng cảm thấy có một nền tự do mà họ chưa bao giờ dám nghĩ
đến. Một h a ước với hầu hết các nước trong khối Đồng minh cuối cùng cũng đã
được kí kết vào tháng 9 - 1951. Để chính thức chấm dứt thái độ thù địch, hiệp ước
Francisco đã trao trả cho Nhật Bản chủ quyền của mình, nhưng đồng thời cũng
khẳng định Nhật Bản phải trả lại tất cả các lãnh thổ đã chiếm đóng từ năm 1895.
Quan hệ ngoại giao đã được nối lại giữa Tokyo và 48 quốc gia. Nước Nhật đã dần
dần giành lại vị trí của mình trong cộng đồng quốc tế. Chính trong bầu không khí
lặng dịu và đầy hi vọng ấy mà người Nhật đã bắt tay lao động.
Ngay sau khi các lực lượng đồng minh hoàn tất việc phi quân sự hóa hoàn toàn
nước Nhật vào cuối Mùa thu năm 1945, một phái đoàn điều tra của Mĩ, do Edwin
Pauley và Owen Lattimore dẫn đầu, đã đến Tokyo nghiên cứu các cách thức tốt nhất
để Nhật Bản đển bù những thiệt hại do những hành động bạo ngược của mình cho
các nước châu Á. Phái đoàn đã tuyên bố không úp mở với người Nhật là không có
chuyện cho phép họ rót những khoản bồi thường dưới dạng các thành phẩm, vì cách
bồi thường này sẽ tạo điều kiện cho nước Nhật tăng cường khả năng công nghiệp
của mình. Theo ý phái đoàn này, nước Nhật phải thực hiện bồi thường dưới dạng
các phân xưởng được tháo gỡ ra, vận chuyển và lắp đặt lại ở các quốc gia, nơi mà
quân đội Nhật hoàng đã thực hiện những tội ác man rợ nhất. Một danh sách 1.000
phân xưởng đã chuẩn bị sẵn sàng. Người ta cho rằng nước Nhật sẽ không bao giờ

ngoi lên được đến một sức sống cao hơn những châu Á khác. Nếu như 1.000 phân
xưởng ấy thực sự được tháo gỡ và chuyên chở ra khỏi nước Nhật thì, hầu như chắc
chắn, Nhật Bản sẽ gặp những trở ngại to lón trong việc tái thiết nền kinh tế. Nhưng,
rất nhanh ở Washinton, người ta hiểu rằng việc tháo gỡ các phân xưởng là một công
việc khó khăn và ít có lợi. Cuối cùng, rất ít thiết bị đã rời khỏi nước Nhật. Vài năm
sau đó, khi bước vào cuộc chiến tranh lạnh, Mĩ đã thay đổi hoàn toàn các chính sách


19

của mình. Vấn đề “trừng phạt” từ đó mãi mãi không c n được đặt ra cho nước Nhật
nữa.
Ngày 9 - 10 - 1945, lực lượng chiếm đóng tuyên bố thực hiện chính sách phi
quân sự hóa nền kinh tế. Đồng thời, để khuyến khích các lực lượng dân chủ, thủ tiêu
sự tập trung trong sản xuất và chiếm hữu tài sản trong đó có cả việc thanh trừng
những nhà tài phiệt đầu xõ, SCAP muốn triệt tiêu sức mạnh quân sự của Nhật Bản
cả về tâm lý lẫn thể chế. Theo đó, trách nhiệm khôi phục kinh tế là thuộc về chính
phủ Nhật Bản. Về kinh tế, SCAP thực hiện đồng thời 3 cuộc cải cách lớn.
Để xây dựng và phát triển nền kinh tế mới theo nguyên tắc tự do cạnh tranh.
SCAP cho rằng việc đầu tiên là phải thủ loại bỏ tình trạng tập trung kinh tế mà
trọng tâm là giải thể các zaibatsu. Đây là các tập đoàn kinh tế mang tính chất gia
tộc, có sự câu kết chặt chẽ về lợi ích với giới tài phiệt. Theo yêu cầu và kết quả điều
tra của SCAP, 83 công ty cổ phần và 57 tập đoàn Zaibatsu trong đó có những tập
đoàn khổng lồ như: Mitsui, Mitsubishi,Sumitomo, Yasuda,… phải giao nộp hoặc bị
tịch thu tài sản. Tổng số tài sản giao nộp lên đến 233 triệu cổ phần. Số cổ phần này
được chính phủ phân tán và bán cho các cá nhân hay nghiệp đoàn kinh tế.
Để ngăn chặn sự phục hưng của các Zaibatsu, hơn 2.000 người có mối liên hệ
với các tập đoàn tài phiệt bị trục xuất ra khỏi công ty. Thêm vào đó, từ tháng 4 1947, “Luật chống độc quyền” ( Dokusen kinshi) được ban hành nhằm ngăn chặn sự
phục hồi của các thế lực tài phiệt và “trở thành nguyên tắc căn bản của nền kinh tế
Nhật Bản sau chiến tranh” [13, tr.60]. Tháng 12 - 1947, SCAP còn ban hành thêm

“Luật thủ tiêu tập trung quá mức sức mạnh kinh tế” nhằm giải tán các công ty nắm
quá nhiều nguồn lực kinh tế. Theo đó, 2 tập đoàn kinh tế lớn là Mitsui và Mitsubishi
phải phân tán thành 240 công ty riêng biệt. Những biện pháp kiên quyết nêu trên đã
tạo điều kiện cho sự canh tranh mạnh mẽ trong tất cả các ngành công nghiệp và có
tác dụng rất lớn đối với sự phát triển và tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ cao của Nhật
Bản sau chiến tranh. Tuy nhiên, sau một thời gian phân tán, từ cuối thập kỉ 50, các
Zaibatsu lại có khuynh hướng phục hồi theo quy luật cạnh tranh và tập trung vốn
của một nền kinh tế đang đạt tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ. Trong bối cảnh lịch sử,
chính trị và xã hội mới, nguyên tắc hoạt động kinh tế của các Zaibatsu cũng đã có


20

những thay đổi và điều chỉnh căn bản. Nguyên tắc “trung thành” được thay bằng lý
tưởng “cống hiến”. Những người lãnh đạo và nhân viên trong mỗi công ty, nhà
băng đều cố gắng hết mình vì sự phồn vinh của công ty chứ không phải vì sự trung
thành với ông chủ của một dòng họ mang tính chất cha truyền con nối đồng thời là
người đứng đầu tập đoàn kinh tế như trước.
Để sớm đưa các ngành kinh tế Nhật Bản thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh
tế trầm trọng và xây dựng một nền kinh tế mới hoạt động theo nguyên tác tự do
cạnh tranh, chính phủ Mĩ đã cử Joseph Dodge, chủ tịch ngân hàng Detroit người
được giao trọng trách thiết lập và thực hiện Chương trình cải cách tiền tệ ở Tây Đức
sang Nhật Bản làm cố vấn kinh tế cho SCAP. Là một nhà kinh tế theo trường phái
cổ điển, J.Dodge chủ trương xây dựng một nền kinh tế trên nguyên tắc hoạt động
của thị trường tự do, không có sự can thiệp của nhà nước. J.Dodge cho rằng, nếu
Nhật Bản muốn thực hiện quá trình tích lũy tư bản cũng như khôi phục nền công
nghiệp thì phải dựa trên sự nỗ lực của chính mình. Kế hoạch kinh tế của J.Dodge
gồm có những nội dung chủ yếu như sau:
Thứ nhất: Thực hiện việc cân bằng hóa ngân sách của chính phủ. Nhật Bản
không chỉ cần phải thiết lập được sự cân bằng tuyệt đối về mặt tài chính trong các

khoản thanh toán đặc biệt mà còn phải có nguồn ngân sách dự trữ để có đủ khả năng
mua lại các trái phiếu trước hạn định.
Thứ hai: Đình chỉ việc cho vay mới nguồn tài chính của Ngân quỹ phục hồi vốn
để tập trung cho một số ngành công nghệ mũi nhọn. Biện pháp này nhằm cắt đứt
nguồn cung ứng tiền tệ mà theo J.Dodge là nguyên nhân cơ bản khiến cho tình trạng
lạm phát trở nên trầm trọng ở Nhật Bản.
Thứ ba: Cắt giảm và hủy bỏ chế độ trợ cấp của chính phủ cho một số ngành kỹ
nghệ và đình chỉ sự kiểm soát của nhà nước đối với việc xuất nhập khẩu hàng hóa.
Thứ tư: Quy định tỷ giá hối đoái từ tháng 4 năm 1949 là 360 yên/1 USD Mĩ để
tăng sức cạnh tranh cho kinh tế Nhật Bản. Trên thực tế, tỷ xuất này đã ghìm đồng
yên xuống thấp hơn 330 yên/1 USD và được coi là tỷ xuất thích hợp thời bấy giờ [7,
tr.333].


21

Kế hoạch J.Dodge đã đem lại nhiều thành công cho nền kinh tế Nhật Bản. Kế
hoạch đã ngăn chặn hiệu quả nạn lạm phát, giữ được sự bình ổn giá cả hàng hóa của
thị trường trong nước đồng thời bước đầu nâng cao năng lực cạnh tranh của các
công ty Nhật Bản tại thị trường trong nước cũng như trên thế giới. Đây có thể coi là
một chương trình giảm lạm phát quy mô lớn, có ý nghĩa quan trọng như kế hoạch
giảm lạm phát của Matsukata vào đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XIX. Trong thời kỳ áp
dụng kế hoạch J.Dodge, ngân hàng Nhật Bản đã giảm mức tăng của lượng tiền phát
hành từ 40%/năm xuống c n 30%/năm và kiềm chế mức tăng lương 10% mỗi tháng
xuống còn 4% [7, tr. 333].
Nhằm thực hiện một chương trình cải cách toàn diện nền kinh tế Nhật Bản,
SCAP còn khẩn trương thực hiện cải cách ruộng đất. Cuộc cải cách được chia làm 2
đợt. Đợt 1 bắt đầu thực hiện từ tháng 1 - 1946 và đợt 2 diễn ra từ tháng 11 - 1946.
Theo quan điểm của nhiều chuyên gia Nhật và SCAP thì sự tồn tại của chế độ địa
chủ ở Nhật chính là nguyên nhân tiềm tàng dẫn tới sự phục hưng của chủ nghĩa

quân phiệt. Để giảm thiểu tiến tới xóa bỏ những đặc quyền của giai cấp địa chủ,
SCAP đã thực thi những biện pháp kiên quyết để cắt giảm quy mô sở hữu đất đai
của giai cấp này để loại trừ hình thức bóc lột phong kiến, đem lại ruộng đất cho
nông dân. Theo đó, đối với những địa chủ vắng mặt, ruộng đất sẽ bị chính quyền
trưng mua. Các địa chủ vẫn sinh sống và cai quản ruộng đất của mình thì chỉ có thể
giữ lại 1 cho (đơn vị đo diện tích của Nhật Bản, 1 cho tương đương 99,8 a) nhưng
riêng ở Hokkaido thì có thể giữ lại 4 cho. Đây là một quy định hết sức ngặt nghèo.
Ban cải cách ruộng đất mua đất của địa chủ. Tiền bán đất được thanh toán bằng
công trái. Giá đất mua không những rất thấp mà sau đó, do lạm phát giá trị thực tế
càng thấp nên trên thực tế chủ đất gần như bị tịch thu. Số ruộng đất thu mua được
chính phủ bán lại cho nông dân với mức giá thấp. Họ có thể vay nợ của nhà nước để
mua đất và trả nợ dần với lãi xuất 3,2%. Đến tháng 8 năm 1950, cuộc cải cách
ruộng đất mà thực chất là chính sách hạn chế những đặc quyền của giai cấp địa chủ
cũ, đem lại quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân trên quy mô lớn ở Nhật Bản đã
kết thúc.


22

Kết quả là có trên 5 triệu mẫu đất canh tác đã được chuyển đổi sang cho những
chủ canh tác mới. Diện tích đất phát canh trước cải cách ruộng đất là 46% nhưng
sau cải cách đã giảm xuống chỉ còn 10%. Số ruộng đất thuộc về những người trực
tiếp canh tác đã tăng từ 55% lên đến 87%. Việc chuyển quyền sở hữu ruộng đất cho
những người nông dân trực tiếp canh tác đã kích thích mạnh mẽ tính tích cực sản
xuất của cư dân Nhật Bản, phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá của Nhật
Bản đồng thời đem lại sản lượng lương thực vượt trội cho xã hội. Ở nhiều vùng
nông thôn Nhật Bản đã thấy xuất hiện một tầng lớp tiểu chủ trung lưu. “Cải cách
ruộng đất cũng đã góp phần mở rộng thị trường trong nước và trở thành địa bàn cho
Đảng bảo thủ” [7, tr.335]. Với những thành công đó, chính sách cải cách ruộng đất
mà SCAP được coi là một trong những cải cách thành công nhất ở Nhật Bản sau

Chiến tranh thế giới thứ hai.
Song song với việc thực hiện những cải cách ruộng đất và biện pháp kinh tế trên
đây, SCAP còn chủ trương tiến hành dân chủ hóa quyền lợi của người lao động
thông qua các đạo luật về lao động. Luật công đoàn năm 1945 bảo đảm các quyền
tổ chức công đoàn, thương lượng tập thể và bãi công. Luật điều chỉnh quan hệ lao
động năm 1946 được công bố. Cùng với các đạo luật trên, phong trào công đoàn đã
phát triển khá nhanh chóng và đóng vai tr quan trọng trong việc cải thiện điều kiện
lao động của công nhân.
Nhìn chung, các cuộc cải cách trên đã chuẩn bị những điều kiện hết sức quan
trọng cho việc mở rộng dân chủ trong xã hội Nhật Bản và sự tăng trưởng kinh tế
nhanh chóng của Nhật Bản về sau.
Tóm lại Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản là nước bại trận và bị
quân đội đồng minh chiếm đóng. Nhật Bản vấp phải những khó khăn về kinh tế - xã
hội như là đất nước bị chiếm đóng và bị tàn phá nặng nề, thiếu lương thưc nguyên
nhiên liệu trầm trọng, giá cả đắt đỏ, lạm phát leo thang và nặng nề nhất là nạn đói
nhất năm 1945. Trước tình hình đó Nhật Bản phải dựa vào sự “viện trợ” đến từ Mĩ
và nước ngoài gần 14 tỉ USD. Bên cạnh đó, một loạt cải cách được tiến hành trong
thời kì chiếm đóng như cải cách ruộng đất, phá bỏ các Zaibatsu, luật lao động…đã
góp phần không nhỏ vào việc thay đổi bộ mặt nước Nhật. Với những biện pháp và


23

các cải cách đã tạo ra cho nước Nhật, chỉ trong một thời gian ngắn đến những năm
1950 – 1951 đã khôi phục được nền kinh tế của mình đạt mức trước chiến tranh.


24

CHƢƠNG 2

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN THẦN KÌ CỦA KINH TẾ NHẬT BẢN
(1952 – 1973)

2.1. Sự phục hồi và phát triển kinh tế của Nhật Bản (1952-1973)
Tháng 10 năm 1949, sự ra đời của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và sau
đó là sự bùng nổ của cuộc chiến tranh Triều Tiên tháng 6 năm 1950 đã dẫn đến
những thay đổi hết sức quan trọng trong cách đánh giá và nhìn nhận vai trò của
Nhật Bản trong chiến lược toàn cầu của Mĩ. “Mĩ bắt đầu xem sức mạnh kỹ nghệ và
quân sự của Nhật Bản là một hậu thuẫn đáng kể cho lực lượng quân sự Mĩ ở Viễn
Đông. Bởi thế, đối với Mĩ, Nhật Bản trước đó không lâu là kẻ thù số một, trong
chốc lát đã trở thành người đồng minh chủ yếu” [22, tr. 339]. Sau khi cuộc chiến
tranh Triều Tiên bùng nổ, nền kinh tế của Nhật Bản đã có những thay đổi căn bản.
Cuốn “Sách trắng kinh tế” xuất bản ở Nhật Bản năm 1952 nhận định: “Chiến tranh
Triều Tiên đã làm nền kinh tế Nhật Bản thay đổi. Nhờ có các đơn đặt hàng của Mĩ
và hoạt động xuất khẩu tăng lên nên tình trạng ứ đọng hàng hóa sẽ được khắc phục,
sản xuất hàng hóa bắt đầu tăng” [22, tr. 340].
Về xã hội, các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và những người lao
động trước đây được coi như là biểu hiện quá trình dân chủ hóa và sự tiến bộ xã hội
đã bị từng bước hạn chế thậm chí bị coi là những biểu hiện của khuynh hướng chính
trị đối lập mang tính chất nguy hiểm gây nên tình trạng bất ổn của xã hội.
Chiến tranh Triều Tiên được ví như “Ngọn gió thần” thổi vào nền kinh tế Nhật
Bản. Do nằm ở vị trí chiến lược phía bắc Thái Bình Dương, án ngữ con đường
hướng về phía đông của Trung Quốc, Triều Tiên, Liên Xô, quần đảo Nhật Bản mau
chóng trở thành căn cứ quân sự của Mĩ. Không chỉ có ý nghĩa với khu vực Đông
Bắc Á, về lâu dài Mĩ cũng muốn dùng địa bàn Nhật Bản để có thể tiến xuống khu
vực Đông Nam Á, gây ảnh hưởng chính trị và thâm nhập vào thị trường khu vực.
Khi chiến tranh Triều Tiên diễn ra, đáp ứng yêu cầu của Mĩ, Nhật Bản không chỉ
là căn cứ quân sự mà c n là nước cung cấp nguồn hậu cần quan trọng cho quân đội



25

Mĩ. Sau một thời kỳ phục hưng kinh tế, các ngành sản xuất của Nhật Bản cũng đã
có đủ những điều kiện cần thiết để sản xuất các nhu yếu phẩm phục vụ chiến tranh
như vũ khí, trang phục và nhiều thiết bị dịch vụ khác. Những chế phẩm đó không
chỉ đáp ứng một phần mục tiêu xuất khẩu mà còn trực tiếp cung cấp cho các hoạt
động quân sự và sinh hoạt của binh sĩ, nhân viên Mĩ trên đất Nhật. Trong 4 năm
(1950 – 1954) đơn đặt hàng của Mĩ dành cho các công ty Nhật Bản đã đạt trị giá 4
tỷ đôla. Như vậy, cùng với hơn 2 tỷ đôla mà Mĩ đã đưa vào Nhật Bản trước năm
1951 để hỗ trợ cho nền kinh tế nước này, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, mức
độ đầu tư của Mĩ vào Nhật Bản là rất lớn. Các khoảng thu ngoại tệ từ các đơn đặt
hàng của Mĩ tương đương 60 -70% tổng giá trị xuất khẩu đã góp phần hết sức quan
trọng nâng cán cân thanh toán của Nhật Bản lên chỉ số dương trong một thời gian
ngắn. Nhật Bản đã có thể nhập khẩu một lượng hàng hóa, nguyên liệu đạt giá trị
khoảng 2 tỷ đô la mỗi năm, tức là tăng hơn gấp 2 lần so với trước chiến tranh Triều
Tiên diễn ra mà không phải chú ý giữ mức cân bằng ngân sách như nguyên tắc đã
đề ra trong kế hoạch của J.Dodge. Nguồn nhiên liệu và hàng hóa nhập về đã thúc
đẩy các ngành kinh tế trong nước đạt tốc độ tăng trưởng nhảy vọt. Có thể nói, các
đơn đặt hàng ưu đãi của chính phủ Mĩ đã đem lại sự hồi sinh cho kinh tế Nhật Bản.
Về phần mình, để tranh thủ cơ hội phát triển đồng thời nhằm đáp ứng nhu cầu
hàng hóa to lớn của Mĩ trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, chính phủ và giới chủ tư
bản Nhật Bản đã tăng cường đầu tư vào máy móc, thiết bị, đổi mới kỹ thuật đặc biệt
là hỗ trợ cho 4 ngành công nghiệp chủ chốt là công nghiệp than, luyện kim, điện lực
và đóng tàu. Trước những tác động của cuộc chiến tranh Triều Tiên, kinh tế Nhật
Bản đã có những tăng trưởng hết sức mau chóng. Theo đó, nếu lấy năm 1950 là
năm chiến tranh Triều Tiên bùng nổ làm mốc để so sánh thì mức thu nhập quốc dân
năm 1953 đã tăng lên khoảng 30% còn tiền lương thực tế đã tăng từ 35% đến 45%.
Chính trong thời kỳ này, Nhật Bản đã xây dựng được nền tảng cho sự phát triển
kinh tế ở các giai đoạn sau.
Như vậy, trước những biến đổi của tình hình chính trị khu vực và thế giới, sau

một thời kỳ gặp rất nhiều khó khăn và khủng hoảng, đến năm 1951, Nhật Bản đã
phục hồi được mức sản xuất trước chiến tranh (1934 - 1936). Từ năm 1951, Nhật


×