Quản trị Marketing
Quản trị Marketing
Bài làm:
I.
Mở bài
Trong bối cảnh kinh tế thế giới đang gặp khó khăn trong nỗ lực phục hồi sau
suy thoái, nền kinh tế trong nước có nhiều biến động phức tạp, như lãi suất tăng
cao, tổng lượng hàng tồn kho tăng cao kỷ lục, số doanh nghiệp phá sản, dừng
hoạt động ở mức rất cao, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, đứng trước
nguy cơ suy thoái, đình đốn, các ngân hàng thương mại đều hết sức cố gắng để
thực hiện chủ trương tái cơ cấu hệ thống ngân hàng trong năm 2012 đồng thời
với việc sàng lọc khách hàng, giảm nợ xấu, thay đổi cơ cấu nguồn thu theo
hướng bền vững. Đứng trước bối cảnh khó khăn chung, Habubank cũng từng
bước cơ cấu lại khách hàng, cơ cấu nguồn thu, thay đổi cách thức bộ máy điều
hành theo ngành dọc cũng như nỗ lực triển khai các sản phẩm dịch vụ mới để
giữ vững những khách hàng tốt cũng như tìm kiếm các khách hàng mới có hoạt
động sản xuất kinh doanh bền vững, mang lại nguồn thu ổn định cho Ngân hàng
cũng như đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế. Để thấy rõ hơn
những nỗ lực của Ngân hàng, chúng ta hãy cùng tìm hiểu chiến lược marketing
của Ngân hàng trong mối tương quan so sánh với 2 Ngân hàng khá mạnh trong
hệ thống và cũng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam là MBbank và
Vietcombank
II. Giới thiệu về Habubank
1. Lịch sử hình thành và phát triển
Trang
1/10
Quản trị Marketing
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, Nhà nước đã đề ra trong Đại hội
VI, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã quyết định nghiên cứu thí điểm thành lập
mô hình ngân hàng cổ phần, bước đầu là thành lập Ngân hàng cổ phần bất động
sản tại 3 thành phố là Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh, lấy Hà
Nội là điểm đột phá đầu tiên. Từ cuối năm 1986, công tác chuẩn bị cho sự thành
lập mô hình ngân hàng cổ phần đã gấp rút được tiến hành.
Cuối năm 1986, Ban chuẩn bị thành lập Ngân hàng phát triển nhà Hà Nội
(tiền thân của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội - Habubank ngày nay) được thành
lập tại trụ sở Ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Nội dưới sự chủ trì của Nguyên
Phó Thống đốc Nguyễn Văn Chuẩn cùng với sự tham gia của đại diện Văn
phòng Chính phủ, Ngân hàng Đầu tư và phát triển.
Tháng 7/1988, Tổng giám đốc Ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt Nam ra
quyết định số 192/TCCB-QĐ “lập ban chuẩn bị thành lập Ngân hàng chuyên
hoạt động tín dụng và dịch vụ trong lĩnh vực phát triển nhà tại Thành phố Hà
Nội”.
Tháng 12/1988, Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
quyết định số 139-NH/QĐ về “Điều lệ Ngân hàng phát triển Nhà Thành phố Hà
Nội” đồng thời UBND Thành phố Hà Nội cũng ra Quyết định số 6719/QĐ-UB
cho phép “Ngân hàng phát triển Nhà Thành phố Hà Nội được hoạt động kinh
doanh trên địa bàn Thành phố Hà Nội kể từ ngày 2/1/1989”.
Trang
1/10
Quản trị Marketing
Tháng 1/1989, UBND Thành phố Hà Nội ra quyết định số 104/QĐ-UB về
việc thành lập Ban trù bị Đại hội cổ đông lần thứ nhất của Ngân hàng phát triển
Nhà Thành phố Hà Nội.
Tháng 3/1989, Tổng giám đốc Ngân hàng Đầu tư xây dựng Việt Nam ra
Quyết định số 223/NHĐTXD/QĐ giao cho Giám đốc Ngân hàng Đầu tư xây
dựng Hà Nội cùng 1 số cán bộ của Ngân hàng Đầu tư xây dựng Hà Nội sang
công tác biệt phái tại Ngân hàng Phát triển Nhà Thành phố Hà Nội. Cũng trong
thời gian này, Đại hội cổ đông lần thứ nhất đã diễn ra, bầu Hội đồng quản trị,
Ban
kiểm
soát
đầu
tiên.
Tháng 4/1989, Habubank chính thức khai trương hoạt động tại số 125 Bà Triệu,
Hà Nội.
Tháng 6/1992, sau 3 năm hoạt động thử nghiệm, với sự ra đời của Pháp lệnh
Ngân hàng và Hợp tác xã tín dụng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
đã ra Quyết định số 104/QĐ-NH5 cho Phép Ngân hàng phát triển Nhà Thành
phố Hà Nội trở thành một ngân hàng thương mại đa năng, cung cấp các sản
phẩm, dịch vụ đa dạng cho khách hàng và chính thức đổi tên thành Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội với số vốn điều lệ là 5 tỷ đồng, thời gian hoạt
động 99 năm. Theo đó, Trọng tài kinh tế Thành phố Hà Nội đã cấp giấy đăng ký
kinh doanh cho Habubank số 055673.
Tháng 10/1992, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có Quyết định số
215/QĐ-NH7 cho phép Habubank thực hiện một số hoạt động kinh doanh ngoại
tệ và làm dịch vụ ngân hàng bằng ngoại tệ.
Trang
1/10
Quản trị Marketing
Tháng 2/1993, Habubank chuyển trụ về số 57 Hàng Cót, Hà Nội.
Tháng 3/1995, Habubank hoàn thành việc phát hành cổ phiếu và tăng vốn
điều lệ lên 24,3 tỷ đồng. Đến tháng 11, Habubank chuyển trụ sở về Tòa nhà B7
Giảng Võ, Hà Nội.
Tháng 3/1996, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có Quyết định số
58/GP-NH5 cho phép Habubank tăng vốn điều lệ lên 50 tỷ đồng.. Tháng
5/1996, Habubank được mở tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài để thực hiện hoạt
động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế.
Tháng 2/1999, Habubank chính thức được Hiệp hội Ngân hàng cấp giấy
chứng nhận là hội viên của Hiệp hội ngân hàng.
Tháng 8/2000, Habubank được Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cấp giấy chứng
nhận Bảo hiểm tiền gửi.
Năm 2001, Habubank hoàn thành việc trang bị phần mềm quản lý ngân hàng
tập trung và trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên của Việt Nam thực
hiện việc quản lý dữ liệu tập trung và online toàn hệ thông. Cũng trong năm
này, Habubank chính thức trở thành thành viên Hiệp hội viễn thông liên ngân
hàng toàn cầu (SWIFT) và mở chi nhánh đầu tiên ngoài địa bàn Hà Nội: Chi
nhánh Habubank Quảng Ninh trên cơ sở sáp nhập với Ngân hàng nông thôn
Quảng Ninh.
Trang
1/10
Quản trị Marketing
Năm 2003, Habubank khai trương chi nhánh đầu tiên tại khu vực miền Nam
- Chi nhánh Habubank Hồ Chí Minh.
Năm 2005, Habubank triển khai dịch vụ Ngân hàng tự động, phát hành thẻ
Habubank Vantage, trang bị hệ thống ATM/POS và gia nhập liên minh thẻ
VNBC nhằm mở rộng hệ thống chấp nhận thẻ với các ngân hàng thành viên,
phục vụ khách hàng tốt hơn.
Tháng 4/2006, Habubank thành lập Công ty Chứng khoán và nhanh chóng
trở thành một đơn vị hoạt động có uy tín trên thị trường bảo lãnh phát hành trái
phiếu doanh nghiệp. Tháng 11, Habubank là một trong bốn ngân hàng đầu tiên
tăng vốn điều lệ lên 1.000 tỷ đồng. Cũng trong năm này, Habubank được Tạp
chí The Banker - tạp chí chuyên ngành về tài chính ngân hàng (Anh) bình chọn
là Ngân hàng Việt Nam của năm. Habubank giữ vững danh hiệu này trong 2
năm tiếp theo 2007, 2008.
Tháng 2/2007, Habubank hoàn thành việc lựa chọn ngân hàng Deutsche
Bank (Đức) là đối tác chiến lược nước ngoài và tăng vốn điều lệ lên 2.000 tỷ
đồng. Với những thành tích đã đạt được, Thủ tướng Chính Phủ đã trao tặng
bằng khen cho Habubank vào tháng 10/2007.
Tháng 12/2008, Habubank đã vinh dự được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam trao tặng Huân chương lao động hạng Ba.
Trang
1/10
Quản trị Marketing
Tháng 12/2009, Habubank hoàn thành việc tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ
đồng và ra mắt chính thức Trung tâm dịch vụ khách hàng - mở ra một kênh tiếp
cận sản phẩm, dịch vụ mới cho khách hàng của Ngân hàng ngoài thẻ và
Internet.
Tháng 8/2010, phát hành thành công 10,5 triệu trái phiếu chuyển đổi (tương
ứng 1.050 tỷ đồng).
Tháng 11/ 2010, Habubank chính thức niêm yết toàn bộ 300 triệu cổ phần,
tương đương giá trị là 3.000 tỷ đồng lên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội
(HNX), mã cổ phiếu là HBB.
Tháng 9/2011, Habubank đã hoàn tất việc chuyển đổi 10,5 triệu trái phiếu
phát hành tháng 8/2010 thành 105 triệu cổ phiếu phổ thông, nâng mức vốn điều
lệ lên 4.050 tỷ đồng.
2. Mạng lưới hoạt động
Habubank có 1 hội sở chính, 1 sở giao dịch, 19 chi nhánh, 50 phòng giao
dịch và 10 quỹ tiết kiệm. Trong đó:
- Tại Hà Nội: 1 hội sở chính, 1 sở giao dịch, 1 trung tâm thẻ, 9 chi nhánh, 28
phòng giao dịch, 8 quỹ tiết kiệm.
- Tại Vĩnh Phúc: 1 chi nhánh và 1 phòng giao dịch.
- Tại Bắc Ninh: 1 chi nhánh và 2 phòng giao dịch.
- Tại Quảng Ninh: 1 chi nhánh và 4 phòng giao dịch.
- Tại Hải Phòng: 2 chi nhánh, 4 phòng giao dịch và 1 quỹ tiết kiệm.
Trang
1/10
Quản trị Marketing
- Tại Đà Nẵng: 1 chi nhánh và 2 phòng giao dịch.
- Tại TP Hồ Chí Minh: 1 chi nhánh, 6 phòng giao dịch và 1 quỹ tiết kiệm.
- Tại Bình Phước: 1 chi nhánh.
- Tại Bình Dương: 1 chi nhánh và 2 phòng giao dịch.
- Tại Long An: 1 chi nhánh.
3. Tầm nhìn - sứ mệnh
• Tầm nhìn:
Tầm nhìn Habubank đặt ra là cũng chính là khẩu hiệu hoạt động GIÁ
TRỊ TÍCH LŨY NIỀM TIN. Đây tiếp tục là phương châm phù hợp với toàn
Ngân hàng bởi thể hiện được tất cả những mục tiêu cơ bản mà Habubank đặt ra.
Habubank mong muốn “tích lũy giá trị” để tạo ra “niềm tin” cho mọi đối tượng
khách hàng Habubank hướng tới.
Habubank được tạo dựng, hoạt động, phát triển và thành công trên cơ sở
NIỀM TIN. Niềm tin của Nhà nước, Niềm tin của cổ đông, Niềm tin của khách
hàng, Niềm tin của nhân viên, Niềm tin của bạn hàng, Niềm tin của đối tác.
Niềm tin đó được tạo ra, vun đắp từ các Giá trị mà Ngân hàng đã, đang và sẽ tạo
ra dù đó là Giá trị cốt lõi hay Giá trị gia tăng, là Giá trị kinh tế hay Giá trị phi
kinh tế, là Giá trị hữu hình hay Giá trị vô hình.
• Sứ mệnh:
Habubank cung ứng một các toàn diện các sản phẩm và dịch vụ ngân
hàng có chất lượng cao, sáng tạo nhằm đáp ứng nhu cầu và mong muốn của
từng đối tượng khách hàng.
• Mục tiêu chiến lược:
- Tối đa hoá giá trị đầu tư của các cổ đông; giữ vững tốc độ tăng
trưởng lợi nhuận và tình hình tài chính lành mạnh;
Trang
1/10
Quản trị Marketing
- Không ngừng nâng cao động lực làm việc và năng lực cán bộ;
Habubank phải luôn dẫn đầu ngành ngân hàng trong việc sáng tạo,
phát triển chính sách đãi ngộ và cơ hội thăng tiến nghề nghiệp cho
cán bộ của mình;
- Duy trì sự hài lòng, trung thành và gắn bó của khách hàng với
Habubank; xây dựng Habubank thành một trong hai ngân hàng
Việt Nam có chất lượng dịch vụ tốt nhất do các doanh nghiệp cầu
tiến, hộ gia đình và cá nhân lựa chọn;
- Phát triển Habubank thành một trong ba ngân hàng được tín nhiệm
nhất Việt Nam về: quản lý tốt nhất, môi trường làm việc tốt nhất,
văn hoá doanh nghiệp chú trọng khách hàng, thúc đẩy hợp tác và
sáng tạo nhất, linh hoạt nhất khi môi trường kinh doanh thay đổi;
- Góp phần tích cực làm vững chắc thị trường tài chính trong nước.
3. Thị trường mục tiêu:
Do sản phầm dịch vụ của các Ngân hàng trong ngành Ngân hàng khá giống
nhau nên từng Ngân hàng phải lựa chọn cho mình một thị trường mục tiêu và
dồn mọi nỗ lực để đáp ứng với các sản phẩm, dịch vụ Ngân hang chất lượng
cao, sang tạo và hữu ích. Thị trường mục tiêu của Habubank là cung cấp sản
phẩm, dịch vụ toàn diện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; hộ gia đình và các cá
nhân. Trong từng thời kỳ phát triển, ngoài các sản phầm, dịch vụ Ngân hàng
doanh nghiệp đa dạng, toàn diện Habubank còn không ngừng sáng tạo các sản
phẩm, dịch vụ đáp ứng tối đa nhu cầu của các khách hàng cá nhân.
III. Chiến lược marketing của Habubank trong tương quan so sánh với
Mbbank và Vietcombank
1. Sản phẩm, dịch vụ:
Sản phẩm, dịch vụ
Habubank
Vietcomba
MBbank
Trang
1/10
Quản trị Marketing
nk
Ngân
hàng
cá
nhân
Tiền gửi
x
x
x
Dịch vụ chuyển tiền
x
x
x
Tín dụng
x
x
x
Thẻ nội địa
x
x
x
Thẻ tín dụng quốc tế
0
x
x
Dịch vụ ngân hàng cá nhân cao x
x
0
cấp
SMS banking
x
x
x
Internet banking
0
x
x
Tiền gửi
x
x
x
Quản lý tiền tệ
0
x
0
Tín dụng
x
x
x
Bảo lãnh
x
x
x
Thanh toán quốc tế
x
x
x
Bao thanh toán
0
x
0
SMS banking
x
x
x
Internet banking
0
x
x
Khác
Dịch vụ ngân hàng đại lý
x
x
x
h
Sản phẩm thị trường vốn
0
x
x
hàng
Sản phẩm ngoại hối và thị 0
x
x
định
trường tiền tệ
chế
Sản phẩm công cụ nợ
x
x
Ngân
hàng
doanh
nghiệ
p
x
tài
chính
Qua bảng tổng kết và phân tích các sản phẩm dịch vụ mà các Ngân hàng trên
đang triển khai ta thấy Habubank đã đáp ứng khá tốt các dịch vụ, sản phẩm cho
khách hàng cá nhân. Tuy nhiên, với khách hà ng doanh nghiệp và định chế tài
chính việc triển khai các sản phẩm, dịch vụ của Habubank còn chưa đa dạng,
Trang
1/10
Quản trị Marketing
phong phú và đầy đủ. Ngoài ra, mặc dù phần mềm mới triển khai Core banking
cho phép Habubank có thể triển khai hầu hết các sản phẩm, dịch vụ của Ngân
hàng tuy nhiên đến nay Habubank vẫn chưa triển khai dịch vụ Internet banking
cho cả khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp.
2. Giá cả
Các mức lãi suất tiền gửi, vay và phí dịch vụ đều được đánh giá, so sánh với
trung bình ngành Ngân hàng.
Sản phẩm, dịch vụ
Lãi
Khách
hàng
doanh
nghiệp
MBbank
suất
tiền Hấp dẫn
Trung bình
Trung bình
suất
tiền Cao
Thấp
Trung bình
Cao
Trung bình
vay
Phí dịch vụ
Khách
Vietcombank
gửi
hàng cá Lãi
nhân
Habubank
Lãi
Cao
suất
tiền Hấp dẫn
Trung bình
Trung bình
suất
tiền Cao
Thấp
Trung bình
Trung bình
Trung bình
gửi
Lãi
vay
Phí dịch vụ
Trung bình
Qua so sánh giá cả với 2 ngân hàng MBbank và Vietcombank ta thấy về lãi
suất tiền gửi với cả 2 loại hình khách hàng cá nhân và doanh nghiệp của
Habubank đều khá hấp dẫn, luôn ở mức cao, có thể thoả thuận được giúp Ngân
hàng có thể bù đắp lại sự thua kém về mặt thương hiệu so với Vietcombank và
MB bank. Về lãi suất tiền vay, Habubank luôn nằm ở top những ngân hàng có
lãi suất cho vay cao do chi phí vốn đầu vào của Ngân hàng khá cao đồng thời
không tận dụng được nguồn tiền gửi của các tổ chức, định chế tài chính lớn. Về
phí dịch vụ có thể thấy phí dịch vụ của Habubank nằm từ mức trung bình đến
cao. Thực chất, mức đóng góp của phí dịch vụ vào doanh thu cũng như lợi
nhuận toàn Ngân hàng không cao so với MBbank và Vietcombank.
Trang
1/10
Quản trị Marketing
3. Phân phối
Hiện nay, cả 3 ngân hàng đều tiến hành thực hiện việc phân phôi sản phẩm,
dịch vụ của mình thông qua kênh truyền thống là hệ thống chi nhánh, phòng
giao dịch, quỹ tiết kiệm của mình. Mỗi điểm giao dịch của Ngân hàng đều được
tổ chức thành các bộ phận chức năng cơ bản có thể thực hiện việc phân phối đầy
đủ các yêu cầu về sản phẩm dịch vụ của khách hàng. Trong 3 ngân hàng thì các
điểm giao dịch của Habubank được bố trí đơn giản hơn và thường các sản
phẩm, dịch vụ không đa dạng bằng các điểm giao dịch cùng cấp của 2 ngân
hàng trên.
Bên cạnh đó, cả 3 Ngân hàng đều tiến hành tiếp xúc 24/24 h với khách hàng
của mình thông qua hệ thống máy ATM, các điểm chấp nhận thẻ, hệ thống
website, trung tâm chăm sóc khách hàng. Tuy nhiên, số lượng chi nhánh, điểm
giao dịch, máy ATM, điểm chấp nhận thẻ của Habubank còn khá khiêm tốn so
với MBbank và Vietcombank.
Ngoài ra, Habubank cũng như 2 ngân hàng trên đã tiến hành phân phối qua
hình thức SMS banking nhưng lại có vẻ chậm chạp trong việc tiến hành phân
phối sản phẩm, dịch vụ qua hình thức internet banking. Mặc dù đã nghiên cứu
triển khai hình thức internet banking từ khá lâu và hệ thống phần mềm Core
banking hoàn toàn có thể cho phép triển khai internet banking nhưng đến nay
Habubank vẫn chưa triển khai hình thức phân phối này.
Có thể nhận thấy, do số điểm cung cấp sản phẩm dịch vụ ít hơn, sản phẩm
dịch vụ không đa dạng bằng nên khả năng cùng tần suất giao tiếp với khách
hàng của Habubank không nhiều bằng Vietcombank và MBbank. Điều này dẫn
tới qui mô tổng tài sản, doanh thu, lợi nhuận và số lượng khách hàng cuả
Habubank cũng thấp hơn hẳn và không bền vững so với 2 đối thủ trên.
4. Xúc tiến bán
Trang
1/10
Quản trị Marketing
Việc không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ là yếu tố quan trọng để giữ
chân cũng như mở rộng mạng lưới khách hàng của toàn hệ thống Ngân hàng.
Các Ngân hàng luôn tìm mọi cách để nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng tốt
nhất nhu cầu của tập khách hàng mục tiêu của mình. Về cơ cấu tổ chức, hiện
nay Habubank và MBbank đã tiến hành triển tổ chức hoạt động kinh doanh theo
khối để có thể thực hiện tốt hơn công tác quản trị, điều hành cũng như phát
triển các sản phẩm mới. Từ đây, các Ngân hàng này liên tục đưa ra các sản
phẩm mới cũng như thực hiện các chương trình khuyến mại, chăm sóc khách
hàng, liên kết cung cấp dịch vụ với các đối tác.
Công tác tuyên truyền, quảng bá, chăm sóc khách hàng thông qua hệ thống
các điểm giao dịch, qua nhân viên, người thân quen của nhân viên và đặc biệt là
các khách hàng đã sử dụng sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng rất được chú trọng
và triển khai thường xuyên. Cả 3 ngân hàng đều tích cực tham gia các kỳ triển
lãm, hội chợ, hội chợ việc làm cũng như thong qua liên kết phát hành thẻ với
các trường cao đẳng, đại học, trung học nghề.
Các Ngân hàng này cũng đã chủ động tổ chức công tác chăm sóc khách hàng
như đặt máy ATM tại các doanh nghiệp có trả lương cán bộ công nhân viên với
số lượng lớn, ưu đãi phát hành thẻ, giảm phí dịch vụ, giảm lãi suất vay với các
doanh nghiệp, đối tác sử dụng nhiều dịch vụ, khách hàng lâu năm của mình.
Cả 3 Ngân hàng đều chú trọng việc duy trì hệ thống thông tin, liên lạc của
mình với khách hàng thông qua các chương trình quảng cáo trên các phương
tiện thông tin đại chúng như TV, báo đài , treo bảng biển quảng cáo, quảng cáo
tấm lớn ở nơi đông người, tổ chức các sự kiện, tham gia tài trợ cho các hoạt
động từ thiện…Trong đó, Habubank và MBbank là các Ngân hàng dành phần
ngân sách lớn để triển khai các hoạt động này. Bên cạnh đó, 3 Ngân hàng đều đã
niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đây là một cách
khẳng định uy tín, tính minh bạch, chuẩn mực trong hoạt động của Ngân hàng.
Trang
1/10
Quản trị Marketing
5. Một số chỉ tiêu hoạt động cơ bản năm 2011:
Ngâ
TTS
VĐL
LD
NP
NI
ROA
ROE
EPS
BVP
n
(tỷ đ)
(tỷ đ)
R
L
M
Ttm(
Ttm(
Ttm(
S
(%)
(%)
(%)
%)
%)
đ)
(đ)
6,39
804
11.54
hàng
HBB 41.868 4.050 51,8 4,69 2,52 0,66
8
8
7
138.48 7.300 47,9 1,59 4,32 1,73
B
2
9
21,74
1
2.265 14.53 12,7 1,9
9
MB
IV.
16,86
P\B
8,83 0,6
9
VCB 366.75 19.69 73,6 2,03 3,68 1,25
0
P\E
6
9
2.913 13.20 5,25 1,1
8
6
Kết luận
Qua các phân tích, đánh giá ở trên ta có thể thấy rằng mặc dù là một trong
những ngân hàng TMCP được cấp giấy phép hoạt động đầu tiên tuy nhiên việc
phát triển qui mô, mạng lưới hoạt động, mạng lưới khách hàng cũng như các
chiến lược marketing của Habubank còn rất hạn chế so với MBbank và
Vietcombank. Điều này đã được ban lãnh đạo Ngân hàng nhận thức rõ và tích
cực tập trung điều hành, phát triển trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, do đặc
thù của ngành dựa khá nhiều vào lợi thế qui mô nên Ngân hàng cần phát triển
mạnh hơn nữa về qui mô vốn điều lệ, mạng lưới hoạt động, tần suất tiếp xúc
khách hàng hoặc sáp nhập, liên kết với Ngân hàng khác để khắc phục điểm bất
lợi này so với đối thủ. Ngoài ra, việc chưa định vị rõ nét cho mình phân khúc thị
trường rõ nét và phát triển các sản phẩm, dịch vụ đặc thù phù hợp với phân khúc
này dẫn tới việc Ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn trong việc triển khai cung
cấp sản phẩm dịch vụ cũng như các nỗ lực marketing đến các đối tượng khách
hàng tiềm năng, chiến lược marketing triển khai khá dàn trải nhưng không mang
lại nhiều hiệu quả và không phù hợp với quy mô của Ngân hàng. Về điều này
MBbank và Vietcombank đều làm khá tốt thông qua việc định vị 1 ngân hàng
Trang
1/10
Quản trị Marketing
lớn có qui mô toàn quốc và quốc tế với 1 ngân hàng có mạng lưới khách hàng
đặc thù, rất gắn bó là các doanh nghiệp quân đội, các doanh nghiệp ở một số
ngành đặc thù như sản xuất, phân phối giấy….
-----***----TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách tham khảo:
-
Quản trị marketing – Tài liệu tham khảo lưu hành nội bộ Chương trình
đào tạo Thạc sỹ quản trị kinh doanh quốc tế năm 2012
-
MBA trong tầm tay chủ đề Marketing, 2011, Charles D.Schewe và
Alexander Watson Hiam (người dịch Huỳnh Minh Em), NXB Tổng hợp
thành phố Hồ Chí Minh.
2. Nguồn từ Internet:
- 3 chiến lược Marketing cơ bản, Trang điện tử: marketingvietnam.net;
đường link:
/>- Website Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội, Trang điện tử: habubank.com.vn;
đường link:
/>-
Website Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam, Trang điện tử:
vietcombank.com.vn; đường link: />- Website Ngân hàng TMCP Quân đội, Trang điện tử: mbbank.com.vn; đường
link: />
Trang
1/10
Quản trị Marketing
Trang
1/10