Tải bản đầy đủ (.docx) (15 trang)

BÁO CÁO KHOA HỌC VỀ HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO TẠI VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (196.23 KB, 15 trang )

ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÁO CÁO KHOA HỌC
ĐỀ TÀI:

ĐỂ HIỂU PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA
VÀ PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY

SINH VIÊN THỰC HIỆN:
1.
2.
3.
4.

TRƯƠNG THÁI KHIÊM
NGỤY THỊ MỸ LỆ
HUỲNH THỊ THÚY ÁI
LÊ VĂN PHÚ

16030301 – 2017


Tôn giáo học – Nhóm 9

MỤC LỤC

2


Tôn giáo học – Nhóm 9





TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Thích Minh Tuệ (1993), Lược sử Phật Giáo Việt Nam. Chùa Xá Lợi. Sài Gòn.
[2]. Lê Minh Qui (1981), Hòa thượng Hộ Tông. Trung tâm Narada, Seatle.
[3]. Thích Minh Châu và Minh Chi (1991), Từ điển Phật học Việt Nam. NXB Khoa học
xã hội, Hà Nội.
[4]. Thích Đức Nhuận (1983), Phật học tinh hoa. Phật học viện Quốc tế, California.
[5]. Thích Nhất Hạnh (1990), Con đường chuyển hóa. NXB Lá Bối, San Jose.
[6]. Hán Dịch: Thích Diễn Bồi - Việt Dịch: Thích Quảng Độ (1969), Đại thừa Phật giáo
tư tưởng luận, NXB Tôn giáo – Chương 4: Tinh thần của đại thừa.
[7]. Từ điển Phật học, Nguyên Hảo, Về nguồn xuất bản - Canada 1999.
[8]. Từ điển Phật học, Ban biên dịch Đạo Uyển, NXB Thời Đại - 2011.
[9]. Phật học phổ thông, HT Thích Thiện Hoa, Thành hội PG TP. HCM ấn hành - 1992.
[10]. Những tôn giáo lớn trong đời sống nhân loại, TS. Floyd H. Ross & GS. Tynette
Hills. Dịch giả Tâm Quang, NXB Tôn giáo - 2007.
[11]. Thế giới Phật giáo Phương diện Lịch sử Văn hóa và Minh triết, Điền Đăng Nhiên,
Dịch giả Thích Ngộ Thành - 2009.
[12]. Lịch sử Phật giáo, Nguyễn Tuệ Chân biên dịch, NXB Tôn giáo - 2011.
[13]. “Theravada & Mahayana Buddhism” của Hòa Thượng Tiến sĩ W. Rahula, in trong
tuyển tập “Gems of Buddhist Wisdom” (Những Viên ngọc Trí tuệ Phật giáo), năm 1996

3


Tôn giáo học – Nhóm 9

LỜI NÓI ĐẦU
Phật giáo ngày nay có nhiều tông phái với các truyền thống khác nhau. Tuy nhiên, chúng

ta thường phân biệt hai tông phái chính: Phật Giáo Đại thừa - Mahayana, và Phật Giáo
Nguyên thủy - Theravada. Phật Giáo Mahayana thịnh hành ở các nước Tây Tạng, Mông
Cổ, Trung Hoa, Triều Tiên, và Nhật Bản. Trong khi đó, Phật Giáo Theravada được lưu
truyền rộng rãi ở Tích Lan (Sri Lanka), Miến Điện, Thái Lan, Lào và Cam Bốt.
Riêng Việt Nam có lẽ là một quốc gia Á Châu đầu tiên mà cả hai tông phái lớn này đều
được chính thức thừa nhận và đã cộng tác hoạt động trong nhiều thập niên qua. Tông phái
Đại thừa có một truyền thống lâu đời và đã có mặt tại Việt Nam do các tu sĩ Ấn Độ
truyền sang vào cuối thế kỷ thứ II C.N [1, t. 47]. Tông phái Nguyên thủy cũng có mặt tại
vùng đất này qua nhiều thế kỷ trong các cộng đồng người Khơ–me (Cao Miên) tại miền
Nam Việt Nam, và được truyền bá đến các Phật tử người Việt trong thập niên 1940 [2, t. 15].
Trong những năm gần đây lại có những dự án dịch thuật các kinh điển của cả hai truyền
thống, từ các văn bản gốc tiếng Hán và tiếng Pali, sang tiếng Việt hiện đại.
Trong bài luận văn này, chúng em không nhằm mục đích trình bày về hai hệ phái này một
cách chi tiết hoàn mỹ, mà chỉ là những khái quát chung về những khía cạnh căn bản nhất
để minh họa cho những lý luận đã có. Qua đó thể hiện được nét độc đáo của đạo Phật mà
không một tôn giáo nào có được. Với khuynh hướng trên, bài viết sẻ được trình bày theo
3 phần chính sau:
1. Sơ lược về tiến trình phân chia hai hệ phái
2. Các tông phái trong Đại thừa và Phật Giáo Nguyên Thủy
3. Các điểm khác nhau chính của hai tông phái

Mong rằng bài viết như là một quá trình tìm hiểu qua những khía cạnh văn hóa mà chúng
em là những người có tinh thần Phật pháp. Trong bài viết, để câu văn được lưu loát cũng
như dễ hiểu, chúng em đã thay từ “Phật giáo Nguyên Thủy” thành “Tiểu thừa” để dễ
hình dung hơn vì từ này được sử dụng khá lâu và phổ biến. Nhân bài viết này, chúng em
xin kính thành cảm ơn đến sự giúp đỡ của Đại đức Thích Nhật Từ, chư vị tôn đức Chùa
Giác Ngộ, Chùa CHANDARAMSYA đã tận tình chỉ giáo cũng như cung cấp những bài
giảng cùng tài liệu quý để chúng em hoàn thành tốt bài viết này. Mặc dầu đã cố gắng tập
trung để viết, nhưng với kiến thức còn hạn chế nên vẫn không sao tránh khỏi những sai
sót trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và trích dẫn. Kính mong Thầy sau khi đọc hoan

hỷ chỉ giáo thêm để chúng em rút kinh nghiệm cho những bài viết sau.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!

4


Tôn giáo học – Nhóm 9

I.

SƠ LƯỢC VỀ TIẾN TRÌNH PHÂN CHIA HAI HỆ PHÁI

Nhân duyên phân biệt giữa Tiểu-thừa và Đại-thừa, đại ước có ba điểm:
1. Do hoàn cảnh: Đại-thừa Phật-giáo bộc hưng, một phần do ảnh hưởng của hoàn cảnh bên

ngoài. Xét theo lịch sử, từ đời A-Dục-Vương về sau, quần chúng miền Bắc-Ấn thường
giao thiệp với dân tộc hai xứ Hy-Lạp, Ba-Tư. Những nhà học Phật ở Bắc-Ấn lúc ấy càng
ngày càng đông. Do sự tiếp xúc với ngoại nhân, họ lần lần chịu ảnh hưởng tư tưởng tôngiáo của hai xứ đó, nên có nhiều nhà học Phật chủ trương sùng bái cầu nguyện. Bởi
nguyên nhân nãy, thuyết tha-lực vãng sanh đã sẵn có trong Kinh-điển Phật-giáo được đề
khởi lên. Thời bấy giờ, phong trào cầu vãng sanh về cõi Đâu-Suất của Di-Lặc Bồ-Tát, cõi
Cực-Lạc của Phật A-Di-Đà, cõi Lưu-Ly của Phật Dược-Sư, cõi Diệu-Hỷ của Phật A-SúcBệ rất thịnh hành. Trong đây chỉ có thuyết vãng sanh Cực-Lạc là được lưu thông hơn cả.
Người ta gọi phong trào nầy là Chủ-tình-đại-thừa-giáo.
Mặt khác, sau Phật diệt độ 500 năm, các phái ngoại-đạo lần lần phục hưng, lý thuyết của
họ càng ngày càng được cải cách thêm đến mức siêu việt. Song song với phong trào đó,
kho tàng Phật-giáo cũng phải được khai thác triệt để, mới có thể đối phó với ngoại-đạo và
giải quyết đầy đủ mối nghi ngờ của học giả. Vì thế, Đại-thừa Phật-giáo phải ra đời để
thích ứng với thời đại.
2. Do trào lưu tư tưởng: Khởi nguyên tư tưởng Đại-thừa Phật-giáo lẽ dĩ nhiên đã có từ khi

Ðức Như-Lai còn tại thế. Sau khi Ðức Thế-Tôn diệt độ 100 năm, giáo đoàn đạo Phật chia

thành Thượng-Tọa-bộ và Đại-Chúng-bộ, rồi lần lần phát sanh ra các chi phái. Giáo nghĩa
của các bộ phái đó phần nhiều bao hàm cả đạo lý Đại-thừa. Tư tưởng của học giả cũng
biến thiên theo trào lưu, từ đời A-Dục đến đời Ca-Nị-Sắc-Ca, quan niệm Đại-thừa-giáo
càng ngày càng phát hiện thêm rõ rệt.
Trên phương diện địa lý, tư tưởng nầy bắt nguồn từ xứ An-Đạt-La thuộc Nam-Ấn-Độ.
Giáo nghĩa nẩy nở đầu tiên là Ma-Ha-Bát-Nhã, phát xuất từ Đại-Chúng-bộ. Trong kinh
Bát-Nhã có đoạn Phật dự ký: “Sau khi Như-Lai niết-bàn, kinh nầy được truyền về
phương nam, rồi từ đó lưu chuyển đến phương tây và lên phương bắc”. Lời dự ký nầy đã
chứng minh cho Đại-thừa Bát-Nhã xuất phát từ phương nam. Đại-thừa Phật-giáo ở BắcẤn-Độ phát nguyên từ địa phương nào, sự kê khảo chưa được chính xác. Nhưng theo
ngài Huyền-Trang thì tại xứ Câu-Tát-La (Kosala), Kinh-điển Đại-thừa rất nhiều, Phậtpháp ở đây cực thịnh và được truyền bá đi các nơi khác. Hoặc giả địa phương nầy là chỗ
phát nguyện của Đại-thừa Phật-giáo miền Bắc-Ấn chăng?
3. Do các học giả phát khởi: Sau khi Phật diệt độ, một mặt do trào lưu tư tưởng lần lần biến

thiên, nên sự đòi hỏi thích ứng với quan niệm quần chúng càng ngày càng thêm cần thiết.
5


Tôn giáo học – Nhóm 9

Mặt khác, giáo nghĩa của ngoại-đạo cũng lần lần được cải tiến, họ biết rút lấy cái hay của
các phái khác trong ấy có cả đạo Phật, để bổ khuyết thêm cho học thuyết của mình. Vì
thế, lập luận của họ càng ngày thêm vững vàng, trong đó các phái Thắng-luận, Số-luận,
Phệ-Ðàn-Đà luôn luôn bài xích Phật-giáo. Giữa lúc ấy, phần đông chư Tăng lại thiên về
khuynh hướng giải thoát, bảo thủ lấy truyền thống xưa, nên thanh thế Phật-giáo lần lần
thấy sút kém trước ảnh hưởng của ngoại-đạo. Để cứu vãn tình thế và thích ứng thời cơ,
sau Phật diệt độ 700 năm, hai ngài Mã-Minh, Long-Thọ nối nhau xuất hiện, trứ tác các bộ
như: Đại-Thừa-Khởi-Tín-Luận, Đại-Trang-Nghiêm-Luận-Kinh, Trí-Độ-Luận, Thập-TrụTỳ-Bà-Sa-Luận, Trung-Quán-Luận để phát huy ý nghĩa Đại-thừa Phật-giáo. Kế tiếp sau
hai ngài, có các vị như Đề-Bà, La-Hầu-La, Bạt-Đà-La, Vô-Trước, Thế-Thân cũng cực lực
đề xướng đạo lý nầy.
Xét ra, đứng về mặt bao quát, Đại-thừa kiêm cả Tiểu-thừa. Nhưng Đại-thừa giáo sở sĩ

được biệt lập là để đối kháng với quan niệm bảo thủ và xu hướng tự giải thoát của phần
đông chư Tăng thời bấy giờ. Nhưng hoàn cảnh hoặc trào lưu tư tưởng chỉ là nhân duyên
phát khởi, mà thành quả lại do sự xướng lập của chư đại-đức Mã-Minh, Long-Thọ, Vô
Trước, Thế-Thân. Cho nên người sau thường gọi các ngài là những nhà cách mạng Phậtgiáo.
Vậy, khởi nguyên của Đại-thừa Phật-giáo là bởi ba lý do trên. Quan niệm phân biệt, khen
chê giữa Đại-thừa và Tiểu-thừa sau nầy, thật ra cũng có. Nhưng sự đối lập giữa hai tập
đoàn lớn trong Phật-giáo là một lẽ tất nhiên của thời đại, mà dù muốn dù không, người ta
vẫn không thể tránh.

II.

CÁC TÔNG PHÁI NHỎ TRONG MAHAYANA VÀ THERAVADA
A. CÁC TÔNG NGUYÊN THỦY

1. Câu-xá tông
Bồ-tát Thế Thân khi còn theo học bên Tiểu thừa, lấy ý nghĩa trong sách Mahavibhasa
Castra mà làm sách Câu-xá luận, rồi theo sách ấy mà thành sau có Câu-xá tông.
Câu-xá tông chia vạn hữu ra làm Vô vi pháp và Hữu vi pháp. Vô vi pháp chỉ về cảnh giới
thường trụ, không sanh diệt, tức là lý thể. Hữu vi pháp chỉ về vạn hữu trong hiện tượng
giới, sinh diệt vô thường.
Theo thuyết của Hữu bộ bên Tiểu thừa thì pháp thể là hằng hữu trong ba đời: quá khứ,
hiện tại, vị lai. Theo thuyết của Câu-xá tông thì chỉ có hiện tại là hữu thể, còn quá khứ, vị
lai là vô thể.

6


Tôn giáo học – Nhóm 9

Pháp thể gồm cả tâm và vật kết thành do sức của duyên và nghiệp, tức là nói pháp thể là

kết quả của mê hoặc. Sức của hoặc và nghiệp tuần hoàn vô thủy vô chung, làm cho tâm
thân cứ biến chuyển luân hồi mãi.
Câu-xá tông chia nhân ra làm sáu nhân, chia duyên ra làm bốn duyên, và chia quả ra làm
năm quả.
Sáu nhân là:
1. Năng tác nhân là nhân phổ biến rất rộng, bao quát cả các nhân khác.
2. Câu hữu nhân là nhân của vạn vật đều phải nương tựa nhau, nhân quả đồng thời cùng
có.
3. Đồng loại nhân là nhân chung cả hiện tượng trước và hiện tượng sau.
4. Tương ứng nhân là nhân khi tâm vương tác dụng thì có nhiều tâm sở đồng ứng.
5. Biến hành nhân là nhân cùng một loại với đồng loại nhân, nhưng đồng loại nhân thì
phổ biến ở nơi vạn hữu, mà biến hành nhân thì chỉ ở trong phiền não, nơi tâm sở.
6. Dị thục nhân là nhân làm cho người ta phải chịu kết quả tốt xấu, lành dữ.
Bốn duyên là:
1. Nhân duyên là duyên làm cho nhân thành ra quả.
2. Đẳng vô gián duyên là duyên nói riêng về sự phát động của tâm. Tâm trước diệt thì
làm cái duyên phát động của hiện tượng sau, không có gián cách ở khoảng nào cả.
3. Sở duyên duyên là nói khi tâm khởi lên thì dựa vào cảnh khách quan mà khởi. Cái
khách quan ấy gọi là sở duyên, nghĩa là cái bởi đó mà thành duyên.
4. Tăng thượng duyên cũng như năng tác nhân nói trên, cũng gọi là công duyên.
Năm quả là:
1. Thị dục quả, là quả do thị dục nhân mà có. Do nghiệp lực quá khứ hoặc thiện hoặc ác
thành ra.
2. Đẳng lưu quả là quả do đồng loại nhân hay do biến hành nhân mà có. Ấy là chỉ nhìn
cái kết quả của hiện tượng nào cũng đồng đẳng, đồng loại với nguyên nhân của hiện
tượng trước.
3. Ly hệ quả là quả không do sáu nhân, bốn duyên nói trên mà có, mà do trí chân thật vô
lậu, thoát ly sự hệ phược của vô minh phiền não và chứng được cảnh Niết-bàn.
4. Sĩ dụng quả là quả do câu hữu nhân và tương ứng nhân nương dựa nhau mà thành,
cũng như các thứ nghiệp dựa vào sự tác dụng của sĩ phu mà có.

7


Tôn giáo học – Nhóm 9

5. Tăng thượng quả là quả kết thành bởi năng tác nhân và tăng thượng duyên.
Vạn vật do sáu nhân, bốn duyên hòa hợp mà sinh ra, nhưng xét đến cùng ngoài năm uẩn
thì không có vật gì cả. Vậy nói rằng có cái “ngã” chi phối ta để chuyển biến qua đời sau
là mê hoặc, là không tưởng. Cho nên không nên chấp có hữu vi vô thường, mà chỉ nên
trông ở cõi Niết-bàn thường trụ.
Nhân sinh là khổ não, là ô trược, là mê hoặc, cho nên cần phải giải thoát. Phương thức
giải thoát gồm có giới, định, tuệ. Giới là giới luật, ngăn không cho làm những điều tà vạy,
bất chánh. Định là thiền định, là định tâm, để giữ tâm trí gom về một mối. Tuệ là trí tuệ,
phân biệt thật tướng của sự vật, hiểu rõ lý nhân quả, Tứ diệu đế. Dùng ba môn học ấy mà
đi tới giải thoát, tức là vào Niết-bàn.
2. Thành thật tông
Tông này đồng thời phát hiện với Câu-xá tông, do Ha-lê Bạt-ma lập ra, lấy thuyết của
Không bộ bên Tiểu thừa làm gốc.
Thành thật tông chia thế giới quan ra làm hai môn: Thế gian môn và Đệ nhất nghĩa môn.
Thế gian môn có hai phương diện. Một phương diện là xét theo các pháp sinh diệt vô
thường thì không có cái thật ngã. Nhưng xét theo phương diện khác thì cái thân ta hành
động và cái tâm ta biết phân biệt, biết liên lạc những tư tưởng suy nghĩ trước sau, mà lại
bảo là không có ngã thì thật là trái với chỗ hiểu biết thông thường.
Song lấy cái ngã tạm bợ kia mà phân tích cho đến chỗ vi tế, bỏ cả năm uẩn ra thì không
thể nhận được một vật gì cả.
Đệ nhất nghĩa môn lấy lẽ rằng trước cho thế gian môn lấy chỗ biết thường thường làm
chuẩn đích mà đặt ra bản ngã là tạm có, rồi do cái kết quả sự phân tích mà biết rằng pháp
thực có kia cũng chẳng qua là do vọng tưởng của ta phân biệt là tạm có mà thôi.
Cái thật có đã không nhận, thì ngoài cái trí hư vọng phân biệt của ta ra, không có vật gì
cả. Vọng, biết là mê, không phải là thật, cho nên hết thảy đều là không cả. Chân ngã

không có, thật pháp cũng không có. Người và pháp cả hai đều không. Thành thật tông do
đó chủ trương việc cấm dục để cầu tịch diệt.
3. Luật tông
Tông này chủ trương lấy Luật tạng mà tu đạo, cốt răn điều ác, khuyên điều thiện. Cho
rằng nhờ có giới luật mới có thiền định, có thiền định thì trí tuệ mới phát khởi. Có trí tuệ
mới tu được đến chỗ giải thoát.
Về phương diện đạo lý thì Luật tông dựa vào Câu-xá tông và Thành thật tông để làm căn
bản.
8


Tôn giáo học – Nhóm 9

B. CÁC TÔNG ĐẠI THỪA
1. Pháp tướng tông
Tông này phát khởi từ ba vị Vô Trước, Thế Thân và Hộ Pháp, lấy Thành duy thức luận
làm gốc, cho rằng vạn pháp đều do thức biến ra.
Thức có tám loại là: nhãn thức, nhĩ thức, vị thức (hay tỉ thức), thiệt thức, thân thức, ý
thức, mạt-na thức và a-lại-da thức. Trong tám thức ấy, a-lại-da thức là căn bản.
A-lại-da thức còn gọi là Tạng thức, bao tàng hết các chủng tử, rồi do những chủng tử ấy
mà phát sinh ra vạn tượng. Vạn tượng tan thì các chủng tử lại mang nghiệp trở về a-lại-da
thức. Chủng tử lại vì nhân duyên mà sinh hóa mãi. Vậy nhân duyên là nhân duyên của
các chủng tử. A-lại-da thức thì chứa hết thảy các chủng tử để sinh khởi nhất thiết chư
pháp.
Như thế là vạn pháp do thức mà biến hiện ra, cho nên nói rằng: “Tam giới duy tâm, vạn
pháp duy thức.”
Ngài Huyền Trang đời Đường sang Ấn Độ theo học với ngài Giới Hiền, rồi đem Pháp
tướng tông về truyền ở Trung Hoa.
2. Tam luận tông
Tông này lấy Trung luận và Thập nhị môn luận của Bồ-tát Long Thụ và bộ Bách luận của

Đề-bà làm căn bản, nên mới gọi là Tam luận.
Tam luận tông cho rằng hết thảy vạn hữu trong hiện tượng giới đều sanh diệt vô thường.
Đã sanh diệt vô thường là không có tự tính, chỉ bởi nhân duyên làm mê hoặc mà biến hóa
ra vạn hữu.
Kẻ phàm tục vì vọng kiến cho nên mới chấp lấy cái có tạm bợ ấy. Bậc chân trí thì không
nhận cái tạm có mà thấy rằng hết thảy đều là không.
Các pháp tuy là hiện hữu nhưng không phải là thường có. Có mà không phải là thường có
tức là chỉ tạm có. Tạm có nên tuy là có mà không phải là có. Có mà không phải là thật có
thì cũng chẳng khác gì không. Vậy nên các pháp tuy là đều có, nhưng thật tướng là
không.
Lý thể của chân như tuy là không tịch, bất sanh bất diệt, nhưng bởi nó sanh ra các pháp,
cho nên nó là nguồn gốc của cái tạm có. Đã là nguồn gốc, thì lý thể của chân như là
không. Như thế, chân như là không mà không phải thật là không, cho nên đối với có
không khác gì. Vì thế chân như tuy là không tịch mà rõ ràng là có.

9


Tôn giáo học – Nhóm 9

Có và không, không và có, thật chẳng khác nhau. Có là có do nơi không; không là không
do nơi có. Có và không hai bên toàn nhiên hòa hợp với nhau. Thấy rõ chỗ ấy là Trung
đạo, là không vướng mắc vào cả có lẫn không.
Vì sự nhận thức của ta sai lầm, mà thành ra có không và có. Vượt lên trên sự nhận thức
thì mới đạt được cái thực tại bất khả tư nghị. Sự nhận thức của ta chỉ nhận thức được
trong phạm vi hiện tượng mà thôi, không thể nhận thức được thực tại. Muốn đạt tới thực
tại thì phải nhờ đến trực giác mới được.
Tam luận tông lấy kinh Bát-nhã làm gốc, cho nên còn gọi là Bát-nhã tông, khi đối với
Pháp tướng tông thì gọi là Tánh tông hay là Không tông.
3. Thiên thai tông

Tông này khởi phát ở Trung Hoa, do thiền sư Tuệ Văn đời Tần, Tùy lập ra, dựa theo ý
nghĩa sách Trí Độ luận và kinh Pháp Hoa làm gốc. Cho nên còn gọi là Pháp Hoa tông.
Thiên thai tông chủ trương thuyết “chư pháp duy nhất tâm”. Tâm ấy tức là chúng sanh,
tâm ấy tức là Bồ-tát và Phật. Sanh tử cũng ở nơi tâm ấy, Niết-bàn cũng ở nơi tâm ấy.
Thiền sư Tuệ Văn chủ lấy Trung đạo mà luận cái tâm và lập ra thuyết “nhất tâm tam
quán”. Tam quán là Không quán, Giả quán và Trung quán.
Trong Không quán có Giả quán và Trung quán, không phải tuyệt nhiên là không. Trong
Giả quán có Không quán và Trung quán, không phải tuyệt nhiên là giả. Trung quán là
dung nạp cả không và giả.
Chân như với tâm và vật quan hệ với nhau như nước với sóng. Ngoài nước không có
sóng, ngoài chân như không có tâm, ngoài tâm không có vật.
Thiên thai tông lấy hiện tại mà tìm chỗ lý tưởng. Thiện ác chân vọng đối với tông này chỉ
là một sự hoạt động của thực tại. Vì thế cho nên không cưỡng cầu giải thoát ra ngoài hiện
tại giới sanh diệt vô thường. Trong hiện tượng giới gồm cả hai tính thiện và ác. Thiện hay
ác cũng chỉ do một tâm tác dụng mà thôi. Hai cái, không có cái nào độc tồn. Cho nên
Phật không làm lành mà cũng không làm dữ.
Sự giải thoát phải tìm ở nơi thấu suốt chân lý, thoát ly chấp trước. Chỗ cuối cùng đạt đến
là phải triệt ngộ thực tướng của các pháp.
4. Hoa nghiêm tông
Tông này cũng như Thiên thai tông, phát khởi ở Trung Hoa, căn cứ ở kinh Hoa Nghiêm,
do hòa thượng Đỗ Thuận và Trí Nghiễm đời Tùy Đường lập ra.
Tông này cho rằng các pháp có sáu tướng: tổng, biệt, đồng, dị, thành, hoại. Gọi chung là
“tam đối lục tướng”. Vạn vật đều có sáu tướng ấy.
10


Tôn giáo học – Nhóm 9

Khi sáu tướng ấy phát ra thì phân làm Hiện tượng giới và Thực tại giới, và khi sáu tướng
ấy tương hợp nhau thì hiện tượng tức là thực tại, thực tại tức là hiện tượng.

Vạn hữu có “tam đối lục tướng” là do Thập huyền diệu lý duyên khởi. Thập huyền diệu
lý và Lục tướng viên dung sinh ra cái lý “sự sự vô ngại”.
Sự sự vô ngại luận là chỗ đặc sắc nhất trong giáo lý của Hoa nghiêm tông.
Theo tông ấy thì phân biệt chân vọng, trừ khử điên đảo khiến cho tâm thanh tịnh, để cùng
thực tại hợp nhất, thế là giải thoát.
5. Chân ngôn tông
Tông này căn cứ ở kinh Đại Nhật, lấy bí mật chân ngôn làm tông chỉ, cho nên gọi là
Chân ngôn tông, hay là Mật tông.
Đại Nhật Như Lai truyền cho Kim-cang-tát-đỏa. Kim-cương-tát-đỏa truyền cho Long
Thọ, Long Thọ truyền cho Long Trí, Long Trí truyền cho Kim Cương Trí, Kim Cương Trí
cùng với Bất Không vào khoảng đời Đường đem tông này truyền sang Trung Hoa.
Chân ngôn tông chủ trương các thuyết Lục đại là địa, thủy, hỏa, phong, không, thức, cho
sáu đại này là thực thể của vũ trụ.
Lục đại xét về phương diện vũ trụ thì gọi là thể đại, hiện ra hình hài gọi là tướng đại, hiện
ra ngôn ngữ, động tác gọi là dụng đại. Vạn hữu trong vũ trụ không có gì ra ngoài thể đại,
tướng đại, dụng đại.
Gọi là chân như là lấy lý tính do sáu đại mà trừu tượng ra. Ngoài sáu đại ra, không thấy
đâu là chân như.
Sự giải thoát của Chân ngôn tông là ở nơi “tự thân thành Phật”, cho nên bỏ hết chấp
trược, theo cái hoạt động của Đại ngã. Phương thức giải thoát của tông này là ba mật, tức
là thân, miệng và ý.
6. Thiền tông
Thiền tông không bàn luận về vũ trụ, chỉ chủ ở sự cầu được giải thoát mà thôi.
Cứu cánh của Thiền tông không trói buộc nơi văn tự, nên chỉ lấy tâm truyền tâm mà thôi.
Thực tướng của vũ trụ thuộc về phạm vi trực giác. Nếu lấy văn tự mà giải thích thì tất là
sa vào hiện tượng giới, không thể đạt tới thật tướng được. Nếu không tọa thiền dùng trực
giác thì không thể biết được thật tướng.
7. Tịnh độ tông
Tịnh độ tông lấy sự quy y Tịnh độ làm mục đích, và tụng những kinh Vô Lượng Thọ,
Quán Vô Lượng Thọ và A-di-đà.

11


Tôn giáo học – Nhóm 9

Tịnh độ tông khởi phát từ đời nào không rõ, chỉ thấy trong các kinh điển nói các vị Bồ-tát
Mã Minh, Long Thụ và Thế Thân đều khuyên người ta nên tu Tịnh độ.

III.

ĐIỂM KHÁC BIỆT CHÍNH CỦA HAI TÔNG PHÁI

Điểm giống nhau cơ bản:
1.
2.
3.
4.
5.
6.

Cả hai đều chấp nhận Đức Phật Thích Ca là Người Thầy
Tứ Diệu Đế trong cả hai trường phái đều giống nhau.
Bát Chánh Đạo trong cả hai trường phái cũng tương tự.
Lý thuyết Duyên Khởi trong cả hai trường phái cũng giống - nhau.
Cả hai đều không chấp nhận tư tưởng về thượng đế tạo ra thế - gian này.
Cả hai đều chấp nhận Ba Bản Chất của sự sống (Khổ, Vô thường, Vô ngã) và
Ba Phần tu học (Giới, Định, Tuệ), mà không có bất kỳ sự khác biệt nào.

Tuy vậy, cũng có một số ít điểm khác nhau. Rõ ràng nhất là quan điểm về tư tưởng Bồtát. Nhiều người nói rằng Đại Thừa là quả vị Bồ-tát dẫn đến quả vị Phật, trong khi đó
Phật giáo Nguyên Thủy thì đưa đến quả vị A-la-hán. Phải nói rằng Đức Phật Toàn Giác là

một A-la-hán. Phật Duyên Giác cũng là là một A-la-hán. Một đệ tử thanh văn cũng có thể
là một A-la-hán.
Kinh điển Đại thừa không bao giờ nói bàn về “A-la-hán Thừa” (Arahant-yana) mà họ chỉ
sử dụng ba thuật ngữ hay ba “thừa”: Bồ-tát thừa (Bodhisattva-yana), Duyên Giác thừa
(Prateka-Buddhayana) và Thanh Văn thừa (Sravakayana). Theo Phật giáo Nguyên thủy
thì ba quả vị này được gọi là ba quả hay ba bậc Giác ngộ (ba “Bodhi”).
Có người cho rằng Phật giáo Nguyên thủy thì ích kỷ bởi vì chỉ dạy người ta đi tu để tìm
sự giải thoát cá nhân. Nhưng làm sao một người ích kỷ (là tâm xấu) có thể đạt được
“Giác Ngộ”?
Cả hai trường phái đều chấp nhận có ba Thừa, hay ba bậc Giác ngộ (Bodhi), và cũng đều
công nhận lý tưởng Bồ tát là cao quí nhất. Tuy nhiên, Đại thừa đã hư cấu nhiều vị Bồ-tát
huyền bí. Trong khi đó, Phật giáo Nguyên thủy cho rằng Bồ-tát là một con người ở giữa
chúng ta, và Ngài hiến tặng trọn vẹn đời mình cho sự giác ngộ, chắc chắn sẽ trở thành vị
Phật “vì lợi ích của thế gian, vì hạnh phúc cho đời”.
Nhiều người cho rằng tính “Không” là do ngài Long Thọ giảng luận thì hoàn toàn là giáo
lý Đại thừa. Thật ra, ngài Long Thọ có thể đã căn cứ vào thuyết Vô Ngã và Lý Duyên
Khởi vốn đã có sẵn trong kinh tạng Pàli từ nguyên thủy Phật giáo….
Trong Phật giáo Đại thừa, bên cạnh tư tưởng tính “Không” còn có ý niệm "Tàng thức"
vốn cũng có nguồn gốc từ trong kinh tạng nguyên thủy. Những người Đại thừa chỉ khai
triển thêm những khái niệm này thành những học thuyết sâu xa hơn về triết học và tâm lý
học.
Phật giáo Đại thừa xem đức Phật như một vị Thần vạn năng, uy lực tuyệt đối. Thọ mệnh
của đức Phật là vô cùng, sắc thân của Ngài là vô biên, những gì do Ngài nói ra cũng đều
12


Tôn giáo học – Nhóm 9

viên mãn không có khuyết điểm, đều là chân lý. Ngoài đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ở Tam
thế (quá khứ, hiện tại, vị lai) còn có vô số các vị Phật khác, như lời của đức Như lai “Ta

là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Trong một ngôi chùa theo hệ phái Đại thừa
thờ rất nhiều hình tượng, Phật Thích Ca, Phật A Di Đà, Phật Dược Sư Lưu Ly, Bồ Tát
Quán Thế Âm, Bồ Tát Di Lặc, Tổ Bồ Đề Đạt Ma...
Phật giáo Nguyên Thủy lại xem đức Phật như một nhân vật lịch sử, là một con người,
một người thầy dạy đạo, hay là một vị Giáo chủ chứ không phải như một vị Thần vạn
năng, giáo lý của Ngài là con đường đi đến Giác ngộ, như Ngài đã khẳng định rằng mọi
chúng sinh đều bình đẳng trong việc chứng ngộ chân lý, điều này không phụ thuộc vào
thành phần xuất thân, mà vào hành vi đạo đức và sự hiểu biết về chân tướng của vạn
pháp. Trong một ngôi chùa của Phật giáo Nguyên thủy, ta thấy chỉ thờ chủ yếu hình
tượng của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, và các vị A La Hán – các đệ tử lớn của Phật.
Đại Thừa cho rằng Niết bàn (Nirvana) và thế gian không khác biệt. Muốn đạt được Niết
bàn chỉ là tiêu trừ Vô minh, và nhận thức được thực tướng của các hiện tượng sự vật.
Cảnh giới Niết bàn không tồn tại độc lập với Thế gian.
Phật giáo Nguyên thủy cho rằng Niết bàn là cảnh giới đạt được sau khi thoát khỏi luân
hồi sinh tử. Cảnh giới này hoàn toàn khác biệt với cảnh giới Trần thế.
Đại thừa không quá chú trọng đến đời sống xuất gia, cư sĩ tại gia cũng có thể đạt đến Niết
bàn với sự tế độ của chư Phật và chư Bồ tát. Niết bàn không chỉ là giải thoát khỏi Luân
hồi, mà Hành giả còn giác ngộ về chân tâm và an trú trong đó. Đại Thừa xem trọng sự
nhập thế, sự liên hệ mật thiết với đời sống thế tục, có như thế mới thực hiện được tính
chất phổ độ chúng sinh, giúp chúng sinh vượt qua bể khổ (Bồ Tát hạnh)1.
Phật giáo Nguyên thủy chú trọng sự xuất gia, xa lánh thế gian, vì vậy họ quan niệm phải
sống cuộc đời của kẻ tu hành. Đối với họ cuộc sống tại gia không thể đem đến sự giải
thoát, hình ảnh tiêu biểu ấy là đắc quả A La Hán (Arhat), là người phải dựa vào chính bản
thân để giải thoát. Không có thần thánh nào có thể làm việc ấy thay ta.
Ngoài ra, cũng còn một số khác biệt khác giữa Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Nguyên
thủy, như:
Kinh sách của Phật giáo Đại thừa viết bằng Phạn ngữ Sanscrit, là ngôn ngữ và chữ viết
của giới quý tộc, trí thức ở miền Bắc Ấn Độ cổ đại, còn kinh sách của Phật giáo Nguyên
thủy viết bằng Phạn ngữ Pali, là ngôn ngữ và chữ viết của giới bình dân ở miền Nam Ấn
Độ. Tương truyền khi sinh thời, đức Phật đã giảng Đạo pháp cho đại chúng bằng ngôn

ngữ Pali.

1 Bồ Tát hạnh: những người tu tập theo Đại thừa thường đề cao và kính yêu vị thánh từ bi, hiện thân là một Bồ Tát,
như Quán Thế Âm Bồ Tát. Đó là một vị thánh đạt đạo, luôn chia sẻ những khổ đau cũng như hy vọng của tất cả
chúng sinh, nên đã tự mình không vào Niết bàn cho đến khi tất cả chúng sinh có thể cùng vào Niết Bàn. Người ta
thường biết đến Quán Thế Âm Bồ Tát với Mười hai đại nguyện.

13


Tôn giáo học – Nhóm 9

Giới tăng lữ của Phật giáo Đại thừa bao gồm cả Sa di, Tỳ kheo (nam tu sĩ) và Sa di ni, Tỳ
kheo ni (nữ tu sĩ), trong khi tăng lữ của Phật giáo Nguyên thủy chỉ gồm Sa di, Tỳ kheo.
*** Chú thích:
(1) Tứ diệu đế (S: Arya Astangika Marga - P: Nidanas): là bốn sự thật quý báu, bao gồm:
Khổ đế (những đau khổ của thế gian). Tập đế (kê hiện trạng của những đau khổ). Diệt đế
(hoàn cảnh an lành sẽ đạt sau khi diệt trừ khổ). Đạo đế (phương pháp diệt đau khổ).
(2) Thập nhị nhân duyên (S: Pratitya Samutpada): là mười hai duyên khởi với mười hai
yếu tố. các yếu tố này làm loài hữu tình mãi vướng trong luân hồi. Gồm: Vô minh (ngu
dốt) - Hành (những hành động thuộc ý chí tạo nên Nghiệp) - Thức (nguyên nhân sự kết
thành bào thai trong bụng mẹ) - Danh sắc (toàn bộ tâm, vật lý của một hiện hữu) - Lục
nhập (sáu giác quan khi tiếp xúc: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) - Xúc (tiếp xúc, sáu giác
quan tiếp xúc sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) - Thọ (cảm giác khi tiếp xúc sáu
trần) - Ái (ưa thích, đam mê) - Thử (chiếm giữ) - Hữu (tồn tại) - Sinh (tái sinh) - Lão tử
(già, chết).
(3) Bát chánh đạo (S: Arya Astangika Marga): là tám con đường ngay thẳng, hay tám
phương tiện nhiệm màu đưa chúng sinh đến đời sống chí diệu, gồm: Chánh kiến (thấy
đúng)- Chánh tư duy (suy nghĩ đúng), Chánh ngữ (nói lời đúng, không độc ác), Chánh
nghiệp (không làm những việc trái giới luật), Chánh mạng (nghề nghiệp sinh sống chân

chính), Chánh tinh tấn (làm việc thiện không làm điều ác), Chánh niệm (suy nghĩ chân
chính), Chánh định (thiền định chân chính).
(4) Nhân quả (P: Hetuppaccaya): là nguyên nhân và kết quả, làm điều thiện sẽ hưởng an
lành.
(5) Nghiệp (S: Karma, P: Kamma): kết quả của một hành động được gây ra bởi ý thức
(tâm hay ngôn ngữ). Một nghiệp tốt thường mang lại một kết quả tốt.

14



×