TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
LÃ THỊ HÒA
NẠN THỔ PHỈ VÀ CHÍNH SÁCH
TIỄU PHỈ DƢỚI THỜI TỰ ĐỨC
(1848 – 1883)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. PHAN NGỌC HUYỀN
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận, tác giả đã nhận đƣợc sự giúp đỡ tận tình quý
báu của các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử - trƣờng ĐHSP Hà Nội 2, các
thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy bộ môn Lịch sử Việt Nam, sự đóng góp của
các bạn sinh viên. Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và đóng góp quý
báu của thầy cô và các bạn.
Đặc biệt, tác giả xin chân thành cảm ơn TS. Phan Ngọc Huyền đã giúp
đỡ, chỉ bảo tận tình để tác giả hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội ngày
tháng
năm 2017
Tác giả khóa luận
Lã Thị Hòa
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đề tài “Nạn thổ phỉ và chính sách tiễu phỉ dưới
thời Tự Đức (1848 – 1883)” là công trình nghiên cứu của riêng tác giả. Các
nguồn tƣ liệu đƣợc dùng trong khóa luận tốt nghiệp là chính xác, những trích
dẫn là trung thực. Vì vậy tác giả xin chịu trách nhiệm cuối cùng về kết quả
của khóa luận!
Tác giả khóa luận
Lã Thị Hòa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................ 3
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................. 5
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu vấn đề ..................................................... 6
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu ............................................... 6
6. Đóng góp của khóa luận............................................................................ 7
7. Bố cục của khóa luận ................................................................................ 8
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ PHỈ VÀ NẠN THỔ PHỈ DƢỚI THỜI
VUA TỰ ĐỨC .................................................................................................. 9
1.1. Khái quát về phỉ và sự hình thành lực lƣợng phỉ ................................... 9
1.1.1. Nguyên nhân xuất hiện phỉ ............................................................. 9
1.1.2. Đặc điểm của lực lượng phỉ .......................................................... 10
1.2. Nạn thổ phỉ dƣới thời vua Tự Đức ....................................................... 11
1.2.1. Bối cảnh xã hội và sự hình thành các lực lượng phỉ .................... 11
1.2.2. Hoạt động của các nhóm phỉ ........................................................ 19
Tiểu kết chƣơng 1 ....................................................................................... 23
Chƣơng 2. CHỦ TRƢƠNG VÀ HOẠT ĐỘNG TIỄU PHỈ DƢỚI THỜI
VUA TỰ ĐỨC ................................................................................................ 24
2.1. Chủ trƣơng tiễu phỉ của vua Tự Đức ................................................... 24
2.1.1. Trong nhận thức của nhà vua ....................................................... 24
2.1.2. Trong hành động của nhà vua ...................................................... 27
2.2. Hoạt động tiễu phỉ dƣới thời vua Tự Đức ............................................ 35
2.2.1. Giai đoạn 1848 – 1858 ................................................................. 35
2.2.2. Giai đoạn 1858 – 1883 ................................................................. 41
Tiếu kết chƣơng 2 ....................................................................................... 50
Chƣơng 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ NẠN THỔ PHỈ VÀ CHÍNH
SÁCH TIỄU PHỈ DƢỚI THỜI VUA TỰ ĐỨC ............................................. 51
3.1. Một số nhận xét về nạn thổ phỉ thời vua Tự Đức ................................ 51
3.2. Một số nhận xét về các biện pháp tiễu phỉ của vua Tự Đức ................ 53
3.2.1. Chiến thuật tiễu phỉ ....................................................................... 53
3.2.2. Kết quả của việc tiễu phỉ ............................................................... 56
3.2.3. Hạn chế trong việc thực thi tiễu phỉ.............................................. 58
Tiểu kết chƣơng 3 ....................................................................................... 62
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 65
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Lịch sử châu Á nói chung và lịch sử Việt Nam nói riêng vào thế kỉ XIX
dƣới sự trị vì của vƣơng triều Nguyễn (1802 – 1945) là một giai đoạn lịch sử
đầy biến động. Sự tiến bộ của khoa học – kĩ thuật và cơ khí đã thay đổi cả cục
diện thế giới. Nền kinh tế tƣ bản phát triển mạnh mẽ ở các nƣớc phƣơng Tây
đòi hỏi nhu cầu cao về nguồn nguyên nhiên liệu và thị trƣờng đã thúc đẩy
công cuộc xâm chiếm thuộc địa diễn ra mạnh mẽ. Đối tƣợng đầu tiên bị
phƣơng Tây hƣớng đến là các nƣớc châu Á – thị trƣờng quen thuộc lâu đời và
giàu có vô cùng trong con mắt của ngƣời châu Âu. Đồng thời đây là thời kì
hầu hết các quốc gia phong kiến châu Á đang bị khủng hoảng trầm trọng.
Quan hệ tiếp xúc Đông – Tây đã chuyển từ thƣơng mại tự do sang đối địch.
Thay vì tôn trọng chủ quyền, thiết lập mối quan hệ buôn bán nhƣ trƣớc đây,
các nƣớc tƣ bản phƣơng Tây bắt đầu thực hiện chính sách “ngoại giao pháo
hạm”, sử dụng vũ lực để từng bƣớc thực hiện ý đồ thực dân. Đặc biệt, Việt
Nam lại có vị trí địa lí nằm ở giữa con đƣờng từ Âu sang Á, vì thế không thể
tránh khỏi tầm mắt và dấu chân của ngƣời châu Âu. Ra đời trong điều kiện
suy tàn của chế độ phong kiến Việt Nam, nhà Nguyễn đã ra sức củng cố chính
quyền, chấn chỉnh các lĩnh vực của xã hội. Các vị vua đầu tiên của triều
Nguyễn phải đối đầu với hàng loạt hệ quả phức tạp sau khi đất nƣớc thống
nhất nhƣ xóa bỏ những mặc cảm về sự chia cắt đất nƣớc sau gần hai thế kỉ để
tạo sự hòa hợp dân tộc. Xây dựng đất nƣớc với diện tích lãnh thổ rộng lớn,
thống nhất từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau là một điều khó khăn, chƣa từng
có trƣớc đây, sự thay đổi quá lớn này không cho phép Gia Long và các quan
cận thần vốn trƣởng thành từ vùng cực nam của tổ quốc nghĩ ngay ra một
phƣơng án xây dựng chính quyền mới. Ngoài ra, thời kì này, quan hệ ngoại
giao không chỉ đƣợc thiết lập với những nền văn hóa quen nhƣ Trung Hoa
1
hay Xiêm La mà còn có các nƣớc phƣơng Tây nhƣ Anh, Pháp, Tây Ban Nha.
Dù đã cố gắng đƣa ra nhiều chính sách về kinh tế, xã hội tích cực song mọi nỗ
lực của nhà Nguyễn đã không tạo điều kiện cho đất nƣớc vƣợt qua khủng
hoảng. Thậm chí, đất nƣớc còn dấn sâu vào con đƣờng khủng hoảng. Chính vì
vậy, dƣới triều Nguyễn thổ phỉ đã trở thành một vấn nạn, diễn ra xuyên suốt
cả triều đại. Các nhóm thổ phỉ tiến hành cƣớp bóc của nhân dân, giết hại
nhiều ngƣời gây nguy hại cho đất nƣớc và là nỗi kinh hoàng đối với nhân dân.
Với những hậu quả tiêu cực từ nạn phỉ triều đình nhà Nguyễn đã đƣa ra nhiều
biện pháp tiễu phỉ. Dƣới thời vua Tự Đức (1848 – 1883), do kế thừa từ hệ quả
tiêu cực của các ông vua trƣớc, đất nƣớc vừa bị khủng hoảng trầm trọng, vừa
phải đối phó với sự xâm lƣợc của thực dân Pháp từ năm 1858. Trong bối cảnh
ấy, nạn thổ phỉ diễn ra phức tạp. Bên cạnh sự phát triển của thổ phỉ, các
phong trào nông dân cũng lại nổi lên mạnh mẽ và nhiều phong trào đã biến
tƣớng trở thành các đảng, nhóm thổ phỉ. Trƣớc tình hình đó, triều đình Tự
Đức đã đƣa ra nhiều biện pháp tiễu phỉ nhằm tiêu diệt lực lƣợng này, duy trì
ổn định và trật tự xã hội.
Triều Nguyễn dƣới thời vua Tự Đức dù đƣợc nhiều nhà sử học lựa chọn
nghiên cứu với nhiều khía cạnh nhƣ giáo dục, tài chính, văn hóa, xã hội,…
song đến hiện tại, chƣa có một công trình sử học nào nghiên cứu một cách hệ
thống về chính sách tiễu phỉ thời Tự Đức. Đây là một thiếu sót cần đƣợc bổ
sung và làm rõ trong quá trình nhận thức toàn diện về thời kì tồn tại độc lập
của đất nƣớc.
Việc nghiên cứu chính sách tiễu phỉ mà vua Tự Đức đã thi hành trong
suốt thời kì trị vì của mình sẽ cung cấp một nguồn thông tin trong việc nhận
thức, đánh giá khách quan hơn về thực trạng nạn phỉ trong xã hội vào nửa sau
thế kỉ XIX.
2
Với ý nghĩa đó, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Nạn thổ phỉ và chính
sách tiễu phỉ dưới thời Tự Đức (1848 – 1883)” làm khóa luận tốt nghiệp của
mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhiều vấn đề lịch sử về triều Nguyễn đã đƣợc các nhà nghiên cứu lịch sử
tìm hiểu. Tuy nhiên việc nghiên cứu về tiễu phỉ và chính sách tiễu phỉ dƣới
thời Tự Đức là một khía cạnh mới và phức tạp. Hiện tại mới chỉ đƣợc đề cập
một cách chung chung trong các công trình lịch sử viết về nhà Nguyễn.
Trong cuốn Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim xuất bản lần đầu tiên
vào năm 1919 đã dành 15 chƣơng viết về nhà Nguyễn. Trong đó, ông đã dành
thời lƣợng của cả chƣơng VIII để viết về nạn giặc giã dƣới thời Tự Đức. Tuy
nhiên những nội dung còn mang tính chung chung, khái lƣợc đƣuọc một vài
nét mà chƣa đi sâu vào nghiên cứu thành một hệ thống hoàn chỉnh.
Trong cuốn Sử Việt – Nam (thời cận kim) của tác giả Lê Hữu Thu xuất
bản năm 1952 đã đi vào phân tích tình hình xã hội ở tất cả các đời vua
Nguyễn. Trong đó tác giả đã dành nhiều trang viết để phân tích về sự khủng
hoảng của đất nƣớc dƣới thời vua Tự Đức. Tác giả đã lấy ví dụ về nạn phỉ với
hai nhóm phỉ đảng tiêu biểu là Lê Văn Phụng và quân cờ đen của Lƣu Vĩnh
Phúc. Song đó chỉ là những nét giản lƣợc mang tính đặc trƣng nhất, chứ chƣa
tập trung đi sâu vào khai thác ở các khía cạnh khác nhau.
Trong cuốn Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam của tác giả Trần Quốc
Vƣợng, Hà Văn Tấn xuất bản năm 1963 cũng đã đề cập đến tình hình xã hội
triều Nguyễn nói chung và Tự Đức nói riêng. Từ đó dẫn đến hệ quả là các
phong trào nông dân bùng nổ, nạn giặc giã nổ ra ở khắp nơi. Tuy nhiên với
nội dung chính là một tác phẩm thông sử, những vấn đề về phỉ còn hết sức mờ
nhạt, chƣa đào sâu vào việc nghiên cứu vấn đề.
3
Trong cuốn Khiêm lăng và vua Tự Đức của tác giả Mai Ứng Khiêm
(2004) đã đi sâu vào việc nghiên cứu về cuộc đời của vua Tự Đức cũng nhƣ
tình hình đất nƣớc trong suốt thời gian trị vì của vua Tự Đức. Tác phẩm đã
bƣớc đầu đi vào việc nghiên cứu thái độ của Tự Đức trƣớc nạn giặc giã cũng
nhƣ sự bất lực của triều đình Tự Đức trong công cuộc tiễu phỉ. Tuy nhiên, nạn
giặc giã chỉ đƣợc đề cập đến để làm nổi bật hơn nữa những tấn bi kịch của
cuộc đời Tự Đức vì vậy mà không đƣợc tác giả dành nhiều thời lƣợng để đi
vào tìm hiểu nghiên cứu chuyên sâu.
Trong cuốn Lịch sử Việt Nam, tập II của tác giả Phan Huy Lê (chủ biên),
xuất bản năm 2012 đã trình bày một cách toàn diện về triều Nguyễn. Trong đó
tác phẩm cũng đã đề cập đến nạn giặc giã nổ ra mạnh mẽ dƣới thời vua Tự
Đức và hậu quả của vấn nạn này. Song chỉ với dung lƣợng nhỏ, tác phẩm mới
chỉ dừng lại ở việc nêu, liệt kê mà chƣa đi vào phân tích những nguyên nhân,
diễn biến và công tác tiễu phỉ của triều đình.
Trong cuốn Lịch sử Việt Nam từ năm 1802 – 1858 (tập 5) do tác giả
Trƣơng Thị Yến làm chủ biên, xuất bản năm 2013 đã đi sâu vào phân tích bối
cảnh lịch sử và sự khủng hoảng nghiêm trọng của các vua triều Nguyễn từ
những ngày đầu thành lập. Từ đó, tác giả đã đƣa ra những hệ quả của mâu
thuẫn xã hội, trong đó có nạn phỉ hoạt động mạnh mẽ nhất vào thời vua Tự
Đức. Tác phẩm cũng đã đề cập đến việc triều đình nỗ lực chống phỉ song
không nhiều và chƣa chuyên sâu.
Trong cuốn Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847 –
1885 của Yoshiharu Tsuboi (2014) với nội dung tập trung khắc họa về tình
hình Việt Nam dƣới thời vua Tự Đức đã phần nào mô tả vấn nạn phỉ cũng
nhƣ những hậu quả mà nó để lại cho đất nƣớc. Song với nội dung mà tác
phẩm tập trung vào thì phỉ chỉ là một vấn đề nằm trong bức tranh xã hội nên
4
Tsuboi chƣa đi vào phân tích, so sánh về nạn phỉ dƣới triều Tự Đức trong bối
cảnh đất nƣớc có những biến đổi.
Trong luận án Tiến sĩ Chính sách xã hội triều Nguyễn của Lê Quang Chắn
(2015) đã đi vào khai thác vấn đề xã hội dƣới triều Nguyễn ngay từ những ngày
đầu vƣơng triều Nguyễn đƣợc thành lập. Sau nhiều phân tích về sự khủng
hoảng xã hội, tác giả đã đi đến kết luận xã hội Việt Nam dƣới triều Nguyễn
(giai đoạn 1802 – 1884) thực sự rối ren. Đặc biệt là dƣới thời kì trị vì của vua
Tự Đức đất nƣớc phải đối diện với cả giặc trong nƣớc và nạn xâm lƣợc từ bên
ngoài. Song do thời lƣợng chủ yếu đi vào phân tích các chính sách xã hội do đó
tác phẩm chƣa đi sâu vào việc nghiên cứu về nạn phỉ - một trong những hệ quả
tiêu cực của các chính sách xã hội, chỉ dừng lại ở việc đề cập.
Ngoài ra còn nhiều bài viết trên một số tạp chí nghiên cứu, phân tích,
đánh giá về nạn phỉ dƣới thời Tự Đức tiêu biểu là Tạp chí lịch sử quân sự,
Tạp chí xƣa và nay, Tạp chí nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Hán nôm. Tuy
nhiên, cho đến nay chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về
thực trạng cũng nhƣ các chính sách tiễu phỉ dƣới thời vua Tự Đức.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
Mục tiêu nghiên cứu: Thực hiện đề tài này, tác giả khóa luận mong
muốn hệ thống hóa đƣợc hoạt động tiễu phỉ dƣới thời Tự Đức. Từ đó đƣa ra
những nhận xét, đánh giá về những chính sách tiễu phỉ và hoạt động tiễu phỉ
cũng nhƣ những kết quả từ hoạt động trong giai đoạn 1848 – 1883.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đƣợc mục tiêu trên, đề tài khóa luận có nhiệm vụ:
- Khái quát những nét chung về phỉ cũng nhƣ tìm hiểu sự hình thành của
phỉ và thực trạng hoạt động của phỉ dƣới thời vua Tự Đức.
5
- Tìm hiểu và trình bày những nội dung cơ bản các chính sách, hoạt động
tiễu phỉ cụ thể và kết quả từ các hoạt động đó.
- Đƣa ra một vài nhận xét, đánh giá chung về các hoạt động tiễu phỉ dƣới
thời vua Tự Đức.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu vấn đề
4.1. Đối tượng
Khóa luận lấy vấn đề về chính sách tiễu phỉ dƣới thời vua Tự Đức giai
đoạn 1848 – 1883 làm đối tƣợng nghiên cứu.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu chính sách tiễu phỉ từ khi vua
Tự Đức lên ngôi vua (1848) cho đến khi ông mất (1883). Đây là quãng thời
gian Tự Đức đã đƣa ra các chính sách tiễu phỉ nhằm cải thiện tình hình xã hội
khủng hoảng.
Không gian: Kế thừa từ các đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị,
thời vua Tự Đức đã cai quản một quốc gia thống nhất từ ải Nam Quan đến
mũi Cà Mau. Do đó, không gian khóa luận là chính sách tiễu phỉ trên toàn bộ
lãnh thổ đất nƣớc.
Phạm vi nội dung: Do hạn chế về thời lƣợng cũng nhƣ nguồn tài liệu tham
khảo nên khóa luận chủ yếu tập trung vào các chính sách tiễu trừ thổ phỉ.
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
Bên cạnh việc tham khảo, kế thừa những công trình nghiên cứu của các tác
giả đi trƣớc, để thực hiện đề tài này, tác giả dựa vào nguồn tài liệu chính sau:
- Bộ sách chính sử triều Nguyễn là cuốn Đại Nam Thực lục. Đây là bộ
chính sử lớn nhất, quan trọng nhất của nhà Nguyễn do Quốc sử quán biên
soạn trong vòng 88 năm (1821 – 1909). Bộ sử đƣợc chia làm hai phần là Tiền
biên và Chính biên. Trong đó, phần chính biên chép về lịch sử triều Nguyễn
6
từ vị vua đầu tiên là Gia Long đến vua Đồng Khánh. Và cho đến nay, đây
đƣợc coi là bộ sử ghi lại đầy đủ và tin cậy nhất về triều Nguyễn. Vì vậy, đây
là nguồn tƣ liệu gốc, rất có giá trị về mặt sử liệu.
- Nguồn tài liệu từ các bộ thông sử, giáo trình, công trình nghiên cứu,
luận án, khóa luận, tạp chí chuyên ngành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp luận: Để thực hiện đề tài ngƣời viết dựa trên phƣơng pháp
luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và quan điểm của
Đảng về nghiên cứu khoa học lịch sử, đó là kim chỉ nam trong suốt quá trình
nghiên cứu đề tài.
Phƣơng pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện đề tài, để đảm bảo
tính khách quan và khoa học, khóa luận đã sử dụng hai phƣơng pháp chính là
phƣơng pháp lịch sử và phƣơng pháp logic. Với phƣơng pháp lịch sử, tác giả
cố gắng tái hiện lại thực trạng và hoạt động tiễu phỉ thông qua các sự kiện.
Phƣơng pháp logic sẽ là một công cụ hữu ích trong việc gắn kết và sâu chuỗi
các sự kiện, rút ra một số nhận xét về nạn phỉ cũng nhƣ chính sách tiễu phỉ
của vua Tự Đức. Ngoài ra đề tài còn sử dụng nhiều phƣơng pháp khác nhƣ
phƣơng pháp thống kê, so sánh, tổng hợp, phân tích.
6. Đóng góp của khóa luận
Kết quả nghiên cứu của khóa luận với đề tài chính sách tiễu phỉ dƣới thời
vua Tự Đức (1848 – 1883) sẽ góp phần:
- Là công trình nghiên cứu chuyên sâu góp phần khảo cứu một cách hệ
thống, tƣờng tận về nạn thổ phỉ và chính sách tiễu phỉ dƣới thời vua Tự Đức
(1848 – 1883).
- Khóa luận bổ sung, góp thêm tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu,
giảng dạy và học tập về lịch sử Việt Nam dƣới thời vua Tự Đức.
7
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc chia làm
ba chƣơng:
Chương 1: Khái quát về phỉ và nạn thổ phỉ dưới thời vua Tự Đức.
Chƣơng này nói về nguồn gốc và đặc điểm của phỉ nói chung. Từ đó đi vào
chi tiết về sự hình thành lƣợng phỉ và hoạt động của các nhóm phỉ đảng dƣới
thời vua Tự Đức.
Chương 2: Chủ trương và hoạt động tiễu phỉ dưới thời vua Tự Đức.
Chƣơng này phục dựng lại nhận thức và hành động của vua Tự Đức trong
việc tiễu phỉ. Để từ đó tái hiện hoạt động tiễu phỉ qua hai giai đoạn 1848 –
1858 và 1858 – 1883.
Chương 3: Một số nhận xét về nạn thổ phỉ và chính sách tiễu phỉ dưới
thời vua Tự Đức. Chƣơng này rút ra một số nhận xét về nạn thổ phỉ và chính
sách tiễu phỉ dƣới thời Tự Đức.
8
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ PHỈ VÀ NẠN THỔ PHỈ
DƢỚI THỜI VUA TỰ ĐỨC
1.1. Khái quát về phỉ và sự hình thành lực lƣợng phỉ
1.1.1. Nguyên nhân xuất hiện phỉ
Từ “phỉ” xuất hiện trong chính sử chỉ bọn cƣớp theo nghĩa rộng nhất.
Các nhà chép sử đã căn cứ vào nguồn gốc, tính chất các hoạt động và địa bàn
hoạt động để phân biệt các loại phỉ. Thổ phỉ thƣờng để chỉ bọn cƣớp bóc ở
trên đất liền, địa bàn hoạt động chủ yếu của chúng là ở các vùng núi hiểm trở
hay những nơi nhà nƣớc trung ƣơng khó kiểm soát. Một số khái niệm khác
thƣờng xuất hiện nhƣ: Thanh địa cổ phỉ hay Thanh địa y phỉ (cƣớp từ Trung
Hoa), Man phỉ (cƣớp rừng), thủy phỉ (cƣớp sông), hải phỉ hay hải tặc (cƣớp
biển), Nùng phỉ (cƣớp ngƣời thiểu số Nùng), Hải Dƣơng phỉ (cƣớp ở tỉnh Hải
Dƣơng), Quảng Yên phỉ (cƣớp ở tỉnh Quảng Yên). Ngoài ra, họ còn đƣợc
phân biệt với “kiếp” – trộm cắp có khí giới và “ đạo” – trộm cắp thƣờng.
Sự xuất hiện và hoạt động của phỉ là một thứ chỉ số đo mức độ ổn định
của trật tự xã hội. Khi xã hội ổn định, nhân dân tập trung lo sản xuất, có đời
sống bình yên nên lƣợng ngƣời sống ngoài pháp luật không nhiều. Sự cƣớp
bóc xảy ra ít, thƣờng vào một vào một vài mùa và ở địa phƣơng, nằm trong
khả năng trấn áp của quan quân và trên thực tế ít đƣợc ghi chép lại trong
chính sử.
Nhƣng ngƣợc lại khi xã hội bất ổn định, có sự rối loạn, phỉ và bọn giặc
cƣớp nổi lên khắp nơi. Vào những năm mất mùa, thiên tai, đói kém xảy ra,
dân lƣu tán xuất hiện nhiều, cùng với sự áp bức bóc lột của các tầng lớp trên
trong xã hội đã đƣa con ngƣời vào vòng tăm tối không lối thoát. Và con
đƣờng duy nhất của những con ngƣời bần cùng, khốn khổ lúc này là tiến hành
9
các cuộc khởi nghĩa. Chính điều này đã làm cho số lƣợng ngƣời nằm ngoài
vào vòng pháp luật tăng lên một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó những sự
can thiệp từ bên ngoài cũng là một yếu tố quan trọng tạo điều kiện cho các
nhóm phỉ xuất hiện ngày một nhiều. Hoạt động của chúng đã làm cho an ninh
trật tự đất nƣớc không ổn định, và trên hết ngƣời gánh chịu hậu quả nặng nề
nhất là nhân dân.
1.1.2. Đặc điểm của lực lượng phỉ
Phỉ hay giặc cƣớp xuất hiện ở mỗi thời kì đều có những đặc điểm khác
nhau do yếu tố bối cảnh lịch sử chi phối, song tựu chung lại vẫn có các đặc
điểm nhất quán.
Trƣớc hết, phỉ thƣờng xuất hiện khi tình hình xã hội không ổn định, và
cụ thể là khi thiên tai, mất mùa, đói kém xảy ra liên tục kèm với mâu thuẫn
giai cấp trong xã hội lên cao.
Hai là, các nhóm phỉ thƣờng lựa chọn vùng rừng núi rậm rạp, hẻo lánh,
hay các vùng miền núi sát biên giới giáp ranh giữa các nƣớc làm sào huyệt và
hoạt động. Việc lựa chọn địa bàn này giúp bọn phỉ có thể che giấu đƣợc hành
tung của mình, ngƣời lạ mặt không thể xâm nhập. Khi biền binh lên tiễu phỉ,
bọn phỉ có thể dễ dàng ẩn trốn hoặc dùng chiến tranh du kích. Các vùng biên
giới lại là nơi giao thƣơng buôn bán giữa hai nƣớc thƣơng nhân thƣờng qua
lại mang theo các mặt hàng có giá trị, là thứ mà bọn phỉ luôn thém khát.
Ngoài ra, những vùng này cách xa trung tâm quyền lực quốc gia nên thoát
khỏi ảnh hƣởng triều đình và quan địa phƣơng cũng khó cai trị, nhất là bọn
phỉ luôn luôn có thể thoát khỏi sự truy kích bằng cách vƣợt qua biên giới.
Ba là, lực lƣợng tham gia vào các băng nhóm phỉ thƣờng là những phạm
nhân tù tội, những dân quê, những thợ thủ công, quân sĩ và ngƣời thất nghiệp.
Bốn là, hoạt động chính của phỉ là cƣớp bóc, giết ngƣời. Song khi các
nhóm phỉ xuất hiện do sự can thiệp từ bên ngoài chúng mang theo cả những
âm mƣu chính trị nhằm làm rối loạn và phá hoại tiềm lực của đất nƣớc.
10
Dù mang nhiều đặc điểm khác nhau, song tất cả các nhóm phỉ đều duy
trì cƣớp bóc, giết ngƣời để tồn tại.
1.2. Nạn thổ phỉ dƣới thời vua Tự Đức
1.2.1. Bối cảnh xã hội và sự hình thành các lực lượng phỉ
Trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, việc các toán phỉ nổi
lên không phải là không có song đến thời vua Tự Đức nạn phỉ xuất hiện nhƣ
một hiện tƣợng xã hội đặc biệt.
Triều Nguyễn ra đời vào năm 1802, trong một hoàn cảnh phức tạp khi
mà chế độ phong kiến đã bƣớc vào giai đoạn suy tàn. Cùng lúc đó, trên thế
giới sự phát triển của chủ nghĩa tƣ bản với nhu cầu cao về thị trƣờng và nguồn
nguyên nhiên liệu đã thúc đẩy các nƣớc phƣơng Tây xâm lƣợc thuộc địa mà
đối tƣợng đầu tiên là các nƣớc ở châu Á. Trong bối cảnh lịch sử mới, yêu cầu
đƣợc đặt ra là có những chính sách phù hợp để đƣa đất nƣớc bƣớc sang giai
đoạn mới bắt kịp thời đại. Trên thực tế, các chính sách của nhà Nguyễn lại đi
ngƣợc lại với xu thế chung. Chính vì vậy, dù đã cố gắng khắc phục những trở
ngại và khó khăn để tạo dựng nên một nhà nƣớc chuyên chế nhƣng không thể
đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển của xã hội. Nhìn tổng thể về nhà Nguyễn,
các nhà nghiên cứu đã cho rằng: “Những chính sách của các vua Nguyễn đã
bần cùng hóa nhiều tầng lớp xã hội và phần nào hủy hoại tiềm lực của đất
nước” [53, tr.554]. Chính vì vậy, dƣới triều Nguyễn bọn phỉ nổ ra và hoành
hành ở khắp nơi. Trong khoảng thời gian Tự Đức trị vì đất nƣớc là thời điểm
xuất hiện nhiều nhóm phỉ đảng nhất. Nguyễn Hữu Thu trong tác phẩm của
mình đã nhận xét về thời Tự Đức nhƣ sau: “Mặc lòng không có đời nào lắm
giặc giã bằng đời ngài làm vua” [41, tr.28]. Trƣớc nhãn quan chính trị của nhà
vua và quan lại thì các nhân sĩ chống đối, những ngƣời tự xƣng là hậu duệ còn
sót lại của triều Lê cũ, các giáo dân nổi loạn, hải tặc, thổ phỉ hay bọn cƣớp dân
tộc thiểu số miền núi, bọn giặc cờ Trung Hoa đều nhƣ nhau, đều là “phỉ”.
11
Bƣớc vào thời kì Tự Đức trị vì, tình trạng rối ren của xã hội trở nên trầm
trọng khi toàn bộ các chính sách, đƣờng lối phát triển đất nƣớc đã đi đƣợc
định hình. Là sự kế thừa từ các vị vua trƣớc đó, đất nƣớc rơi vào sự khủng
hoảng trầm trọng. Là một ông vua chăm việc nƣớc, Tự Đức đã đƣa ra nhiều
chính sách nhằm cải thiện song mọi cố gắng của ông chỉ càng làm cho đất
nƣớc lún sâu vào khủng hoảng.
Dƣới thời Tự Đức chế độ thuế khóa là một gánh nặng lớn của ngƣời dân
với nhiều thứ thuế khác nhau. Chế độ lao dịch cũng hết sức nặng nề, triều
đình liên tục lôi cuốn dân chúng vào việc xây dựng các lăng tẩm nguy nga ở
ngoại vi kinh thành để phục vụ cho nhu cầu của mình, tiêu biểu là việc xây
dựng “Vạn niên cơ” (Khiêm lăng) đã tạo nên một thảm họa lao dịch:
“Vạn niên là vạn niên nào
Thành xây xương lính hào đào máu dân”
Việc khai hoang mặc dù đã đƣợc quan tâm song hiệu quả đạt đƣợc lại
không cao. Hàng năm đều có kết quả báo lên bộ Hộ, có những con số lớn nhƣ
năm 1866, số ruộng hoang mới khẩn ở 9 tỉnh bắt đầu chịu nộp thuế là trên
10.000 mẫu, năm 1875, các quan tỉnh Nam Định đƣợc thƣởng vì đã đôn đốc
dân đắp đê chống mặn khai hoang đƣợc 17.000 mẫu ruộng… Nhƣ vậy là đến
thời Tự Đức, mặc dù chính sách khai hoang đã mang lại những hiệu quả tích
cực, diện tích khai hoang mở rộng song diện tích cấy cày lại thu hẹp dần đi.
Diện tích cày cấy bị thu hẹp làm cho số lƣợng ngƣời không có ruộng đất ngày
càng tăng lên, chẳng những làm cho nông nghiệp không khởi sắc mà nạn thổ
phỉ vẫn không ngừng diễn ra, thậm chí có thời kỳ rất mạnh mẽ. Song song với
chính sách khẩn hoang, nhà nƣớc cũng rất chú trọng khai sông, làm thuỷ lợi,
đắp đê bảo vệ mùa màng. Về đê điều, Tự Đức luôn luôn có chỉ dụ hỏi các
quan Đê chính và các quan tỉnh có đê tâu rõ về công việc giữ đê nhƣ thế nào
cho hợp. Năm Tự Đức thứ 25 (1872), sau khi thấy đê sông Hồng bị vỡ luôn,
12
Tự Đức có cho hỏi ý kiến của các tỉnh ở ven sông về cách sửa đê và phòng
lụt, ý kiến của các tỉnh Sơn Tây, Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Hƣng Yên là
không giống nhau. Cuối cùng Tự Đức thấy kế hoạch của tỉnh Bắc Ninh là
tiện hơn và đỡ tốn kém hơn cả, liền hạ lệnh cho các nơi chuẩn theo đó mà thi
hành. (Tỉnh Bắc Ninh xin tuỳ theo thế mà đắp thêm, ở dƣới hạ lƣu mọi đƣờng
sông có chỗ nào úng tắc thì nhân theo lối cũ mà khơi vét thêm, không nên
khai riêng thành đƣờng mới). Nhà nƣớc đã chú trọng đến công tác thủy lợi
song nạn vỡ đê vẫn liên tiếp xảy ra ở các tỉnh Bắc Kỳ. Những biện pháp này
chỉ còn là hình thức, không mang những nội dung tích cực, không có tác dụng
bảo vệ và phát triển nông nghiệp đƣợc nữa. Nạn đê vỡ và lụt lội vẫn xảy ra
liên tiếp, phá hoại mùa màng gây ra nạn đói khổ, làm cho dân nghèo trôi dạt,
sản xuất nông nghiệp bị đình trệ. Những năm 1871 – 1883 thực sự là quãng
thời gian vô cùng khổ cực của Hƣng Yên với 11 năm liên tiếp vỡ đê, khiến
nhân dân nơi đây đói khổ khôn xiết. Đó là bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy
nạn phỉ đảng quấy nhiễu hoành hành vẫn còn chƣa hết, trái lại nó vẫn tiếp tục
diễn biến theo chiều hƣớng tăng lên mặc dù về cơ bản là những biện pháp đó,
phần nào thể hiện sự quan tâm của chính quyền trung ƣơng nhằm cứu vãn
tình thế. Do vậy, đến cuối thời Tự Đức, nạn thổ phỉ không những không hết
mà vẫn tiếp tục gia tăng.
Tô thuế, lao dịch, binh dịch, hạn hán, lụt lội, đê vỡ dẫn đến tình trạng
mất mùa, đói kém, bệnh tật liên miên, cứ dăm bảy năm lại diễn ra nạn đói
hoặc một nạn dịch lớn, làm thiệt hại hàng chục nhân mạng. Năm 1848 ở Hà
Tĩnh, năm 1854 ở Bắc Ninh, Sơn Tây, các năm 1856 – 1857 ở Bắc Bộ và Bắc
Trung Bộ bão liên tiếp trong hai năm, kéo dài sang đến năm 1858. Nói đến
nạn đói năm 1858, Đại Nam thực lục có ghi: “Những dân lưu tán các tỉnh
Bắc Kỳ nhiều người chết đói”, “Những dân đói ở các tỉnh Ninh Bình, Nam
Định, Hà Nội, lại tán đi Thanh Hóa, có người tự bán mình, có người bán
13
con” [31, tr.550]. Trong năm 1849, bệnh dịch tả hoành hành trên nhiều tỉnh
thành đã làm nhiều ngƣời chết: “Tỉnh Vĩnh Long có hơn 43.000 người chết,
tỉnh Quảng Bình có hơn 23.300 người chết” [31, tr.148]. Vì vậy, hiện tƣợng
dân lƣu tán phát triển là điều không thể tránh khỏi “thảm trạng nhân dân lưu
tán là kết quả không giải quyết nổi trong một điều kiện của một chính sách
kinh tế mù quáng, lạc hậu. Thương mại, công nghiệp bị ngăn trở, các thị trấn
không thành lập được, nạn nhân dân lưu tán vì vậy đã trầm trọng càng thêm
trầm trọng” [15, tr.63 – 64]. Bức tranh về đời sống khổ cực của nhân dân
dƣới thời Tự Đức đƣợc khắc họa sinh động qua bài vè:
“Cơm thì chẳng có
Rau cháo cũng không
Đất trắng xóa ngoài đồng
Nhà giàu niêm kín cổng
Còn một bộ xương sống
Vơ vất đi ăn mày
Ngồi xó chợ lùm cây
Quạ kêu vang bốn phía
Xác đầy nghĩa địa
Thây thối bên cầu
Trời ảm đạm u sầu
Cảnh hoang tàn đói rét
Dân nghèo cùng kiệt
Kẻ lưu lạc thu phương
Người chết chợ chết đường
Trừ bọn lòng lang dạ thú không thương
Ai ai thấy chẳng đau lòng xót dạ
Sẵn bút đây ta tả
14
Để giữ lại vài câu
Cho ngàn vạn năm sau
Biết cảnh tình cơ cực
Là cái thời Tự Đức…” [6, tr.44]
Với việc áp dụng những chính sách thủ cựu bị chi phối bởi Nho học đã
buộc nhà nƣớc phải bảo vệ cho chính thể chuyên chế của mình và các quan lại
ỷ thế cậy quyền tham nhũng, bóc lột dân chúng. Chính vua Tự Đức cũng phải
thừa nhận:
“Quan vui thì dân khổ, ích trên thì hại dưới, thực do ở bọn lại đưa đẩy
văn thơ khinh nhờn pháp luật, mượn việc yêu sách quá đáng, hoặc nhân khi
xét kiện xử án, dụng tâm tha buộc tội mà đòi tiền ăn hối lộ; hoặc nhân bắt
lính thu lương, mượn ý dốc sức mà chấm mút chia nhau ăn; hoặc biếu đãi xin
nhà để làm đường dìu dắt; hoặc bắt đóng góp nặng nề, để làm sự tiêu dùng
cho mình” [31, tr.79].
Mỗi lần có nạn đói, dịch bệnh nhà vua thƣờng ra lệnh cứu tế phát chẩn
lƣơng thực, thuốc men. Tác giả Trần Văn Giàu trong cuốn Sự phát triển của
tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỉ XIX đến Cách mạng tháng Tám (tập 1) đã nhận
định rằng: “Song mưu móc đã chẳng thấm tới đâu lại còn là một dịp để cho
triều đình, quan lại và địa chủ cường hào khoét đẽo nhân dân một cách tệ hại
và bỉ ổi hơn nữa” [14, tr.49].
Những khó khăn trong đời sống nhân dân, nhất là nông dân, làm cho
không khí xã hội Việt Nam ở nửa đầu thế kỉ XIX có xu hƣớng ngày càng căng
thẳng. Trên cả hai phƣơng diện quan hệ đẳng cấp và giai cấp đều chất chứa
những mâu thuẫn gay gắt. Chính những điều đó đã làm cho phong trào khởi
nghĩa của nông dân nổ ra mạnh mẽ, rộng khắp. Trong hoàn cảnh đó, thƣờng
dân rất dễ bị lôi kéo, dụ dỗ đi theo các băng nhóm cƣớp bóc. Tự Đức đã có
lúc từng phải căn dặn quan lại rằng:
15
“Hiện nay tình trạng sinh sống ở các làng mạc đã như thế, nếu không
chấn chỉnh sớm đi, thì e rằng dân chúng ngày càng quẫn bách, phiêu tán, mà
sự được mùa hay mất mùa về sau này chưa thể đoán trước được, thì chắc gì
đã giữ được vô sự. Đến lúc bấy giờ, ví thử có nhiều phương pháp cứu chữa
chăng nữa, cũng hình như lấy một gáo nước mà đem tưới chỗ lửa nghìn xe bị
cháy đó mà thôi. Vậy nên phải dự trù trước khi việc xảy ra, dân được nuôi
nấng, an nhàn để cho tự làm ra mà ăn, không mưu đồ việc khác, cốt phải
thuận lòng người làm cội gốc để hồi lại lòng trời, may ra mới không có hoạn
nạn sau này nữa.”[31, tr.310]
Đồng thời, việc thống nhất đất nƣớc chƣa đƣợc lâu năm nên cơ sở của nhà
Nguyễn chƣa đƣợc vững chắc. Ở Bắc Kỳ là đất cũ của nhà Lê nên còn nhiều
ngƣời mong chờ nhà Lê nên khắp nơi xảy ra loạn lạc liên miên “người muốn
làm loạn, hoặc tự nhận là dòng dõi nhà Lê, hoặc tìm một người nào giả nhận
dòng dõi nhà Lê, rồi tôn lên làm minh chủ để lấy cớ mà khởi sự” [21, tr.207].
Tự Đức cũng đã từng viết rằng: “Đất Bắc vốn ưa làm loạn, nhân thể cũng nổi
lên” [2, tr.72].
Ngoài ra ở thời kì này ghi nhận sự có mặt của phần đông các đảng phỉ từ
Trung Hoa. Hiện tƣợng này xuất hiện là do tình hình nƣớc Mãn Thanh cũng
có nhiều dấu hiệu suy yếu với các cuộc chiến tranh nha phiến với Anh và
cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên quốc, “hiện tượng này mang tầm vóc bi
thảm, một mặt bởi vì lần này bọn phỉ trần sang đông hơn – hàng nghìn tên –
và thành nhóm hẳn hoi, mặt khác, vì bọn chúng được vũ trang tốt; đặc biệt
hỏa lực của chúng hơn hẳn biền binh Việt Nam.” [54, tr.187]. Ngoài ra, việc
các nhóm phỉ Thanh có thể xâm nhập vào biên giới phía Bắc nƣớc ta còn do
quân đội và hệ thống phòng vệ ở biên giới Việt – Trung dƣới thời Tự Đức yếu
kém. Nhà sử học Trần Trọng Kim đã nhận xét về việc võ bị thời Tự Đức:
“Tuy rằng lúc bấy giờ nước mình có lĩnh võ sinh, có quan võ tiến sĩ,
nhưng mà thời đại đã khác đi rồi, người ta đánh nhau bằng súng đạn nạp
16
hậu, bằng đạn trái phá chứ không bằng gươm bằng giáo như trước nữa. Mà
quân lính của mình mỗi đội có 50 người thì chỉ có 5 người cầm súng điểu
thương cũ, phải châm ngòi mới bắn được, mà không luyện tập, cả năm chỉ có
một lần tập bắn. Mỗi người chỉ được bắn có 6 phát đạn mà thôi, hễ ai bắn
quá số ấy thì phải bồi thường.
Quân lính như thế, binh khí như thế, mà quan thì lại cho lính về phòng,
mỗi đội chỉ để độ chừng 20 tên tại ngũ mà thôi. Vậy nên đến khi có sự, không
lấy gì mà chống giữ được” [21, tr.197 – 198].
Hoạt động của các nhóm phỉ đã làm cho an ninh trật tự đất nƣớc không
ổn định, song ngoài việc cƣớp bóc đơn thuần, chúng còn có cả những âm mƣu
kinh tế - chính trị.
Trong khi tình hình trong nƣớc đang loạn lạc thì vào ngày 1/8/1858, thực
dân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng chính thức xâm lƣợc nƣớc ta, bắt
đầu cho thời kì “ngoại giao pháo hạm”. Cuộc chiến tranh kéo dài đã gây nhiều
khó khăn cho thực dân Pháp, vì vậy Pháp đã tìm đến giải pháp chính trị “đến
Bắc Kỳ với sứ mệnh xúi giục một cuộc nổi loạn chống chính quyền, liên kết với
giáo dân – đó là cuộc nổi loạn do Lê Duy Phụng cầm đầu” [54, tr.321]. Từ
năm 1862 – 1883, triều đình nhà Nguyễn dần lún sâu vào con đƣờng thỏa
hiệp bằng việc kí các hiệp ƣớc cắt đất từng bƣớc biến nƣớc ta trở thành thuộc
địa của thực dân Pháp. Chính điều này đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của
nhân dân tạo điều kiện cho bọn phỉ phát triển.
Ngoài ra, một nguyên nhân khác dẫn đến sự xuất hiện của nhiều nhóm
phỉ Thanh, đó là: “Hiệp ước Thiên Tân ký vào ngày 27.6.1858. Hiệp ước đình
chiến Pháp – Hoa ký ngày 25.10.1860 không chỉ đẩy mũi tấn công của liên
quân Pháp – Tây Ban Nha sang Việt Nam , mà nhà Thanh còn chủ tâm xua
hàng vạn tàn quân phong trào nông dân “Thái Bình Thiên quốc” sang đất ta
để lấy cớ mà truy kích. Thực tế cho thấy, mọi cuộc bạo loạn, gây rối làm nên
17
thảm họa khắp Bắc Kỳ và dùng duyên hải nước ta trong thời đoạn này, không
do người Pháp với nhiều nhà truyền đạo Thiên Chúa, như những kẻ “ném đá
giấu tay”, thì cũng do các thủ lĩnh xuất phát từ đất Bắc tràn xuống. Tạ Văn
Phụng đánh phá vùng Đông Bắc. Tàn quân của Ngô Côn do các thuộc tướng
Hoàng Sùng Anh, Tô Quốc Tán, Bàn Văn Nhị, Đặng Chí Hùng… chỉ huy
hoành hành khắp các tỉnh biên giới thượng du và trung du” [46, tr.13].
Tóm lại, xã hội rối ren, đói kém, bệnh dịch, các cuộc khỏi nghĩa nông
dân liên tiếp nổ ra, sự can thiệp từ bên ngoài… là những nguyên nhân làm
xuất hiện nhiều đảng phỉ dƣới thời Tự Đức.
Bảng 1. Các đảng phỉ tiêu biểu dƣới thời Tự Đức (1848 – 1883)
Địa bàn hoạt động
Nhóm
Thời gian
Tam Đƣờng:
- Quảng Nghĩa đƣờng Lý Đại Xƣơng.
Thái Nguyên
Từ 1851
Lý Hợp Thắng
Cao Bằng
1862
Nùng Văn Thạc và Hoàng Anh
Tuyên Quang
1862
- Lục Thắng đƣờng Hoàng Nhị Vân.
- Đức Thắng đƣờng Lƣu Sĩ Anh
Tạ Văn Phụng
1862 – 1865
Hoàng Sùng Anh (Cờ Vàng)
Tuyên Quang
1862 – 1873
Trƣơng Cận Bang
Cao Bằng
1865
Chu Tƣờng Lân
Thái Nguyên
1867 – 1868
Bàn Văn Nhị (Cờ Trắng)
Tuyên Quang
1868
Ngô Côn
Cao Bằng
Từ 1868
Tô Tứ
Lạng Sơn, Bắc Ninh
1870 – 1872
Lƣu Vĩnh Phúc (Cờ Đen)
Hƣng Hóa
Từ 1868
[Nguồn: Theo Đại Nam thực lục chính biên ]
18
Từ bảng thống kê trên, có thể nhận thấy các nhóm phỉ xuất thân là Thanh
phỉ, hoạt động rất mạnh từ năm 1862. Một số nhóm phỉ đảng tồn tại và hoạt
động trong một khoảng thời gian dài, tiêu biểu nhƣ nhóm Hoàng Sùng Anh,
Lƣu Vĩnh Phúc. Địa bàn hoạt động chủ yếu là các tỉnh miền núi biên giới phía
Bắc, đặc biệt là ở tỉnh Tuyên Quang và Cao Bằng. Nguyên nhân là do hai tỉnh
này có phần lớn diện tích tiếp giáp với Trung Hoa. Ngoài ra, tên hiệu của ba
nhóm phỉ Cờ Đen, Cờ Vàng, Cờ Trắng đƣợc đặt trong bảng xuất phát nhằm
phân biệt ba nhóm này với nhau khi chúng đều có nguồn gốc là tàn quân của
phong trào Thái Bình Thiên quốc kéo sang Việt Nam từ những năm 1860. Cụ
thể, nhóm của Hoàng Sùng Anh gọi là quân Cờ Vàng (hay Hoàng kỳ quân) do
đội quân này dùng hiệu kì màu vàng. Quân Cờ Trắng hay Bạch kỳ quân do
Bàn Văn Nhị cầm đầu sử dụng cờ hiệu màu trắng. Quân Cờ Đen hay Hắc kỳ
quân đa số xuất thân từ quân đội ngƣời Tráng, sử dụng cờ màu đen làm cờ
hiệu. Ngoài các nhóm phỉ trên còn nhiều nhóm phỉ khác hoạt động ở miền
núi phía Bắc, biên giới Tây Nam, Tây Nguyên.
1.2.2. Hoạt động của các nhóm phỉ
Trong khoảng thời gian ba năm đầu Tự Đức lên ngôi với tình hình xã hội
có vẻ yên ắng nên các toán phỉ xuất hiện ít, và nhanh chóng bị quan quân địa
phƣơng đánh bại.
Tháng 8 năm 1850, “Cổ phỉ ở đại hạt nước Thanh từ Long Châu, Bằng
Tường (thuộc địa giới nước Thanh) tràn sang phủ Trường Định (thuộc Lạng
Sơn), Tri phủ là Phạm Duy Nhiên chống lại không nổi, giặc bèn tiến sát đến
thành Lạng Sơn. Quan quân ở trên thành bắn chết 1 tên đầu mục của giặc và
bọn lũ của giặc hơn 100 tên; giặc bèn trốn về” [31, tr.176 – 177].
Từ năm 1851 trở đi, với tình hình xã hội rối ren, đời sống nhân dân cực
khổ các nhóm phỉ nổi lên ngày càng nhiều. Trƣớc hiện tƣợng đó, triều đình
Tự Đức đã vấp phải rất nhiều khó khăn trong việc tiễu phỉ, chẳng hạn vào
19
tháng 4 năm 1851 “Cổ phỉ hạt nước Thanh là Hoàng Vãn kéo đến quấy nhiễu
tỉnh Lạng Sơn. Lãnh binh là Nguyễn Xuân Thường cùng giặc đánh nhau ở xã
Bảo Lâm bị thua. (Biền binh tan vỡ ước hơn 1.000 người, Thường bị lạc rồi
chết)” [31, tr.199].
Theo ghi chép của Đại Nam thực lục thì chỉ trong năm 1851 đã 11 lần
bọn phỉ ở hạt nƣớc Thanh tràn xuống nƣớc ta quấy nhiễu, cƣớp phá, cụ thể là
nhóm 17 anh em bọn Lƣu A Ngữ, nhóm Tam Đƣờng, nhóm Hoàng Văn Vãn:
“Trong những năm 1850 và 1860, văn bản còn lưu tên của ba thủ lĩnh hoạt
động đặc biệt tích cực là Hoàng Nhị Văn, Lưu Sĩ Anh và Lý Đại Xương. Bọn
này có sào huyệt trong vùng rừng núi các tỉnh Cao Bằng và Thái Nguyên”
[54, tr.188]. Trong những năm 1860, khi cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên
quốc bị thất bại, hàng nghìn tàn quân đã vƣợt qua biên giới Việt – Hoa để
cƣớp bóc, chúng tập hợp dƣới nhiều cờ hiệu khác nhau nhƣ quân Cờ Đen, Cờ
Trắng, Cờ Vàng… Theo thống kê từ Đại Nam thực lục chính biên,tính đến
năm 1862 khi triều đình nhà Nguyễn kí với Pháp bản hiệp ƣớc Nhâm Tuất đã
có 49 cánh giặc từ nƣớc Thanh tràn xuống nƣớc ta cƣớp bóc. Trong những
năm 1870 và 1880, bọn cƣớp Trung Hoa và các bọn khác xâm nhập vào miền
núi. Xa lạ với các vùng này, vùng sinh sống khó khăn – rừng rậm, bệnh sốt,
nhà cửa rải rác – bọn cƣớp cần sự giúp đỡ của sơn nhân, những ngƣời luôn
luôn đòi hỏi thực phẩm tối nhu yếu với giá rẻ hơn. Vì vậy mà có sự liên kết
ngƣời thƣợng với kẻ cƣớp, ngƣời ta đọc thấy những thí dụ về điều này trong
chính sử và sự kiện này đƣợc minh họa bởi cảm nghĩ của lãnh sự Pháp tại
Hà Nội nhân nói về bọn nổi dậy Trung Hoa do Lý Dƣơng Tài cầm đầu:
“Một đoàn xe chở gạo cho quân đội Trung Hoa vừa rồi bị người miền núi
trong nước cướp đoạt. Tất cả bọn người này đều đầu quân với Lý” [54, tr.318].
Tính đến hết thời Tự Đức khi giặc Pháp đã chiếm đƣợc hẳn Bắc Kỳ đã
có tới hơn 100 toán phỉ từ nhà Thanh tràn sang nƣớc ta. Theo thống kê từ Đại
20